Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn chính là thể hiện một cách nhìn mới, nhận thức mới trong sáng tác của ông, đã tạo nên những sắc màu riêngbiệt thể hiện quan niệm, cách khai thác
Trang 1CẢM HỨNG TÔN GIÁO TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tôn giáo, một hình thái ý thức xã hội, được hình thành và song hành cùng
với quá trình tiến hóa, phát triển của lịch sử xã hội loài người Tôn giáo và kháiniệm tôn giáo ngày càng đa dạng, biến thiên, và vẫn khẳng định được vị thế, nhữnggiá trị của mình trong đời sống tâm linh cộng đồng, từng vùng miền, dân tộc.Những giá trị đó đã chi phối, thậm chí khuynh loát tinh thần, đời sống con người.Các giáo lý của tôn giáo nói chung đều chứa đựng giá trị đạo đức nhân bản rất hữuích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con người, hướng con ngườitới Chân – thiện – mĩ, tới những điều tốt đẹp, công bằng, bác ái, sống lương thiệnhơn, hạnh phúc hơn trong cõi thế tục
Văn học nghệ thuật, theo Mác và Ăng-ghen, cũng là một hình thái ý thức xã hộithuộc thượng tầng kiến trúc, dĩ nhiên không ngoài quỹ đạo ảnh hưởng của tôn giáo,
kể cả những ẩn ức, khái niệm về nó Không phải ngẫu nhiên mà trong thế giới nghệthuật của nhiều văn nghệ sĩ, dấu ấn tôn giáo lại in đậm đến vậy Tôn giáo ở mộtkhía cạnh nào đó cũng được nhìn nhận như một cảm quan, một cách nhìn nghệ
thuật về thực tại, “nó tồn tại trong thơ và bằng thơ, chứ không thể xé rào ra ngoài thơ để thành tôn giáo của thế tục Rabindranath Tagore gọi đó là “tôn giáo của nhà thơ”.” [39, 2] Tôn giáo đã ăn sâu vào ý thức của nhà thơ, làm cơ sở để họ cắt
nghĩa cảm nhận đời sống theo nhãn quan tôn giáo Vì vậy, tìm hiểu cảm hứng tôngiáo của một nhà thơ chính là từng bước thâm nhập vào thế giới tôn giáo dướinhãn quan thi sĩ, từ đó hiểu được cách tiếp cận đời sống từ chiều sâu tâm linh, nóchi phối nhân sinh quan, thế giới quan để tạo nên một thế giới nghệ thuật vớinhững phương thức biểu đạt riêng biệt
1.2 Mai Văn Phấn – con người âm thầm trong hành trình của những đổi mới,
cách tân và sáng tạo đã mang lại cho thơ Việt đương đại một sinh khí mới, dáng vẻ
Trang 2mới Ông đã tạo ra “một vùng tiểu khí hậu trong thơ” (Hữu Thỉnh, Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, khác biệt và thành công - Kỷ yếu hội thảo thơ tại Hải
Phòng, 15/ 5/ 2011, NXB Hội Nhà văn, 2011) Ông là người luôn trăn trở, suy tưmột cách nghiêm túc về nghề nghiệp Vì thế, Mai Văn Phấn đã có những quanđiểm tiến bộ, góp phần không nhỏ vào sự khai phóng cho nền văn học mới khi ôngxác định cho mình một hướng đi mới, một trường thẩm mỹ mới.Với Mai Văn Phấn
“thơ ca ngoài mục đích tải đạo, tuyên truyền, mô phỏng diễn tả…nó còn tìm cách đặt tên lại sự vật, định hình lại thế giới” [33,14] Vì vậy, qua các tác phẩm của
mình, từ tập thơ đầu tay “giọt nắng” (Hội Liên hiệp VHNT TP Hải Phòng, 1992),đến tập thơ mới nhất “vừa sinh ra ở đó” (Nxb Hội Nhà văn, 2012), Mai Văn Phấn
đã cho người đọc thấy được mạch nguồn vận động và sáng tạo không ngừng củamột thi sĩ tài hoa, đặc biệt có tư tưởng trong lộ trình nghệ thuật của mình Đâykhông chỉ là bước đột phá trong quá trình ông tự hoàn thiện và đổi mới mình, màquan trọng hơn, đó còn là đòn bẩy mạnh mẽ nhất đưa thơ bước đến đỉnh cao củanghệ thuật đích thực Đọc thơ Mai Văn Phấn trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn nhấtđịnh, người đọc không khỏi suy tư, trăn trở theo những theo những khát vọng khơi
mở và thầm kín nơi ông Nghiên cứu thơ Mai Văn Phấn, trong bối cảnh thơ Việtsau 1975 với xu hướng vận động tự do hóa, dân chủ hóa để một lần nữa khẳngđịnh ngọn nguồn sáng tạo mới trong thơ Việt Nam hiện đại
1.3 Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn chính là thể hiện một cách
nhìn mới, nhận thức mới trong sáng tác của ông, đã tạo nên những sắc màu riêngbiệt thể hiện quan niệm, cách khai thác độc đáo về một thế giới bên ngoài thế giớithực tại Hay nói đúng hơn, chính là cách nhà thơ tìm đến với một thực tại khác mà
ở đó có sự xen kẽ giữa hư và thực Qua đó, bộc lộ nỗ lực của thi sĩ trong việc kiếntạo một thế giới mới xuất phát từ điểm nhìn của đời sống thực tại
Do vậy, chọn đề tài “Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn”, người viết
hi vọng sẽ khám phá thêm về những yếu tố cấu thành nhân sinh quan, thế giới quan
Trang 3của nhà thơ, đồng thời, giúp người đọc hiểu thêm một khía cạnh mới trong nhậnthức khám phá thế giới của một hồn thơ thi sĩ.
2 Lịch sử vấn đề
Từ năm 1992 với “giọt nắng”, tập thơ mở đường chính thức đưa Mai Văn Phấnvào làng văn, từ đó đến nay ông liên tiếp cho ra đời những tác phẩm có giá trị, đểrồi trên chính con đường ấy đã ghi nhận những đóng góp hết sức tích cực của nhàthơ Không gian thơ của Mai Văn Phấn luôn là khu vườn đầy hương sắc, lôi cuốn
sự tìm tòi, khám phá của những người yêu thơ mà nó còn là nơi gặp gỡ của đôngđảo các tầng lớp ở các ngành nghề, lứa tuổi khác nhau Vậy nên, khi tìm hiểu vềquá trình nghiên cứu thơ Mai Văn Phấn chúng tôi đánh giá dưới con mắt của líthuyết tiếp nhận, đi từ những nhận xét chung nhất đến những nhận xét bước đầuchạm vào vấn đề mà người viết quan tâm
Thơ ca Mai Văn Phấn là một thế giới đa thanh, đa sắc Vì vậy, khi đến với độcgiả dưới góc nhìn đa diện, các tác phẩm của ông được soi chiếu dưới nhiều chiềukích khác nhau Có thể khẳng định, số lượng bài viết về thơ Mai Văn Phấn khá lớn,theo thống kê chư đầy đủ cho đến thời điểm hiện tại có đến hàng trăm các bài viếttrên nhiều phương diện: giới thiệu sách, giới thiệu chân dung nhà thơ, thảo luận,nghiên cứu, phê bình… Trong đó, có nhiều ý kiến khen chê nhiều chiều
2.1 Trước hết, là những đánh giá ghi nhận những đóng góp to lớn của Mai Văn
Phấn cho quá trình hiện đại hóa của văn học nước nhà, là nhà thơ cách tân hàngđầu trong nền thơ ca đương đại Việt Nam với sự sáng tạo không ngừng Sự thốngnhất chung đó có ở các bài viết của các tác giả Đình Kính, Cao Năm, Đỗ Quyên,Nguyễn Quang Thiều… Đặc biệt được nhấn mạnh một cách toàn diện và sâu sắc
trong hai luận văn tốt nghiệp: “Đặc điểm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn” của Vũ Thị Thảo và “Một số cách tân nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn” của Nguyễn
Quang Hà
Trang 4Nhà văn Đình Kính trong bài mở đầu tại hội thảo “Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn khác biệt và thành công” đã nhấn mạnh: “Mai Văn Phấn là nhà thơ tiên phong sáng tạo theo hướng đổi mới, cách tân, định hình tư duy thẩm mĩ mới và anh đã được đánh giá cao” [13, 6] Đồng thời ở Mai Văn Phấn “ngoài sự tài hoa, đam mê, phông văn hóa, tri thức, sự kiên trì nhẫn nại trong sáng tạo, anh còn là nhà thơ dũng cảm và giàu bản lĩnh”.
Bên cạnh đó, khi khẳng định về tố chất của người nghệ sĩ, Cao Năm đã không
dè dặt trong việc một lần nữa nhấn mạnh ở bản lĩnh sáng tạo của một cây bút kiên
định, giàu sức sống “Mai Văn Phấn dường như sinh ra là để năng động và sáng tạo không ngừng, con người hiện thân của sự sáng tạo” [13,18].
Cùng với dòng mạch vận động này, nhưng chủ yếu tiếp cận ở phương diện sángtác và thành quả nghệ thuật của Mai Văn Phấn Không thể không kể đến hai côngtrình nghiên cứu chi tiết, hệ thống ở phương diện nghệ thuật trong hai luận vănthạc sĩ của Nguyễn Quang Hà và Vũ Thị Thảo Điểm gặp gỡ của hai bài viết này làđều khẳng định những thành công và đóng góp quan trọng về mặt nghệ thuật trong
các sáng tác của Mai Văn Phấn Vũ Thị Thảo trong “Đặc điểm nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn”, trên cơ sở phân tích quan niệm trong hành trình sáng tác của Mai Văn
Phấn, từ đó có cái nhìn khái quát một cách có hệ thống về các phương diện nghệ
thuật trong thơ Mai Văn Phấn, “Bằng con mắt quan sát tinh tế và có chiều sâu, Mai Văn Phấn nhìn vạn vật trong sự phồn sinh , hóa sinh bất định Chính những quan niệm về thi ca, về thi nhân, về nhân sinh và thế giới nói trên đã chi phối hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông” [44,116] Còn Nguyễn Quang Hà trong “Một
số cách tân nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn” đã nhìn nhận xu thế cách tân trong
thơ Việt nói chung và đặc biệt trong thơ Mai Văn Phấn “Mai Văn Phấn đã cho thấy một diện mạo thơ mới có thể chuyển tải được những bộn bề, phức tạp của cuộc sống và tâm trạng với nhiều cung bậc tình cảm của cái tôi luôn mang nặng ý
Trang 5thức, trách nhiệm với con người và cuộc sống, phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội” [3, 122].
Như vậy, có thể nói trên đây đã dẫn ra một vài ý kiến tiêu biểu cho cách nhìnnhận, đánh giá những đóng góp tích cực cũng như những thành công trên conđường tìm kiếm nghệ thuật đích thực của Mai Văn Phấn Tuy các bài viết chưa thểbao quát hết được các phương diện đánh giá về các sáng tác của ông, nhưng vớimỗi cách nhìn, mỗi quan niệm cho ta một mảnh ghép quan trọng để hoàn thiện dầnbức chân dung về thơ và đời của nhà thơ Mai Văn Phấn
2.2 Bên cạnh những tình cảm yêu mến, sự trân trọng và đón nhận nồng nhiệt,
còn có những ý kiến trái chiều trong hành trình sáng tác của thơ ông Đó là nhữngnhận xét phê phán cực đoan của các nhà thơ, các nhà phê bình trước những thànhtựu được ghi nhận trong thơ Mai Văn Phấn
Rõ ràng, thơ Mai Văn Phấn “bên cạnh những thành công thì thơ ông còn nhiều điều dang dở Trước hết, thơ Mai Văn Phấn, có những bài thơ gây khó hiểu cho bạn đọc Với niềm say mê cách tân thơ, nhiều khi nhà thơ quá sa đà vào việc thể nghiệm những cái mới nên thơ ông trở nên rối rắm, khó hiểu” [44, 119] Đây có lẽ
là cái nhìn biện chứng hơn cả đối với một thế giới thơ mà ở đó nhà thơ tạo ra nhiều
“cánh cửa” để bạn đọc có thể tiếp cận ở nhiều chiều kích khác nhau Ở đó, họ thực
sự tự do, “nó không có chỗ cho sự ù lì, dễ dãi…đọc thơ anh trước hết cần sự đồng cảm, tháo gỡ những quan niệm cũ về thơ vẫn nằm ẩn sâu trong mỗi người, cần vươn tới những tìm kiếm mới, giá trị mới”…[13, 2]
Nói tóm lại, dù đánh giá ở phương diện nào thì cũng không thể phủ nhận đượcnhững giá trị và đóng góp của thơ Mai Văn Phấn Thơ Mai Văn Phấn vẫn giànhđược những ưu ái và đánh giá cao bởi những cây bút uy tín, chuyên nghiệp trênvăn đàn hiện nay
2.3 Trong các công trình nghiên cứu còn hạn chế về thơ Mai Văn Phấn, vấn đề
người viết quan tâm là “Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn” vẫn chưa
Trang 6được nhìn nhận và nghiên cứu một cách có hệ thống, thậm chí, chưa có một côngtrình nào nghiên cứu một cách có trọng điểm về vấn đề này Một số bài viết củacác tác giả Dương Kiều Minh, Nguyễn Hiệp, Đỗ Minh Tuấn, Vũ Thị Thảo… đãbắt đầu chạm vào vấn đề tôn giáo ở phương diện tâm linh, hình ảnh biểu tượng làm
cơ sở tiền đề, định hướng cho người viết có những phân tích, đánh giá, lí giải vấn
đề “cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn” một cách sâu sắc và toàn diệnhơn
Nhà thơ Dương Kiều Minh với “cuộc trở về “tâm không” trong tập “Bầu trờikhông mái che” của nhà thơ Mai Văn Phấn” nhấn mạnh đến sự hồi sinh cùng biểu
tượng trong thơ ông, “Bầu trời không mái che – một cuộc hoàn nguyên để tái sinh ngoạn mục, một cuộc một cuộc lộn trở về với bản thể người trong bản thể của vũ trụ”, rồi khi nhắc đến hình ảnh biểu tượng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn, nhà nghiên cứu đã khẳng định “bông cúc hiện ra như ánh sáng của sự giác ngộ, của giải thoát trên lối về độc đáo của cuộc kiếm tìm” [13, 23]
Nhà văn Đặng Thân trong “hành trình cỏ cây xuyên tâm linh”, cũng bước đầu
nhìn nhận, đánh giá những hình ảnh biểu tượng: hoa sen biểu tượng phật giáo;
bông cúc biểu tượng cho một thế giới tâm linh thanh sạch;và đặc biệt “hình ảnh cỏ
là cội rễ tâm linh Mai Văn Phấn” [13, 65].
Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn trong bài “Mai Văn Phấn và thi pháp mộng du xuyên thế giới”, đã đánh giá những bài thơ hay của Mai Văn Phấn trên bình diện tôn giáo, “những bài hay nhất của anh đã thể hiện cuộc luân hồi thi ca và tái sinh thi
ca trong cõi vô thường tam thiên thế giới của phật giáo thấm sâu vào cảm xúc của thi nhân” [13, 89].
Cụ thể hơn trong bài viết của Vũ Thị Thảo đã liệt kê một cách có hệ thống cáchình ảnh biểu tượng tâm linh, chủ đề tâm linh trong thơ Mai Văn Phấn, có thể nói
Trang 7“ ý niệm tâm linh giống như luồng ánh sáng linh thiêng soi rọi, phủ ngập lộ trình thơ Mai Văn Phấn” [44, 55].
Điểm qua một vài bài viết trên, chúng ta có thể thấy được, vấn đề “Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn” chưa được nhìn nhận như là một vấn đề trọng
tâm mà mới chỉ tồn tại dưới những nhận xét lẻ tẻ trong các bài nghiên cứu Các tácgiả đã bắt đầu tiếp cận ở phương diện tâm linh, hình ảnh – biểu tượng tôn giáo.Trên cơ sở hệ thống hóa các bài viết có liên quan, người nghiên cứu đã có nhữngphân tích, lí giải, đánh giá vấn đề “cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn”trên bình diện sâu và rộng hơn
Nói tóm lại, thông qua việc tìm hiểu lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ Mai Văn
Phấn trên bình diện, làm cơ sở để khai thác sâu về đề tài “Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn” Với đề tài này, chúng tôi một lần nữa muốn góp thêm
một tiếng nói khẳng định giá trị thơ Mai Văn Phấn Và, hơn thế bài viết muốn đưađến một cái nhìn mới, toàn diện hơn khi soi chiếu thành tựu thơ của Mai Văn Phấndưới góc nhìn của cảm hứng tôn giáo – một trong những nguồn cảm hứng chủ đạolàm nên sức sống thơ ông
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề cảm hứng tôn giáo trong thơ
Mai Văn Phấn
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ sáng tác thơ của Mai Văn Phấn
gồm các tác phẩm đã xuất bản: Giọt nắng (thơ, Hội Liên hiệp VHNT TP Hải Phòng, 1992); Gọi xanh (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 1995); Cầu nguyện ban mai (thơ, Nxb Hải Phòng, 1997); Nghi lễ nhận tên (thơ, Nxb Hải Phòng, 1999); Người cùng thời (trường ca, Nxb Hải Phòng, 1999); Vách nước (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2003); Hôm sau (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2009); và đột nhiên gió thổi (thơ, Nxb.
Trang 8Văn học, 2009); Bầu trời không mái che (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2010); hoa giấu mặt (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2012); Vừa sinh ra ở đó (thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2013) Đặc biệt luận văn còn tham khảo công trình Thơ tuyển Mai Văn Phấn (thơ
cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, Nxb Hội Nhà văn, 2011)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1 Phương pháp liên ngành
Bản chất của phương pháp này là người viết vận dụng một số tri thức liênngành triết học, tôn giáo học, phân tâm học…nhằm lí giả các vấn đề văn học quacái nhìn tôn giáo Có thể nói, đây là phương pháp chủ đạo, có ý nghĩa quan trọng,xuyên suốt quá trình khai triển luận văn Góp phần đáng kể vào việc làm sáng tỏnhững vấn đề có ý nghĩa then chốt trong bài viết
2 Phương pháp hệ thống
Phương pháp này cho phép người nghiên cứu xem xét những bình diện,những yếu tố cơ bản làm nên ý nghĩa, đặc điểm những cái nhìn, cách cảm, cáchnghĩ về tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn Để từ đó hệ thống thành một chỉnh thểnghệ thuật với cấu trúc và quy luật nội tại riêng
3 Phương pháp thống kê, phân loại
Với phương pháp này sẽ được xem xét dựa trên sự tương đồng về mặt giátrị, giúp người viết xắp xếp một cách có hệ thống những hình ảnh, biểu tượng xuấthiện nhiều lần như một phương tiện quan trọng biểu hiện cho cách nhìn của nhàthơ Để từ đó người nghiên cứu sẽ xác lập, xâu chuỗi các biểu hiện đa dạng của cácyếu tố trong thơ Mai Văn Phấn
4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Người viết sử dụng phương pháp này để thiết lập hệ thống luận điểm Trên
cơ sở làm rõ những nét độc đáo về cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn để
Trang 9có cái nhìn khái quát về hành trình thơ ông Từ đó, làm cơ sở khái quát chung vềnhững dấu ấn mới trong cách nhìn của thi sĩ.
5 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Trên cơ sở lí giải các yếu tố, các phương diện đặc biệt trong thơ ông, từ đó sosánh, đối chiếu những cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa của Mai Văn Phấn vớicác nhà thơ cùng thời để tìm ra dấu ấn riêng biệt của Mai Văn Phấn
5 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống về “Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn”.
Trong khuôn khổ cho phép, luận văn cố gắng làm nổi bật nét đặc sắc trong thơMai Văn Phấn ở phương diện tôn giáo Thực hiện luận văn, chúng tôi mong muốnđóng góp công tác nghiên cứu, đánh giá về một hiện tượng thơ độc đáo có nhữngquan điểm, cách nhìn, cách lí giải hết sức đặc biệt về các vấn đề có tính triết línhân sinh sâu sắc
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luậnvăn có những chương sau:
Chương 1: Cảm hứng tôn giáo và sự hình thành cảm hứng tôn giáo trong thơMai Văn Phấn
Chương 2: Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn, nhìn từ thế giới hìnhtượng
Chương 3: Cảm hứng tôn giáo trong thơ Mai Văn Phấn, nhìn từ các phương diện nghệ thuật
Trang 10CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG TÔN GIÁO VÀ SỰ HÌNH THÀNH CẢM HỨNG
TÔN GIÁO TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN
1 Giới thuyết về tôn giáo và cảm hứng tôn giáo
1 Tôn giáo
Ra đời hàng ngàn năm nay, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là mộthiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sốngcủa toàn thể nhân loại Đến với tôn giáo là đến với thế giới của cái đẹp, cái thiêng
và sự thánh thiện, nó giúp tâm hồn con người bình yên, thanh thản Không phảingẫu nhiên mà từ xưa đến nay tôn giáo luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong cáclĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt nhất là văn học Trên thế giới có rất nhiều các loạihình tôn giáo khác nhau, mỗi tôn giáo mang một màu sắc, một nét đẹp riêng, tạothành một bản âm hưởng đa thanh, đa sắc, từ đó đã có rất nhiều cách hiểu về tôngiáo khác nhau Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáobàn cãi rất nhiều Ở mỗi góc độ cho chúng ta một cách nhìn, một cảm nhận ở nhiềukhía cạnh
Trước hết là những quan điểm về tôn giáo được đánh giá từ những mặt hạnchế Nói đúng hơn đó là những cách nhìn nhận, đánh giá chưa toàn diện, hoànchỉnh về tôn giáo vì họ chưa nhìn thấy bản chất xã hội của nó Tiêu biểu đó lànhững ý kiến đánh giá của các nhà triết học trước Mác
Từ chủ nghĩa duy tâm đa khẳng định tôn giáo như một hiện tượng nằm ngoài hiện
thực khách quan, không phụ thuộc vào hiện thực khách quan mà là “một sức mạnh
kì bí thuộc “tinh thần” tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người” [38, 17].
Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
Trang 11Trong các nhà triết học duy vật trước Mác, thì L.Phoiơbắc (1804 – 1872) là người
có quan điểm tiến bộ về tôn giáo, khi ông xác định được đúng đắn mối quan hệ
giữa thần thánh và con người Ông cho rằng: “không phải thượng đế sáng tạo ra con người mà ngược lại, chính con người đã sáng tạo ra thượng đế theo mẫu hình của mình” [33, 18] Tuy nhiên với sự tiến bộ này ông vẫn không nhìn thấy bản
chất xã hội của tôn giáo Hạn chế này cũng bộc lộ rõ ở quan điểm của nhà phântâm học người Áo Singmund Freud (1856 -1939) – người xem hình thức tôn giáo
đầu tiên là tô tem giáo, xác định: “Tôn giáo là sản phẩm của vô thức, là “sự thăng hoa”, “niềm hân hoan” của người nguyên thủy trong tục “ăn thịt vật tổ”.
Như vây, với những cách nhìn nhận, đánh giá còn hạn chế như trên đã không chochúng ta thấy được bản chất đích thực của tôn giáo
Sau này khi khoa học ngày càng phát triển, quan điểm Mácxit về Tôn giáo,với cái nhìn biện chứng đã khẳng định, tôn giáo không phải là sản phẩm của thầnthánh, là cái siêu nhiên, thần bí mà là sản phẩm của xã hội Tôn giáo là hiện tượngthuộc đời sống tinh thần của xã hội chịu sự quy định của đời sống vật chất C.Máccho rằng không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra
tôn giáo, “tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa”, chính vì vậy mà
“tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự… Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh
bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [21, 570] Như vậy,
bản chất xã hội của tôn giáo đến đây đã được làm sáng rõ
Còn Ph.Ăngghen trong công trình nghiên cứu của mình đã làm rõ bản chất của tôngiáo trên cơ sở xem tôn giáo như là một hình thái ý thức xã hội, vì thế với ông Tôngiáo như là một sự phản ánh hư ảo về thế giới bên ngoài nhằm đền bù cho nhữngbất lực của con người trong cuộc sống hàng ngày
Trang 12Trong quá trình tìm hiểu, đánh giá dựa trên nhiều điểm nhìn khác nhau,chúng tôi có thể đưa ra một vài nhận định về tôn giáo - một lĩnh vực hết sức phứctạp trong đời sống tâm linh của con người Để có thể hiểu đầy đủ về tôn giáo cầnphải chú ý:
Thứ nhất, Khi nói đến tôn giáo, dù theo ý nghĩa hay cách biểu hiện nào thìluôn luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiệnhữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thểhữu hình và vô hình Cả hai thế giới ấy luôn tồn tại xung quanh cuộc sống conngười
Thứ hai, Trong đời sống xã hội có những hiện tượng phức tạp mà con ngườikhông thể giải thích được, con người hướng những điều không thể lí giải đó đếnvới niềm tin tâm linh vào thần thánh Tôn giáo là nơi thể hiện sự gắn kết giữa conngười với thần linh Tôn giáo không chỉ là những sự bất lực của con người trongcuộc đấu tranh với tự nhiên và xã hội, do thiếu hiểu biết dẫn đến sợ hãi và tự đánhmất mình do đó phải dựa vào thánh thần mà còn hướng con người đến một hyvọng tuyệt đối, một cuộc đời thánh thiện, mang tính “Hoàng kim nguyên thủy”,một cuộc đời mà quá khứ, hiện tại, tương lai cùng chung sống Nó gieo niềm hivọng vào con người, dù có phần ảo tưởng để yên tâm, tin tưởng để sống và phảisống trong một thế giới trần gian có nhiều bất công và khổ ải
Như vậy, Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mangtính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách
hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềmtin đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnhđịa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hànhbằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hộitôn giáo khác nhau
Trang 13Bên cạnh cách hiểu về nội hàm khái niệm, thì khi nói về tôn giáo chúng takhông thể không nhắc tới tác động to lớn của nó lên đời sống con người, đây chính
là điều làm nên sức sống vĩnh hằng của tôn giáo trong quá trình đi lên của xã hội.Tôn giáo có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người mà trước hết là
sự giải thoát về mặt tâm hồn Trong cuộc sống, những trạng thái thái tâm lí mangtính tiêu cực như cô đơn, bất hạnh, đau khổ, nỗi kinh hoàng, sợ hãi, chán chường
dễ dẫn con người đến với tôn giáo để mong được sự an ủi, che chở, cứu giúp Tôngiáo như “thuốc phiện” làm giảm nỗi đau khổ của con người trong cuộc sống hiệnthực Mặc dù chỉ là “hạnh phúc hư ảo”, “mặt trời hoang tưởng” xoay xung quanhcon người nhưng tôn giáo hấp dẫn kì lạ Tôn giáo nhiều khi là phương tiện khá hữuhiệu giúp con người cân bằng sự hẫng hụt tâm lí, giải thoát nỗi cô đơn, bất hạnhdiễn ra trong cuộc sống hàng ngày Bởi trong đời sống mà con người đang tồn tại,con người không chỉ tiếp xúc với cái hiện hữu mà còn tiếp xúc với cả vô số nhữngcái vô hình, trừu tượng, không thể lí giải được bằng lí trí, mà chỉ có thể cảm nhậnbằng tâm thức, linh cảm Trong thế giới của tâm thức và linh cảm đó, chỉ có niềmtin vào đấng siêu nhiên, cứu giúp của thần thánh mới có thể giúp con người lí giảinhững điều khó hiểu và vượt qua được những trở ngại trong cuộc sống Với tinhthần tự nguyện, những khoảnh khắc mà con người sống với tôn giáo là lúc tâm hồn
họ cảm thấy thanh thản, thoải mái nhất
Thứ hai, trong xã hội hiện đại, khi cuộc sống ngày càng phức tạp, tôn giáotrở thành điểm tựa vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện điều chỉnh nhân cáchcon người Ý thức tôn giáo có thể được xem là những phương thức giúp con ngườicân bằng, điều hòa tâm lý, tình cảm, cấu trúc nhân cách Như chúng ta đã biết, ýthức tôn giáo thường gắn liền với những linh cảm, tâm cảm, những hiện tượng tâm
lí chập chờn giữa hai vùng ý thức và vô thức, tiềm thức Xã hội hiện đại với cơ chếvận hành mang tính duy lí cao độ có xu hướng biến con người thành một thực thểtrừu tượng, máy móc, đôi khi là sự vô cảm, lạnh nhạt trong đời sống tinh thần
Trang 14Việc duy trì cõi phi duy lí đầy bí mật – một thế giới nằm ngoài thế giới thực tại mà
ở đó không có những sự khắt khe, công thức duy lí, sẽ là một “liều thuốc” tốt giúphạn chế, ngăn chặn những hành vi đạo đức, thể hiện “tâm hồn con người đã chết”,
đó là những con người cạn kiệt về nhân cách, phẩm chất người Điều này đã đượcPGS.TS.Nguyễn Hồng Dương – viện trưởng viện nghiên cứu tôn giáo đã khẳng
định trong một chuyên khảo về tôn giáo: “Tôn giáo nào cũng khuyên con người – tín đồ, làm lành, lánh dữ, tích đức, hành thiện, yêu người, cho người đói ăn, cho kẻ khát uống Tôn giáo dạy con người tu thân, tề gia, đưa ra những chuẩn mực trong quan hệ vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, thầy – trò Hầu hết các nội dung trên là những lời răn dạy của đấng sáng tạo tôn giáo (chúa trời, phật, thánh Ala), trở thành quy chuẩn, mô phạm điều chỉnh hành vi của con người, tín đồ” [20, 3].
Chính vì vậy mà chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tỏ thái độ tôn trọng và đề cao vai trò
của tôn giáo và người sáng lập tôn giáo: “Mục đích cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su đều giống nhau Thích Ca và Giê Su đều muốn mọi người có cơm ăn,
áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”.
Mặt khác, trong sự tác động của tôn giáo lên đời sống con người bên cạnhnhững mặt tích cực vừa nói ở trên thì vẫn còn tồn tại những hạn chế, tiêu cực.Trước hết, khi con người coi tôn giáo như là một sự “đền bù hư ảo” thì sẽ làmgiảm đi ý chí, nghị lực của con người, hạn chế sự phát triển của tư duy khoa học,tạo nên thái độ sống nhẫn nhục Niềm tin tâm linh không phải là điểm tựa để conngười cố gắng mà họ lại tin tưởng thái quá vào sự cứu giúp của thần thánh hạn chế
sự phấn đấu của bản thân để vượt qua những khó khăn, thử thách của cuộc sống,con người không có ý thức chủ động, tích cực xây dựng cuộc sống hạnh phúc nơitrần gian mà lại hi vọng ở một cuộc sống sau khi chết Thứ hai, Nhiều khi tôn giáo
là thứ rượu mạnh, là men say dễ cho con người ta có thái độ mù quáng và hành vicuồng tín, con người dễ lâm vào tình trạng mê tín dị đoan Tôn giáo còn bị một sốngười lợi dụng để cầu lợi Họ biến không gian tôn giáo linh thiêng thành nơi buôn
Trang 15thần bán thánh Ở nước ta, tự do tín ngưỡng và tự do không gian tín ngưỡng làquyền của mỗi công dân, nên những kẻ xấu và các thế lực thù địch đã lợi dụng đểchống phá nước ta.
Tuy nhiên với những hạn chế kể trên không hề làm giảm đi những giá trị tolớn mà tôn giáo mang lại trong cuộc sống con người, nó chỉ góp phần tạo nên sựhoàn thiện, đa diện trong cách nhìn nhận, đánh giá về tôn giáo
Như vậy, tôn giáo với tất cả những cách hiểu, cách đánh giá khác nhau trongmột bức tranh đầy đủ gồm cả những mặt mạnh và mặt yếu đã làm nên sự đa diệnnhưng cũng không kém phần phức tạp Trong quá trình vận động và đi lên của xãhội tôn giáo sẽ mãi là một thành phần góp nên “tiếng nói tích cực” vào sự pháttriển toàn diện của xã hội
2 Cảm hứng tôn giáo
Khởi nguồn cho sự đam mê để làm nên thành công không thể thiếu đi cảmhứng sáng tạo Cảm hứng là một yếu tố quyết định trong những công trình nghệthuật, nghệ thuật đích thực bắt nguồn từ những cảm hứng nảy sinh trong nhữngđiều kiện cụ thể Cũng như, quá trình sáng tạo của nhà văn bắt đầu từ khi nảy sinhnhững dự đồ rồi sau đó là quá trình nảy sinh những quan niệm mang tư tưởng sángtạo của tác phẩm văn học Những tư tưởng ấy gắn liền với sự thụ cảm của nhà vănvới cuộc sống dưới hình thức cảm xúc.Cảm hứng là một trạng thái hưng phấn cao
độ của người nghệ sĩ do việc chiếm lĩnh được bản chất đối tượng mà họ phản ánh.Khi ấy những tia chớp sáng tạo sẽ bùng cháy những chất liệu hiện thực Đó chính
là những giây phút thăng hoa của tư duy sáng tạo trong người nghệ sĩ, hay nói khác
đi cảm hứng bao giờ cũng gắn với tính nghệ thuật dù tự giác hay không tự giác
Cảm hứng nghệ thuật chân chính bao giờ cũng bắt nguồn từ đời sống chânchính, phải “sống hết mình” với cuộc sống thiên nhiên, cuộc sống con người thìmới có những cảm xúc mãnh liệt, sâu sắc và chân thật Tuy nhiên, cảm hứng tự nó
chưa phải là tác phẩm mà còn phải nhờ vào tài năng của người nghệ sĩ: “biết rút ra
Trang 16được từ trong cả một khối kiến thức và ấn tượng những sự việc, những hình tượng, những chi tiết đập vào trí người nhất, điển hình nhất và phú cho chúng những lời hết sức chính xác, rực rỡ truyền cảm” (Theo M.Gorki)
Cảm hứng đưa người làm thơ đến với thơ và rung động thơ thật sự, nhưng
để làm nên sức sống của tác phẩm, người nghệ sĩ không chỉ rung động với mình
mà còn phải truyền sự rung động đó đến với người đọc, tạo sự truyền cảm đặc biệt.Khi nói cảm hứng là chân thực bởi vì cảm hứng đó xuất phát từ tiếng hát chân thựccủa trái tim mới tìm con đường nhanh nhất đến với trái tim độc giả mà thôi
Nghiên cứu cảm hứng nói chung, đặc biệt cảm hứng tôn giáo trong thơ, đãcho chúng ta một cái nhìn đầy đủ về đối tượng mà người nghệ sĩ quan tâm, cũngnhư toàn bộ xúc động, suy tư của người nghệ sĩ ấy trước đối tượng Xét cho cùng,các cảm hứng đều được nảy sinh trong ý thức con người, tác động trực tiếp hoặcgián tiếp lên tâm hồn của người nghệ sĩ làm nảy sinh những tình cảm chân thành.Cảm hứng sáng tác vừa là cuộc hành trình nhọc nhằn, vừa là sự nghỉ ngơi thư tháitrong tâm hồn nghệ sĩ, nó buộc người nghệ sĩ vào trạng thái lao động nghiêm túc,cẩn trọng bằng niềm say mê, bằng tất cả niềm hứng khởi Chính vì thế, khi tiếp xúcvới tôn giáo – một thế giới tâm linh đầy huyền bí, nâng giấc tâm hồn người nghệ sĩvới những khát khao được chinh phục, khám phá những ngọn nguồn sâu kín.Trong thế giới tâm linh đầy phức tạp ấy, cách nhìn nhận, thể hiện của người nghệ
sĩ rất đa dạng nhưng tựu chung đều muốn vươn tới miền tâm thức phi hiện thực
Vì vậy, khi nói tới cảm hứng tôn giáo chính là đang chỉ cái hứng thú mãnhliệt ở người nghệ sĩ hướng về tôn giáo Điều này nghiêng về phía chủ quan củangười nghệ sĩ, đó cũng chính là cái tiềm ẩn trong tâm hồn nghệ sĩ với khả năngrung động trước cái đẹp và khát khao được khám phá, sáng tạo Cảm hứng tôn giáochính là hướng tới tôn giáo như một nền tảng chi phối thế giới nghệ thuật trongcông trình mà người nghệ sĩ dày công tạo dựng Đồng thời để hiểu rõ hơn về cảmhứng tôn giáo dựa trên cách hiểu về các thuật ngữ, chúng ta có thể khẳng định,
Trang 17cảm hứng tôn giáo bên cạnh cái hứng thú mãnh liệt đó còn là cảm hứng sáng tác xuất phát từ cảm quan về hiện thực tôn giáo, trong đó người nghệ sĩ lấy tôn giáo làm đề tài, chất liệu để tạo ra thế giới hình tượng, xác lập cho mình một điểm nhìn
từ trong tâm linh, tạo ra một giọng điệu riêng trong tác phẩm phù hợp với thế giới phi hiện thực Khác với hiện thực đang tồn tại, trong quá trình sáng tạo nhà văn có
thể xây dựng hiện thực hoàn toàn hư cấu, tưởng tượng, thế giới hình tượng hiện lênđắm trong sắc màu của thế giới tâm linh, tâm tưởng Điều đó cũng đồng nghĩa vớiviệc khẳng định cảm hứng tôn giáo sẽ ứng với những phương thức sáng tạo riêng,những giọng điệu riêng mang màu sắc tôn giáo Cảm hứng tôn giáo lấy các vấn đềtôn giáo làm điểm đến nhưng cái đích vươn tới không phải đơn thuần là soi sángthế giới tâm linh mà quan trọng hơn là đi sâu vào thế giới ấy để giúp con ngườinhìn nhận lại cuộc sống, khẳng định lại chính mình Có thể nói, khi tôn giáo lànguồn cảm hứng say mê và nung nấu tâm can của người nghệ sĩ thì đó sẽ là ngọnlửa, là kim chỉ nam để người nghệ sĩ có thể chạm tới những điều mà lớp màn hiệnthực khó phân giải, để thế giới ấy được tái hiện sinh động hơn, đặc sắc hơn Trongthi phẩm, cảm hứng tôn giáo lắng sâu trong từng ngôn ngữ, giọng điệu, thấm đượmtrong hình tượng, giống như là cách mà người nghệ sĩ đối thoại với chính mình vàvới thế giới
Ở Mai Văn Phấn, dù là con chiên của đạo Thiên Chúa, nhưng tâm hồn ôngkhông hề giành riêng cho bức tường thành Thiên chúa, bởi trong con người ấykhông hề có sự phân biệt giữa tôn giáo mình và tôn giáo người Mai Văn Phấnkhông hề dè dặt trong việc đem những từ ngữ, hình ảnh của nhiều tôn giáo khácnhau vào trong thơ mình, đặc biệt là ngôn ngữ của đạo Phật Cảm hứng tôn giáomang tính chất hỗn giao thể hiện rõ trong sáng tác của ông, càng về những sáng tác
ở giai đoạn sau dấu ấn này ngày càng in đậm Tôn giáo của Mai Văn Phấn là cảmquan, cảm xúc về những điều thiêng, về cái đẹp hiện tồn và linh ẩn trong cõi thế
Trang 18tục, là khát vọng lý tưởng tìm đến Chân-thiện-mỹ trong hành trình sáng tạo củaông.
2 Cảm hứng tôn giáo trong văn học Việt Nam
1 Mối quan hệ giữa tôn giáo và thi ca
Từ xa xưa, tôn giáo và thi ca có mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhau, cùnghướng tới thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người, tuy cách thể hiện có khácnhau nhưng nhìn chung cả hai đều tìm đến với lối tư duy có sự tham gia của cảmxúc, tưởng tượng đồng thời dựa nhiều vào hình tượng tôn giáo và thơ ca đã từngthống nhất, hòa quyện vào nhau trong tư duy nguyên hợp của con người cổ đại.Không ít nhà nghiên cứu đã nhận định rằng, những bài thơ đầu tiên của nhân loại
có lẽ là những bài ca nghi lễ, những lời xưng tụng thần linh Ở những buổi đầu sơkhai ấy giữa con người và thần linh có mối quan hệ gần gũi và để thể hiện mối liên
hệ đó trong năng lực sáng tạo của mình con người đã đưa tôn giáo vào thơ ca mộtcách linh hoạt Có nhiều nhà nghiên cứu đã xem thơ ca như một thứ tôn giáo giúpthanh lọc tâm hồn con người, cứu rỗi con người trong một thế giới đầy tội lỗi Họđến với nghệ thuật bằng một niềm tin thiêng liêng – niềm tin tôn giáo và như đượckhai sáng dưới ánh sáng của đức tin màu nhiệm Vì thế, không chỉ những nghệ sĩ làmôn đồ của một tôn giáo cụ thể mới có thể làm nên được những vần thơ tôn giáo,
mà cả những nghệ sĩ không là môn đồ của một tôn giáo nào cũng làm nên nhữngtác phẩm tôn giáo tuyệt diệu chỉ cần họ là người có “tín tâm” Điều này đã được
TS Chu Văn Sơn xác định ở dạng thức thứ hai của thơ tôn giáo, đó là dạng ẩn
chìm “kẻ viết có tín tâm nhưng không hề là tín đồ của bất cứ giáo phái hiện hành nào, tôn giáo chỉ đơn thuần như một cảm quan, một cái nhìn nghệ thuật về thực tại Nó tồn tại trong thơ và bằng thơ, chứ không thể xé rào ra ngoài thơ để thành tôn giáo của thế tục Rabindranath Tagore gọi đó là “tôn giáo của nhà thơ”” [39,
2]
Trang 19Như vậy, thơ ca và tôn giáo đều song tồn trong thế giới tâm linh, tưởng tượng,dựa vào lý trí và cảm xúc để tác động vào người tiếp nhận Hơn nữa dù là tình cảmtôn giáo hay tình cảm thẩm mỹ của văn học nghệ thuật đều nhằm thỏa mãn nhu cầutâm linh, là nơi gửi gắm tinh thần của con người Tất nhiên tình cảm tôn giáo vàtình cảm thẩm mỹ không phải là một Con người xuất phát từ niềm tin thiêng liêngvới sự kính tín, tín ngưỡng nên mới có tôn giáo (Religion) Tôn giáo tồn tại và hiệndiện là do con người sáng lập ra và vì con người Vì vậy chủ nghĩa nhân văn tôngiáo là nguồn cảm hứng cho văn học nói chung, đặc biệt thơ ca, đồng cảm với conngười trong văn chương.
Quan hệ giữa tôn giáo và thi ca còn biểu hiện ở sự nương tựa, “cộng sinh” ảnhhưởng lẫn nhau Tôn giáo có thể tác động đến sự chiêm nghiệm, suy tư về cuộcđời, về con người của nhà thơ cũng như những phương thức tổ chức thế giới nghệthuật Theo đó, một mặt tư duy tôn giáo ý nghĩa như một công cụ để người nghệ sĩ
“nhân loại hóa thơ mình” Tức là nó đóng vai trò cơ chế tư tưởng chuyển nhữnggiá trị riêng tư, cá nhân, dân tộc, khu vực thành những giá trị chung, thế giới nhânloại Tôn giáo đẩy mạnh khả năng suy tưởng của con người trước những câu hỏimang tính bản thể luận, “những vấn đề cuối cùng” (chữ của Bakhtin) của cõi nhânsinh: Ta là ai? Sống là gì? Chết là gì? Con người tồn tại như thế nào trong thế giớinày? Mặt khác, “tư duy tôn giáo còn là một công cụ hữu hiệu để nâng cách chotrực giác nghệ thuật tuyệt vời của nhà thơ bay cao, bay xa vào cõi siêu hình”.Những hình ảnh tưởng tượng kì ảo, linh diệu, những mô típ, chủ đề, ẩn dụ, giàusức gợi, cả giọng điệu đầy sức mê hoặc trong các kinh điển tôn giáo qua sự sángtạo, nhào nặn lại của thi sĩ hiện lên với một sắc thái thẩm mỹ đặc biệt
Đồng thời, tôn giáo như đối tượng quan tâm và mô tả của thơ ca Tôn giáo lànguồn cảm hứng bất tận cho sáng tạo nghệ thuật Còn thơ ca lại được sử dụng nhưmột hình thức để tôn giáo thể hiện các giáo lý, giáo luật Những bài kinh ca, nhữngcuốn sách ghi chép lại những triết lý tôn giáo đều được thể hiện một cách độc đáo,
Trang 20sáng tạo dưới những bài thơ, những câu thơ dài ngắn khác nhau, vừa tinh túy màlại thể hiện được chất văn chương nhẹ nhàng Vì vậy, có thể nói thơ ca và tôn giáokhông chỉ có quan hệ với nhau về nội dung mà còn cả hình thức thể hiện Nhờ thơ
ca mà các hình thức của tôn giáo hiện lên sinh động và hấp dẫn hơn, không đơnnhất Giáo lý của tôn giáo vô cùng sâu sắc và khó hiểu cho nên việc sử dụng nhữnghình thức của thơ ca làm cho tôn giáo gần gũi hơn và dễ thấu hiểu hơn Tôn giáocòn giúp cho người nghệ sĩ cân bằng lại những khủng hoảng về mặt tinh thần củacon người trong thời đại văn minh vật chất, giúp con người có niềm tin để sống tốthơn
Lịch sử thơ ca nhân loại đã ghi nhận nhiều những tên tuổi nghệ sĩ tiếp thu sángtạo tinh hoa của tôn giáo, tạo nên một phong cách nghệ thuật đặc sắc, một cáchnhìn nhận mới mẻ về tôn giáo Đã từng có một Boris Pasternak (Nga) với sự tái tạolại những tượng trưng ky – tô giáo để thể hiện những cảm quan sâu sắc về lịch sử,
về kiếp người Rồi đến một Kô-un (Hàn Quốc) với dòng thơ thiền hiện đại Ngượcdòng lịch sử, trong nền văn học Ấn Độ đã từng có một nhà thơ vĩ đại R Tagore –người làm lừng danh văn học châu Á với giải Nobel cao quý Trong thơ Tagoreniềm tin vào đấng tối cao của tôn giáo mang một ý niệm hoàn toàn mới mẻ.Thượng đế không còn trừu tượng siêu hình mà trở nên gần gũi sống động với nhiềuhình hài, dáng vẻ khác nhau Trong nhiều bài thơ, thượng đế đã hiện lên như mộtngười bạn, mang lại niềm vui sống tràn đầy, bất tận, là nguồn cảm hứng vô biêncho sáng tạo Người có mặt ở khắp nơi, trong nỗi buồn, niềm vui, con người đềutìm đến Người để chia sẻ… [8, 62]
Nói tóm lại, những phân tích trên đây đã phần nào cho chúng ta thấy mối quan
hệ giữa tôn giáo và thi ca hết sức phong phú, đa dạng Nó không chỉ ảnh hưởngtrong tư tưởng, trong tư duy nghệ thuật và cả trong lối thể hiện Trong đó, tính chấthướng nội của tư duy và sự xuất hiện của một thế giới biểu tượng là những đặctrưng cơ bản Tuy nhiên, mức độ của sự giao thoa, ảnh hưởng lại phụ thuộc nhiều
Trang 21vào đặc trưng thể loại, kiểu nhà thơ Nhưng dù ở góc độ nào chúng ta cũng dễ dàngnhận thấy rằng giữa tôn giáo và thi ca có một sự gắn kết mật thiết Tôn giáo vừanhư là một chất liệu, vừa là cái đích đến của nghệ thuật, còn thơ ca trong vai tròhình thức thể hiện đã mang lại những sức sống mới, những điệu hồn mới làm chođời sống tinh thần của con người thêm phong phú và tươi đẹp hơn Từ đó, chúng ta
có thể khẳng định, tôn giáo và nghệ thuật như đôi cánh nâng đỡ tâm hồn con ngườitrong suốt cuộc hành trình từ thuở hồng hoang đến buổi hiện đại Các dân tộc cóthể khác nhau về vô vàn đặc điểm nhưng đều gặp gỡ ở dấu ấn sâu sắc của tôn giáo
và nghệ thuật, đó là hằng số chung của nhân loại Nói như thế không có nghĩa làtôn giáo và nghệ thuật có vị trí như nhau trong đời sống của các dân tộc Tùy thuộcvào dân tộc tính, vùng miền mà vai trò của hai chiếc cánh này dài rộng, tương trợ,
bổ sung và thay thế khác nhau Nếu như đối với người Ấn Độ “tôn giáo đọc chovăn học chép”, thì đối với dân tộc ta “thơ chính là tôn giáo”
2 Sơ lược về cảm hứng tôn giáo trong văn học Việt Nam
Trong quá trình phát triển và ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống nhânloại, đặc biệt là ở các lĩnh vực tinh thần đã mang lại cho các lĩnh vực nghệ thuậtthêm nguồn sống mới Từ khi mới du nhập vào Việt Nam tôn giáo đã có những ảnhhưởng nhất định trong đời sống của con người Từ đó, tôn giáo đi vào thơ ca, cũngnhư vào văn học nghệ thuật nói chung một cách tự nhiên, phổ biến, đó chính lànguồn cảm hứng bất tận để các văn nghệ sĩ hướng tới Nền văn học chân chính lànền văn học hướng con người ta đến với sự trải nghiệm mọi cảm xúc trong đờisống, văn học làm giàu thêm đời sống tâm hồn của con người Cũng như vậy, tôngiáo mở ra cho con người một thế giới khác một thế giới của đời sống tâm linh,tâm cảm, hướng con người đến với những giá trị siêu tại Tôn giáo đến với văn họcViệt Nam đã trải qua sự thanh lọc cho phù hợp với những tín ngưỡng dân tộc tạonên một sắc thái riêng, khác biệt với thứ tôn giáo chính thống lúc ban đầu Mặt
Trang 22khác, tôn giáo ảnh hưởng lên tâm hồn nhạy cảm của các nghệ sĩ cũng không thuầnnhất Vì vậy, sự cộng hưởng trong văn học được tạo nên từ sự giao thoa của nhiềuhình thức tôn giáo khác nhau, văn học không phải chỉ thể hiện một loại tôn giáonhất định mà mỗi tôn giáo được thể hiện trong mỗi thời kì văn học đậm nhạt khácnhau.
Trước hết là trong văn học dân gian, một nền văn học mang đậm màu sắctriết lí của dân tộc Từ thần thoại, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ chịu ảnh hưởngsâu sắc của tư tưởng nhà phật Có thể nối, đối với nền văn học nước ta thì phật giáo
là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng và lâu bền nhất Phật giáo là tôn giáo
về con người và vì con người, hướng con người đến với tình yêu thương bao la,mênh mông, với tư tưởng “từ bi hỷ xả” và đặc biệt hướng đến những con ngườiđau khổ Trong văn học dân gian, có thể nói truyện cổ tích là bộ phận thể hiện rõnhất tư tưởng nhà phật “Thạch Sanh”, “Tấm Cám” thể hiện giáo lý nhân quả -nghiệp báo, khuyên răn con người “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” Hình ảnhông Bụt trong các câu chuyện cổ tích đã hình tượng hóa tấm lòng cưu mang củangười Việt bằng màu sắc phật giáo Cùng với nó, thuyết luân hồi của đạo Phật đãtrở thành chỗ dựa và phương tiện nghệ thuật, giúp cho tác giả dân gian thực hiệnđược ước mơ công bằng xã hội và liên tưởng thẩm mỹ một cách thuận lợi trong trítưởng tượng và bằng trí tưởng tượng sáng tạo Điều này được minh chứng bằng sự
kì diệu trong những tình tiết sáng tạo phi thực Hình ảnh Tấm sống lại sau bao lần
bị tiêu diệt và hóa thân thành chim vàng anh – xoan đào – khung cửi – cây thị, thểhiện ước mơ của nhân dân gửi gắm vào nhân vật Tấm Tấm phải sống để hưởnghạnh phúc, để trừng trị những kẻ thù độc ác và mẹ con Tấm Cám nhất định phảiđền tội Đó cũng là quan niệm thiện ác và tinh thần lạc quan, niềm tin vào chân lý
và công bằng của tâm thức người Việt trong truyện cổ tích Cùng với truyện cổtích, tục ngữ Việt Nam có nhiều giá trị nhân bản rút từ tư tưởng nhà Phật Những
Trang 23kinh nghiệm về nhân sinh của dân tộc Việt Nam biểu hiện ở tục ngữ tiềm tang màusắc phật giáo, chứa đựng triết lý nhân quả luân hồi nghiệp báo và cả về đức từ - bi– hỷ - xả Nhìn chung, luân lý phật giáo trong tục ngữ dễ hiểu, dễ cảm nhận, dạy
con người biết sống đời sống tốt lành, lương thiện “Giấy rách phải giữ lấy lề”,
“gần mực thì đen gần đèn thì rạng”, “thương người như thể thương thân” Tinh
thần phật giáo trong tục ngữ là tổng hợp kết tinh của những triết lý dân gian có ýnghĩa nhân sinh cao đẹp thấm đượm tình người Nguyên lý cao đẹp của phật giáotrong tục ngữ nhằm thể hiện khát vọng của con người bình dân trong cuộc sống
Như vậy, trong quan hệ ảnh hưởng với tinh thần phật giáo ta thấy ít nhiềuvăn học dân gian đã phản ánh một thái độ sống, có một sức tác động mãnh liệttrong đời sống tín ngưỡng, tạo nên một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản sắc dântộc và tinh thần phật giáo
Đến văn học trung đại, trong văn hóa nói chung, đặc biệt trong văn học vớihiện tượng “tam giáo đồng nguyên” (Nho – Phật – Đạo), khiến cho thơ văn thờitrung đại thấm đẫm tinh thần tôn giáo Thời kì đầu, phật giáo vẫn là tôn giáo cóảnh hưởng mạnh mẽ nhất Lịch sử văn học trung đại Việt Nam phải kể đến những
vẻ đẹp kết tinh từ phật giáo với văn chương Biết bao kiệt tác của cha ông chuyênchở tinh thần nhân văn của đạo phật, phản ánh niềm tin, khát vọng cao cả của conngười Trong thời kì văn học trung đại, thơ ca Lý –Trần luôn được nhắc đến nhưmột sự thăng hoa của tinh thần phật giáo Với mạch nguồn cảm hứng từ giáo lýThiền tong vô cùng đa dạng và phong phú, thơ Thiền đã thể hiện rõ vai trò của loạihình thơ chức năng: giái tỏa sự bừng ngộ và tạo ra sự trợ lực nhằm giác gộ thinhân Nhờ đạo Phật với các bia chùa, sách “Thiền uyển tập anh” đã lưu giữ phầnnào các tác phẩm quý giá của văn học Lý Trần Vì vậy, đạo Phật đã đóng góp côngtrạng cực kì quan trọng đối với sự phát triển cũng như sự bảo tồn của văn học nướcnhà Đến giai đoạn sau, từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đến “Cung oán ngâm
Trang 24khúc” của Nguyễn Gia Thiều… đều thấm đẫm tinh thần, giáo lý phật giáo Đặcbiệt với “Cung oán ngâm khúc” là tác phẩm chữ Nôm nổi tiếng, tác phẩm này chothấy tâm tư của tác giả không chỉ thâm nhập ý tưởng siêu thoát của Phật – Lão màcòn bị níu kéo bởi triết lí nhập thế tích cực của nho giáo Giai đoạn tiếp theokhoảng thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởngmạnh mẽ hơn cả từ nho giáo Nho giáo ảnh hưởng tới văn học Việt Nam với tưcách là một học thuyết tức là các quan điểm về thế giới, xã hội, con người, lýtưởng… Nho giáo một mặt khích lệ sự phát triển của văn chương khi tư tưởng nhogia đề cao người có học, đề cao kẻ làm văn chương, mặt khác nho giáo cũng kìmhãm nặng nề sự phát triển của văn học nho giáo hình dung xã hội trong khuôn khổcủa tam cương ngũ thường, đòi hỏi con người phải có trách nhiệm, có tình nghĩa…
đã chi phối đến cảm xúc, cách suy nghĩ làm cho vấn đề được con người quan tâmhàng đầu là đạo đức Hơn nữa, quan niệm của nho giáo coi văn chương là để giáohóa, có quan hệ với thế đạo, nhân tâm, phải có nội dung đạo lý Nho giáo hướngvăn học vào truyền đạt đạo lý chứ không phải để tả và kể, phản ánh hiện thực
Thời kỳ văn học Việt Nam hiện đại, khi xã hội ngày càng phát triển, sự giaolưu, tiếp nhận ngày càng phong phú thì những luồng gió mới đến từ phương Tây đãmang đến cho nền văn hóa Việt Nam thêm nhiều điều mới mẻ Tôn giáo trong vănhọc Việt Nam không còn là sự độc tôn của một dòng tôn giáo nào mà bắt đầu có sựhỗn giao của nhiều loại hình tôn giáo trong sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Mộtnền văn học tiếp thu và chịu ảnh hưởng của các tôn giáo không chỉ là từ Nho giáo,Phật giáo mà cả Thiên chúa giáo trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc Viết về tôn giáo ởViệt Nam các tác phẩm các tác phẩm chứa đựng nhiều yếu tố nhân sinh, thể hiện
sự am hiểu giáo lý tôn giáo Do vậy, văn học viết về tôn giáo luôn là nguồn chấtliệu để các nhà thơ, nhà văn khai thác Trong đó, đáng kể nhất phải nói đến ở giaiđoạn này là ánh sáng của Thiên chúa giáo đến từ phương Tây du nhập vào nước ta
Trang 25và nhanh chóng chiếm lĩnh đời sống tâm linh sâu kín, nhanh chóng trở thành chỗdựa tinh thần to lớn để xoa dịu những nỗi đau cho con người Hàn Mặc Tử - conngười của những nỗi đau đớn, cô đơn tận cùng đã đến với tôn giáo trong tâm thứccủa một “kẻ có tín tâm” Hàn Mặc Tử đã sống Đạo, chết Đạo và sáng tác thơ Đạomột cách tha thiết khiến nhiều người cho Hàn Mặc Tử là một “nhà thơ tôn giáo”,nhưng ông đã vượt hẳn lên cái mục đích “truyền bá đức tin” và người thi sĩ ấy đếnvới tôn giáo một cách rất tự nhiên Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã khẳng định:
“Thơ tôn giáo đã ra đời với Hàn Mặc Tử Tôi giám chắc rồi đây còn nhiều thi sĩ Việt Nam sẽ tìm nguồn cảm hứng trong Đạo giáo và đưa thi ca vào con đường triết học, con đường rất mới, rất xa xăm mà đến nay chưa mấy nhà thơ nào giám bước tới” Nhận định mang ý nghĩa tiên tri này đã thể hiện sự linh ứng, khi càng về
các giai đoạn sau các văn nghệ sĩ theo cách riêng của mình đã sử dụng tôn giáonhư một nguồn cảm hứng vô biên để tạo nên những tác phẩm có giá trị không chỉtrong thơ mà cả ở văn xuôi Nguyễn Xuân Khánh với “Mẫu thượng ngàn” và “Độigạo lên chùa”, qua sự ảnh hưởng và cái nhìn của Nho, Phật và đạo Mẫu Việt Nam,ánh sáng của tôn giáo như được thổi thêm một hồn sống mới, thể hiện bút lực dồidào và một tâm hồn nhạy cảm của nhà văn
Tính chất hỗn giao của tôn giáo trong tâm hồn thi sĩ thể hiện rõ hơn trong tiểuthuyết Nguyễn Việt Hà Thể hiện một cách khám phá đời sống và con người theomột chiều hướng sâu sắc hơn Khám phá con người ở chiều sâu bên trong, conngười tinh thần, con người tâm linh, phát hiện ra những băn khoăn, day dứt, khủnghoảng tinh thần mà con người phải đối diện trong một xã hội mà các bảng thanggiá trị đều bị đảo lộn Đến Nguyễn Quang Thiều, xuất phát từ thi nhãn tôn giáo củanhà thơ, ông đã mang đến một thế giới hình tượng thấm đẫm cảnh quan tôn giáo
Để thể hiện tôn giáo trong sáng tác của mình, Nguyễn Quang Thiều đã “kì bí hóa
Trang 26sự sống, linh thiêng hóa cái đẹp, nghi lễ hóa sự kiện trữ tình và long trọng hóa phát ngôn”.
Trong dòng xoáy phát triển của văn học hiện đại, Mai Văn Phấn đã góp phầnlàm khuấy động sự im lặng trong làng thơ Việt Nam Với nền tảng của một conchiên Thiên chúa giáo, cùng với sự đam mê, yêu thích đối với đạo Phật và sự amhiểu nhiều tôn giáo khác, Mai Văn Phấn đã mang đến nhiều sự sáng tạo, thể hiệnđộc đáo trong cách nhìn về tôn giáo Dù được sinh ra trong gia đình theo đạo Thiênchúa, từ bé ông đã rất ngoan đạo, nhưng lớn lên khi gặp đạo Phật, ông đã rất mêtriết lí của Phật giáo, thấy đạo Phật rất gần với dân tộc Việt Nam Mai Văn Phấncũng là người nghiên cứu sâu về các tôn giáo khác như đạo Hồi, đạo Hin đu, đạoMẫu của người Việt Nam Vì vậy, thơ Mai Văn Phấn không dùng để làm phươngtiện phát ngôn cho một tôn giáo nhất định nào cả, cũng không phải là hệ thống giáo
lý được trữ tình hóa Mà đó là một thế giới nghệ thuật đa sắc màu, mang nhữngquan niệm, những nhận thức riêng của Mai Văn Phấn về tôn giáo Trong đó, thi sĩthể hiện “tín tâm” với tất cả tôn giáo, ở đó ông luôn định hình các sự vật, hiệntượng bằng cách nhìn nhận chúng trong nhiều chiều kích khác nhau Bằng ngòi búttài hoa, uyên bác và một trái tim nhạy cảm của người nghệ sĩ, Mai Văn Phấn đãgóp thêm vào làng thơ một mĩ quan mới về tôn giáo, khẳng định một lần nữa mạchnguồn tôn giáo là vô tận trong thế giới diệu kì mà thơ ca hướng đến Để từ đó, MaiVăn Phấn hướng đến một trường thẩm mỹ mới, một tư tưởng nhất quán về tôn giáorằng, thượng đế chỉ có một, tất cả các tôn giáo đều có chung mục đích đưa conngười đến bến thiện, dạy họ ăn ngay ở lành Khác nhau ở các tôn giáo chỉ là quanniệm sống, hành lễ, phong tục mà thôi… Là một nhà thơ, Mai Văn Phấn có quanniệm riêng về tôn giáo theo kiểu thi sĩ nữa
3 Sự hình thành cảm hứng tôn giáo trong thơ của Mai Văn Phấn
1 Quê hương, gia đình – ngọn nguồn của cảm hứng tôn giáo
Trang 27Mỗi con người sinh ra đều có nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, đó là nơi ấp
ủ, nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi chúng ta Ở đó, con người tiếp nhận những bài họclàm người đầu tiên để hình thành nên nhân cách mỗi người Những phong tục tậpquán của quê hương ăn sâu trong tính cách con người, đến khi trưởng thành dù conngười có rời xa nơi ấy thì vẫn mang trong mình nếp nghĩ, lối sống đặc trưng củanơi mình sinh ra Vì vậy, với bất kì ai, mảnh đất quê hương luôn luôn là thánh địatrong sâu thẳm trái tim Đặc biệt với nhà văn, quê hương là cội nguồn của cảmhứng sáng tạo “Một chốn đôi quê” là điều đặc biệt mà chúng ta có thể nói về quêhương của Mai Văn Phấn Nhà thơ Mai Văn Phấn sinh năm 1955, tại một làng hẻolánh châu thổ sông Hồng thuộc địa phận Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Đó là nơi tuổithơ Mai Văn Phấn đi qua trong sự gắn bó với ruộng đồng, làng mạc và những conngười chân chất chân lấm tay bùn Cuộc sống ở đó đã nuôi dưỡng tâm hồn nhạycảm của thi nhân, để trong thời kì học trò Mai Văn Phấn là một người yêu thơ văn
và là một học sinh giỏi văn của trường cấp 3B huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.Quê hương đã để lại trong lòng thi sĩ những dấu ấn khó phai, đây là ngưỡng cửađầu tiên để thi sĩ hòa nhập với thế giới rộng lớn sau này Đặc biệt, Kim Sơn Vùngđất được biết đến với vai trò trung tâm của xứ đạo Phát Diệm, nay là giáo phậnPhát Diệm với mật độ dày đặc các nhà thờ công giáo, nơi có gần 80.000 giáo dân,chiếm trên 47% dân số toàn huyện, có quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm nổi tiếng,được mệnh danh là "kinh đô công giáo" của Việt Nam Trả lời câu hỏi của chúngtôi về “tâm sự của nhà thơ, khi nói về "xóm đạo", nơi ông sinh ra và đã được ông
nhắc đến trong một số bài phỏng vấn”, Mai Văn Phấn đã thẳng thắn chia sẻ: “Tôi được sinh ra trong gia đình theo đạo Thiên Chúa, có căn gốc từ thời tổ tiên tôi theo chân cụ Nguyễn Công Trứ về lập ấp, dựng lên huyện Kim Sơn, Ninh Bình ngày nay Từ khởi thuỷ, giáo dân quê tôi đã xây dựng rất nhiều nhà thờ Cả địa phận Phát Diệm có quần thể nhà thờ lớn (tại thị trấn Phát Diệm), trong đó nhà thờ
đá là công trình độc đáo, được mô phỏng theo những nét kiến trúc đình chùa
Trang 28truyền thống của Việt Nam với cách bài trí đăng đối, uy nghiêm mà vẫn rất hài hòa, hợp lý, đặc sắc duy nhất ở Việt Nam Huyện Kim Sơn có 27 nhà thờ xứ, tương đương với 27 xã theo địa giới hành chính Và, hầu như mỗi thôn làng còn có nhà thờ họ, thờ thánh bản mệnh của mỗi con chiên Tôi nhớ mãi khi mình mới lớn, chừng 5 - 6 tuổi, lần đầu tiên biết cảm nhận về thế giới gần gũi xung quanh, thì tiếng chuông nhà thờ, tiếng cầu kinh sớm tối của giáo dân, tiếng ca đoàn phối bè trong những bài thánh ca là những âm thanh huyền hoặc và cũng đầy uy lực nơi tuổi thơ bùn đất và êm đềm của tôi Âm thanh linh thiêng, quyến rũ và bí ẩn ấy tựa như ánh sáng, như không khí thấm vào từng hơi thở, bước chân chập chững của tôi Lúc ấy tôi chỉ biết nghĩ đơn giản rằng, mình phải sống tốt, có mọi cử chỉ cao đẹp trên thế gian này, bởi mình làm bất cứ điều gì thì Đấng-Toàn-Năng/ Tạo Hóa cũng sẽ nhìn thấy Từ ấy tôi luôn tin có một thế giới khác nữa đang soi xét, chi phối đời sống chúng ta Và sau này tìm đến với thơ ca, cũng là cách tôi tự mở cánh cửa riêng mình để nhìn thấy và đi vào thế giới linh thiêng, bí ẩn ấy Tôi được bà nội dạy kinh bổn từ khi chưa biết chữ Cứ chiều chiều, tôi cắp chiếc chiếu manh theo bà đi nhà thờ Bà nội hay mua cho tôi chiếc bánh "khoái" (tên địa phương, bánh tráng bằng bột gạo, màu vàng, trong có tép khô) Ăn xong, tôi bình tâm ngồi đọc kinh cho hết buổi lễ Lớn lên tôi được đọc kinh Tân ước và Cực ước, lịch sử Giáo hội, lich sử các thánh, học giáo lý Thấy tôi ngoan đạo, bà con giáo dân trong họ đạo khuyên cha mẹ tôi nên gửi tôi vào nhà dòng để có thể tu hành sau này; nhưng khi nhận ra "con ngựa hoang' trong tâm hồn mình, thấy sự đam mê, run rẩy quá đỗi của mình với vẻ đẹp của thiên nhiên và con người tôi đã từ chối Sau này tôi mới ý thức được rằng: nhà tu hành và nhà thơ đi từ hai thái cực, có cách hành xử trong cõi thế tục hoàn toàn khác biệt, nhưng cùng hướng tới đích là
vẻ Đẹp vĩnh cửu mà Thượng đế đã chờ sẵn ở phía trước Nhớ lúc tôi 6 tuổi đã được cha xứ làm lễ Rửa tội Đây là bí tích đầu tiên trong ba bí tích khai tâm đặt nền tảng cho đời sống Kitô hữu Kể từ giây phút đó, tôi cảm thấy ánh sáng của
Trang 29Thiên Chúa luôn dẫn dắt, soi rọi đời sống tâm hồn tôi Ánh sáng này được tái hiện
rõ nét nhất trong các tập thơ Gọi xanh, Cầu nguyện ban mai sau này”.
Chỉ qua những dòng tâm sự ngắn ngủi mà rất chân tình của nhà thơ, chúng
ta không chỉ hiểu về quê hương của Mai Văn Phấn, mà còn phần nào hé mở vềtruyền thống lâu bền trong một gia đình theo đạo Thiên chúa, từ ông bà, cha mẹ,rồi đến thế hệ của nhà thơ Như vậy, dấu ấn của thiên chúa giáo in đậm trong cácsáng tác của Mai Văn Phấn trong những giai đoạn đầu là điều dễ hiểu
Quê hương thứ hai của Mai Văn Phấn, là mảnh đất lãng mạn của những consóng biển dạt dào và những làn gió mát trong lành Hải Phòng - nơi Mai Văn Phấn
đã định cư hơn 20 năm Dẫu Mai Văn Phấn chẳng sinh ra ở đây, nhưng hồn thơlúc nào cũng đầy ắp gió biển, rất ngang tàng và phóng dật Chủ nhân của nhữngcâu thơ có nhịp và không nhịp, nhịp sóng, nhịp thời gian, nhịp đời sống Mỗi consóng tự làm mới mình sau mỗi lần vươn tới Ấy cũng là nét đặc trưng của thơ MaiVăn Phấn Phong vị Hải Phòng có “trầm sâu của tinh tế Hà Thành, có chân chấtđằm thắm sen nhãn khoai lúa của châu thổ sông Hồng, và gân guốc vạm vỡ vầngngực thủy thủ trên mũi tàu hững bão” (Ý của Nguyễn Tham Thiện Kế) Khí chất
ấy, cũng hiện diện trong thơ Mai Văn Phấn
Thành phố Cảng, nơi đầu sóng ngọn gió, với những chùm hoa phượng đỏrực cả góc trời, là nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào của bao nhà văn, nghệ sĩ Sẽ làkhập khiễng, nếu đem so sánh văn học Hải Phòng với các trung tâm văn học lớnnhư Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế Song, không vì thế mà văn học HảiPhòng không mang trong mình những nét riêng, độc đáo, là cá tính của đất vàngười nơi đây, mang hơi thở của biển cả, của những con người ăn sóng nói gió…Trong suốt chặng đường dài của lịch sử, chúng ta có thể tự hào khẳng định truyềnthống thơ và văn học nói chung của Hải Phòng, thời nào cũng có những tác giả
Trang 30xuất sắc, chẳng những làm sáng đẹp đất Cảng mà còn đóng góp vào sự nghiệp vănhọc Việt Nam, tiêu biểu như Thế Lữ, Văn Cao, Nguyên Hồng, Thi Hoàng, ThanhTùng, Đồng Đức Bốn, Mai Văn Phấn Tên tuổi và sáng tác của những người nghệ
sĩ, mãi mãi là những bông hoa đẹp trong vườn hoa đầy hương sắc của nền văn họcnước nhà
Như đã nói ở trên, từ tâm sự của Mai Văn Phấn đã hé mở ở người thơ ấy còn
có một nền tảng gia đình vững chắc đủ để chắp cánh cho những ước mơ nơi ôngđược vươn cao và xa hơn nữa Mai Văn Phấn được sinh ra trong một gia đìnhnhiều thế hệ là con chiên của đạo Thiên chúa Đây chính là căn cốt làm nên chấttôn giáo trong thơ của ông Một hồn thơ luôn hướng tới thế giới của những vẻ đẹphuyền bí mà cũng hết sức tinh khiết và đẹp đẽ Nhưng, để tôn giáo trong thơ ôngtrở nên đa diện và đa sắc hơn phải kể đến “tình yêu” của thi sĩ, đó cũng chính làngười luôn bên cạnh giúp sức và ủng hộ ông rất nhiều trong suốt hành trình sáng
tác Trong bài “Mai Văn Phấn: vượt thoát về phía trong veo”, nhà thơ Nguyễn Hiệp đã ghi lại tâm sự của ông: “tôi sinh ra trong một gia đình theo đạo thiên chúa, từ nhỏ tôi rất ngoan đạo, thuộc kinh bổn, thông thạo kinh Tân ước và Cựu ước, các sách thánh, mê hát thánh ca… Sau này khi du học ở Liên Xô cũ (1983 – 1984), tôi đã gặp vợ tôi bây giờ, một người theo đạo Phật Tôi đã đến với Phật giáo bằng tình yêu và cả sự chiều chuộng người tôi yêu nữa Khi nghiên cứu các giáo lí của các tôn giáo lớn trên thế giới, tôi nhận ra rằng: Thượng đế chỉ có một.
Và, chắc chắn chúng ta được sinh ra và bị cho phối bởi một Đấng – Toàn – Năng Đấng – Toàn – Năng cho con người biết được gần đúng khuôn mặt và tinh thần của Ngài thông qua các hình thức tôn giáo mà thôi…” [10, 1] Từ đó có thể thấy,
chính nền tảng quê hương và gia đình vững chắc đã hun đúc trong tâm hồn củangười thi sĩ ấy bắt đầu chạm đến vẻ đẹp giao hòa giữa nhiều tôn giáo khác nhau, đểrồi nhà thơ tìm đến với một chân lí và cũng là quan điểm sáng tác của mình rằng,
Trang 31“Thượng đế chỉ có một, tất cả các tôn giáo đều chung một mục đích đưa con người ta đến bến thiện, dạy họ ăn ngay ở lành Khác nhau giữa các tôn giáo chỉ
là quan điểm sống, hành lễ, phong tục mà thôi…”.
2 Quan niệm về thơ và người làm thơ
Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình mỗi người nghệ sĩ đều xâydựng cho một trường thẩm mỹ riêng, hình thành những quan niệm có tính chấtđịnh hướng cho sáng tác Dù ở phương diện trực tiếp hay gián tiếp thì quá trình ấycũng được thi sĩ cụ thể hóa, sinh động hóa qua những quan niệm nghệ thuật củamình Nó cũng chính là sự áp dụng những gì đã tích lũy thành những “đứa con tinhthần” mang phong cách riêng mà dù ở bất cứ đâu người đọc cũng có thể gọi tênđược bằng ấn tượng của mình Thành công của một tác phẩm văn học được tạo nêntrước hết từ tiền đề của các quan niệm đúng đắn Người nghệ sĩ chân chính làngười nghệ sĩ biết cách xây dựng cho mình những cảm quan riêng và tạo ra “sóngâm” trong tác phẩm bằng chính những lí lẽ riêng của mình đến người đọc Quanniệm nghệ thuật chính là thể hiện phần ý thức tự giác mang tính chủ quan củangười nghệ sĩ, nó được rút ra từ sự nghiệp sáng tác và chính con đường thơ đó, gópphần khẳng định phong cách, cá tính sáng tạo trong thơ Mai Văn Phấn là một nghệ
sĩ như vậy Qua các giai đoạn sáng tác, để dần dần trưởng thành và hoàn thiệnnhững quan niệm, xây dựng một phong cách sáng tạo mà khó có thể lẫn tạp trong
vòng xoáy thơ hiện đại Ông đã từng khẳng định “phong cách của nhà thơ không được đơn điệu, nó giống như cái Ru bích, một trò chơi của trẻ con, anh muốn xem màu gì thì xin hãy quay Nhưng chắc chắn quay chiều nào, cách nào, anh vẫn nhận ra diện mạo, tinh thần của thi sĩ” [33, 425].
*Quan niệm về thơ
Trang 32Nếu từ những năm 80, Bằng Việt đã tỏ ra hoài nghi: “Thơ có còn tri kỉ nữa hay chăng? Đời đột biến mà thơ đi quá chậm/ Đời hết sức thẳng thừng Thơ vòng vèo luẩn quẩn/ Đời trả giá hết mình Thơ khi nhớ khi quên” (Lại nghĩ về thơ) Và
thơ trong qua trình vận động của mình đã phải tự đổi mới để rồi câu hỏi trên đãthành lời khẳng định Tất nhiên, sự đổi mới phải bắt đầu từ quan niệm, từ ý thứcnghệ thuật của người cầm bút Văn học thời kì hiện đại càng đòi hỏi các văn nghệ
sĩ của chúng ta phải luôn ý thức về điều này Và, nhà thơ Mai Văn Phấn, con ngườicủa những suy tư, tìm tòi sáng tạo đã luôn tự làm mới mình, luôn có những cuộc
“vong thân” đầy táo bạo để mang đến sự “vượt thoát” thành công Điều này đượcông thể hiện trước hết trong quan niệm về thơ ca
Từ xưa đến nay, khi nói về một bài thơ hay dù là ai thì cũng chỉ có thể đưa
ra những tiêu chí tương đối về nó, đứng ở những góc nhìn khác nhau sẽ mang đếnnhững quan niệm khác nhau Là con người luôn muốn “bung ra” khỏi những lốimòn xưa cũ, với Mai Văn Phấn thơ không đơn giản là “tải đạo, nói chí”, cũng
không dừng lại ở việc phản ánh những vấn đề then chốt của thời đại, mà “thơ hay trong khoảng im lặng giữa các chữ, là mang đến cho ta niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức” [33, 389] Với quan niệm này của thi sĩ đã cho ta
thấy một cách nhìn mới về nhận thức thơ hay Nhà thơ không tập trung vào cácđiểm chói sáng mà hướng đến những bài thơ hay trong quan hệ với chỉnh thể Thơhay trước hết là mang đến cho chúng ta “niềm ngạc nhiên về thế giới”, vậy niềmngạc nhiên đó có được từ đâu? Trước hết phải xuất phát từ ý thức luôn tự làm mớimình của thi sĩ, cái mà nhà thơ Mai Văn Phấn gọi đó là những cuộc “vong thân”.Tuy nhiên, “vong thân” không nhất thiết là phải rũ bỏ, quay lưng lại với cái cũ vàtìm đến những cái mới hoàn toàn Mà ngược lại, sức hấp dẫn của nó đối với độcgiả chính là trên những miền đất cằn cỗi ấy người nghệ sĩ sẽ làm cho nó màu mỡhơn, tươi mát và giàu sức sống hơn Từ đó, mở ra trước mắt người đọc những chân
Trang 33trời mới nhưng không hề lạ lẫm mà hết sức gần gũi, quen thuộc như những gì tavẫn luôn cảm, luôn nghĩ.
Như vậy, quan niệm đúng đắn về thơ chính là cách nhà thơ tìm về với nghệthuật chân chính Qua hành trình sáng tác của mình chính là minh chứng chonhững cách nhìn nhận và đánh giá của nhà thơ để vươn tới những chân trời rộng
mở và đầy ánh sáng của nghệ thuật Trên con đường ấy sẽ không thể thiếu đượcdấu ấn của sự sáng tạo và những quan niệm đúng đắn
*Quan niệm về người làm thơ
Để có thể đến được với thế giới của nghệ thuật chân chính, bên cạnh quanniệm đúng về thơ thì cũng không thể thiếu quan niệm về người làm thơ Trong một
bài tiểu luận, Mai Văn Phấn đã từng nói “thơ ca đang chuyển động trong một thế giới đa chiều, đa cực Trách nhiệm của mỗi nhà thơ là phải tự khám phá cho được không gian nghệ thuật của chính mình, nếu thực sự muốn tồn tại trong không gian mới của thời đại” [33, 375] Nhà thơ phải biết tập trung vào những điểm chập nổ
(những câu thơ nhói sóng) mà gây sức ép Như vậy, với Mai Văn Phấn, người nghệ
sĩ chân chính bên cạnh những quan niệm nghệ thuật đúng đắn thì cũng phải xácđịnh được trách nhiệm và sứ mệnh nghệ thuật của mình Nam Cao đã từng quan
niệm: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” (Đời thừa).
Như đã nói ở trên, đối với Mai Văn Phấn, sự đổi mới và sáng tạo không phải là sựbứt rào, đi ra khỏi những nền cũ và những gì được gọi là truyền thống, mà đối vớiông sự đổi mới, sáng tạo đó chính là đưa thơ đến với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
âm hưởng truyền thống và màu sắc hiện đại Khi ấy, thơ đến với độc giả bằng bộcánh mới, đa sắc, lộng lẫy nhưng không lạ lẫm mà gần gũi, quen thuộc như chính
Trang 34những nốt nhạc thường xuyên vẫn ngân nga ở quê hương mình và trong tâm hồn
mình Nhà thơ Việt phải có “sự ra đi và sẽ trở về” Ra đi “để thám hiểm, để đặt chân lên những vùng đất mới”, còn “trở về không có nghĩa là quay lại ngôi nhà cũ (hiện thực và lãng mạng) mà mang một diện mạo khác, tâm thế khác trên con đường khác” [33, 385] Hình ảnh thơ Việt đương đại trải ra trên bề mặt thế giới
mang tính toàn cầu, mới mẻ, giàu tính nhân văn, đẹp đẽ sống trong tâm hồn Việt
Vì vậy, trong quá trình suy ngẫm, Mai Văn Phấn đã rút ra được chìa khóa đưangười thơ vào với thế giới thơ Người viết khi đã khai phá được bức tường thànhbên ngoài thì phải đảm bảo sự tràn đầy của cảm xúc, cảm xúc dâng trào dòng thơ
cũng được tuôn chảy ra từ đó Ngược lại, nếu “cảm xúc không đầy, thơ sẽ rơi vào
sự rối rắm, làm xiếc chứ và lại sa vào… tắc tị” Với ông sự sáng tạo của người
nghệ sĩ luôn là mầm sống để người nghệ sĩ ấy được tồn tại với những sản phẩm mà
mình làm ra “Sáng tạo chính là cuộc vong thân, là quá trình phủ định bản ngã”,
Người nghệ sĩ với ý chí và nghị lực phi thường sẽ đưa đến chỗ tự phủ định mình đểluôn thực hiện những bước tiến trên hành trình sáng tạo nghệ thuật
Mai Văn Phấn đã ví “việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kì lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn, phức tạp của con người” [33, 454] Rõ ràng mỗi một nhà
thơ là có một quan niệm, một cách nhìn nhận khác nhau, có bao nhiêu nhà thơ là
có bấy nhiêu con đường đến với thi ca Nhà thơ, theo Mai Văn Phấn "phải là nhà văn hoá Kiến thức văn hoá ấy lắng sâu vào nhà thơ một cách tự nhiên, và tới một hoàn cảnh “hữu duyên” nào đó, nó đột khởi dâng lên thành cảm xúc thi ca Lúc ấy
tứ bài thơ vụt đến bất ngờ, tưởng như “của nhặt được", nhưng thực ra nó đã được tích luỹ vô tình ở đâu đó từ lâu".
Từ quan niệm về thơ và người làm thơ, Mai Văn Phấn đưa ra mối quan hệgiữa thơ ca với người tiếp nhận Với ông, người nghệ sĩ khi viết xong một bài thơ
Trang 35là đã hoàn thành sứ mệnh của mình, lúc đó tác giả coi như “đã chết”, còn tác phẩmlại được sáng tạo một lần nữa bởi bạn đọc Người tiếp nhận chính là người đồngsáng tạo với nhà thơ, là người luôn sống cùng với tác phẩm Với Mai Văn Phấn,
“thơ ca gần như tôn giáo, nhưng không cao vợi và phải thờ phụng theo những nghi lễ Thơ ca cũng là tâm linh, nhưng nhà thơ có thể làm biến đổi cả đời sống tinh thần con người và mở ra những không gian riêng biệt khi gặp được “duyên” cảm xúc” [33, 435].
Nói tóm lại, là một nghệ sĩ chân chính, Mai Văn Phấn luôn định hướng vàxác định cho mình những con đường đúng đắn để đến với nghệ thuật đích thực Làmột thi sĩ có sự ảnh hưởng của nhiều ánh sáng sáng tạo ở những chiều kích khácnhau, Mai Văn Phấn luôn chủ động để tìm cho mình một ý hướng tiến bộ vừa tiếpthu truyền thống, đồng thời trầm tích thêm truyền thống vừa mang hơi thở hiện đại
3 Quan niệm về nhân sinh và thế giới
Đến với thơ ca, mỗi nghệ sĩ đều tìm cho mình một tâm thế nhất định Điều
đó không chỉ là kim chỉ nam cho sáng tác của thi sĩ mà còn góp phần tạo nên sắcđiệu riêng trong sáng tác ở mỗi người Trong quá trình sáng tác của mỗi nhà thơ,chính là sự ghi dấu về nhân sinh quan và thế giới quan Trong đó, mỗi cách nhìnnhận và đánh giá của thi sĩ sẽ như một nốt nhạc của bản hòa tấu về con người vàcuộc đời
*Quan niệm về nhân sinh
Quan niệm về nhân sinh chính là quan niệm về sự sống con người, cụ thểhơn đó là sự xem sét, suy nghĩ của người nghệ sĩ về sự sống con người Văn học lànhân học Từ xưa đến nay văn chương đều lấy con người làm đối tượng miêu tả,phản ánh Lịch sử văn học là lịch sử về con người, lịch sử về những giới hạn cũng
như khát vọng của con người “là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn”, “là
Trang 36hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống” Quan niệm về con người, cùng
với cách nhìn nhận đánh giá hiện thực chính là cơ sở chi phối những nguyên tắcchiếm lĩnh, cắt nghĩa đời sống của nghệ sĩ, là nơi đánh dấu trình độ tư duy nghệthuật của một thời đại, một trào lưu, một tác giả
Trở lại, văn chương cũng phục vụ con người Con người trong văn chương thểhiện ý thức về con người và cuộc đời của nhà văn Đây là một yếu tố quan trọnglàm cơ sở cho việc sáng tạo các hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm Trong văn
học, con người bao giờ cũng là con người được quan niệm, vì thế “nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến ý hướng của nhà văn hướng đến thế giới và con người ngay trong khi sáng tác văn học” và “quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lý của tác phẩm” Quan
niệm con người trong sáng tác của Mai Văn Phấn thể hiện tầm quan sát, sự nhậnthức về con người của thi sĩ, tạo cho các thi phẩm của ông có được chiều sâu triết línhất định
Như chúng ta đã biết, cuộc sống muôn hình, muôn vẻ, con người tồn tại và pháttriển trong các mối quan hệ xã hội chứ không phải là những thực thể độc lập, tồntại cách biệt với thế giới bên ngoài Con người được khai thác trong sự hài hòa vớithiên nhiên và vũ trụ Vì thế, trong các sáng tác của mình, Mai Văn Phấn đặc biệtchú ý đến mối quan hệ giữa con người – vũ trụ - cội nguồn Lịch sử tiến hóa loàingười dù phát triển ở giai đoạn nào thì tự nhiên, vũ trụ vẫn đóng vai trò quan trọng.Mai Văn Phấn nhận thức được điều này từ rất sớm, ngay từ tập thơ đầu tiên, Mai
Văn Phấn đã đưa người đọc đến với những trải nghiệm bất ngờ: Anh nghiêng vào chiếc lá/ Lá bỗng đôm đốm vàng/ Có hạt sương lạnh giá/ Rơi xuống hồn anh đang
(Chân thật)
Ở đây, con người xuất hiện trong tư thế chủ động, hòa mình vào với thiên nhiên,đắm mình trong vũ trụ bao la, làm cho thiên nhiên ấy cũng trở nên sống động, có
Trang 37hồn Nó mang những sắc thái riêng và có thể lay động đến tận miền tâm thức củacon người Câu thơ như đang có sự chuyển động về phía phồn vinh của sự sống.
Sự hòa hợp giữa con người và ngoại giới trong thơ Mai Văn Phấn được hìnhdung như những hành động hết sức nhỏ bé, dung dị ngay trong đời sống thường
nhật chứ không phải chỉ trong ý niệm cao xa: Em gom mùa nào thức nấy/ chùm hoa bưởi mùa thu/ trái mận mùa xuân/ Mình là mạch khí, vực sâu, ngực đất/ chọn nơi ấm áp kê giường tủ/ nơi thoáng đãng đặt bàn ghế…(Mùa hoa mận).
Càng về các sáng tác ở giai đoạn sau, Mai Văn Phấn lại càng ý thức rõ nét vềcác mối quan hệ của con người trong cuộc sống Trong đó, ông đặc biệt chú ý đếnvấn đề nguồn cội của con người Tập thơ mới nhất của ông không chỉ thể hiệnnhững bước chuyển đáng kể trong cách thể hiện, mà quan trọng hơn là sự nhậnthức mới mẻ về sự tồn tại và phát triển của con người trong sự quy chiếu của nhiều
yếu tố “Vừa sinh ra ở đó” – một sự mới mẻ, tinh khôi đến bất ngờ Tập thơ đã thể
hiện được vấn đề căn cốt khi đã chạm vào chiều sâu về mối quan hệ giữa conngười với cội nguồn Nơi sinh ra sự sống là nơi có ánh sáng, có bình minh, có ban
mai như một sự “đón chờ đến ngây dại” – Ánh sáng đang phát ra từ đó, bình minh đang phát ra từ đó: Không phải nơi nào khác/Mà chính từ bông hoa cỏ may kia/ Đang làm nên một ngày tuyệt đẹp (Nơi cội nguồn thế giới).
Để rồi, từ đó nhà thơ khẳng định, nơi cội nguồn của sự sống, cội nguồn của thếgiới chính là từ thiên nhiên và vũ trụ bao la kia Nơi ấp ủ toàn bộ sự sống lại có
chút gì đó mơ hồ nhưng lại rất nên thơ: Đúng, rất đúng/ Tất cả chúng ta vừa sinh
ra ở đó (Nơi cội nguồn thế giới)
Như vậy, thiên nhiên vũ trụ trong tâm thức của thi sĩ cũng giống như mộtngười mẹ trong cuộc sống con người Thiên nhiên ấy dù được nhìn nhận ở góc độnào thì đều thể hiện những tầm cao vĩ đại trong mối quan hệ với con người Khôngphải là những điều xa xôi, huyền bí nào mà chính “người mẹ thiên nhiên” đã tạo ra
Trang 38một sự thống nhất cao hơn, sâu sắc hơn giữa tự nhiên và xã hội, nhân sinh và vũtrụ, giữa cái tôi và cái ta Đồng thời, vũ trụ bao la chính là nơi nuôi dưỡng, duy trì
sự sống: Trái đất – căn nhà hộ sinh/ Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không gian xanh/ Những dòng mật mã (Màu xanh)
Trái đất – Mái nhà của sự sống, là “bà mẹ thiên nhiên” nuôi dưỡng, ấp ủ sự sốngcon người Chính nơi đây đảm bảo cho sự sinh tồn của con người và vạn vật Ươmmầm cho những khát khao, để con người được “nương tựa” vào thiên nhiên, hòamình vào cảnh vật
Cùng với mối quan hệ với thiên nhiên, vũ trụ và cội nguồn, thì con ngườicòn bị chi phối bởi các quy luật trong cuộc sống Trong cõi nhân thế vạn vật đều bịchi phối bởi quy luật vô thường “sinh, lão, bệnh, tử” là chuyện ngàn đời của nhânthế, cũng như chúng sinh nói chung Sinh lão bệnh tử đâu chỉ dành cho con người,
mà còn cho cây cỏ vạn vật Trăm năm sinh lão bệnh tử dành cho con người, có thểhàng ngàn năm vạn vật và từng thời kỳ với một giới hạn thời gian nào đó cho cáchành tinh, vũ trụ Đó là căn nguyên của lẽ vô thường Cũng là những quy luậthuyền bí mà không ai có thể thay đổi được Khi ấy, giấc mơ trở thành một điểm
tựa tâm linh, nâng giấc tinh thần con người: Chợp mắt mười lăm phút/ Mà mơ dằng dặc mấy mươi năm/ Tỉnh mộng/ Mộng còn/ Vật vã…(Mơ thực)
Đời người thật ngắn ngủi, chỉ như một giấc mộng kéo dài, nhưng rồi có lúcphải tỉnh trong sự đau khổ, vật vã
Bên cạnh đó, nhà thơ cũng xác định được, cô đơn là tâm thức phổ biến củacon người thời hiện đại Xã hội ngày càng phát triển, đời sống nâng cao đôi khicon người cảm thấy lạc lõng, đơn điệu, trong cuộc sống tưởng như là đầy đủ ấy Sự
cô đơn đó thường diễn ra khi con người trực tiếp đối diện với bản ngã của chínhmình, hay khi con người không thể tìm được một chân trời để sẻ chia, tâm sự Họ
cố gắng tìm kiếm một sự tương tác, thấu hiểu nhưng chỉ nhận lại một sự im lặngđến đáng sợ trong một khoảng không vô định Khi ấy, con người rơi vào trạng thái
Trang 39bất lực, nỗi cô đơn càng rợn ngợp: …Thử gọi một ai xa lắc xa lơ/ Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ/ Càng tỏ (Tắm đầu năm)
Mai Văn Phấn đã đưa nỗi cô đơn của mình vào những miền sâu thẳm nhất của tiềmthức Sau sự cô đơn đã biến thành động lực khơi dậy những khát khao sâu thẳm
trong con người: Nhoài lên mỏm đá sắc/ Thân thể gió trầy xước/ Máu của gió là mưa/ …/Giang tay núi đạp chân vào đất/ Vò nát/ Xé toang thân gió /Ánh sao rơi/ Buổi sớm vỡ òa…(Đỉnh gió)
Ái tình trong thơ Mai Văn Phấn cũng dâng lên từ trạng thái cô đơn, nhưng trongthơ ông sự khát khao đó không đơn giản là sự thỏa mãn nhục dục mà tình yêu của
Anh và Em trong tương quan đó, là biểu tượng của cuộc gieo trồng thiêng liêng.
Thi sĩ ý thức được sự phồn sinh trong sự sống Mai Văn Phấn đã lay động đếnnhững nguyên lý sinh sôi, nảy mầm trong thế giới tự nhiên, khơi dậy sự sống trong
tình người và trong cả bản thể vũ trụ: Tìm miệng anh gieo hạt/ Gió níu chân tay đất dịu dàng/ …/ Chờ nảy mầm/ Gió mang mặt đất đi (Đỉnh gió)
Như vậy, quan niệm về nhân sinh đúng đắn cũng chính là con đường chânchính đưa thi sĩ đến với nghệ thuật đích thực
*Quan niệm về thế giới
Quan niệm về thế giới là hệ thống tổng quát những quan điểm của ngườinghệ sĩ về thế giới (toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội), về vị trícon người trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề ra trongthực tiễn xã hội Thế giới – nơi tồn tại sự sống, có cấu trúc phức tạp, gồm nhiềuyếu tố trong đó có hạt nhân là tri thức Hay nói cách khác, quan niệm về thế giớichính là biểu hiện của cách nhìn bao quát (bức tranh) đối với thế giới bao gồm cảthế giới bên ngoài, cả con người và cả mối quan hệ của người – thế giới Nó quy
Trang 40định thái độ của con người đối với thế giới và là kim chỉ nam cho hành động củacon người.
Là con người ham học hỏi, cộng với vốn kiến thức uyên thâm và những trảinghiệm sống sâu sắc, Mai Văn Phấn đã thể hiện những cách nhìn nhận mới mẻ vớitoàn bộ thế giới quan Trong đó, đặc biệt nhất là đời sống của tự nhiên, con người
và nhân loại Cách thể hiện của Mai Văn Phấn là khát vọng nhận thức đi tìm cáimới, cái đẹp hay đúng hơn, ông muốn phản ánh đặt tên lại các hiện tượng trong
cuộc sống Cuộc sống vốn đa dạng và phong phú thơ phải được gợi mở trong “cấu trúc không gian đa chiều” Làm thơ là sự khổ công tìm kiếm, bám níu có ý thức và
vô thức lý tưởng mà mình đam mê Do đó, quan niệm về thế giới của thi sĩ cũng làmột cách khẳng định bản lĩnh và bản ngã của người nghệ sĩ
Mai Văn Phấn dường như giữ một cái nhìn điềm tĩnh trong quan niệm về thếgiới Đọc thơ ông, người đọc có thể cảm nhận một quan hệ tương thích hài hòa củangười thấy mình trong thiên nhiên và thấy thiên nhiên trong mình hơn là những nỗi
bi ai, hoài nhớ, đau xót một thiên đường đã mất như trong quan niệm của NguyễnQuang Thiều – người muốn, “rời bỏ thành phố” để tìm lại những giá trị vững bềncủa con người và tự nhiên Có những khi, trong thơ Mai Văn Phấn thế giới phi-nhân muốn nổi loạn, “đòi đặt lại tên” và “định hình lại”, nhưng nhiều hơn vẫn làmột sự quấn bện kì lạ, như thể thi sĩ sống ở một không gian khác, nơi các linh hồnkết tụ với nhau đầy bí ẩn cùng với viễn tượng về một không gian mới ở tương lai.Cách ứng xử, chung sống với tự nhiên của Mai Văn Phấn trong quan niệm và trongthơ ca dường như cũng là căn cốt thi sĩ của ông, đồng thời là cái “khí” thơ đẹpkhỏe khoắn, vững bền, tinh lọc, không hướng về những vùng tối mà hướng về banmai và ánh sáng, không bị kéo trĩu bởi cảm thức hoài nhớ hay nỗi “thương nhớđồng quê”- để gợi nhắc một tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp - thường thấy trong