Bài nghiên cứu này tìm hiểu về tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như nghiên cứu về vai trò của các yếu tố trên khi doanh nghiệp đang ở trong tình trạng đầu tư quá mức hoặc đầu tư dưới mức. Ngoài ra đề tài còn đào sâu nghiên cứu tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư ở các mức độ sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau. Mẫu nghiên cứu là 912 quan sát của 152 doanh nghiệp phi tài chính Việt Nam được niêm yết ở sàn chứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn 20092014. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng theo mô hình Pooled OLS, Fixed Effect và Random Effect. Thông qua một số kiểm định có liên quan, bài nghiên cứu lựa chọn mô hình Fixed Effect có bổ sung thêm ma trận trọng số của White (robust) để khắc phục các khuyết tật của mô hình và làm vững kết quả nghiên cứu. Kết quả cho thấy rằng chất lượng báo cáo tài chính góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư và giúp làm hạn chế tình trạng đầu tư quá mức của doanh nghiệp, tuy nhiên lại không có tác động đến tình trạng thiếu đầu tư. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn chỉ ra ảnh hưởng của nợ ngắn hạn trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư nhưng không tìm thấy mối quan hệ nào giữa nợ ngắn hạn với việc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức. Ngoài ra, khi phân loại nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ nhất để xác định mức độ sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, bài nghiên cứu phát hiện ra rằng các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn cao hơn thì tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư lớn hơn các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn thấp hơn. Cuối cùng, bài nghiên cứu đưa ra một số gợi ý và khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả đầu tư của mình trong thời gian tới, bảo đảm sự phát triển, tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ KIM THOA
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO
TÀI CHÍNH VÀ KỲ HẠN NỢ ĐẾN HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ -
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆP
Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ KIM THOA
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO
TÀI CHÍNH VÀ KỲ HẠN NỢ ĐẾN HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ -
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆP
Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ ĐẠT CHÍ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đinh Thị Kim Thoa
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
Tóm tắt 1
1 Giới thiệu 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Cấu trúc bài nghiên cứu 5
2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Các khái niệm liên quan 5
2.1.1 Đầu tư, hiệu quả đầu tư, báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp 5
2.2 Ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) đến hiệu quả đầu tư 16
2.3 Ảnh hưởng của kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư 23
2.4 Mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư 25
3 Phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Mô hình nghiên cứu 27
3.2 Mẫu, dữ liệu và kỳ vọng dấu 28
3.2.1 Mẫu nghiên cứu 28
3.2.2 Dữ liệu, mô tả biến và kỳ vọng dấu 29
3.2.3 Giả thuyết nghiên cứu 38
3.3 Phương pháp nghiên cứu 38
4 Kết quả nghiên cứu 44
Trang 54.1 Thống kê mô tả 44
4.2 Kiểm định đa cộng tuyến 47
4.3 Kết quả hồi quy 49
4.3.1 Ảnh hươ ̉ ng của chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đến hiê ̣u quả đầu tư cu ̉a các doanh nghiệp Việt Nam 50
4.3.2 Ảnh hươ ̉ ng của chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đến việc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức của các doanh nghiệp Việt Nam 54
4.3.3 Mối quan hê ̣ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiê ̣u quả đầu tư ở các tỷ lệ nợ ngắn hạn kha ́ c nhau 58
4.3.4 Ca ́ c kiểm nghiê ̣m bổ sung 62
5 Kết luận 71
5.1 Kết luận nghiên cứu 71
5.2 Một số kiến nghị và gợi ý 73
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Minh
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4 1 Kết quả thống kê mô tả 45
Bảng 4 3 Kiểm định đa cộng tuyến 49 Bảng 4 4 Hồi quy hiệu quả đầu tư với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn 52 Bảng 4 5 Hồi quy đầu tư quá mức với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn 56 Bảng 4 6 Hồi quy đầu tư dưới mức với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn 59 Bảng 4 7 Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn theo trung vị 61 Bảng 4 8 Hồi quy hiệu quả đầu tư thay thế, đầu tư quá mức thay thế và đầu tư dưới mức thay thế với biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn 65 Bảng 4 9 Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ nhất 68 Bảng 4 10 Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ ba 70
Bảng 5 1 Hệ số ICOR và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2006-2012 74 Bảng 5 2 Hệ số ICOR của Việt Nam và các nước trong khu vực ASEAN 74 Bảng 5 3 Hệ số ICOR của Việt Nam và các nước trên thế giới 75
Trang 8Tóm tắt
đầu tư dưới mức Ngoài ra đề tài còn đào sâu nghiên cứu tác động của chất lượng báo cáo
Effect và Random Effect Thông qua một số kiểm định có liên quan, bài nghiên cứu lựa chọn mô hình Fixed Effect có bổ sung thêm ma trận trọng số của White (robust) để khắc
chất lượng báo cáo tài chính góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư và giúp làm hạn chế tình trạng đầu tư quá mức của doanh nghiệp, tuy nhiên lại không có tác động đến tình trạng thiếu đầu tư Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn chỉ ra ảnh hưởng của nợ ngắn hạn trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư nhưng không tìm thấy mối quan hệ nào giữa nợ ngắn hạn với việc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức Ngoài ra, khi phân loại nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ nhất để xác định mức độ sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, bài nghiên cứu phát hiện ra rằng các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn cao hơn thì tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư lớn hơn các doanh nghiệp có mức độ
sử dụng nợ ngắn hạn thấp hơn Cuối cùng, bài nghiên cứu đưa ra một số gợi ý và khuyến nghị nhằm giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả đầu tư của mình trong thời gian tới, bảo đảm sự phát triển, tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững
Trang 91 Giới thiệu
1.1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động then chốt và xuyên suốt của mỗi doanh nghiệp Để có thể tăng trưởng và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm gia tăng nguồn lợi nhuận cho công ty Tuy nhiên việc đầu
tư của doanh nghiệp không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích nếu như khâu hoạch định và quản lý hoạt động đầu tư của doanh nghiệp không được thực hiện chặt chẽ và khoa học Đặc biệt trong bước đánh giá để lựa chọn thực hiện đầu tư, nếu như doanh nghiệp không chú trọng phân tích đầy đủ các yếu tố có liên quan đến dự án đầu tư như phương án, tài chính, nhân sự, kinh tế-xã hội, môi trường…, thì có thể dẫn đến việc quyết định thực hiện các dự án không hiệu quả hoặc bỏ qua những dự án tốt cho công ty Bên cạnh các yếu tố trên, các doanh nghiệp thường xem nhẹ tầm quan trọng của việc phân tích kỹ càng một loại công cụ vừa thuận tiện vừa có độ hữu dụng cao và luôn sẵn có, đó chính là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Nhiều lý thuyết và nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chất lượng của báo cáo tài chính góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế đầu tư quá mức và thúc đẩy đầu tư đối với các doanh nghiệp thiếu đầu tư Ngoài ra các nghiên cứu này còn tìm ra được mối quan hệ giữa kỳ hạn
nợ ngắn hạn với hiệu quả đầu tư và lý giải điều này theo hướng nợ ngắn hạn góp phần làm
Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) trên một mẫu các doanh nghiệp ở Tây Ban Nha đã khẳng định chắc chắn về tác động của chất lượng báo cáo tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư Do đó, ngoài những yếu tố chính ảnh hưởng đến việc thẩm định dự án đầu tư, các doanh nghiệp cũng cần chú ý đào sâu phân tích
mà (các) bên còn lại ko có năng lực đó
Vấn đề thông tin bất cân xứng tồn tại giữa người sở hữu và CEO là một dạng điển hình của dạng chi phí này Người đại diện (nhà quản trị doanh nghiệp) chính là người làm việc thay mặt cho người sở hữu, nói cách khác là các cổ đông của doanh nghiệp Thông thường cổ đông của doanh nghiệp không hoặc rất ít có điều kiện giám sát thường xuyên từng hành động của người quản trị
Trang 10và đánh giá báo cáo tài chính cũng như mức độ sử dụng nợ trong cơ cấu nguồn vốn của mình
Mặt khác, đứng trên góc độ thực tiễn có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam với trình độ quản lý còn nhiều yếu kém, thiếu kinh nghiệm hoạch định đầu tư cùng với quy mô doanh nghiệp tương đối nhỏ thường không đặt sự quan tâm đúng mức cho việc hoạch định và đánh giá, thẩm định đầu tư, vì vậy hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam thường rất thấp, từ đó dẫn đến thua lỗ và thậm chí là phá sản Cụ thể theo báo cáo của Cục Quản
lý đăng ký kinh doanh – Bộ kế hoạch và đầu tư, trong năm 2016, có tới 60.600 doanh nghiệp
so với năm 2015 Bên cạnh đó, hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam thời gian qua đều dao động trên mức 6, cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và thế giới, cho thấy hiệu quả đầu tư của nền kinh tế Việt Nam còn rất thấp Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam là thực sự cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự cạnh tranh ngày càng lớn của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Như đã nêu ở trên, mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư là một trong những vấn đề nghiên cứu thú
vị mà đề tài này trong thời gian gần đây đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và nhà đầu tư cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan Tuy nhiên ở Việt
nghiên cứu chọn đề tài: “Tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đến
hiệu quả đầu tư- Bằng chứng thực nghiệm ở các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu nhằm tìm ra sự ảnh hưởng của các yếu tố trên đối với hiệu quả đầu tư, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu xem xét tác động của chất lượng báo cáo tài chính, kỳ hạn nợ ngắn hạn và một số biến vi mô khác của công ty đối với hiệu quả đầu tư của 152 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2009-2014 với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
Trang 11Thứ nhất, xác định được mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp cũng như đối với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức
Thứ hai, xác định được mối quan hệ giữa kỳ hạn nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp cũng như đối với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức
Thứ ba, xác định được mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu
tư, hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức của doanh nghiệp ở các mức độ sử dụng
nợ ngắn hạn khác nhau
Thứ tư, đưa ra được một số kiến nghị dựa trên các kết quả thực nghiệm nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam
Để có thể đạt được các mục tiêu trên, bài nghiên cứu đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, phương pháp nào được sử dụng để đo lường hiệu quả đầu tư và chất lượng báo
cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam?
Thứ hai, các nhóm biến chất lượng báo cáo tài chính có tác động như thế nào đến hiệu quả
đầu tư cũng như hiện tượng đầu tư quá mức và thiếu đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam?
Thứ ba, Nợ quá hạn có tác động như thế nào đến hiệu quả đầu tư cũng như hiện tượng đầu
tư quá mức và thiếu đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam?
Thứ tư, chất lượng báo cáo tài chính có tác động như thế nào đến hiệu quả đầu tư cũng như
hiện tượng đầu tư quá mức và thiếu đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ở các mức độ
sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau?
Thứ năm, các biến kiểm soát vi mô có tác động như thế nào đến hiệu quả đầu tư của các
doanh nghiệp Việt Nam?
Thứ sáu, từ kết quả bài nghiên cứu, có thể đưa ra những gợi ý nào cho các doanh nghiệp
Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong thời gian tới?
Cuối cùng, mô hình nào là mô hình phù hợp để ước lượng mối quan hệ giữa chất lượng
báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối với hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam?
Trang 121.3 Cấu trúc bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được cấu trúc thành 5 phần Phần 1 giới thiệu tổng quan các vấn đề trong bài nghiên cứu: lí do chọn đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu Phần 2 trình bày tổng
quan các khái niệm về đầu tư, hiệu quả đầu tư, báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn Phần này cũng sẽ đưa ra các lý luận và nghiên cứu tìm hiểu về tác động của chất lượng báo chính đối với hiệu quả đầu tư cũng như giữa nợ ngắn hạn và hiệu quả đầu tư Cuối cùng, phần 2 sẽ trình bày các nghiên cứu thực nghiệm xem xét vấn đề mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư để làm cơ sở nền tảng cho bài nghiên cứu
này Phần 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, mang đến một cái nhìn tổng quan về mô
hình dữ liệu bảng động, phương pháp hồi quy Pooled-OLS, Fixed Effect, Random Effect
và các kiểm định khuyết tật của mô hình có liên quan Bên cạnh đó, phần này còn trình bày các giả thuyết nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và nguồn thu thập dữ liệu cũng như nêu rõ cách xác định và ý nghĩa của biến số được sử dụng trong mô hình ước
lượng Phần 4 trình bày các kết quả nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả, ma trận hệ số
tương quan và các kết quả thực nghiệm từ mô hình hồi quy dữ liệu bảng động bằng các
phương pháp đã nêu Phần kết luận tổng quát những kết luận chính của bài nghiên cứu,
nêu lên một số kiến nghị, gợi ý giúp nâng cao hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như chỉ ra một số điểm hạn chế còn tồn tại của bài nghiên cứu và hướng phát triển đề tài trong tương lai
2 Tổng quan tài liệu
Phần này sẽ trình bày một cách cụ thể các khái niệm hiệu quả đầu tư, chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn Tiếp theo đó, bài nghiên cứu sẽ đưa ra các lý luận và nghiên cứu
đề cập về ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đến hiệu quả đầu tư cũng như các nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Cuối cùng, bài nghiên cứu sẽ trình bày các nghiên cứu thực nghiệm đưa vấn đề nợ ngắn hạn và chất lượng báo cáo tài chính trong mối liên hệ với hiệu quả đầu tư
2.1 Các khái niệm liên quan
2.1.1 Đầu tư, hiệu quả đầu tư, báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm đầu tư
Trang 13Theo luật đầu tư năm 2005, đầu tư được định nghĩa là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư Đặc biệt Luật đầu tư còn đưa ra định nghĩa về hoạt động đầu tư để phân biệt với thuật ngữ đầu tư Theo đó, hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư Bên cạnh đó, Luật đầu tư năm 2014 (được Quốc Hội ban hành ban hành ngày 26/11/2014) còn định nghĩa thêm về
dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định
Như vậy, dựa trên các định nghĩa này cũng như các lý thuyết kinh tế về đầu tư và hoạt động đầu tư, bài nghiên cứu đưa ra các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư như sau:
+ Hoạt động bỏ vốn;
+ Hoạt động có tính chất lâu dài;
+ Hoạt động luôn mang theo lợi ích và rủi ro
2.1.1.2 Khái niệm hiệu quả đầu tư
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu thị quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế-xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì nhất định Theo quan điểm kinh tế vĩ mô, hiệu quả đầu tư được phản ánh thông qua
3 nhóm chí tiêu chính: nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, nhóm chỉ tiêu hiệu quả về khoa học
và công nghệ và nhóm chỉ tiêu hiệu quả xã hội và môi trường Ngoài ra, hiệu quả đầu tư còn được định nghĩa là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thể hiện quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án) Như vậy, hiệu quả của dự án đầu tư được phân làm hai loại:
- Phân loại hiệu quả về mặt định tính:
+ Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội: Hiệu quả có thể phân thành các loại hiệu quả kinh tế
(khả năng sinh lời), hiệu quả kỹ thuật (nâng cao trình độ và đẩy mạnh tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật); hiệu quả kinh tế – xã hội (mức tăng thu cho ngân sách của nhà nước
Trang 14do dự án đem lại, tăng thu nhập cho người lao động nâng cao phúc lợi công cộng, giảm thất nghiệp, bảo vệ môi trường) và hiệu quả quốc phòng
+ Theo quan điểm lợi ích: Hiệu quả có thể là của doanh nghiệp, của Nhà nước hay là của
cộng đồng Riêng về mặt kinh tế của đầu tư thì hiệu quá đầu tư được chia thành hiệu quả tài chính: biểu hiện lợi ích trực tiếp của chủ dự án đầu tư và hiệu quả kinh tế – xã hội biểu hiện lợi ích của Nhà nước và cộng đồng
+ Theo phạm vi tác động: Bao gồm hiệu quả cục bộ và hiệu quả toàn cục, hiệu quả trước
mắt và hiệu quả lâu dài, hiệu quả trực tiếp nhận được từ dự án và hiệu quả gián tiếp kéo theo nhận được từ các lĩnh vực lân cận của dự án và do dự án đang xét tạo ra
- Phân loại hiệu quả về mặt định lượng
+ Theo cách tính toán: Hiệu quả có thể được tính theo số tuyệt đối (ví dụ tổng số lợi nhuận
thu được, hiệu số thu chi, giá trị sản lượng hàng hoá gia tăng, gia tăng thu nhập quốc dân, giảm số người thất nghiệp ) Hiệu quả còn có thể được tính theo số tương đối (ví dụ tỷ suất lợi nhuận tính cho một đồng vốn đầu tư, tỷ số thu chi…) Trong đó, có những chỉ tiêu được coi là thước đo hiệu quả tổng hợp để lựa chọn phương án Trong thực tế hiệu quả kinh tế thường được thể hiện theo số tuyệt đối (hiệu số thu chi) và theo số tương đối (tỷ số kết quả và chi phí)
+ Theo thời gian tính toán: Hiệu quả có thể tính cho một một đơn vị thời gian (thường là
một năm), hoặc cho cả vòng đời của dự án Theo thời điểm tính toán hiệu quả phân thành hiệu quả ở thời điểm hiện tại, tương lai và hiệu quả thường niên
+ Theo độ lớn của hiệu quả: Hiệu quả có thể coi là đạt (hay là đáng giá) và hiệu quả không
đạt (hay là không đáng giá)
ích do viê ̣c thực hiê ̣n đầu tư đem la ̣i hoặc cũng có thể hiểu là viê ̣c doanh nghiê ̣p có thể thực
hiệu quả có thể dẫn đến hiện tượng đầu tư quá mức và hiện tượng đầu tư dưới mức Trong
đó, đầu tư quá mức có thể được hiểu đơn giản là việc doanh nghiệp chấp nhận thực hiện
Trang 15các dự án có NPV âm và đầu tư dưới mức hay thiếu đầu tư và việc doanh nghiệp bỏ qua việc thực hiện các dự án tốt và có NPV dương Ngoài ra, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp còn được định nghĩa theo hàm ý phủ định của nó Theo đó, sự không hiệu quả đầu tư được thể hiện qua sự sai lệch giữa mức độ tăng trưởng doanh thu và tổng vốn đầu tư được sử dụng năm trước đó Nếu sai lệch này càng nhỏ thì hiệu quả đầu tư càng cao Dựa vào những cách định nghĩa này, bài nghiên cứu sẽ triển khai và định lượng hóa để đưa vào các mô hình hồi quy phù hợp ở những phần tiếp theo
2.1.1.3 Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả đầu tư:
Theo lý thuyết kinh tế đầu tư, có rất nhiều phương pháp để đánh giá hiệu quả đầu tư nhưng
ở phạm vi nghiên cứu, bài nghiên cứu sẽ trình bày tiêu chí đánh giá hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư, cụ thể như sau:
- Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư:
Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống của người lao động trong các doanh nghiệp trên cơ sở vốn đầu tư mà doanh nghiệp đó sử dụng so với các công ty khác hoặc so với định mức chung Etc được coi là hiệu quả khi Etc >Etc0, trong đó Etc0 là chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, là mức độ đáp ứng tiêu chuẩn mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kinh doanh trước hoặc của các công ty khác cùng ngành Để đánh giá hiệu quả tài chính, cần xem xét các chỉ tiêu tài chính trên hai phương diện cơ bản của hoạt động đầu tư đó là phương diện dự án đầu tư và phương diện doanh nghiệp đầu tư
+ Đối với dự án đầu tư: Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư xét theo
phương diện dự án đầu tư bao gồm:
• Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án:
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư Chỉ tiêu lợi nhuận thuần tính cho từng năm trong vòng đời của dự án, phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư trong từng năm của vòng đời dự án Chỉ tiêu thu nhập thuần phản ánh hiệu quả hoạt động của toàn bộ quá trình đầu tư Các chỉ tiêu này phải được tính toán theo nguyên tắc xem xét giá trị tiền
tệ theo thời gian
Trang 16• Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư: Chỉ tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được
từng năm trên một đơn vị vốn đầu tư:
Trong đó:
RRi là mức sinh lời của vốn đầu tư năm i
Wipv là hiện giá lợi nhuận năm i tại thời điểm hiện tại
Iv0 là vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (tại thời điểm dự án bắt đầu hoạt động)
• Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần -NPV: Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ
biến nhất trong đánh giá dự án đầu tư Chỉ tiêu này phản ánh mức thu nhập thuần tính cho một đơn vị vốn đầu tư Theo tiêu chí này, một dự án có hiệu quả khi npv > 0
Trong đó:
NPV là thu nhập thuần tính về thời điểm hiện tại
Iv0 là vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (tại thời điểm dự án bắt đầu hoạt động)
• Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn: Chỉ tiêu này cho biết thời gian mà dự án cần hoạt động để
thu hồi vốn đầu tư đó bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu được hàng năm Dự án có hiệu quả khi thời gian hoàn vốn nhỏ hơn hoặc bằng thời gian thực hiện dự án đầu tư Thời gian thu hồi vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao Chỉ tiêu này bao gồm thời gian hoàn vốn không chiết khấu và thời gian hoàn vốn có chiết khấu
• Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR):
Hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR) là mức lãi suất mà nếu sử dụng nó làm tỷ suất chiết khấu để hiện giá các khoản thu, chi của dự án về thời gian hiện tại thì tổng dòng tiền vào bằng với tổng dòng tiền chi ra Dự án có hiệu quả khi IRR lớn hơn lãi suất chiết khấu (chi phí sử dụng vốn bình quân) của doanh nghiệp Lãi suất chiết khấu (Chi phí sử dụng vốn bình quân)
Trang 17của dự án được xác định căn cứ vào các nguồn vốn huy động của dự án Chẳng hạn dự án
sử dụng vốn vay thì lãi suất chiết khấu là lãi suất vay; nếu sử dụng vốn tự có để đầu tư thì lãi suất chiết khấu là mức chi phí cơ hội của vốn; nếu huy động vốn từ nhiều nguồn thì lãi suất chiết khấu là lãi suất bình quân từ các nguồn huy động đó
+ Đối với doanh nghiệp thực hiện đầu tư: Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của hoạt động
đầu tư xét theo phương diện doanh nghiệp thực hiện đầu tư bao gồm:
• Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư: Cho biết một đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp
tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận Chỉ tiêu này được tính cho từng năm và được tính bình quân Chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì hoạt động đầu tư hiệu quả
Đối với chỉ tiêu tính cho từng năm:
Trong đó:
Wi là lợi nhuận thuần của dự án j
với j=1,2,…,m là tổng lợi nhuận thuần của các dự án hoạt động năm i Ivb là vốn đầu tư thực hiện trong năm i của doanh nghiệp
Ivr là vốn đầu tư thực hiện chưa phát huy tác dụng ở cuối năm của doanh nghiệp
Ive là vốn đầu tư phát huy tác dụng ở cuối năm i
Đối với chỉ tiêu tính bình quân:
Trong đó:
Trang 18là hiện giá vốn đầu tư được phát huy tác dụng bình quân theo năm trong suốt thời gian nghiên cứu
là lợi nhuận bình quân theo năm trong suốt thời gian nghiên cứu tính theo hiện giá của tất cả các dự án hoạt động trong kỳ
Chỉ tiêu mức giảm thời hạn thu hồi vốn đầu giữa thời kỳ t so với thời kỳ t-1: Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 0 thì hoạt động đầu tư là hiệu quả
Trong đó, K là hệ số mức ảnh hưởng của đầu tư
Chỉ tiêu mức tăng năng suất lao động của từng năm hoặc mức tăng năng suất bình quân giữa thời kỳ đầu tư và thời kỳ trước đầu tư: Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 0 thì hoạt động đầu tư được xem là hiệu quả
Trong đó:
là mức tăng năng suất lao động bình quân của giai đoạn t so với giai đoạn t-1
là mức tăng năng suất lao động năm i so với năm i-1
- Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư: là những lợi ích mà hoạt động đầu tư
mang lại cho xã hội, bao gồm các chỉ tiêu sau:
• Giá trị gia tăng thuần túy - NVA (Net value added): Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu
quả kinh tế -xã hội của hoạt động đầu tư NVA là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào Công thức tính toán như sau:
Trong đó
NVA là giá trị gia tăng thuần túy do đầu tư mang lại
O(Output) là giá trị đầu ra của dự án
Trang 19MI (Material input) là giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và dịch vụ mua ngoài theo yêu cầu để đạt được đầu ra trên
Iv là vốn đầu tư bao gồm chi phí xây dựng nhà xưởng, mua máy móc, thiết bị …
NVA bao gồm 2 yếu tố: chi phí trực tiếp trả cho người lao động ký hiệu là Wg(wage) (tiền lương, tiền thưởng kể cả phụ cấp), và thặng dư xã hội ký hiệu là SS (social surplus) Thặng
dư xã hội thể hiện thu nhập của xã hội từ dự án thông qua thuế gián thu, trả lãi vay, lãi cổ phần, đóng bảo hiểm, thuê đất, tiền mua bằng phát minh sáng chế …
Đối với các dự án có liên quan đền các yếu tố nước ngoài (liên doanh, vay vốn từ bên ngoài, thuê lao động nước ngoài), thì giá trị gia tăng thuần túy quốc gia (tính cho cả vòng đời dự
án (NNVA) được tính như sau:
Trong đó:
PR là giá tri gia tăng thuần túy được chuyển ra nước ngoài
• Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án: Trong khi tạo việc làm cho một số
lao động, thì hoạt động của dự án mới cũng có thể làm cho một số lao động ở các cơ sở sản xuất kinh doanh khác bị mất việc do các cơ sở này không cạnh tranh nổi với sản phẩm của dự án mà phải thu hẹp sản xuất Trong số những lao động của dự án, có thể có một số
là người nước ngoài Do đó số lao động của đất nước có việc làm từ dự án sẽ chỉ bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp phục vụ cho dự án, trừ đi số lao động mất việc ở các doanh nghiệp có liên quan và số người nước ngoài làm việc cho dự án
Ngoài ra, đứng trên góc độ nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư thì hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp này có thể được xem là hiệu quả đầu tư của nền kinh tế Để đo lường hiệu quả đầu tư của nền kinh tế, các nhà nghiên cứu thường sử dụng hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) Hệ số ICOR biểu thị mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng, là tỷ
lệ vốn đầu tư so với tốc độ tăng trưởng (còn gọi là hệ số đầu tư tăng trưởng) Hệ số ICOR cho biết muốn có một đồng tăng trưởng thì phải cần bao nhiều đồng vốn đầu tư Hệ số
Trang 20ICOR biểu hiện mối quan hệ giữa mức tăng sản lượng đầu ra (kỳ t) và mức đầu tư của kỳ (t-1) và được tính bằng công thức:
I = K/y
Trong đó:
K - Mức thay đổi của vốn
y - Mức thay đổi của sản lượng
Hệ số ICOR phụ thuộc vào nguồn dự trữ và công nghệ sản xuất ICOR càng cao chứng tỏ đầu tư càng đắt Hệ số ICOR ở một số nước có xu hướng tăng và ICOR ở các nước phát triển thường cao hơn ở các nước đang phát triển
2.1.1.4 Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính Báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (VAS 21) là một hệ thống bao gồm 4 báo cáo phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một đơn vị:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt được mục đích này, báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ cũng như các luồng tiền Các thông tin này cùng với các thông tin trình bày trong bản thuyết minh báo cáo tài chính giúp người
sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền
Trang 21- Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình
và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu trung thực
và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành
- Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính: Tại điều 102 thông tư
200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 có quy định về các nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính như sau:
Thứ nhất, việc lập và trình bày Báo cáo tài chính phải tuân thủ các quy định tại Chuẩn mực
kế toán “Trình bày Báo cáo tài chính” và các chuẩn mực kế toán khác có liên quan Các thông tin trọng yếu phải được giải trình để giúp người đọc hiểu đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp
Thứ hai, báo cáo tài chính phải phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện
hơn là hình thức pháp lý của các giao dịch và sự kiện đó (tôn trọng bản chất hơn hình thức)
Thứ ba, tài sản không được ghi nhận cao hơn giá trị có thể thu hồi; Nợ phải trả không được
ghi nhận thấp hơn nghĩa vụ phải thanh toán
Thứ tư, phân loại tài sản và nợ phải trả: Tài sản và nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán
phải được trình bày thành ngắn hạn và dài hạn; Trong từng phần ngắn hạn và dài hạn, các chỉ tiêu được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần
+ Tài sản hoặc nợ phải trả có thời gian đáo hạn còn lại không quá 12 tháng hoặc một chu
kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường kể từ thời điểm báo cáo được phân loại là ngắn hạn;
+ Những tài sản và nợ phải trả không được phân loại là ngắn hạn thì được phân loại là dài hạn
+ Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán phải thực hiện tái phân loại tài sản và nợ phải trả được phân loại là dài hạn trong kỳ trước nhưng có thời gian đáo hạn còn lại không quá 12 tháng
Trang 22hoặc một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường kể từ thời điểm báo cáo thành ngắn hạn
Thứ năm, tài sản và nợ phải trả phải được trình bày riêng biệt Chỉ thực hiện bù trừ khi tài
sản và nợ phải trả liên quan đến cùng một đối tượng, có vòng quay nhanh, thời gian đáo hạn ngắn, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện cùng loại
Thứ sáu, các khoản mục doanh thu, thu nhập, chi phí phải được trình bày theo nguyên tắc
phù hợp và đảm bảo nguyên tắc thận trọng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các khoản mục doanh thu, thu nhập, chi phí và luồng tiền của kỳ báo cáo Các khoản doanh thu, thu nhập, chi phí của các kỳ trước có sai sót làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và lưu chuyển tiền phải được điều chỉnh hồi tố, không điều chỉnh vào kỳ báo cáo
Thứ bảy, khi lập Báo cáo tài chính tổng hợp giữa doanh nghiệp và các đơn vị cấp dưới
không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc, số dư các khoản mục nội bộ của Bảng cân đối kế toán, các khoản doanh thu, chi phí, lãi, lỗ được coi là chưa thực hiện phát sinh
từ các giao dịch nội bộ đều phải được loại trừ
Một báo cáo tài chính đảm bảo được các yêu cầu và nguyên tắc nêu trên cũng như được các công ty kiểm toán có uy tín kiểm toán thông qua được xem như một báo cáo tài chính tốt, cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin của doanh nghiệp
2.1.1.5 Nợ ngắn hạn
Như đã trình bày ở phần trên, nợ ngắn hạn là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán Theo đó, nợ ngắn hạn là một khoản nợ của công ty hay một nghĩa vụ nợ mà thường xác định trong khoảng thời gian 1 năm (năm tài chính) Tài sản nợ ngắn hạn trên bảng cân đối
kế toán của công ty bao gồm những khoản nợ ngắn hạn, tài khoản có thể phải trả, các khoản
nợ tích lũy và các loại khoản nợ khác Về bản chất, đó là những hóa đơn phải trả giữa người
đi vay và người cho vay trong một khoảng thời gian ngắn Thông thường, công ty dùng tiền mặt trong tài sản ngắn hạn để trả cho nợ ngắn hạn của họ Thông thường, các nhà phân tích hoặc những người cho vay sử dụng hệ số khả năng thanh toán nợ hiện tại, hoặc hệ số khả
Trang 23năng thanh toán nhanh để xác định khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của công
ty
Trong kế toán, thuật ngữ này được dùng để chỉ những khoản nợ của bảng cân đối kế toán trong cột ghi nợ Nợ ngắn hạn thường phải trả trong khoảng một năm hoặc ít hơn (ví dụ tiền lương, thuế…), khác với nợ dài hạn hoặc nợ cố định Để phân biệt rõ ràng giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, bài nghiên cứu trích dẫn quy định trong Thông tư 200/2014/TT-BTC tại Điều 112 quy định về hướng dẫn lập và trình bày bảng cân đối kế toán năm như sau:
– Đối với khoản nợ ngắn hạn khi trình bày trên báo cáo tài chính: Là tổng giá trị các khoản
nợ còn phải trả có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường như các khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính tại thời điểm báo cáo
– Đối với khoản nợ dài hạn khi trình bày trên báo cáo tài chính: Là tổng giá trị các khoản
nợ dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ
12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo như: khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính dài hạn tại thời điểm báo cáo
Như vậy, bài nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm cơ bản về hiệu quả đầu tư, báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn Nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư cũng như mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư với mức độ sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Phần tiếp theo sẽ giới thiệu về các mối quan hệ này cũng như những bài nghiên cứu tìm hiểu về những vấn đề thú vị trên
2.2 Ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) đến hiệu quả đầu tư
Như đã trình bày ở trên, hiê ̣u quả đầu tư là tất cả những lợi ích do viê ̣c thực hiê ̣n đầu tư đem la ̣i, là kết quả của viê ̣c so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào của quá trình đầu tư Các quyết đi ̣nh đầu tư ảnh hưởng đến viê ̣c sử du ̣ng nguồn vốn cũng như lợi ích,
sẵn và hữu ích nhất giúp cho các tổ chức và cá nhân phân tích và thẩm định việc đầu tư của
Trang 24doanh nghiệp đó chính là báo cáo tài chính của doanh nghiệp Báo cáo tài chính tốt sẽ giúp các doanh nghiệp và các nhà đầu tư đánh giá chính xác nhất về doanh nghiệp, từ đó lựa chọn được các dự án với quy mô và mức độ đầu tư phù hợp, mang lại hiệu quả cao Các bài nghiên cứu sau đây đưa ra một số lý giải về tác động của chất lượng báo tài chính đối với hiệu quả đầu tư
Bài nghiên cứu của Theory, Diamond và Verrecchia (1991) và Kim và Verrecchia (1994) cho rằng việc tự nguyện công bố thông tin trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
thông tin cao, nhà đầu tư có thể tương đối tự tin rằng bất kỳ giao dịch chứng khoán diễn ra tại một mức ''giá hợp lý'' nào đều làm tăng tính thanh khoản cổ phiếu của doanh nghiệp Theo các tác giả trên, báo cáo tài chính là cầu nối giúp các nhà đầu tư đánh giá và xem xét dòng tiền doanh nghiệp, đồng thời, thông tin trên các báo cáo tài chính có ứng dụng rộng rãi vì các công bố doanh thu trên các báo cáo này đóng vai trò chính trong việc xác định giá cổ phiếu cũng như nắm bắt được việc quản lý của công ty và thực hiện các dự án đầu
tư Ngoài ra, các nghiên cứu cho rằng việc công bố tính thanh khoản của cổ phiếu trên các báo cáo tài chính sẽ có quan hệ với tăng việc đầu tư vào cổ phiếu đó
Bên cạnh đó, theo lý thuyết chi phí đại diện, có nhiều cơ chế kiểm soát khác nhau để giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin và rủi ro thông tin nhằm giám sát tốt hơn các hoạt động quản lý từ đó làm giảm bớt hành vi cơ hội của người quản lý như công cụ chất lượng báo cáo tài chính và việc công bố thông tin Điều này đã được lý luận và phân tích cụ thể trong bài nghiên cứu của Bushman và Smith (2001); Healy và Palepu (2001) và Hope và Thomas (2008) Cụ thể, Healy và Palepu (2001) đã chỉ ra trong một thị trường vốn hiệu quả, báo cáo tài chính và công bố thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với nhà quản lý trong việc giao tiếp với nhà đầu tư bên ngoài và giúp nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp Các doanh nghiệp công khai thông tin tài chính theo quy định bao gồm công bố các báo cáo tài chính, chú thích, thảo luận cũng như phân tích quản lý và một số hồ sơ pháp lý khác Ông cho rằng nhu cầu đối với báo cáo tài chính và công bố thông tin phát sinh từ sự bất cân xứng thông tin và các vấn đề đại diện giữa nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài Chính vì vậy,
Trang 25tính minh bạch trong công bố thông tin từ các báo cáo tài chính sẽ góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Cùng quan điểm với nghiên cứu trên Hope, Thomas (2008)
đã nghiên cứu một mẫu lớn các doanh nghiê ̣p đa quốc gia của Mỹ để kiểm tra giả thuyết chi phí đại diện trong bảng thuyết minh thu nhập theo địa lý Giả thuyết chi phí đại diện dự báo rằng các nhà quản lý khi không được giám sát bởi cổ đông và sẽ đưa ra quyết định đầu
tư để tối đa hóa lợi ích riêng của họ, do đó có khả năng làm giảm giá trị cổ đông Những quyết định này bao gồm việc đẩy mạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ doanh nghiệp, làm giảm khả năng sinh lợi và phá hủy giá trị doanh nghiệp Không công bố các báo cáo tài chính có khả năng làm giảm khả năng giám sát của cổ đông đối với các quyết định của nhà quản lý liên quan đến các hoạt động đầu tư ra nước ngoài Sử dụng một mẫu các doanh nghiệp đa quốc gia lớn của Mỹ hoạt động tại nước ngoài, các tác giả thấy rằng, các doanh nghiệp
Đặc biệt, trong những năm gần đây, một hướng nghiên cứu đã được phát triển nghiên cứu
về những ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư Vì chất lượng báo cáo tài chính tốt hơn góp phần làm các nhà quản lý có trách nhiệm hơn bằng cách tăng cường dược việc giám sát, từ đó có thể làm giảm sự bất cân xứng thông tin cũng như các
quá mức và các vấn đề thiếu đầu tư
Mặt khác, chất lượng báo cáo tài chính cũng có thể nâng cao hiệu quả đầu tư bằng cách cho phép các nhà quản lý đưa ra các quyết định đầu tư tốt hơn thông qua việc xác định các dự
3 Rủi ro lựa chọn đối nghịch phát sinh khi có tình trạng thông tin bất đối xứng giữa các bên khi bắt đầu tham gia và một giao dịch Lấy ví dụ thị trường điện thoại di động cũ Có những điện thoại cũ chất lượng tốt và dĩ nhiên có những điện thoại cũ chất lượng kém Vấn đề ở chỗ người mua không thể biết trước khi vào cửa hàng mua một chiếc điện thoại cũ thì cái nào là tốt và cái nào là không tốt Điều này làm cho người mua buộc phải giả định một mức chất lượng trung bình, từ đó tự đưa ra một mức giá trung bình mà họ chấp nhận mua Việc này dẫn đến một kết quả khác là trong quá trình giao dịch, những chiếc điện thoại cũ dù còn rất tốt cũng không thể được bán với đúng giá cao thích hợp, còn những chiếc rất kém lại có thể được bán với mức giá cao hơn giá trị thực của nó
4 Rủi ro đạo đức (moral hazard), xét trên góc độ kinh tế học, là khái niệm phản ánh khả năng việc tái phân bổ rủi ro (chẳng hạn như trong hợp đồng bảo hiểm - rủi ro được chuyển từ người được bảo hiểm sang người nhận bảo hiểm - công ty bảo hiểm) sẽ làm thay đổi hành vi của người tham gia/có liên quan Vấn đề này liên quan đến cơ chế thông tin bất đối xứng ở điểm có một bên không thể hoặc có rất ít khả năng giám sát, thu nhận những thông tin có tính chất quyết định tới giao dịch
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của ngành bảo hiểm, thuật ngữ rủi ro đạo đức ngày nay được phân thành hai nhóm là: (i) rủi ro đạo đức hành vi (vẫn sử dụng moral hazard), và (ii) rủi ro đạo đức ý thức (morale hazard) Theo sự phân biệt này, "rủi ro đạo đức hành vi" sẽ được coi là trái đạo đức và vi phạm pháp luật, vi phạm hợp đồng bảo hiểm Còn những thay đổi trong thái độ, quan điểm được gọi là rủi ro đạo đức ý thức, không thuộc phạm vi xử lý vi phạm đạo đức hay quy định hợp đồng
Trang 26án và số liệu kế toán trung thực hơn (theo nghiên cứu của Bushman và Smith (2001)) Cụ thể, bài nghiên cứu của Bushman, Smith (2001) đã sử dụng các thông tin kế toán trong việc xác định dự án là tốt hay xấu bao gồm việc xác định các cơ hội tăng hiệu quả sử dụng các tài sản cố định cũng như việc phân bổ, sử dụng vốn và con người Đặc biệt bài nghiên cứu này còn tìm hiểu về vai trò của thông tin kế toán trong việc khuyến khích quản lý Các tác giả lý giải về vai trò của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư theo ba hướng Đầu tiên, thông tin kế toán tài chính tốt hơn sẽ giúp các nhà đầu tư phân biệt những khoản đầu tư xấu và tốt, làm giảm rủi ro ước lượng cũng như giảm chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp Thứ hai, thông tin kế toán tốt sẽ giúp các nhà đầu tư phân biệt nhà quản
lý tốt hơn, làm giảm chi phí đại diện cũng như làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Thứ ba, các nguồn thu nhập không rõ ràng sẽ làm suy yếu mối liên kết giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập báo cáo tài chính không quan sát được, từ đó có thể gia tăng bất cân xứng thông tin Một nghiên cứu bổ sung của các ông đã tìm ra sự gia tăng bất cân xứng thông tin sẽ làm tăng chi phí giao dịch, do đó cổ đông sẽ yêu cầu lợi nhuận thậm chí còn cao hơn lãi trên vốn chủ sở hữu để được bù đắp rủi ro Sự gia tăng chi phí giao dịch cũng
sẽ làm cho các cổ đông giao dịch ít thường xuyên hoặc không giao dịch tại tất cả các mức giá của cổ phiếu
Cùng với các nghiên cứu trên, một số nghiên cứu khác cũng đã tranh luận và tìm ra bằng chứng cho thấy chất lượng báo cáo tài chính làm giảm sự nhạy cảm về dòng tiền đầu tư (Biddle và Hilary, 2006), cũng như làm hạn chế việc đầu tư quá mức do bóp méo thông tin được quản lý (McNichols và Stubben, 2008) Theo đó, nghiên cứu của Biddle và Hilary
giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư Hiệu ứng trên có thể mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế mà tài chính được cung cấp chủ yếu thông qua các giao dịch độc lập (như thị trường chứng khoán) vì thế các quyết định đầu tư thường dựa vào các báo cáo tài chính công bố rộng rãi Bài nghiên cứu cũng tìm ra các mối quan hệ giữa dòng tiền tạo ra trong nội bộ và đầu tư là ít hơn khi chất lượng kế toán cao hơn Vì thế ông kết luận là chất lượng báo cáo tài chính có ảnh hưởng mạnh mẽ tới độ nhạy cảm dòng vốn đầu tư bằng tiền mặt trong nền kinh tế mà tài chính được cung cấp chủ yếu thông qua các giao dịch độc lập Bên cạnh đó, việc giảm sự bất cân xứng thông tin sẽ giúp các nhà đầu tư và nhà quản lý
Trang 27hiểu rõ hơn về tình trạng doanh nghiệp như nhau từ đó giúp các quyết định nội bộ tối ưu hơn và vì vậy giúp tăng hiệu quả đầu tư Để làm rõ điều này, McNichols và Stubben (2008)
đã xem xét lại việc đầu tư tài sản cố định và chi tiêu vốn cho một mẫu lớn các doanh nghiệp trong thời kì 1978-2002 theo ba nhóm: doanh nghiệp bị cáo buộc đã bóp méo thu nhập doanh nghiệp theo điều tra của ủy ban thanh tra chứng khoán về các sai phạm theo quy định
kế toán, doanh nghiệp bị cổ đông kiện do hạch toán bất thường và các doanh nghiệp làm lại báo cáo tài chính vì đầu tư quá mức trong giai đoạn báo cáo sai Kết quả cho thấy rằng, sau thời kì báo cáo sai các doanh nghiệp không còn đầu tư quá mức và các thông tin điều chỉnh sẽ giúp đầu tư hiệu quả hơn Ông cũng cho rằng chất lượng báo cáo tài chính thấp có thể che lấp các xu hướng cơ bản về tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận Vì vậy, việc đánh giá quá mức về lợi nhuận do không nắm rõ những sai sót trong báo cáo tài chính có thể dẫn dến hiện tượng đầu tư quá mức
Dựa trên thảo luận này, Biddle và cộng sự (2009) cũng như Chen và cộng sự (2011) đã kiểm tra hiệu quả của chất lượng báo cáo tài chính trên hai kịch bản không hiệu quả, đầu
tư quá mức và đầu tư dưới mức Kết quả của các tác giả một lần nữa khẳng định rằng chất lượng báo cáo tài chính cao hơn giúp các công ty thiếu đầu tư gia tăng việc đầu tư và các công ty đầu tư quá mức hạn chế việc đầu tư Cụ thể, Biddle, Hilary và Verdi (2009) cho rằng những doanh nghiệp có chất lượng báo cáo tài chính cao hơn sẽ có độ lệch so với mức đầu tư dự đoán ít hơn và ít nhạy cảm hơn so với điều kiện kinh tế vĩ mô Các tác giả đã tìm thấy mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và việc làm giảm các vấn đề về rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch mà đây là các nguyên nhân dẫn đến việc giảm hiệu quả đầu
tư Chất lượng báo cáo tài chính cao có thể kiềm chế nhà quản lý tham gia vào các hoạt động “phá hoại” giá trị doanh nghiệp như đầu tư vào các dự án lớn mang lại danh tiếng nhưng không mang lại lợi nhuận Chất lượng báo cáo tài chính cao còn có liên quan đến việc đầu tư thấp hơn của các doanh nghiệp có tiền mặt lớn và không vay nợ so với các doanh nghiệp có tiền mặt và sử dụng vốn vay cao Ngoài ra, các doanh nghiệp này có xu hướng đầu tư ít khi tổng đầu tư là cao và ngược lại Các kết quả này phù hợp với lập luận rằng chất lượng báo cáo tài chính tạo điều kiện đầu tư cho các doanh nghiệp hạn chế, và kiềm chế đầu tư cho các doanh nghiệp có nhiều khả năng đầu tư hơn Tiếp theo, khi nghiên
Trang 28đưa ra kết luận rằng chất lượng báo cáo tài chính có tương quan âm với đầu tư dưới mức
và đầu tư quá mức Bài nghiên cứu tìm thấy bằng chứng về chất lượng báo cáo tài chính có tương quan dương với hiệu quả đầu tư Mặc dù các doanh nghiệp có thể có chất lượng báo cáo tài chính thấp hơn các doanh nghiệp công ở thị trường phát triển hoặc có nhiều thông tin bị hạn chế hơn so với các doanh nghiệp tư nhân Ông lập luận rằng mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư gia tăng khi tăng các khoản tín dụng ngân hàng và giảm khi các khoản thu nhập chịu thuế giảm Một mối quan hệ giữa việc giảm thiểu thuế và cung cấp thông tin về thu nhập được khẳng định trong bài nghiên cứu này
Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây cũng cho rằng chất lượng báo cáo tài chính thì cao hơn
ở các công ty công so với các công ty tư nhân (Ball và Shivakumar, 2005, Burgstahler và cộng sự, 2006) cũng như ở các nước mà việc bảo vệ và thực thi pháp luật cao hơn (Leuz và cộng sự, 2003 Holthausen, 2009) Theo đó, trong bài nghiên cứu về pháp luật nước Anh của Ball và Shivakumar (2005), các tác giả cho rằng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp
tư nhân phải được kiểm toán và tuân thủ các chuẩn mực kế toán cũng như các luật thuế doanh nghiệp Với giả thuyết báo cáo tài chính của doanh nghiệp tư nhân có chất lượng thấp hơn so với các doanh nghiệp công, các tác giả kết luận rằng các doanh nghiệp tư nhân
có thể sử dụng báo cáo tài chính để giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các bên khác có liên quan
Bên cạnh đó, chất lượng báo cáo tài chính cũng tác động đến một phần thu nhập của doanh nghiệp như bài nghiên cứu của Bhattacharya, Daouk, Welker (2003) đã phân tích 58653 báo cáo tài chính của của 34 nước trong gia đoạn 1985-1995 để tìm hiểu thu nhập không rõ ràng ảnh hưởng đến hai khía cạnh của thị trường trong nước: thu nhập ròng của cổ đông đòi hỏi và số giao dịch sẽ diễn ra Kết quả cho thấy rằng sự gia tăng thu nhập không rõ ràng của quốc gia có liên quan đến sự sụt giảm trong phiên giao dịch tại thị trường chứng khoán của nước đó Thu nhập không rõ ràng của một doanh nghiệp là sự tương tác phức tạp giữa
ba yếu tố: động lực quản lý, chuẩn mực kế toán và việc thực thi các chuẩn mực kế toán (chất lượng kiểm toán) Để làm rõ vấn đề trên Leuz và cộng sự (2003) xem xét các khác biệt trong hệ thống quản lý thu nhập của 8.000 doanh nghiệp trên 31 quốc gia Ông đã tìm
ra mối liên kết nội sinh giữa quản trị doanh nghiệp và chất lượng báo cáo tài chính Kết quả
Trang 29hồi quy cho thấy quản lý các khoản thu nhập có mối tương quan âm với quyền hạn của cổ đông thiểu số và việc thực thi quyền lực Các ưu đãi nội bộ đối với quản lý thu nhập như một cách để che giấu lợi ích kiểm soát của họ, ông cho rằng các nguyên tắc kế toán có thể hạn chế khả năng quản lý các khoản thu nhập của người trong nội bộ
Ở một khía cạnh khác, bài nghiên cứu của nhóm tác giả Lambert, Leuz và Verrecchia, (2007) đã kiểm tra các số liệu và tìm hiểu ảnh hưởng của thông tin kế toán đến chi phí vốn doanh nghiệp Ông chứng minh rằng chất lượng của thông tin kế toán có thể ảnh hưởng đến chi phí vốn cả mặt trực tiếp và gián tiếp Về mặt trực tiếp, công bố thông tin có chất lượng cao sẽ góp phần làm giảm phương sai biến động dòng tiền của doanh nghiệp Về mặt gián tiếp, công bố thông tin có chất lượng cao có ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp,
từ đó làm thay đổi tỷ lệ dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp trên hiệp phương sai của dòng tiền với tổng của dòng tiền trong thị trường
Tóm lại, chất lượng báo cáo tài chính góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp đầu tư quá mức hạn chế việc đầu tư và khuyến khích các doanh
như tình hình và kết quả hoa ̣t đô ̣ng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiê ̣p trong một năm
đầy đủ và chính xác về thực tra ̣ng tài chính cũng như việc kinh doanh và sức khỏe của
đầu tư của doanh nghiê ̣p Ngoài ra, báo cáo tài chính có chất lượng cao sẽ làm giảm các vấn đề bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức giữa nhà quản lý và các bên có liên quan Do đó, bài nghiên cứu kỳ vọng cũng sẽ tìm được mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính với hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ở các phần tiếp theo
Trang 302.3 Ảnh hưởng của kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư
hưởng của kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Theo đó, với việc sử dụng nhiều nợ ngắn hạn, có thể giúp giảm thiểu được vấn đề bất cân xứng thông tin và vấn đề đại diện giữa người quản lý, cổ đông và chủ nợ Việc sử dụng nợ ngắn hạn sẽ góp phần tăng khả năng kiểm soát các nhà quản lý, giúp người cho vay có khả năng tiếp xúc gần hơn với người đi vay, từ đó dễ dàng hơn trong việc xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu, để sau đó họ có thể quyết định xem có nên gia hạn hoặc thay đổi các điều khoản hợp đồng với bên vay hay không Ngoài ra các nghiên cứu còn cho rằng sử dụng nợ ngắn hạn sẽ cải thiện được việc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức Theo
các vấn đề đầu tư quá mức và thiếu đầu tư Khi có các dự án NPV dương, các doanh nghiệp
có thể tài trợ cho các dự án này bằng các khoản nợ ngắn hạn để giảm bớt vấn đề thiếu đầu
tư Các doanh nghiệp sử dụng nợ ngắn hạn vì chúng sẽ được thanh lý trong thời gian ngắn
Theo nghiên cứu của Barclay, Smith (1995) với 37.979 quan sát trong giai đoạn 1874-1991 Ông cho rằng những yếu tố quyết định kỳ hạn nợ của doanh nghiệp ủng hộ giả thuyết rằng các doanh nghiệp với nhiều cơ hội tăng trưởng và cơ hội đầu tư hơn khi phát hành nhiều nợ ngắn hạn hơn Hơn nữa, các doanh nghiệp có bất cân xứng thông tin có tiềm năng phát hành nhiều nợ ngắn hạn hơn Một doanh nghiệp với nợ công chiếm ưu thế sẽ từ bỏ việc thực hiện một cơ hội tăng trưởng Về phía ngân hàng, với một khoản nợ ngắn hạn, họ có thể đặt thêm các điều kiện về việc hoàn trả Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp tăng trưởng cao
sẽ lựa chọn vay vốn ngân hàng thay vì vay nợ công và nợ tư nhân phi ngân hàng
Khi xem xét các doanh nghiệp nhỏ, bài nghiên cứu Berger, Udell (1998) cho rằng các của doanh nghiệp nhỏ thường có báo cáo tài chính không được kiểm toán, không có nhiều tài sản có thể đánh giá dễ dàng để cầm cố, thế chấp; có ít hồ sơ tín dụng hoặc hồ sơ về thu nhập để các nhà cung cấp bên ngoài xem xét Do đó, các doanh nghiệp này thường chỉ có thể vay vốn ngắn hạn thay vì vay được nguồn vốn dài hạn Một lý do mà các doanh nghiệp
Trang 31nhỏ thường ít được tiếp cận với nợ dài hạn vì thông tin không minh bạch và nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp lớn
Tiếp theo, khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nợ ngắn hạn đến chi phí vốn, bài nghiên cứu của Childs, Mauer, (2005) cho rằng chính sách nợ linh động khuyến khích các doanh nghiệp lựa chọn nợ ngắn hạn, dẫn đến giảm chi phí đại diện đồng thời không khuyến khích các doanh nghiệp chọn mức nợ ban đầu cao Tuy nhiên việc giảm chi phí đại diện có thể giảm việc doanh nghiệp gia tăng đòn bẩy vì lựa chọn mức độ nợ ban đầu của doanh nghiệp phụ thuộc vào lựa chọn mức độ tăng trưởng trong việc hoạch định cơ hội đầu tư Mặc dù vậy, hầu hết các doanh nghiệp lựa chọn các khoản vay dài hạn vì ảnh hưởng của các vấn đề chi phí phát sinh liên quan đến nợ ngắn hạn như chi phí phát hành hoặc rủi ro thanh khoản Nợ ngắn hạn có thể giảm nhẹ hoặc giải quyết hoàn toàn những những xung đột, nhưng các doanh nghiệp chỉ lựa chọn nợ ngắn hạn khi doanh nghiệp có tính linh hoạt tài chính cao để điều chỉnh mức độ nợ trong tương lai Doanh nghiệp có thể tự khắc phục vấn đề trên bằng cách giảm mức nợ khi điều kiện kinh doanh khó khăn
Bài nghiên cứu Ortiz-Molina, Penas (2008) đã khảo sát trong giai đoạn 1994-1995 với 4,9 triệu doanh nghiệp nhỏ hoạt động hơn 3 năm Bài viết tìm hiểu về điều gì quyết định kỳ hạn của các khoản vay của các doanh nghiệp này Họ thấy rằng kỳ hạn nợ có liên quan với những cam kết thế chấp tài sản, tình trạng tài chính của công ty, lịch sử tín dụng tốt và ít bị thiếu hụt thông tin của khách hàng vay Các bằng chứng trong bài cho thấy rằng sử dụng
nợ với kỳ hạn ngắn hơn để việc đàm phán các điều khoản trong hợp đồng diễn ra thường xuyên hơn, do đó giúp cho việc giám sát người vay được chặt chẽ hơn Kết quả là kỳ hạn vay ngắn hạn hơn giúp giảm thiểu hậu quả của việc bất cân xứng thông tin giữa người vay
và cho vay Lịch sử tín dụng xấu của các chủ sở hữu doanh nghiệp có liên quan đến kỳ hạn của các khoản vay ngắn hơn
Một số nghiên cứu khác đã tìm hiểu về việc sử dụng nợ ngắn hạn để giảm bất cân xứng thông tin Bài nghiên cứu của Ortiz-Molina, Penas, (2008) đã cho thấy rằng kỳ hạn nợ dài
sẽ làm trầm trọng thêm những hậu quả của việc bất cân xứng thông tin của người vay và cho vay Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp thường thích thế chấp tài sản
để vay vốn dài hạn hơn, vì điều này chuyển rủi ro cho tài sản thế chấp vay và giảm nhẹ xác
Trang 32suất vỡ nợ của doanh nghiệp do áp lực trả nợ được giãn ra theo kỳ hạn dài hơn Thứ hai, chủ sở hữu doanh nghiệp có tín dụng cá nhân kém thường được cấp các khoản vay với kỳ hạn ngắn hơn, do các chủ nợ e ngại rủi ro và phải giám sát chặt chẽ hơn đối với các khách hàng rủi ro cao hơn Hai kết quả này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ về vai trò của kỳ hạn
nợ trong việc giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin
Tóm lại, kỳ hạn nợ ngắn hạn là một trong những công cụ giúp doanh nghiệp có thể hạn chế được sự bất cân xứng thông tin và các chi phí đại diện, thông qua việc kiểm soát chặt chẽ nhà quản lý, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư Bên cạnh đó, sử dụng nợ ngắn hạn còn giúp khắc phục được tình trạng đầu tư quá mức và tình trạng thiếu đầu tư của doanh nghiệp Ngoài ra, có thể lý luận rằng nợ ngắn hạn góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp theo hai hướng: thứ nhất, bảo đảm nguồn vốn lưu động cho doanh nghiệp và thứ hai, giảm chi phí sử dụng vốn Việc sử dụng nợ ngắn hạn sẽ giúp các doanh nghiệp ít chịu
áp lực về nợ lâu dài, bảo đảm được tính thanh khoản và khả năng chi trả của doanh nghiệp nhưng vẫn tận dụng được các lợi ích từ việc vay nợ Mặt khác, khi sử dụng nợ ngắn hạn thì mức độ rủi ro của doanh nghiệp sẽ thấp hơn, do đó nâng cao được xếp hạng tín dụng, thuận tiện cho việc huy động vốn cho các dự án đầu tư, từ đó góp phần thúc đẩy hiệu quả đầu tư Như vậy, từ các lý luận và nghiên cứu nêu trên có thể thấy cả chất lượng báo cáo tài chính lẫn nợ ngắn hạn đều có tác động đến hiệu quả đầu tư Phần tiếp theo sẽ trình bày các nghiên cứu thực kiểm kiểm tra mối quan hệ giữa hai yếu tố trên đối với hiệu quả đầu tư, từ đó làm tiền đề nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu ở các phần sau
2.4 Mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư
Các bài nghiên cứu đã trình bày ở mục 2.2 và 2.3 đều cho thấy mối quan hệ riêng rẽ giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Kết hợp các kết quả trên, các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) đã thực hiện kiểm định các mối quan hệ này trên một mẫu gồm 13.500 doanh nghiệp ở Tây Ban Nha từ năm 1997-2008 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình Pooled-OLS và sau đó sử dụng mô hình hồi quy hai giai đoạn và mô hình GMM để kiểm tra thật chặt chẽ các mối quan hệ trên Kết quả cho thấy rằng chất lượng báo cáo tài chính tốt hơn
Trang 33và việc sử dụng nợ ngắn hạn (nợ có kỳ hạn thấp) làm tăng hiệu quả đầu tư Tuy nhiên, nếu phân biệt giữa đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, thì chất lượng báo cáo tài chính chỉ đóng vai trò trong việc giảm đầu tư quá mức Ngược lại, việc sử dụng nợ ngắn hạn là một
cơ chế góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư trong cả hai kịch bản đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức
Thêm vào đó, bài nghiên cứu này còn tìm thấy bằng chứng cho thấy chất lượng báo cáo tài chính và nợ có kỳ hạn thấp có mối quan hệ thay thế trong việc cải thiện hiệu quả đầu tư: Đối với các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn thấp hơn, tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư cao hơn so với các doanh nghiệp có mức
độ sử dụng nợ ngắn hạn cao hơn Điều này cho thấy ở các doanh nghiệp có chất lượng báo cáo tài chính thấp, sử dụng nợ là cơ chế chính được các chủ nợ sử dụng để kiểm soát hành
vi của người quản lý và hạn chế bị mất quyền lợi Mặt khác, ở những công ty có mức chất lượng báo cáo tài chính cao hơn thì báo cáo tài chính được sử dụng để giám sát các vấn đề không hiệu quả đầu tư
Ballesta (2013) đó là đo lường được hiệu quả đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính Theo
đó, các tác giả trên đã sử dụng mô hình xác định hiệu quả đầu tư dựa trên kết quả của Biddle
giải đã vận dụng cách xác định của hai nghiên cứu khác đó là nghiên cứu của McNichols
toán khác về chất lượng báo cáo tài chính để tăng thêm độ chính xác và khách quan cho hồi quy
Tóm lại, đối với trường hợp Tây Ban Nha, các tác giả đã tìm thấy mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư Dựa trên kết quả này cũng như các khái niệm, lý luận và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm, phần tiếp theo sẽ
Trang 34trình bày phương pháp nghiên cứu để tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố trên với hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Mô hình nghiên cứu
Bài nghiên cứu này sử dụng các mô hình hồi quy được đề xuất bởi M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) để làm rõ mối quan hệ giữa báo cáo tài chính
và kỳ hạn nợ với hiệu quả đầu tư của các công ty như đã được thảo luận ở phần tổng quan tài liệu, cụ thể như sau:
Mô hình kiểm nghiệm tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiêp:
INVEFF i,t = β0 + β1FRQ i,t + β2SDebt i,t + βControl + ɛ i,t (1) Trong đó:
INVEFF i,t là biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả đầu tư của doanh nghiê ̣p i trong năm t Bài nghiên cứu sẽ sử dụng hai cách đo lường hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp theo đề xuất của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) Theo đó, trong mỗi cách đo lường hiệu quả đầu tư, bài nghiên cứu còn phân chia đầu tư thành trường hợp đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức để xem xét một cách toàn diện tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối với biến phụ thuộc hiệu quả đầu tư
FRQ i,t là biến độc lập đại diện cho chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiê ̣p i năm t Bài nghiên cứu sẽ xem xét tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư dựa trên 4 cách đo lường chất lượng báo cáo tài chính theo đề xuất M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013)
SDebt i,t là biến độc lập đại diện cho ty ̉ lê ̣ nợ ngắn ha ̣n của doanh nghiê ̣p i năm t
Control là các biến kiểm soát như độ tuổi của doanh nghiệp; tài sản cố định hữu hình; độ lệch chuẩn dòng tiền; độ lệch chuẩn doanh thu; QTobin; hệ số Z; thua lỗ của công ty; Chu
kỳ kinh doanh; dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh; …
Mô hi ̀nh kiểm nghiê ̣m mối quan hê ̣ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiê ̣u quả đầu tư ở
ca ́ c mức kỳ hạn nợ khác nhau:
Trang 35Sau khi kiểm định những tác đô ̣ng của chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn ha ̣n đối với
các mức độ sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau thì tác động của các nhân tố trên đối với hiệu
cụ thể như sau:
INVEFF i,t = β 0 +β 1 FRQ i,t +β 2 SDebt i,t + β 3 FRQ i,t * DumSTDebt i,t + β 4 Control + ɛi,t (2)
Trong đó:
INVEFF i,t là biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả đầu tư của doanh nghiê ̣p i trong năm t
FRQ i,t là biến độc lập đại diện cho châ ́t lượng báo cáo tài chính doanh nghiê ̣p i năm t
DumSTDebt i,t là biến giả đại diện cho mức độ sử dụng nợ ngắn hạn Dựa trên đề xuất của
các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013), bài nghiên cứu so sánh độ lệch chuẩn của nợ ngắn hạn của từng doanh nghiệp theo từng năm với trung
vị hoặc tứ phân vị thứ nhất hoặc tứ phân vị thứ ba của độ lệch của nợ ngắn hạn của toàn bộ mẫu nghiên cứu Chi tiết về cách đo lường các biến giả này sẽ được trình bày cụ thể ở mục tiếp theo
3.2 Mẫu, dữ liệu và kỳ vọng dấu
3.2.1 Mẫu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối
liệu của các công ty trên được thu thập tại báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và bộ dữ liệu của Công ty Cổ phần Tài Việt (Vietstock) cũng như tổng hợp từ nguồn dữ liệu được công bố trên một số website chứng khoán uy tín như trang tin CafeF (cafef.vn) hay trang tin Cổ phiếu 68 (cophieu68.com) Bài nghiên cứu thu thập dữ liệu của các công ty trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, tuy nhiên dựa theo đề xuất của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) về cách thức đo lường các biến hiệu quả đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính cũng như việc hồi quy biến vốn
Trang 36luân chuyển dựa trên dòng tiền vào các năm t-2, t-1 và năm t+1, do đó từ 9 năm được thu thập như trên, mẫu của bài nghiên cứu áp dụng cho các mô hình hồi quy như đã trình bày
ở trên chỉ còn 6 năm từ năm 2009 đến năm 2014 Các dữ liệu ban đầu sẽ được tổng hợp và tính toán lại theo đúng cách thức xác định biến, trong đó một số biến sẽ được hồi quy để lấy phần dư và khởi tạo biến mới tương ứng thông qua phần mềm Stata 13.0 Như vậy, mẫu nghiên cứu sau cùng của bài nghiên cứu sẽ có 912 quan sát của 152 doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ 2009-2014
3.2.2 Dữ liệu, mô tả biến và kỳ vọng dấu
3.2.2.1 Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu này là biến hiệu quả đầu tư Như đã trình bày cụ thể trong phần tổng quan tài liệu, hiệu quả đầu tư được định nghĩa và đo lường theo nhiều cách
sự (2009) cũng như bài nghiên cứu của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) Theo các tác giả này, hiệu quả đầu tư được đo lường dựa trên phần dư trong hồi quy giữa đầu tư và cơ hội tăng trưởng (được tính toán bằng mức tăng trưởng doanh thu), bởi vì các tác giả trên cho rằng sai lệch trong mối quan hệ giữa đầu
tư và sự tăng trưởng doanh thu chính là đại diện cho sự không hiệu quả trong đầu tư Như vậy, biến hiệu quả đầu tư trong bài nghiên cứu này được xác định như sau:
Investment i,t = β 0 + β 1 SalesGrowth i,t-1 + ɛ i,t (3)
Trong đó:
Investment i,t là tổng mức đầu tư của doanh nghiệp i trong năm t và được đo lường bằng
chênh lệch tài sản cố định giữa hai năm liên tiếp trên tổng tài sản của năm trước, cụ thể như sau:
Investment i,t = Tài sản cô ́ địnhi,t − Tài sản cô ́ địnhi,t−1
Tô ̉ng tài sảni,t−1
SalesGrowth i,t-1 là tỷ lệ thay đổi doanh thu của doanh nghiệp i từ năm t-2 đến năm t-, được
xác định như sau:
SalesGrowth i,t-1 = Dôanh thui,t−1−Dôanh thui,t−2
Dôanh thui,t−2
Trang 37ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch so với mức đầu tư
INVEFF i,t = -| ɛ̂i,t |
Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng một cách xác định khác về hiệu quả đầu tư theo đề xuất của Chen và cộng sự (2011) cũng như bài nghiên cứu của M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) Các bài nghiên cứu này bổ sung thêm biến
trường hợp tăng trưởng doanh thu mang giá trị dương và giá trị âm Phần dư của hồi quy cũng được sử dụng để tính toán biến phụ thuộc hiệu quả đầu tư Mô hình hồi quy bổ sung như sau:
Investment i,t = β 0 + β 1 NEG i,t-1 + β 2 SalesGrowth i,t-1 + β 3 NEG i,t-1 *SalesGrowth i,t-1 + ɛ i,t (4) Trong đó:
SalesGrowth >0
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch so với mức đầu tư
INVEFF2 i,t = -| ɛ̂i,t |
Các biến còn lại được xác định tương tự như mô hình 1
3.2.2.2 Biến độc lập
Nhóm biến chất lượng báo cáo tài chính:
Như đã trình bày ở phần tổng quan tài liệu, chất lượng báo cáo tài chính có tác động đối
Trang 38thông tin về tình hình tài chính, kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiê ̣p đáp ứng
người sử dụng có thể đánh giá đầy đủ và chính xác về thực tra ̣ng tài chính cũng như việc
chất lượng cao sẽ làm giảm các vấn đề bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức giữa nhà quản lý và các bên có liên quan, từ đó giúp cho các quyết định liên quan đến đầu tư không bị thiên lệch và mang lại hiệu quả Tuy nhiên để xác định chất lượng của một báo cáo tài chính thì thực sự không dễ và phải xem xét đến rất nhiều yếu tố định tính và định lượng có liên quan Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đối với vấn đề này, tuy nhiên cách thức xác định chất lượng báo cáo tài của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) đã nhận được nhiều sự ủng hộ của các nhà nghiên cứu khác bởi sự thuận tiện trong việc thu thập dữ liệu
và ý nghĩa thực tế của cách đo lường Do đó, dựa trên đề xuất của hai nhà nghiên cứu trên, bài nghiên cứu sử dụng các biến liên quan đến chất lượng báo cao tài chính như sau để xem xét mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính
- Biến FRQ_MNST: Biến này được tạo lập dựa trên phương pháp lấy phần dư hồi quy
(2008) Theo đó, chất lượng báo cáo tài chính được phản ánh thông qua sai lệch giữa doanh thu đạt được và việc quản lý nguồn thu nhập (quản lý khoản phải thu), cụ thể như sau:
ΔAR i,t = β 0 + β 1 ΔSales i,t + ɛ i,t (5)
Trang 39Trong đó:
ΔAR i,t là biến phụ thuộc, đại diện cho sự thay đổi khoản phải thu hàng năm của doanh
nghiệp i trong năm t và được xác định như sau:
ΔAR i,t = Khôản phải thui,t− Khôản phải thui,t−1
Tổng tài sản i,t−1
ΔSales i,t là biến độc lập, đại diện cho sự thay đổi doanh thu hàng năm của doanh nghiệp I
trong năm t và được xác định như sau:
ΔSales i,t = Dôanh thui,t−Dôanh thui,t−1
Tổng tài sảni,t−1
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy (5) Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch giữa doanh thu
và việc quản lý nguồn thu nhập, chính vì vậy nó được làm cơ sở để đo lường chất lượng
FRQ_MNST = -| ɛ̂i,t |
Như đã lý luận ở trên, biến FRQ_MNST được kỳ vọng sẽ có tương quan dương với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
- Biến FRQ_KASZ: Được tính toán bằng cách sử dụng phần dư từ hồi quy mô hình theo
đề xuất của Kasznik (1999) giữa biến tổng chi phí phải trả và các biến thay đổi doanh thu, tài sản cố định và thay đổi dòng diền thuần từ hoạt động kinh doanh, cụ thể như sau:
TA i,t = β 0 + β 1 ΔSales i,t + β 2 PPE i,t + β 3 ΔCFO i,t + ɛ i,t (6)
Trong đó:
TA i,t là biến phụ thuộc đại diện cho tổng chi phí phải trả của doanh nghiệp i trong năm t,
được tính toán bằng với tổng số giữa chênh lệch tài sản ngắn hạn thanh khoản thấp trừ với chênh lệch nợ ngắn hạn cộng với chênh lệch nợ ngắn hạn ngân hàng và trừ với khấu hao, sau đó được điều chỉnh với tổng tài sản theo công thức sau:
TA i,t = [(TSNH – Tiền)i,t –(TSNH – Tiền)i,t-1 –(Nợ ngắn hạni,t - Nợ ngắn hạni,t-1) +(Nợ ngắn
ΔSales i,t là biến độc lập, đại diện cho sự thay đổi doanh thu hàng năm của doanh nghiệp i
trong năm t và được xác định như sau:
Trang 40ΔSales i,t = Dôanh thui,t−Dôanh thui,t−1
Tổng tài sản i,t−1
PPE i,t là biến độc lập, đại diện cho tài sản cố định, được xác định dựa trên nguyên giá của
tài sản cố định và điều chỉnh bởi tổng tài sản theo công thức sau:
PPE i,t = Nguyên giá tài sản cô ́ địnhi,t
Tổng tài sảni,t−1
ΔCFO i,t = CFOi,t−CFOi,t−1
Tổng tài sảni,t−1
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy (6) Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch giữa các yếu tố chính mà báo cáo tài chính thể hiện, do đó nó được làm cơ sở để đo lường chất lượng báo
đối của phần dư từ mô hình (6) nhân với -1
FRQ_KASZ = -| ɛ̂i,t |
Tương tự như biến FRQ_MNST, biến FRQ_KASZ được kỳ vọng sẽ có tương quan dương với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
- Biến FRQ_DD: Phương pháp thứ ba được sử dụng để đo lường chất lượng báo cáo tài
chính là phương pháp sử du ̣ng mô hình do Dechow và Dichev (2002) phát triển:
Trong đó:
t và được xác định là chênh lệch tài sản ngắn hạn không có tính thanh khoản trừ cho chênh lệch nợ ngắn hạn cộng cho chênh lệch nợ ngắn hạn ngân hàng và sau đó được điều chỉnh với trung bình tổng tài sản hai năm liên tiếp, như sau: