Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Phật giáo với văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy Hinh, Tạp chí Văn học số 4/ 1992; Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học dân gian Việt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÚY
CẢM HỨNG TÔN GIÁO TRONG THƠ MỚI 1932 – 1945
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH, 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tôn giáo có thể nói là lĩnh vực mà với những người không phải là
tín đồ, không phải là thành tử thì khi nghĩ đến thường vấp phải cảm giác khó
có thể nắm bắt và hiểu một cách sâu sắc, đến tận cùng Song nó lại có sức lôi cuốn và hấp dẫn lạ kỳ
Phật giáo hướng tới con người tới cái căn bản, tính thiện có sẵn, để con người có thể giác ngộ, thoát khỏi “vô minh” – nguồn gốc của mọi đau khổ, để
có thể tận diệt cái dục vọng, ham muốn, thoát khỏi cõi tục và đạt tới Niết bàn Đạo giáo với tư tưởng vô vi có thể hiểu như cách hành xử của nước, rằng nước tuy mềm mại uyển chuyển nhưng chảy bất cứ nơi nào và nước có thể làm lở cả đất đá tức làm mà như không làm, không làm những điều không nên làm Và theo Lão Tử, thái độ sống “vô vi” là con đường duy nhất để con người có thể trở về với tự nhiên Và tất cả được gói ghém trong “Đạo” và
“Đức” Đạo có trước vũ trụ, là nguồn gốc của vũ trụ, vạn vật đều khởi từ đạo,
đi theo đạo và quay về đạo Còn đức nuôi sống vạn vật, hướng con người sống không khiên cưỡng, sống tự nhiên, làm một cách tự nhiên Tức có đức (không phải là đức hạnh theo luân lý thông thường) là đi đúng con đường vận hành của đạo Có thể nói từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo, Đạo giáo
đã tồn tại và gắn liền với lịch sử dân tộc, ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hóa của người Việt Bởi vậy nói về, tìm hiểu về Phật hay Đạo, một mặt là khám phá những tư tưởng tốt đẹp được gửi gắm trong đó và cũng là một cách đến gần hơn với văn hóa dân tộc
Trang 3Còn Đạo Thiên Chúa, dù mới chỉ du nhập vào Việt Nam vài thế kỷ nay nhưng với tinh thần cứu rỗi, hướng con người tới làm theo điều răn của Đức Chúa để có thể lên cõi Thiên đường thì bản thân Đạo Thiên Chúa mang trong
nó những điều tốt đẹp
Có thể nói, tôn giáo được nảy sinh và hình thành từ nhu cầu giải thích về con người và thế giới Và khi đã trở thành đức tin, tôn giáo có sự tác động đến
lạ kỳ đến tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực sáng tạo, lĩnh vực có thể coi
là có sự dẫn dụ của vô thức Với văn học nghệ thuật, khi đó tôn giáo sẽ trở thành một dạng thức khác: cảm hứng tôn giáo Vì thế tôn giáo thực sự là một
đề tài thú vị
1.2 Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 có ý nghĩa
lớn, nó đại diện cho tiếng nói của một tầng lớp trí thức người Việt, đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của lớp người thời bấy giờ Quan trọng hơn nó chứng tỏ sự chuyển mình và sức sống mạnh mẽ của thi ca dân tộc
Có thể nói, Thơ mới 1932-1945 được sáng tác theo khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa, tức bắt nguồn từ sự đối lập hiện thực cuộc sống, phủ nhận thực tại Vì thế nó đan dệt cho riêng mình một thế giới với lớp xiêm y của những gì chưa từng có, của mơ ước, của khát khao Cũng bởi vậy Thơ mới sáng tạo với ba nguồn cảm hứng lớn: thiên nhiên, tình yêu và tôn giáo Cảm hứng thiên nhiên phù hợp với tâm hồn khoáng đạt, tự do, lãng mạn Thiên nhiên bí ẩn mênh mông phát huy trí tưởng tượng và sự tự do bày tỏ cảm xúc mạnh mẽ của thi nhân Không chỉ thiên nhiên là đối tượng thẩm mỹ chính thỏa mãn sự yêu thích cái đẹp đối với các tâm hồn thơ mới mà tình yêu cũng
là một cõi phù hợp để cái tôi trữ tình thể hiện với nhiều cung bậc cảm xúc
Và cũng có nhà thơ nâng tình yêu thành một thứ tôn giáo, một thứ đạo trong thơ, như Xuân Diệu
Trang 4Nếu như thiên nhiên là sự khơi nguồn vô tận, cảm hứng tình yêu là cảm hứng xuyên suốt, sâu đậm thì cảm hứng tôn giáo là sự ám ảnh, với cái tôi cá thể muốn vươn tới sự cao cả, vĩnh hằng, huyền bí Thi nhân tìm đến tôn giáo
để giải bày tâm sự thầm kín mà dường như chỉ Thượng đế, chỉ cõi trên mới có thể hiểu được những nỗi lòng u uẩn của họ Nghiên cứu vấn đề này cũng chính là thêm một cách đi tìm sự lung linh giữa khả giải và bất khả giải của niềm tin mãnh liệt vào tôn giáo ở thế giới vô thức được hiện hiện trong thơ
1.3 Thơ mới có thể nói đã được đánh giá một cách khách quan và
được trả về vị trí của nó với sự nghiên cứu cặn kẽ, xác đáng Riêng vấn đề cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới là vấn đề lý thú nhưng không ít phức tạp, nhiều vấn đề chưa được tìm hiểu
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề tôn giáo trong văn học Việt Nam
Có thể thấy ảnh hưởng của các tôn giáo như Phật giáo, Đạo giáo trong văn học trung đại Việt Nam là rất rõ Trong phạm vi đề tài này, chỉ xin điểm một số công trình nghiên cứu có liên quan mà chúng tôi có dịp tham khảo
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Phật giáo với văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Duy Hinh, Tạp chí Văn học số 4/ 1992; Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học dân gian Việt Nam của tác giả Thích
Đồng Văn (2010) nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của Phật giáo từ truyện cổ
tích cho đến các bài ca dao, tục ngữ, thành ngữ; Đôi điều về Phật giáo trong văn học Việt Nam của tác giả Nguyễn Trọng Trí, đăng trên Tập san Pháp luân
32, http://www.phapluanonline.com chứng minh rằng ở giai đoạn Lý – Trần,
những tác phẩm mang màu sắc Phật giáo không hề có tư tưởng tiêu cực mà thấm nhuần triết lý siêu thoát, lạc quan tích cực, dấn thân mong để giải thoát con người khỏi vòng tục lụy Quan điểm này được tác giả chứng minh qua hai
tác phẩm tiêu biểu là Cung oán ngâm khúc và Quan âm Thị Kính Một số
Trang 5công trình khác có thể kể đến trong những năm gần đây như Tư tưởng Phật giáo trong văn học thành văn Việt Nam của tăng sinh Thích Tâm Pháp –
Trường cao cấp Phật học Việt Nam nghiên cứu tinh thần Phật giáo, sự hòa hợp của Phật giáo với Lão - Nho, tính thích nghi của Phật giáo và biểu hiện trong văn học Việt Nam Tuy nhiên có thể thấy, đây là một công trình của một người theo đạo Phật, một tăng sinh nên nghiêng về nhiều hơn nghiên cứu Phật học, ảnh hưởng tôn giáo trong văn học chỉ là một phần trong công trình
Các nghiên cứu Phật giáo đời Lý – Trần có thể nói khá nhiều Như Văn học Phật giáo thời Lý Trần – Diện mạo và đặc điểm, Nxb ĐHQG Tp Hồ Chí
Minh, của tác giả Nguyễn Công Lý (2003) bàn đến một cách toàn diện và chỉ
ra những đặc tính khái quát Hay Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm, luận án Tiến sỹ Ngữ văn của tác giả Trần Lý Trai (2008),
Trường ĐH KHXH&NV, Tp Hồ Chí Minh là một công trình chuyên sâu về
thiền phái Trúc Lâm Hoặc công trình Điển cố Phật giáo trong văn học Thiền tông đời Trần của TS Đoàn Ánh Loan (2009) đã chứng minh rằng điển cố là
một thủ pháp ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng, một mắc xích quan trọng không thể thiếu trong văn học Thiền tông đời Trần
Một hướng nghiên cứu khác là lấy tư tưởng Phật giáo làm hệ qui chiếu,
chuẩn thẩm mỹ để đánh giá các hiện tượng văn học, đặc biệt với Truyện Kiều của Nguyễn Du như: Chân dung Nguyễn Du (Nhiều tác giả,1960, Nxb Nam Sơn); Giá trị triết học tôn giáo trong Truyện Kiều của Thích Thiên Ân (1966, Nxb Đông Phương); Thế giới thi ca Nguyễn Du của Nguyễn Đăng Thục
(1971, Nxb Kinh Thi)… Hoặc một loạt các bài viết: Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim
với Lý thuyết Phật học trong Truyện Kiều; Thích Thiên Ân với Giá trị triết học tôn giáo trong Truyện Kiều; Lê Hồng Sơn với bài viết Đạo Phật trong Truyện Kiều; hay Triết lý đạo Phật trong Truyện KIều của tác giả Cao Huy Đỉnh; Nguyễn Du trên con đường trở về của Phật giáo, tác giả Chơn Hạnh…
Trang 6Các bài viết này được tập hợp trong cuốn 200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều do Lê Xuân Lít biên soạn (2007), Nxb Giáo dục Chẳng hạn ở bài viết Nguyễn Du trên con đường trở về của Phật giáo khi lý giải về những
nỗi đau khổ trong suốt mười lăm năm lưu lạc truân chuyên của đời Kiều, Chơn Hạnh không cho rằng nguyên nhân đau khổ của Kiều là do xã hội mà
do “sự nghiệt ngã tất yếu của Khổ đế, dưới hình thức số và mệnh” Ở đây, nhà phê bình nhìn cuộc đời Kiều qua lăng kính của triết lý Phật giáo
Các bài viết về ảnh hưởng của Đạo giáo với văn học Việt Nam ít hơn so với các bài viết, nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo như Trần Đình Hượu
(1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung – cận đại, Nxb Văn hóa thông
tin, Hà Nội Trong công trình của mình, Trần Đình Hượu chủ yếu bàn về Nho giáo, nhưng có một số trang ông đề cập đến Phật giáo và tư tưởng Lão – Trang ảnh hưởng đến văn học trung đại Việt Nam… Với tác giả Trần Nghĩa
trong bài viết Việt Nam trong quá khứ đã tiếp nhận những gì từ tư tưởng Đạo gia Trung Quốc? nguồn dẫn từ Tạp chí Hán Nôm số 4/2000, http://www
Khoavanhoc-ngonngu.edu.vn cũng chỉ sơ lược về sự ảnh hưởng của Đạo giáo với văn học
Các công trình, bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo ít hơn so với Đạo Phật, một mặt do tôn giáo này vào nước ta muộn hơn, mặt khác sáng tác mang đậm cảm hứng Thiên Chúa giáo không nhiều như với Phật giáo có hàng thế kỷ ghi dấu một dòng văn học riêng Song không thể phủ
nhận tầm ảnh hưởng của nó Theo TS Trần Hoài Anh trong bài viết Khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tôn giáo ở đô thị miền Nam 1954 – 1975 thì tác phẩm Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam của Võ Long Tê là “tác phẩm
duy nhất trong văn học đô thị miền Nam viết về lịch sử văn học Công giáo còn lại cho đến nay” Võ Long Tê đã nhận định “Riêng trong phạm vi văn học, đạo Công giáo đã đem lại những nguồn cảm hứng mới Những công trình
Trang 7sáng tác biên khảo Công giáo đã làm cho văn học Công giáo phát sinh và trưởng thành theo một đường hướng riêng biệt nhưng không phải là không có mối liên hệ hỗ tương với các thành phần khác của nền văn học Việt Nam” [75, 35] Dĩ nhiên, Võ Long Tê công nhận có một dòng văn học riêng của Công giáo và cũng vì thế có tác giả Công giáo, thi sỹ Công giáo Một số tác
phẩm của Thụy An như Một linh hồn, của Nhật Tiến như Những người áo trắng, Tay ngọc cũng được giới nghiên cứu phê bình dưới góc nhìn của tư
tưởng Thiên Chúa giáo, rất tiếc là chúng tôi chưa đủ tài liệu tham khảo cũng như không thuộc phạm vi đề tài
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề tôn giáo trong Thơ mới 1932-1945
Nghiên cứu vấn đề tôn giáo trong Thơ mới 1932 – 1945 có thể tìm thấy những bài viết về các tác giả cụ thể Có thể điểm qua một số bài viết theo góc
nhìn của nhà Phật trong sự tác động tới thơ mới như: Ảnh hưởng của đạo Phật trong thơ Hàn Mặc Tử của tác giả Quách Tấn (1961); Thi sỹ Quách Tấn với đạo Phật của Thích Phước Sơn, Tìm về quan niệm “khổ đế”qua thơ Xuân Diệu của tác giả Linh Thuần …
Quách Tấn trong bài viết của mình đã chứng minh Hàn Mặc Tử ảnh hưởng Phật giáo một cách sâu sắc từ những lớp ngôn từ cho đến tư tưởng, triết lý, học thuyết “Trong tâm hồn Tử, không có những bức thành kiên cố ngăn cách tôn giáo của mình và tôn giáo của người, nhất là đối với Phật giáo
Vì không có những bức thành kiên cố ngăn cách giữa tôn giáo mình và tôn giáo người, nên Tử đã đi tìm nguồn cảm hứng trong Đạo Bồ Đề” [74] Song ông cũng khẳng định ở Hàn Mặc Tử, hồn thơ đặc biệt này dù cảm hứng Phật giáo đậm nét hơn so với Thiên Chúa giáo, nhưng tất cả chỉ phục vụ cho một mục đích chung: lý tưởng thơ
Bài viết của Thích Phước Sơn về nhà thơ Quách Tấn đi từ tiếng vọng chuông chùa, từ xúc cảm trước thiên nhiên nhưng mang phong vị của Phật
Trang 8giáo đến cảm thức nhuốm màu Phật của ông khi sắp tạ thế Bài viết viện dẫn ý kiến của Phạm Công Thiện, người bạn tâm giáo của thi sỹ như một minh chứng chắc chắn: “Quách Tấn là một phật tử trọn vẹn, đã thu tóm tất cả những bài thơ mộng của Phật giáo vào trong cuộc đời trầm lặng của mình… Ông xứng đáng là kẻ nối dòng của Không Lộ Thiền sư, Vạn Hạnh Thiền sư, Ngộ Ấn thiền sư và tất cả những thiền sư thi sỹ đã nuôi dưỡng linh hồn của cả dân tộc, linh hồn của Lý Thường Kiệt đánh Tống và Trần Hưng Đạo đánh Nguyên” [70]
Tác giả Linh Thuần lý giải thơ Xuân Diệu qua triết lý khổ đế của nhà
Phật cụ thể trong bài thơ Dại khờ: “Ông nhìn nhận sự khổ của chúng sinh ở
đời bằng chính con mắt của người trong cuộc bể dâu, của người đã bước qua ranh giới giữa mê và ngộ Ở thơ Xuân Diệu, mọi khổ đau đến với chúng sinh
là do sự thấy biết sai lệch, sự si mê vắng bóng của trí tuệ mà ông đã không
ngần ngại gọi là Dại khờ: Người ta khổ vì thương không phải cách/ yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người…Có kho vàng song tặng chẳng tùy nơi/ Người ta khổ vì xin không phải chỗ” [83] Tác giả nhận định Xuân Diệu,
bằng thi ca đã chỉ ra nguyên nhân của nỗi khổ chính là thái độ, ứng xử của mỗi cá nhân, do thiếu sự hiểu biết nên dẫn đến bi kịch Trong bài viết của mình, tác giả đưa ra quan niệm của Xuân Diệu trong các câu thơ về xin – cho theo triết lý của nhà Phật, về nỗi khổ dai dẳng nhất của loài người là nỗi khổ
bởi tư tưởng cấp thủ, vì cố chen ngõ chật
Có thể thấy rằng, gần đây không ít các bài viết mà tác giả dường như mọi phương diện đều quy hướng đến quan điểm Phật giáo nên ít nhiều có thiên kiến Với Xuân Diệu, sự ảnh hưởng Phật giáo là có thể do sự ảnh hưởng ngấm sâu trong tâm thức song không quá rõ nét như trong bài viết, tức ý kiến đưa ra còn có sự gượng ép, khiên cưỡng
Trang 9Còn các bài viết lấy triết lý Thiên Chúa giáo làm cơ sở mỹ học, làm hệ quy chiếu các hiện tượng văn học, có thể nói tiêu biểu nhất là thơ Hàn Mặc
Tử Cuốn Nhà văn hiện đại (viết từ năm 1942 – 1945), trong phần viết về thi
sĩ Hàn Mặc Tử, Vũ Ngọc Phan đã nhận định về sự ảnh hưởng của tôn giáo với hồn thơ Hàn cũng như chính thi sỹ đã tạo nên sự tác động đối với những nhà thơ sau này: "Thơ tôn giáo đã ra đời với Hàn Mặc Tử Tôi dám chắc rồi đây còn nhiều thi sĩ Việt Nam sẽ tìm nguồn hứng trong đạo giáo và đưa thi ca vào con đường triết học, con đường rất mới, rất xa xăm mà đến nay chưa mấy nhà thơ dám bước tới" [65,144] Bài viết này là những đánh giá tổng quan,
khái quát chưa đi vào cụ thể Trong cuốn Thi nhân Việt Nam (in năm 1942),
Hoài Thanh, Hoài Chân cũng có những nhận định về Hàn Mặc Tử: “Hàn Mặc
Tử và Chế Lan Viên, cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire và qua
Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả tập Chuyện lạ Có khác
chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa”
Trong cuốn Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam có một số bài phê bình
về thơ Hàn Mặc Tử dưới ánh sáng tư tưởng Thiên Chúa giáo như Sự hiện diện của Hàn Mặc Tử của Võ Long Tê (1956), Sứ mạng của Hàn Mặc Tử của Lê Hữu Mục; Sự đau khổ của Hàn Mặc Tử của Trần Điền…
Võ Long Tê - một nhà nghiên cứu dày công tìm hiểu ảnh hưởng Thiên
Chúa giáo trong thơ Hà Mặc Tử cũng có bài viết khác có tên Kinh nghiệm thơ
và hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử Một người xem ra rất tâm đắc với
hồn thơ Hàn Mặc Tử, Võ Long Tê không ngần ngại gọi Hàn Mặc Tử là “nhà thơ công giáo”: “Người tín hữu Công giáo, sống đạo ấy mãi về sau mới trở nên nhà thơ Công giáo, sau khi đi trọn một đoạn đường đau thương và có một nhận thức do ân sủng thúc đẩy” [19, 379], để từ đó ông cho rằng Hàn Mặc Tử
Trang 10là “một tổng hợp để hoà điệu những yêu cầu của đời sống tôn giáo với những đòi hỏi của công trình sáng tạo nghệ thuật” [19, 386] Đó chính là sự hài hòa giữa tinh thần sáng tạo, một nhà thơ và một tín hữu Công giáo
Từ cái nhìn khá cụ thể và sâu sát, tiếp cận dưới góc độ văn hóa học, điểm nhìn kinh Phúc âm của Thiên Chúa giáo, Đặng Tiến trong bài viết có tựa đề
Đức tin trong thơ Hàn Mặc Tử đã chứng minh các tập thơ của Hàn Mặc Tử là
sự tương ứng chặt chẽ với thế giới Ki tô: “kiến trúc toàn bộ của thơ Hàn Mặc
Tử đều vang dội lời truyền giảng của Phúc Âm (…) Gái quê: thế giới chờ đợi Đau thương: Con người chịu đựng, sáng tạo và mơ ước; Xuân như ý: thế
giới khải huyền” [18, 401]
Đặng Tiến đã phân tích sự hòa hợp giữa đạo và thơ, xem đây như một cơ
sở lý giải hành trình sáng tạo thơ Hàn Mặc Tử Theo Đặng Tiến, ở Hàn Mặc
Tử “Thơ là Đạo và Đạo là Thơ” [18, 401] Và “Thơ đưa về Đạo là nẻo đường đưa đến Con Đường Thơ là giải thoát tạm thời của Đau Thương Trong khi
chờ đợi Đạo là cứu rỗi miên Viễn" [18, 413] Vì vậy, "Nếu Gái Quê là thế giới đợi chờ Điềm Lạ, đợi chờ Chúa ra đời, thì Đau Thương là một tâm hồn
mong mỏi Ngày Chúa trở lại (Mt 24-42) “ [18, 413]
Phan Cự Đệ, một người có khá nhiều nghiên cứu về Hàn Mặc Tử trong
cuốn Hàn Mặc Tử - tác phẩm, phê bình và tưởng niệm, Nxb Văn học, 2002
dành khá nhiều trang viết về vấn đề Hàn Mặc Tử và tôn giáo Trong đó, ông thống nhất với các ý kiến khác rằng chính cảm hứng tôn giáo và đức tin đã
mở ra thơ Hàn Mặc Tử những thế giới rất riêng: “Không phải những giấc mơ, những phút xuất thần trong thơ Hàn Mặc Tử đã chứng minh có Thiên Chúa,
có thế giới Khải Huyền, có thung lũng ngục tổ tông bóng tối sự chết Mà chính nhờ niềm tin vào Kinh thánh và hàng ngày cầu nguyện nên lúc mê sảng xuất thần, lúc chết đi sống lại Hàn Mặc Tử mới có cứ liệu mà tưởng tượng được ra như thế” [18, 92] (Theo Trần Thanh Mại thì Hàn Mặc Tử đã có mấy
Trang 11lần chết đi sống lại) Song ông cũng khẳng định rằng: “Hàn Mặc Tử nghệ sỹ bao giờ cũng phóng túng hơn, hào hoa hơn Nguyễn Trọng Trí tín đồ” [18, 85] hay cho rằng Hàn Mặc Tử “dường như không quan tâm lắm đến việc nói cho đúng giáo lý Cơ đốc hay giáo lý nhà Phật” [18, 30] Như vậy có nghĩa là dù công nhận dấu ấn đậm nét của tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử nhưng Phan Cự
Đệ vẫn rất tôn trọng vai trò của ông là một nhà thơ và dường như còn dọn riêng cho nhà thơ một vị thế đẹp, ngay trong trang viết của mình
Không những thế Phan Cự Đệ còn khẳng định cảm hứng tôn giáo trong thơ Hàn là sự hòa trộn của nhiều nguồn cảm hứng: “Chúng tôi cho rằng có thể Hàn Mặc Tử đã chịu ảnh hưởng Kinh Thánh lẫn Kinh Phật, đó là chưa kể những ảnh hưởng của các tín ngưỡng dân gian khác, vùng ảnh hưởng văn hóa Chàm” [18, 94]
Nghiên cứu về dấu ấn đạo Thiên Chúa trong Thơ mới và đặc biệt trong
thơ Hàn Mặc Tử nhìn chung là sự xen lẫn trong các công trình Như cuốn Mắt thơ ( bài Hàn Mặc Tử, một tư duy độc đáo) của Đỗ Lai Thúy; Hàn Mặc Tử - Anh là ai? của Chế Lan Viên; Hàn Mặc Tử - sự tích hợp kỳ lạ của Mã Giang
Lân….cũng đặt ra vấn đề tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử Ngoài ra còn có một số bài viết của các vị linh mục như linh mục Dũng Lạc Cao Tường…
Rõ ràng, với tín đồ ngoan đạo Hàn Mặc những lời Chúa dạy đã trở thành dấu ấn trong tâm thức nhà thơ để từ đó thăng hoa thành những đam mê sáng tạo Có thể những kiến giải về thơ Hàn Mặc Tử dựa trên tư tưởng Thiên Chúa giáo với căn cứ duy nhất để lý giải hành trình sáng tạo thơ Hàn Mặc Tử sẽ không tránh khỏi sự cực đoan Song sự hài hòa giữa hồn thơ, sự sáng tạo và một con chiên ngoan đạo, trong lối sống và suy nghĩ là điều rõ ràng
Từ những đánh giá, nghiên cứu có liên quan đến vấn đề tôn giáo trong Thơ mới mà chúng tôi đã tham khảo được, có thể nhận thấy:
Trang 12- Sự ảnh hưởng tôn giáo trong thơ không chỉ được giới phê bình quan tâm mà gần đây còn có sự tham gia đóng góp của những nhà sư, linh mục Như vậy, cảm hứng tôn giáo còn được nhìn nhận kỹ hơn ở phương diện những giáo lý, tư tưởng của những “người trong cuộc” song cũng không tránh khỏi góc nhìn phiến diện
- Cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới thường được các nhà nghiên cứu xem xét ở góc độ nội dung để khẳng định vị trí cảm hứng tôn giáo trong hồn thơ
- Hàn Mặc Tử là nhà thơ được nghiên cứu nhiều nhất ở phương diện này và cũng có nhiều ý kiến trái chiều khi đánh giá ông là nhà thơ công giáo hay không, hay sự ảnh hưởng của tôn giáo nào đậm hơn, sâu sắc hơn
2.3 Cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới 1932-1945 đã có một khóa
luận do chính tác giả thực hiện Tuy nhiên khóa luận chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu nên luận văn bổ sung, phát triển đầy đủ hơn
3 Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới 1932-1945
3.2 Giới hạn nghiên cứu
- Đề tài tìm hiểu cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới với những dấu ấn và
ám ảnh, tập trung tìm hiểu kỹ hơn về Hàn Mặc Tử – một hiện tượng tiêu biểu
- Sự khảo sát của chúng tôi chủ yếu giới hạn trong cuốn do Lại Nguyên
Ân biên tập (2003), Thơ mới 1932-1945 tác giả và tác phẩm, Nxb Hội Nhà
văn, Hà Nội
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đưa ra một cái nhìn chung về cảm hứng tôn giáo trong văn học
Việt Nam nói chung và Thơ mới 1932 - 1945 nói riêng
Trang 134.2 Đi sâu khảo sát, phân tích, khái quát những bìểu hiện của cảm
hứng tôn giáo trong Thơ mới 1932 - 1945
4.3 Tìm hiểu, phân tích những đặc điểm của cảm hứng tôn giáo trong
Thơ mới qua một số hiện tượng đặc thù và tiêu biểu nhất
Cuối cùng rút ra một số kết luận về cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới
1932 – 1945
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp, vận dụng một số phương phấp nghiên cứu: phương pháp thống kê; phân tích – tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp hệ thống
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1 Một cái nhìn chung về cảm hứng tôn giáo trong văn học Việt Nam
Chương 2 Dấu ấn và ám ảnh tôn giáo trong Thơ mới 1932 – 1945
Chương 3 Hàn Mặc Tử – hiện tượng đặc biệt, tiêu biểu cho cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới 1932 – 1945
Trang 14Chương 1
MỘT CÁI NHÌN CHUNG VỀ CẢM HỨNG TÔN GIÁO
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1.1 Khái niệm tôn giáo và cảm hứng tôn giáo
1.1.1 Khái niệm tôn giáo
Văn học phản ánh hiện thực xã hội, soi vào đó có thể thấy rõ tinh thần thời đại Và có thể thấy rằng tâm trạng điển hình của xã hội Việt Nam đầu thế
kỷ XX là bất mãn thực tại Cũng có nghĩa văn chương thời kỳ này tái hiện lại tâm trạng đó – cội nguồn sâu xa của nguyên tắc chối bỏ thực tại – bằng cách tìm đến thiên nhiên – tình yêu – tôn giáo như chỗ dựa tinh thần đang trong cõi
bơ vơ Tôn giáo trong thơ dù vẫn được xem là cõi huyền bí, linh thiêng nhưng
đã được tắm ướt cảm xúc của nhân vật trữ tình, mang một sắc màu riêng Tôn giáo, có thể khẳng định là lĩnh vực “nhạy cảm” đối với nhận thức con người cũng như chính trị Sự phức tạp của tôn giáo không chỉ nằm ở sự nhận thức hay sự tác động của nó đối với con người mà còn bởi bản thân nó luôn nảy sinh những biểu hiện mới Cho đến nay khái niệm tôn giáo vẫn chưa thực sự đi đến một quan điểm thống nhất của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà thần học Phải chăng “sẽ hoài công khi đi tìm một định nghĩa phổ quát và dứt khoát về tông giáo”- Lem Bô - là vậy
Trong một thời kỳ dài, con người không biết đến một tôn giáo nào Với
sự phát triển của tư tưởng và năng lực tư duy trừu tượng, cộng thêm vào đó là khát vọng chiếm lĩnh, chinh phục của con người nên những khái niệm, những tín ngưỡng tôn giáo được hình thành từ thời nguyên thủy Tất cả đều do chính
Trang 15con người tạo ra Tôn giáo phần nào cũng phản ánh sự bất lực của người nguyên thủy trước các hiện tượng tự nhiên mà họ không thể lý giải, khi đó tôn giáo là để khả tri thế giới Tôn giáo biến đổi không ngừng và ở mỗi thời kỳ, mỗi giai cấp đều có sự phù hợp với bản chất sự thống trị Như vậy, tôn giáo là một hiện tượng lịch sử
Mặt khác, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội Tôn giáo thuộc thành phần kiến trúc thượng tầng Nó mang đặc trưng là “thế giới quan lộn ngược, là hiện thực khách quan được phản ánh thông qua ảo tưởng, chủ quan: cái tự nhiên như là cái siêu tự nhiên, cái trần thế biểu hiện thành cái thần thánh, sức mạnh trần gian mang hình thức sức mạnh siêu thế giới” [62, 856] Mọi tôn giáo đều có tín ngưỡng và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên chi phối thế giới – lực lượng đó vượt lên nhận thức con người Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chỉ rõ đặc thù tôn giáo với tính cách là một hình thái xã hội, mặc dù ở đó còn có những yếu tố không thuộc về ý thức xã hội “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phán ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người, của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ, chỉ là sự phán ánh trong đó lực lượng ở trần thế mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [62, 12] Tôn giáo là sự phản ánh hư ảo Thế giới khách quan trong sự phản ánh của tôn giáo được khoác lên vẻ thần bí Quan điểm này khẳng định một lần nữa tôn giáo chính sự tồn tại những hình dung của con người, song trở lại chi phối con người Bởi nó mang trong mình sức mạnh của cái gọi là lực lượng siêu thế giới, siêu trần thế Song đây là một quan điểm Bởi ý thức tôn giáo vẫn luôn tin vào thế giới siêu nhiên, là cái gì
đó không phụ thuộc vào quy luật của thế giới vật chất khách quan Và với nhiều người, tôn giáo là sự thiêng liêng, là tất cả, là những gì có thật
Theo quan điểm duy vật biện chứng, thế giới tôn giáo là thế giới hoang đường, hư ảo, song nó lại có tác động hết sức phức tạp đến đời sống xã hội
Trang 16Sự ra đời của tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người Tức con người tìm đến tôn giáo như sự giải tỏa, một niềm tin khi gặp những bế tắc của cuộc sống, khi không tìm thấy hướng giải thoát nào ở hiện thực khách quan
Đặc biệt khi điều đó cộng hưởng với những xúc cảm thơ, xúc cảm của cái tôi lãng mạn mang đầy sự cô đơn, lạc lõng sẽ tạo nên sự sáng tạo đặc biệt
Sự sáng tạo mang cảm quan tôn giáo Và trong thế giới hư ảo đó các nhà thơ mới tìm thấy sự siêu thoát cho nỗi đau, sự cô đơn Xét đến cùng đó cũng là một cách để hồn thơ tìm kiếm niềm giao cảm với cuộc đời, nhận rõ mình hơn
Có thể nói những ảnh hưởng trong đời sống văn hóa không có ảnh hưởng nào mạnh hơn, sâu sắc hơn tôn giáo Và cũng không có sự quyến rũ nào lớn hơn tôn giáo một khi nó đã đi vào lòng người Tôn giáo xét về bản chất chính là văn hóa Bởi thế tôn giáo đi vào thơ ca cũng như một lẽ tự nhiên
1.1.2 Khái niệm cảm hứng tôn giáo
Màu sắc tôn giáo trong thơ chỉ trở thành cảm hứng – trạng thái tâm lý đặc biệt – khi sức chú ý cao độ, kết hợp cảm xúc mãnh liệt, tạo điều kiện cho
óc tưởng tượng, sự sáng tạo hoạt động có hiệu quả Cảm hứng chính là sự thăng hoa của cảm xúc và xúc động của người nghệ sỹ đối với một sự vật, hiện tượng hay những gì tinh vi, hồ ảo nhất của đời sống Nắm bắt được những xúc cảm huyền hồ là người viết đang thụ cảm và cao hơn là sự sáng tạo Nói cách khác đó chính là cảm hứng sáng tạo
Bên cạnh cảm hứng tình yêu, thiên nhiên, cảm hứng tôn giáo trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt trong mạch chảy Thơ mới Tức là cảm hứng tôn giáo khi đó trở thành “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt các tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác
Trang 17phẩm” [30, 38] Cảm hứng tôn giáo cũng chính là một trạng thái cảm xúc đạt đến độ mãnh liệt, cao độ về một thế giới hư ảo, thế giới mang màu sắc tôn giáo tạo thăng hoa cho sáng tạo – nhằm tìm đến một thế giới vô thức nhưng bộc lộ nhận thức và xúc cảm của con người
Hiện nay có ba tôn giáo lớn đang chiếm vị trí chủ đạo trên phạm vi toàn thế giới là: đạo Cơ Đốc, đạo Phật và đạo Hồi Ba tôn giáo này đều mang đầy
đủ nội dung tiền sử của tôn giáo Chúng lưu giữ những di sản tư tưởng, hình thức tín ngưỡng được kế thừa từ thời cổ đại và tiếp tục phát triển trong điều kiện lịch sử mới
Song ở Việt Nam đạo Hồi không phát triển, cũng bởi thế mà dấu ấn của
nó trong văn học không rõ nét như đạo Phật và đạo Cơ đốc
Tuy nhiên còn một tôn giáo khác mà nó ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn học Việt Nam suốt nhiều thế kỷ, đó chính là đạo Lão hay còn có tên gọi khác là Đạo giáo, Đạo Hoàng Lão hay Đạo gia Đạo Lão hình thành từ thế kỷ
thứ IV TCN tại Trung Quốc khi tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử xuất hiện
Điều đặc biệt ở Đạo Lão là nó vừa là một hệ thống triết học vừa là một tôn giáo Tuy nhiên sự phân biệt giữa triết học và tôn giáo ở đây là một sự giản hóa quá mức và cũng chỉ tương đối bởi không tương thích với sự phức tạp của
nó Song, một điều đặc biệt khác của đạo Lão là xuất hiện dưới nhiều trạng thái khác biệt và sự khó phân ranh rõ ràng với những tôn giáo khác nên không nắm được chính xác số người theo đạo Lão Nhưng đạo Lão ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, âm nhạc, nghệ thuật, dưỡng sinh, y học, địa lý và như trên đã nói cả văn học
Tên Đạo giáo xuất phát từ chữ Đạo, một danh từ triết học Trung Hoa đã
được dùng rất lâu trước khi bộ Đạo Đức kinh xuất hiện, nhưng chỉ đạt được
tầm quan trọng đặc biệt, phổ cập trong văn bản này Đạo ban đầu có nghĩa là
"con đường", nhưng ngay trong tiếng Hán cổ đã có nghĩa "phương tiện",
Trang 18"nguyên lí", "con đường chân chính" Đến Lão Tử, danh từ này được hiểu như một nguyên lí cơ sở của thế gian, xuyên suốt vạn vật Đạo là hiện thật tối cao,
là sự huyền bí tuyệt đỉnh: Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh Uyên hề, tự vạn vật chi tông (Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy Đạo sâu
thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật) Vạn vật xuất phát từ Đạo, nghĩa là
cả vũ trụ và như vậy, trật tự vũ trụ cũng từ Đạo mà ra, tương tự như nguyên tắc tự nhiên, nhưng Đạo lại chẳng phải là một nhân vật toàn năng, mà là nguồn gốc và sự dung hoà tất cả những cặp đối đãi
Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lí tưởng, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất định, trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng phương pháp để qua đó đạt được sự hợp nhất với vũ trụ
1.2 Cảm hứng tôn giáo trong văn học Việt Nam
1.2.1 Dòng chảy trong văn học
Như trên đã nói ba tôn giáo ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam chính là đạo Phật, đạo Lão và đạo Cơ đốc Ba tôn giáo này tạo nên những xung động văn hóa Văn hóa góp phần tạo nên dân tộc, mà đời sống mọi mặt của dân tộc lại được phản ánh trong văn học Nói cách khác, ba tôn giáo đó tác động mạnh mẽ đến văn học Việt Nam Mặt khác văn học Việt Nam mang đến cho
nó những dạng thức tồn tại phong phú, đa dạng hơn
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam bằng con đường tự giác qua cuộc tiếp xúc văn hóa Ấn Độ Chính điều đó tạo nên sự chủ động, tự giác trong quá trình tiếp biến văn hóa - một cách tự nhiên, linh hoạt
Theo tác giả Lê Mạnh Thát, Phật giáo vào Việt Nam ngay từ đầu công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử với chi tiết học đạo của một nhà sư
Ấn Độ Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các
Trang 19năm 168-189 Như vậy để thấy rằng từ rất sớm Việt Nam đã tiếp nhận Phật giáo Chính thời gian của hàng ngàn thế kỷ cộng thêm vào đó là sự chủ động trong quá trình tiếp nhận đã tạo nên một nền văn hóa Phật giáo phong phú, đa dạng Phật giáo từ Ấn Độ đã trở thành có nét riêng khi vào Việt Nam
Đạo Phật, đó là một tôn giáo nhưng nó cũng là một học thuyết triết học sâu sắc Cả hai đều có tác động đến mọi tầng lớp trong các thời đại, từ vua chúa, trí thức đến bình dân – dĩ nhiên tầng lớp trên sự ảnh hưởng cũng có từng giai đoạn Các quan niệm, tư tưởng Phật giáo về thế giới, nhân sinh đã chi phối cuộc sống của con người
Cũng bởi thế mà có ý kiến cho rằng có một dòng văn học Phật giáo trong văn học Việt Nam Nội dung tư tưởng mang đậm tư tuởng Phật giáo như “Ác giả ác báo”, “Hại người người hại”, “Tham thì thâm”, luân hồi, nhân quả, coi thân xác con người chỉ là tạm bợ giữa trần gian, chỉ có mới đạt đến tuyệt đối, hạnh phúc, cao cả Những tư tưởng này được thể hiện rõ trong văn học dân gian như chuyện cổ tích, ca dao, tục ngữ…, trong văn học viết Và đặc biệt trong thơ Việt Nam xuất hiện một lớp nhà thơ thiền sư
Thời kỳ đầu của nền văn học viết cũng như văn học Việt Nam ảnh hưởng của Phật giáo có thể kể đến giai đoạn của triều Đinh và Tiền Lê (968 – 1009) Giai đoạn này đạo Phật rất phát triển và dần dần ở vị thế độc tôn Sau khi nhà Đinh mất ngôi, vua Lê Đại Hành kế vị chống lại quân Tống và dành thắng lợi, các vị tăng sỹ được biệt đãi hơn Vua thường triệu các vị tăng sỹ vào triều để hỏi bàn việc nước Và có hai vị cao tăng xuất chúng đó chính là Khuông Việt thái sư và Đỗ Thuận thiền sư mà đến nay một số bài kệ còn
được lưu truyền rất nổi tiếng Như bài thơ Quốc tộ của Đỗ Thuận Thiền sư
Quốc tộ như đằng tạc Nam thiên lý thái bình
Trang 20Vô vi cư điện các
tham sự Bài thơ Quốc tộ cũng ra đời trong hoàn cảnh như thế Sau chiến
thắng Bạch Đằng (938), đất nước ta đã mở ra một kỷ nguyên mới, chấm dứt hơn một ngàn năm đô hộ của phương Bắc Song, lại đứng trước một nguy cơ xâm lược từ phong kiến phương Bắc Các triều đại còn non trẻ, mọi thứ còn ở thời kỳ phôi thai nên lại càng khó khăn hơn, trước tình thế ấy, vua Lê Đại Hành đã mời thiền sư Đỗ Pháp Thuận tham gia việc dự trù kế sách Khi được hỏi về vận nước – tức vấn đề sinh tử, tồn vong của triều đại, Đỗ Pháp Thuận
đã trả lời nhà vua bằng bài kệ trên Bài kệ là sự kết tinh trí tuệ trác việt và sự giác ngộ sâu sắc triết lý nhà Phật về vận nước Bài kệ đạt đến sự rắn rỏi, chắc chắn của một nhà chính trị chiến lược, sự mềm dẻo, thâm sâu của một vị cao tăng Rằng đất nước thanh bình, triều đại trường tồn thì phải ở thế rồng cuộn, mây quấn tức đoàn kết một lòng Có như vậy, không gì có thể chiến thắng nổi Quan điểm này, đạt đến chân lý sâu sắc cho muôn đời
Không chỉ vậy, bài kệ còn khuyên người ở điện các phải thấm sâu tư tưởng vô vi Có thể hiểu là như thế nào? Theo tác giả Lê Mạnh Thát, với Phật giáo, vô vi tức là “cẩn thận không kiêu ngạo, là hạnh của học sỹ, bỏ lòng dơ
ân ái, không lấm bụi của sáu tình, không để các ái nhỏ như tóc rơ che giấu trong lòng mình thì các niệm lắng diệt” [79, 499] Như vậy, đòi hỏi các bậc học sỹ, những người làm chủ phải gạt bỏ được cái lợi riêng, gạt bỏ ham muốn đời thường để hành xử vì quyền lợi chung Vô vi khi đó tạo niềm tin cho nhân
Trang 21dân, để làm nên sức mạnh đoàn kết muôn người như một Có được như vậy thì đất nước sẽ dứt nghiệp binh đao
Di cảo của thiền sư Đỗ Pháp Thuận rất ít ỏi, chỉ vẻn vẹn bài thơ Quốc tộ
và câu đối với sứ giả Lý Giác của Trung Quốc vào năm 987 Song chừng ấy thôi cũng đã toát ra tinh thần Phật giáo, trí tuệ sâu sắc nắm bắt được tinh hoa của vạn vật, của lẽ đời từ một nhà thiền sư
Thời cực thịnh của đạo Phật ở Việt Nam là thời Lý, Trần, đạo Phật được xem là quốc giáo, giữ vị trí độc tôn trên mọi phương diện: đạo đức, chính trị, ngoại giao, văn hóa Các đời vua nhà Lý đều sùng mộ đạo Phật và nhiều vị đã xuất gia đắc đạo Nhiều địa vị quan trọng trong triều đình là các vị cao tăng với tư tưởng nhập thế, cứu đời Các nhà trí thức lớn của Đạo Phật như Đại sư
Đỗ Pháp Thuận, Đại sư Ngô Chân Lưu, Đại sư Vạn Hạnh… cũng là những nhà thơ lớn của dân tộc Họ đồng thời đưa vào tác phẩm của mình tinh thần
và đạo lý của Thiền học:
Bát nhã thật vô tông Người không, ta cũng không Phật xưa, nay, mai nữa Pháp tính vốn tương đồng
(Gọi bảo các thiền lão hỏi về yếu chỉ đạo thiền) [40, 235]
Bài kệ này của Lý Phật Mã, tức vua Lý Thái Tông, vị vua đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại nguy cơ chia cắt, bạo loạn, thu phục lòng dân khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh Lý Thái Tông là ông vua bao dung, nhân hậu Các nhà sử học cho rằng vua Thái Tông cũng như nhiều vua
Lý khác có lượng khoan hồng vì ảnh hưởng của quốc giáo là đạo Phật Trong cuộc phản loạn các vương tôn, ông đều tha tội chết Hay một số các nhân vật như Nùng Trí Cao nhiều lần làm phản nhưng ông vẫn đối đã rộng lượng Song nhà sử học Ngô Sỹ Liên theo quan điểm Nho giáo lại cho rằng ông mê
Trang 22hoặc theo thuyết từ ái của đạo Phật mà tha tôi cho bề tôi phản nghịch thì lòng nhân ấy thành ra nhu nhược Tuy nhiên với tác giả Lê Văn Siêu thì cách dùng người dùng binh của Lý Thái Tông đó là thâm ý sâu xa [69, 132]
Bài kệ mang đậm màu sắc giáo lý nhà Phật, nói đến bản tính không (vô) của nhân, của ngã, của tông bát nhã và của cả các chư Phật trong quá khứ,
hiện tại và tương lai Ngay từ câu thơ mở đầu: Bát nhã thật vô tông, cái đỉnh
cao của tâm trí về sự giác ngộ, điều biết của con người, cũng như người, như
ta “thật vô tông” Nói bát nhã tức thấy tất cả, biết tất cả, chiếu soi tất cả, không chướng ngại, đó là trí tuệ, nhận thức Nhưng thể của nó thì trống rỗng Thể của nó là Phật tính, là Pháp thân, tức trống rỗng mà dụng thì cũng là
không trống rỗng Bát nhã thật vô tông là vậy Để vạn vật đều là một, đều có
tính tương đồng, không phân biệt
Đều này rõ hơn trong bài kệ của Thiền sư Huệ Linh:
Pháp cũng như không pháp Chẳng có cũng chẳng không Nếu hiểu được pháp ấy Chúng sinh với Phật đồng Trăng Lăng Già phẳng lặng Thuyền vượt biển trống không Biết không rồi biết có
Tam muội mặc dung thông Pháp cũng như không pháp, Chẳng có cũng chẳng không, Bát nhã tức trí
tuệ lúc nhận tính Không, là thể tính của vạn vật, đạt được bát nhã đồng nghĩa với giác ngộ và là một trong những yếu tố quan trọng của Phật quả (sau đó là bát nhã bà la mật – sự nhận thức thông qua hành động) Quan niệm pháp (sự vật) theo tinh thần bát nhã tức đạt đến sự giác ngộ thì pháp ngang hàng với không pháp Đạt đến đó thì chúng sinh cũng như Phật Và khi đó hình ảnh
Trang 23chiếc thuyền trống lặng lẽ vượt biển dưới ánh trăng tĩnh lặng của Lăng Già là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cao, là trí tuệ chiếu sáng cho thuyền vượt biển, chiếc thuyền không có người ngộ, không có người cứu độ, không có người được cứu độ mà Phật và chúng sinh là một - được giác ngộ Và khi đó:
Trí không không giác hữu
Song hai bài kệ kể trên ở đời vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) còn một nhà thiền sư nổi tiếng khác được kể đến phải là trước đó, thiền sư Vạn Hạnh Thiền sư Vạn Hạnh tích cực tham gia hoạt động chính trị, cố vấn cho nhà vua Ông đồng thời cũng là một nhà thơ Thiền Thiền sư là người tinh thông giáo
lý nhà Phật Người đời thường xem câu nói của ông như những câu sấm Trước khi viên tịch (năm Thuận Thiên thứ IX , 1018), ông có bài kệ rất nối tiếng:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô (Thị đệ tử)
Dịch nghĩa:
Thân như bóng chớp, có rồi không Cây cối xuân tươi, thu não nùng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông
Trang 24huyền hão, không cùng đó Bởi con người đã tu thiền tới “nhậm vận”, cuộc sống đã đặt ngoài sự vô cầu, vô lo, không tiếc nuối, không than phiền Và cuộc thịnh suy ở đời khi đó là quy luật, chỉ như giọt sương sa đọng trên lá
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi, tư thế của con người đã đạt đến sự giác ngộ
vượt thoát mọi điều, cũng là lời huấn dạy mà vị cao tăng gửi tới các đệ tử trước khi bước vào cõi vĩnh hằng
Có thể nói rằng, nếu như ở Trung Hoa, đời nhà Đường là giai đoạn Phật giáo thịnh hành nhất thì ở Việt Nam, đời nhà Lý - Trần được xem như thời đại của Phật giáo Cũng bới thế mà sự ảnh hưởng của nó đến văn học một cách rõ nét nhất Chính lực lượng sáng tác cũng mang nhãn quan của nhà Phật học Đến đời nhà hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến thế kỷ XVIII, vua Quang Trung đã có nhiều chính sách chấn hưng đạo Phật, nhưng chưa kịp thực hiện Song một số tác
phẩm nổi tiếng như Truyện Kiều của Nguyễn Du ảnh hưởng của tư tưởng đạo
Phật vẫn rất đậm nét với chữ duyên, tư tuởng nhân quả, tiền định….Đến thế
kỷ XX, mặc dù chịu sự tác động mạnh của quá trình Âu hóa nhưng Phật giáo
đã bắt đầu tìm lại được vị thế và phát triển mạnh mẽ
Như vậy, Phật giáo không chỉ ảnh hưởng ở một thời đại, một giai đoạn
và cũng không chỉ tác động đến một tầng lớp mà thấm sâu trong nếp sinh hoạt, suy nghĩ của mọi người dân Nếu trong một số giai đoạn nhất định Phật giáo không phải là quốc giáo, thậm chí bị thất sủng thì với dân gian nó vẫn tồn tại và phát triển Cũng bởi thế mà thời đại nào Phật giáo cũng có tầm ảnh hưởng
Về đạo Lão, như trên đã nói nó tồn tại với tư cách là một tôn giáo và là một hệ thống triết học nên có sự bổ sung, làm đầy nhau Tư tưởng tập trung
và nổi bật của đạo giáo là thuyết vô vi Lão Tử cho rằng người ta phải giữ lòng bao giờ cũng phải thanh tĩnh, cái gì cũng để theo lẽ tự nhiên Bỏ hết lòng
Trang 25ham muốn mới biết chỗ huyền diệu của đạo: “Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu”
Các Nho sỹ xưa tìm thấy ở đạo Lão lối thoát tinh thần khi thất thế hoặc chán ngán với cuộc đời Đạo Lão còn là cơ sở tư tưởng cho những suy nghĩ lãng mạn, những ước mơ bay bổng, những sáng tạo trong văn hóa nghệ thuật Văn học Việt Nam không ít các nhà thơ ảnh hưởng tư tưởng Lão – Trang như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà…
Suốt ngày nhàn nhã khép phòng văn Khách tục không ai bén mảng gần (Cuối xuân tức sự)
Nguyễn Trãi, bậc đại thần từng làm nên những dấu mốc chói lọi trong lịch sử bằng tài năng trác tuyệt và bằng chữ tâm trong sáng Thế nhưng, lẽ đời
là vậy, người ta khó chấp nhận việc sống chung với cái tài vượt trội Ông bị thất sủng, bị cô lẻ trong khi vẫn còn muốn đem hết tài năng để thi thố với cuộc đời Cuối cùng ông chọn con đường ở ẩn Dĩ nhiên sự dùng dằng trong khát vọng được giúp đời, trong tâm hồn đầy biến độngcủa một con người có
trách nhiệm vẫn không thôi trong ông Bởi vậy, Cuối xuân tức sự có lẽ là bài
thơ chớp được khoảnh khắc trong tâm hồn ông tĩnh lặng giữa cuộc đời, để lắng nghe hết sự huyền diệu của cuộc sống, để cảm nhận không khí vô trùng Nguyễn Trãi đã tạo được bầu khí quyển không chút vẩn đục trong thời khắc tận cùng của mùa xuân Chỉ còn lắng lại là sự nâng niu đến trong suốt – một không gian, một thời gian siêu thoát
Gặp gì nhàn hạ chẳng ngâm nga Ngoài tục phong lưu tự một nhà (Hý đề) Bắt gặp thời gian của thi gia: Nhàn Nhàn là lúc không vụ chính nghiệp,
con người được tự tại, tự do, con người được thả hồn theo những xúc cảm của
Trang 26chính mình Nhàn “tạo một khoảng cách thẩm mỹ với đời sống” (Trần Đình
Sử) [73, 104] Luận ngữ có câu đại đức bất du nhàn Chữ nhàn ở đây có
nghĩa là phép tắc, quy cũ Tức người có đức lớn không vượt khuôn phép, quy
cũ Song chữ nhàn trong đạo Lão lại là nhàn vân dã hạc (có nghĩa là mây trói
con hạc giữa đồng) tức con người sống nếp sống Đạo gia, không bị câu thúc ràng buộc mà an tịnh, siêu thoát
Nguyễn Bỉnh Khiêm sống giai đoạn xã hội phong kiến loại ly đầy mâu thuẫn của thế kỷ XVI Chính hoàn cảnh lịch sử đầy biến động đó đã tạo nên
sự bất an trong lòng người Nguyễn Bỉnh Khiêm một bậc đại trí thức của xã hội lúc bấy giờ đứng giữa thời cuộc rối ren dường như mọi mưu đồ nghiệp đều vỡ tan trong sự thất vọng, trong sự hưng bại của các triều đại Triều Lê sụp đổ khi đã quá mục ruỗng, rồi triều Mạc thay thế “Lúc này Nguyễn Bỉnh Khiêm đã 36 tuổi vậy mà vẫn tầm sư học đạo, lặng lẽ đóng vai một xử sỹ chờ thời qua hai kỳ thi hội cụ vẫn không tham dự Cho đến tuổi 45, khi thời cuộc
đã ổn, cụ mới dự thi và đỗ tiến sỹ” [36, 68] Tuy nhiên ông cũng chỉ làm quân
8 năm đến khi dâng sở xin chém 18 kẻ lộng thần không được chấp nhận dưới triều Mạc Phúc Hải Ở con người này, trong sự vần vũ của thời cuộc, vẫn luôn điềm tĩnh chờ một cơ hội, chờ đợi bậc minh quân để trổ hết tài năng giúp dân, giúp nước Song, thời cuộc không toại nguyện Ông trở về với am Bạch Vân Trở về với chữ nhàn và chữ tiên của đạo Nho và đạo Lão Điều đó xuất phát
từ sự bất đắc chí của thời cuộc
Thái độ, hành vi tùy thời xuất xử của ông là sự biểu hiện hai mặt tư tưởng Nho gia Thực tế đây là một kiểu tác giả Nho gia ẩn dật, một loại hình tác giả chính thống của văn học trung đại khi không đạt được sự hành đạo để
“trí quân trạch dân”, để tự thể hiện mình với tư cách là một con người hành động Quay về với cuộc sống điền viên thôn dã, với cuộc sống nghèo hèn, bởi thế họ luôn tự nhận về mình bao nhiêu sự nghèo hèn, sự kém cỏi
Trang 27Tạ dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người tìm đến chốn lao xao
Song đây chỉ là một cách nói, một cách nói để khẳng định mình Tư tưởng của ông có sự phiêu diêu của Lão – Trang, sự thoát tục của nhà Phật:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao Rượu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Cuộc sống tự nhiên đạm bạc là cuộc sống hợp với đạo, cho nên thật thi
vị, thanh thản Trong một số bài thơ khác, chúng ta cũng bắt gặp sự nhàn tản,
vô sự, không bị ràng buộc bởi vinh hóa phú quý, không bị khất phục bởi thế lực gian tà:
Dửng dưng mọi sự đà ngoài hết Nhàn một ngày là tiên một ngày (Thơ chữ Nôm, Bài số 10)
Vì mùi thế gian nhiều mặn nhạt, đường danh lợi lắm chông gai nên Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn lánh đục về trong, muốn dửng dưng vô sự, muốn
nhàn tản như ở cõi tiên Và như thế để ông đứng lên trên hết để cười cợt, nhìn xuống:
Thớt có tanh tao ruồi mới đậu Gang không mật mỡ kiến bò chi Đời nay những trọng người nhiều của Bằng đến tay không, mấy kẻ vì
(Thói đời 2)
Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là tiếng thở dài đầy tuyệt vọng mà
đó là những vần thơ đứng trên sự tranh đấu danh vọng nhằm đề cao sự thanh sạch của tâm hồn:
Thế gian biến đổi vũng nên đồi Mặn nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi
Trang 28Còn bạc, còn tiền còn đệ tử Hết cơm, hết rượu hết ông tôi (Thói đời 1)
Theo tác giả Minh Chi, Học viện Phật giáo Việt Nam thì “không lụy công danh, không vướng tài sắc – là những ràng buộc rất tầm thường và thế tục, để làm tất cả những việc có thể làm được để lợi lạc quần sanh, để cứu nhân độ thế, cứu người và cứu đời” [11], có như vậy mới ngộ được đạo lý bất
tử là một nét nghĩa của chữ “nhàn” trong Phật giáo Như trên cũng đã trình bày có thể rút ra rằng thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như con người ông
đã thể hiện được sự đề cao sự thanh sạch của tâm hồn, không chịu sự trói buộc của vinh hoa Cũng có nghĩa thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Và xét đến cùng thì đây cũng là một biếu hiện của một nho sỹ chân chính
Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua Trần Nhân Tông cũng đã quan niệm
chữ “nhàn” với nghĩa là không màng công danh: Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn kim trong bài thơ chữ Hán Đắc thú lâm tuyền thánh đạo ca
Trong một bài thơ khác có tên là Cư Trần lạc đạo, tác giả cũng bày tỏ
quan niệm rất rõ về tư tưởng Lão Trang cũng như quan niệm của nhà Phật:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên Đói đến thì ăn mệt ngủ liền Trong nhà có báu thôi tìm kiếm Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiên
Cảm hứng tôn giáo với tư tưởng Lão Trang trong sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ có vậy Chính tư tưởng Lão – Trang đã nâng cánh cho những suy nghĩ bay bổng đến với cõi tiên, với một không khí khác:
Côn Sơn suối chảy rì rầ
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
Trang 29Côn Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm
… Trong rừng có bóng trúc râm Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn
(Côn Sơn ca, Nguyễn Trãi)
Nhân vật trữ tình thật nhàn tản, tắm mình trong cảnh trí thiên nhiên lý
tưởng của một thế giới thanh khiết Thế nhưng thi gia Còn có một lòng âu việc nước, Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung (Thuật hứng bài XXIII) Vì thế ngay chốn tiêu giao với non nước cũng canh cánh một nỗi đời: Trăm năm trong cuộc nhân sinh/ Người như cây cỏ thân hình nát tan/ Hết ưu lạc đến bi hoan/ Tốt tươi khô héo, tuần hoàn đổi thay (Côn sơn ca)
Song đó cũng là cách duy nhất để nho sỹ xưa tìm đến khi cuộc đời bạc bẽo Đó chính là tìm đến không khí của xúc cảm nghệ thuật mà ẩn trong đó là cảm hứng vô hình đã dẫn dụ con người: cảm hứng tôn giáo Ngay cả khi phủ
nhận sạch trơn nó: Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng/ Không Phật, không tiên, không vướng tục (Bài ca ngất ngưởng) thì vẫn có thể thấy một trong những yếu tố hợp thành chất ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua cách sống, qua
thái độ phóng khoáng tự do đó có thể tìm thấy ở tư tưởng đạo Lão Bởi thế mà
đến các bậc tiên đình cũng nực cười ông ngất ngưởng
Nếu như Phật giáo, Đạo giáo ảnh hưởng đến văn học Việt Nam ngay từ khi văn học viết ra đời thì dấu ấn Thiên Chúa giáo trong văn học Việt Nam chỉ xuất hiện từ thế kỷ XVII, XVIII trở lại nay
Trước hết, cần tìm hiểu tên gọi: đạo Cơ đốc xuất hiện ở Palextin dưới sự thống trị của đế quốc La Mã vào thế kỷ thứ I SCN, sau đó truyền vào Tây Á, Nam Âu và Bắc Phi Đạo Cơ đốc ban đầu là một giáo phái bắt nguồn từ đạo
Do Thái Những người thống trị ở La Mã thoạt tiên trấn áp khốc liệt đạo Cơ đốc sau đó lại lợi dụng Và cuối thế kỷ thứ IV, đạo Cơ đốc được công nhận là
Trang 30quốc giáo Từ thế kỷ V đến thế kỷ X, đạo Cơ đốc được truyền bá khắp Châu
Âu Thế kỷ IX đến thế kỷ X đạo Cơ đốc phân chia thành Thiên Chúa giáo ở phương Tây và Chính giáo ở phương Đông, Vào thế kỷ XVI, do phong trào cải cách tôn giáo ở phương Tây, nó tiếp tục phân hóa hình thành Tân giáo (đạo Tin Lành) Như vậy, đều cùng một điểm xuất phát nhưng tôn giáo đã có nhiều sự biểu hiện khác nhau trong sự thích ứng và yêu cầu của mỗi vùng Cũng chính vì thế sự ảnh hưởng của nó cũng khác nhau
Lịch sử truyền giáo của đạo Cơ đốc gắn với lịch sử xâm lược Á, Phi, Mỹ
La tinh của chủ nghĩa đế quốc, biến các châu này thành thuộc địa và nửa thuộc địa Cùng với quá trình xâm lược đó, giáo hội phương Tây tăng cường hoạt động truyền giáo trên thế giới
Từ việc truyền đạo Thiên Chúa đến truyền bá những tư tưởng văn hóa phương Tây vào Việt nam cũng với một hình thức như thế, trong đó người Pháp đóng vai trò quan trọng nhất Song đây cũng là một quá trình phức tạp,
tế nhị Thực dân Pháp thống trị Việt Nam, dẫn đến sự phá vỡ cơ cấu xã hội Việt Nam theo hình mẫu phong kiến nhằm xây dựng một thuộc địa theo khuynh hướng phương Tây ở Đông Á với mục đích phục vị chính trị, bóc lột
về kinh tế Nhưng vô hình trung những luồng tư tưởng mới, lạ lẫm thâm nhập vào Việt Nam Đó là tư tưởng dân chủ, tư tưởng tự do cá nhân, tư tưởng về quyền con người Cơn gió lạ này nhanh chóng đi vào cuộc sống người dân Việt Nam, làm thay đổi diện mạo cả văn hóa và văn học
Bằng chính sự tác động mạnh mẽ của tôn giáo có thể lý giải vì sao phương Tây tự do cá nhân sớm hơn rất nhiều so với phương Đông Nếu đạo Phật và tư tưởng Nho giáo sự liên đới, quan hệ với người khác về tôn ty, trật
tự, đẳng cấp là quan trọng nhất thì mọi con chiên của đạo Thiên Chúa lại bình đẳng trước Chúa, mỗi người tự chịu trách nhiệm về hành động và tâm hồn mình trước Chúa Đây là một dẫn chứng khẳng định sự tác động của tôn giáo
Trang 31mạnh mẽ, sâu sắc, thấm sâu đến tư tưởng của con người, chi phối hành động, quan niệm của lớp lớp cộng đồng
Dấu ấn Thiên Chúa giáo trong văn học Việt Nam khá muộn và mở đầu là
những tác phẩm văn xuôi Có tiếng vang nhất là tác phẩm Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, xuất bản năm 1887
Truyện thầy Lazarô Phiền chỉ vỏn vẹn có 32 trang in, nhưng có nhiều
yếu tố rất hiện đại Đó là một câu chuyện trong một câu chuyện Thầy Lazarô Phiền đã thú nhận tội lỗi với một người bạn đồng hành và người đó lại trở thành người tường thuật Về ngôn ngữ, tác phẩm đã thoát được lối văn biền ngẫu do Nguyễn Trọng Quản đã tiếp thu từ Trương Vĩnh Ký, người thầy của mình (và cũng là bố vợ của ông) với quan niệm chọn cách nói tiếng An - nam ròng
Tuy nhiên ở đây cần thấy được dấu ấn của tôn giáo trong tác phẩm, trước hết, ở ngay tên gọi Mặt khác đó là câu chuyện về một tín đồ Thiên Chúa, từ ngày đầu mồ côi cho đến lúc chỉ còn một nấm mồ Điểm đặc biệt ở tác phẩm chính là cảm hứng Thiên Chúa giáo với nội dung sám hối – một đặc trưng của tôn giáo Thiên Chúa Đó là sự sám hối của Thầy Lazaro Phiền phạm vào tội
ác tày trời khi nghi oan cho vợ Để làm được điều này Nguyễn Trọng Quản đã chọn đối tượng được miêu tả trong tác phẩm là tâm lý nhân vật chứ không phải sự kiện, hành động
Cảm hứng tôn giáo mang màu sắc sám hối của đạo Thiên Chúa hướng con người tới cuộc sống tâm hồn, luôn trăn trở về những việc làm đã qua để linh hồn mình tới được Thiên Đường nơi có hạnh phúc với Đức Chúa mãi mãi
Như vậy, tôn giáo không chỉ tồn tại với tư cách là các thiết chế, nghi lễ
mà còn là tư tưởng, quan niệm, tình cảm, biểu hiện trong đời sống tâm linh và trong những sáng tạo nghệ thuật, cụ thể là văn học Song sự thể hiện với mỗi
Trang 32giai đoạn, với mỗi tôn giáo đậm nhạt khác nhau Nhìn chung văn học Việt Nam cảm hứng nổi bật từ ba tôn giáo lớn: cảm hứng Phật giáo, cảm hứng Đạo giáo và cảm hứng Thiên Chúa giáo
1.2.2 Vai trò của cảm hứng tôn giáo
Thơ trữ tình chính là sự bộc bạch một cách trực tiếp chủ thể sáng tạo, bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình Nhưng với thơ trung đại, cái tôi cá thể trước thế giới ẩn mình hơn, thậm chí hòa vào cái ta trong quan niệm thẩm mỹ của thời đại Cũng cần nói thêm rằng, thơ trung đại bàn đến phạm trù “vô ngã” hướng tới phạm trù “ta”, song với một số tác giả thì “vô ngã” cũng đạt đến cái “ngã” siêu việt, để khẳng định cá tính riêng Và trong những khuôn mẫu, trùng lặp thậm chí là xơ cứng nhưng vẫn đạt đến những trình độ cổ điển đến vậy thì sự sáng tạo quả đáng kinh ngạc Bản lĩnh của mỗi nhà thơ để tạo nên sự khác biệt là điều không hề dễ dàng Vậy do đâu văn học vẫn ghi dấu
ấn của những sáng tác đầy cảm hứng, do đâu sáng tạo vẫn cất cánh trong sự cương tỏa chặt chẽ của thơ trung đại?
Đó chính là sự bay bổng trong tư tưởng, tình cảm, là sự khoáng đạt của chủ thể trữ tình, là sự siêu thoát, bồng bềnh trong hồn thơ Tất cả, có thể nói đều ám gợi và ảnh hưởng từ cảm hứng tôn giáo trong văn học
Chính cảm hứng tôn giáo góp phần tạo nên sự thăng hoa của sáng tạo:
Cửa biển có non tiên Từng qua lại mấy phen Cảnh tiên rơi cõi tục Mặt nước nổi hoa sen Bóng tháp hình trâm ngọc Gương sông ánh tóc huyền ( Dục Thúy sơn – Nguyễn Trãi)
Trang 33Thế giới thẩm mỹ phương Đông trung đại có sự rạch ròi giữa trần cảnh
và tiên cảnh Khoảng cách ấy được nối liền bằng những giấc mơ và trí tưởng tượng Cảnh trí thiên nhiên núi Dục Thúy khúc xạ vào lăng kính của thi nhân tạo nên một bức tranh tiên cảnh Thế nhưng không chỉ người đọc được chiêm ngưỡng phải ngỡ ngàng mà dường như chính chủ thể trữ tình dù đã quen với
cảnh sắc Dục Thúy khi từng qua lại mấy phen mà vẫn phải thốt lên: Cửa biển
có non tiên Và khi định thần lại thì nhân vật trữ tình mới ngộ ra à, cảnh tiên rơi cõi tục Để rồi tiếp tục chìm vào trong mộng cảnh: Mặt nước nổi hoa sen/ Bóng tháp hình trâm ngọc/ Gương sông ánh tóc huyền Tất cả bồng bềnh,
huyền diệu trong sự chơi vơi giữa non nước trời tiên Núi Dục Thúy đẹp, cảnh sắc núi Dục Thúy ngỡ ngàng Bởi đã nhuốm phủ tình yêu của thi nhân, thể hiện niềm tự hào của nhà thơ với giang san gấm hoa Đó là thế giới siêu thoát của một hồn thơ hay đó là cảnh thực trong thơ?
Có thể nói khi bế tắc con người lại tìm đến tôn giáo, dù là vô thức, nhằm giải thoát những ẩn ức, đưa họ đến những tươi mát trên nền văn chương ít nhiều khô cằn của Nho giáo Cũng bởi thế mà chúng ta có những vần thơ như khói sương của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần hơn một chút là tuyệt phẩm thơ thu của Nguyễn Khuyến Dường như chỉ có tư tưởng của Lão – Trang, của cảm hứng tôn giáo mới tạo được không gian thu vừa thực, vừa hư đến vậy:
Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào (Thu vịnh – Nguyễn Khuyến)
Dù chỉ xét ở phạm vi thơ trung đại cũng khẳng định rằng cảm hứng tôn giáo có vai trò quan trọng Nó tạo nên sự khoáng đạt, hư ảo, bay bổng trong
Trang 34hồn thơ, giúp thi nhân mở rộng thế giới của tâm tưởng và cảm hứng tôn giáo thêm một lần nữa tạo nên sự thoát tục mà dường như chỉ có trong nỗi khát vọng:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nữa rồi Cung quế đã ai ngồi đó chửa Cành đa xin chị nhắc lên chơi ( Muốn làm thằng Cuội – Tản Đà )
Mặt khác, trong quy luật đào thải và tiếp nhận, thích ứng văn học luôn tự
có cách làm đầy nó Cảm hứng tôn giáo cũng góp phần mở rộng đề tài, làm phong phú thêm cho nền văn học
Năm chục hoa niên bảy thước thâni Lòng như sắt cứng bỗng mềm dần Gió lay khô héo hoa ngoài cửa Sương dãi gầy mòn liễu trước sân Trước biếc xa trông, mây thăm thẳm
Kê vàng tỉnh giấc đối bâng khuâng Khuất lời cách mặt, non bồng vắng Băng ngọc du hồn nhập mộng chăng ? (Tự thuật – Lê Thánh Tông) (Bản dịch thơ Đào Duy Anh)
Thơ Lê Thánh Tông mang khẩu khí của bậc đế vương, ý thức tự hào của
một ông vua có tài: Bác mẹ sinh ra vốn áo sồi/ Chốn nghiêm thẳm thẳm một mình ngồi/ Chép miệng đánh tan quân kiến gió/ Nghiến răng chuyển động bốn phương trời (Con cóc) Hay: Đế vương đại đạo cực tinh nghiên/ Hạ dục nguyên nguyên thượng khí thiên/ Chế trị bảo bang tư kế thuật/ Thanh tâm quả dục tuyệt du điền (Ngự chế quân đạo thi),(Đạo lớn đế vương nghĩ đã tinh/Thương yêu dân chúng kính trời xanh/ Tìm tòi kế sách xây đời thịnh/ Bỏ
Trang 35hẳn chơi bời giữ nếp thanh) [36, 17] Thơ ông còn in dấu những suy nghĩ,
trăn trở, day dứt về khát vọng, lý tưởng cao đẹp, là hình ảnh một ông vua “
tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”: Lòng vì thiên hạ những sơ âu/Thay việc trời, dám trễ đâu/ Trống dời canh còn đọc sách/ Chiêng xế bóng chửa thôi chầu (Tự thuật-Thơ chữ Nôm) [36,28] Thơ ông
còn cảm nhận thấy sự thanh nhẹ bởi chính ảnh hưởng của cảm hứng tôn giáo
Bài thơ Tự thuật (chữ Hán) viết khi nhà vua sắp băng hà, mang nỗi buồn vời
vợi, cái tình lưu luyến với cuộc sống nhưng cũng rất nhẹ nhõm đón chờ cái chết, như trở về với cõi bồng lai, tiên cảnh, trở về với cõi mộng
Lê Thánh Tông là một nhà văn, nhà thơ giàu cảm xúc, đích thân là chủ soái của hội Tao đàn Nhị thập bát tú, là một trong những ông vua tài ba nhất của lịch sử phong kiến Việt Nam Giai đoạn ông sống, Nho giáo giữ vị trí độc tôn Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế, để tồn tại nó phải biến đổi và đi vào dân gian Và chính hoàn cảnh xuất thân của ông ghi dấu ấn trong tiếp nhận nhiều xung động văn hóa tạo nên cá tính của ông sau này Thưở nhỏ ông đã phải cùng mẹ là bà Ngô Thị Ngọc Dao rời hoàng cung, ở chùa, nương náu trong dân gian Có lẽ vì thế mà tư tưởng và hành động của ông sau này luôn giữ được sự gần gũi với nhân dân, phần nào đó có sự dung hòa của nhiều luồng tư tưởng – Nho giáo và cả Phật giáo và Đạo giáo trong quần chúng, ông
“tiếp nhận cả dòng văn học bác học lẫn dòng văn hóa dân gian” – theo tác giả
Trang 36Tiết cứng trượng phu, thông ấy bạn Nết trong quân tử, trúc là đôi
Nhà truyền thống thanh bạch dăng từng khối Phỉ xứng danh thơm đệ nhất khôi
(Cội mai)
Hình ảnh mai – trúc – thông ca ngợi tấm lòng trong sáng, thanh bạch,
khí tiết thanh cao của người quân tử, danh lợi cũng không làm lung lay chí khí rắn rỏi Quan niệm này ít nhiều có khác với Nho gia
Cảm hứng tôn giáo làm phong phú thêm cho văn học là vậy
1.3 Cơ sở văn hóa – xã hội – thẩm mỹ - văn học của cảm hứng tôn giáo trong Thơ mới 1932-1945
1.3.1 Cơ sở văn hóa - xã hội
Thực dân Pháp xâm lược và thiết lập chế độ thực dân nửa phong kiến buộc lịch sử Việt Nam phải có sự vận hành theo dòng chảy và cũng từ đó ghi dấu những trang bi hùng Chế độ phong kiến hơn một ngàn năm đến thời kỳ mục ruỗng, tan rã, chế độ thực dân được xác lập sau Một thực tế không thể phủ nhận là dấu chân người Pháp đặt lên đất Việt đã tạo nên những biến động
dữ dội trong đời sống và kết cấu xã hội Dưới góc độ chính trị, đây là sự đối chọi giữa chủ nghĩa anh hùng dân tộc với sự xâm lược ngoại bang Nền kinh
tế tư bản từng bước từng bước len lỏi Kéo theo đó là những sự thay đổi đến chóng mặt, những thay đổi mà các bậc nho sỹ hay người dân chưa bao giờ hình dung nổi: các đô thị mới mọc lên, các đô thị cũ biến thành đô thị Âu hóa, tầng lớp thị dân và tư sản, tiểu tư sản ngày một nhiều Có lẽ vì thế mà tiếng ếch hay tiếng gọi đò ở dòng sông Vị Hoàng của nhà thơ Tú Xương còn đầy
ám ảnh, day dứt đến tận bây giờ Cuộc sống vượt thoát khuôn khổ luân thường mà Nho giáo hơn một ngàn năm qua gây dựng Các chuẩn mực Nho gia bị lung lay đến tận gốc rễ Sự biến động dữ dội ấy tạo nên một bộ mặt xã hội mới, song lại ẩn chứa là các giá trị lộn sòng Dưới góc độ văn hóa, đây là
Trang 37cuộc đụng độ giữa hai nền văn hóa: văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây Sự xuất hiện tầng lớp mới, đặc biệt là lớp trí thức Tây học sẵn sàng tiếp nhận văn hóa phương Tây nhưng vẫn giữ được tinh thần dân tộc, họ có cách nhìn cuộc sống mới, có những xúc cảm nghệ thuật khác trước để từ đó họ là chủ nhân của sự đổi mới
Các giá trị cũ không thể tồn tại, không thể dung hòa cũng như “thơ cũ” với niêm luật gò bó không thể sống tiếp Yêu cầu của thời đại buộc các giá trị mới xuất hiện Và với văn học, cũng vì thế đòi hỏi lớp trí thức Tây học phải tạo nên một hướng đi khác Cộng thêm vào đó là sự thay thế dần chữ Hán, chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, sự ra đời và phát triển của ngành in, ngành báo
chí với tờ báo tiếng Việt đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam là tờ Gia Định báo (số
thứ nhất vào 15 – 04 – 1865) (Tờ báo bằng chữ quốc ngữ Việt đầu tiên là ở Thái Lan vào năm 1836) Rồi sự thử nghiệm đổi mới với văn xuôi, kịch với
tác phẩm đầu tiên là Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản viết
vào năm 1887 đã tạo nên bước đệm cho thi ca, cho Thơ mới 1932 – 1945 Như vậy Thơ mới đã ra đời khi Việt Nam bước vào công cuộc bị khai phá thuộc địa với những thay đổi to lớn về mặt xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, sự tự đổi mới của văn học
Mặt khác, khi cả dân tộc đang quằn mình dưới giày đinh súng sắt, đang
mò mẫm để tìm một lối thoát, đang bế tắc, bất lực, khi cha ông ta từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời/ Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa (Chế Lan Viên)
thì chính văn học, chính thơ mới cũng phần nào mang tâm trạng chung của
những con người mất nước Và bi kịch của thời đại đã tích tụ thành niềm uất hận ngàn thâu, thành khối căm hờn (Thế Lữ) trở thành nỗi sầu vạn thế mang mang thiên cổ sầu (Huy Cận) Hay đó là nỗi buồn mênh mang trải dài đến vạn
dặm:
Trang 38Gió lộng bốn phương Giang hồ rượu ngấm
Xa vời bể thẳm Một khiếp mênh mông
Ba mươi sáu bến bềnh bồng!
Thuyền ơi! Neo chưa buồn cắm Mang mang nỗi buồn nghìn dặm
(Gió – Lưu Trọng Lư)
Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của trần gian Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo
(Chế Lan Viên)
Bế tắc trước thời cuộc, con người quay về với chính mình và tự ý thức một cách sâu sắc sự lạc lõng, đơn chiếc giữa cuộc đời Bởi thế cái tôi của Thơ mới là cái tôi cô đơn vò võ giữa cõi đời như một đặc trưng thẫm mỹ Bởi đào sâu mãi, khám phá mãi cái tôi ấy càng cảm thấy cô đơn, bé nhỏ, càng cảm thấy bơ vơ Bế tắc, sầu đau trong khoảng nghìn trùng vô hạn của đời người và của lòng người cái tôi cá nhân cá thể càng mang nặng mối bất hòa với thực tại
Trang 39Cái tôi càng tự ý thức về bản thân, càng có những rung động tinh vi
trong xúc cảm càng cô đơn, sầu thảm Và trước khi ta ghì người tắt thở ở trong tay để thậm chí cố tình trấn át mà tìm kiếm một người bạn thì ta đã xót thương, ta căm giận, hung cuồng/ Ta gầm thét, rung mấy trời thế sự/ Rồi dữ tợn ta vùng đi khắp xứ/ Nắm hai vai người thục khách qua đường Tất cả
những cảm xúc đẩy lên đến tột độ ấy cũng chỉ mong tìm được cho mình một
sự an ủi, một mối rung cảm đồng điệu dù là nhỏ, rất nhỏ thôi Nhưng tất cả rơi
vào chua xót, rơi vào sự đơn chiếc đến cùng cực: Ôi ngơ ngác một lũ người vong bản/ Mất tinh thần từ những thưở xa xôi Nhưng ta vẫn còn, còn một
chút bám víu:
Trong bỡ ngỡ duy lòng còn chút mộng
Ta đi tìm người thiếu nữ ngày xưa
Nhưng rồi chút an ủi cuối cùng cũng chỉ nhận lại là sự thất vọng giày
thêm: Ta giơ tay, nàng khiếp sợ lùi xa/ Ta lại điên rồ đau đớn xót xa/ Trong
cô độc thấy tình thương cũng mất
Bao nhiêu nỗi cô độc, bao nhiêu sự lạnh lùng đều trải bày cùng thơ Cảm xúc đã tràn ra, không thể giấu giữ, không thể che lấp Bởi đó là cái tôi sống ở quê hương mà thấy thiếu quê hương, sống trong hiện tại mà chỉ muốn thoát ly
vào quá khứ, vào những gì hư ảo: Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khí hoàng hôn cũng nhớ nhà (Huy Cận)
Chính những nỗi niềm vơi đầy chới với giữa cuộc đời và sự bế tắc trước
mọi ngã đường, thậm chí ngay cả một nguồn an ủi ở một chút mộng của người thiếu nữ ngày xưa cũng là vô vọng ấy mà thi nhân đã tìm đến cho mình
một lối thoát ngay trong thơ, sự trú ngụ ở tôn giáo
Như vậy cơ sở xã hội đã buộc các thế hệ thi sỹ mới phải tìm một chỗ đứng cho nền thơ Việt Nam trong sự đổi thay mạnh mẽ của thời cuộc, Và Thơ mới đã ra đời Cũng chính từ xã hội ấy đã tạo nên một tâm trạng mà gần như
Trang 40là một mẫu số chung cho các nhà thơ: cái tôi lãng mạn cô đơn, lạc lõng Đó cũng là cơ sở để văn học tìm đến cảm hứng tôn giáo – một nơi mà không bao giờ con người bị ruồng bỏ
1.3.2 Cơ sở thẩm mỹ
Tính quy phạm, ước lệ, chuẩn mực là những nguyên tắc được tìm thấy trong thơ ca trung đại Chuẩn mực thẩm mỹ trong thơ trung đại có thể nói là chức năng tải đạo, giáo hóa, đề cao ngôn chí Bởi thế dù thơ là tiếng nói bộc
lộ tình cảm, cảm xúc thì thơ trung đại vẫn bị gò bó trong khuôn phép đó Thơ mới tôn trọng dòng chảy tự nhiên của cảm xúc Thơ mới còn là một cuộc “nổi loạn”, một sự “phá phách” không chỉ ở hình thức thơ, nội dung thơ
mà còn ở chính sự bung phá của cái tôi trữ tình trong xúc cảm với mục đích đoạn tuyệt, dứt bỏ khuôn phép gò bó của thơ cũ Dĩ nhiên phải phù hợp với quy luật của sự phát triển
Cái tôi trữ tình sẽ được bộc lộ tất cả những gì sâu kín nhất, là khát vọng,
là tình yêu thậm chí là những gì đời thường nhất Thơ mới khi đó là sự phản ánh những tinh vi huyền diệu của tạo vật hay những khoảng khắc của tâm trạng con người hơn là tìm kiếm cái trật tự, hài hòa – vốn là chuẩn mực của thơ cổ:
Em hãy thu về tất cả hương
Cả bao hoa thắm nở bên đường
Em thu hết cả lời ân ái Thu cả hương lòng, lạc bốn phương
(Hương lòng – Lưu Trọng Lư)
Nắm bắt được điều đó cũng có nghĩa thơ mới với xúc cảm cá nhân tràn đầy đã chạm tới mục đích, chạm tới cái đẹp
Có thể nói trong tất cả các lĩnh vực con người luôn vươn tới và tìm mọi cách đáp ứng nhu cầu về cái đẹp Cái đẹp trở thành chuẩn mực, có mặt ở khắp