1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề cần chứng minh trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sở hữu. Những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn và giải pháp kiến nghị

26 1,9K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Cần Chứng Minh Trong Quá Trình Điều Tra Các Tội Xâm Phạm Sở Hữu. Những Khó Khăn Vướng Mắc Trong Thực Tiễn Và Giải Pháp Kiến Nghị
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 189 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về Những vấn đề cần chứng minh trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sở hữu. Những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn và giải pháp liến nghị

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ qua, Đảng, Nhànước và nhân dân ta không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn thử thách,đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ýnghĩa rất quan trọng Đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, chuyểnsang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đã thu được nhiềuthành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có nhữngđịnh hướng mang tính chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội Đi cùng với đónhững hạn chế, thiếu sót trong của các cơ quan bảo vệ pháp luật, những sơ hởthiếu sót của nạn nhân trong việc quản lý và bảo vệ tài sản cũng là điều kiệnthuận lợi để các đối tượng phạm tội XPSH hoạt động, làm cho tình hìnhTTATXH hết sức phức tạp Thực tế cho thấy, tình hình tội phạm XPSH nhưcướp, trộm cắp, lừa đảo diễn biến phức tạp, nhiều vụ án đã xảy ra, có nhiều vụđặc biệt nghiêm trọng

Trong những năm vừa qua, nhất là từ năm 2005 trở lại đây, các cơ quanbảo vệ pháp luật đã tích cực tổ chức điều tra, khám phá và xử lý kịp thời nhiều

vụ án XPSH Song do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình tội phạmXPSH trên địa bàn vẫn không giảm, thậm chí còn có một số tội phạm tiếp tụcphát sinh và phát triển, gây ra nhiều thiệt hại cho các đơn vị kinh tế, doanhnghiệp và nhân dân, một số vụ đã gây hoang mang trong tư tưởng của quầnchúng nhân dân, từ đó đã ảnh hưởng đến sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá của của nước ta Bên cạnh đó, công tác điều tra khám phá loại tội phạm nàycủa cơ quan chức năng còn có nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp cần thiết giữacác lực lượng tiến hành, sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân còn hạn chế, nênhiệu quả công tác điều tra xử lý các vụ án XPSH còn nhiều hạn chế Tỷ lệ các vụ

án được phát hiện thấp, tiến trình điều tra chậm, đề nghị xử lý bằng hình sự chưacao Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của côngtác điều tra các tội phạm XPSH và những bất cập của việc chứng minh trong quátrình điều tra các tội xâm phạm sở hữu là một đòi hỏi hết sức cấp bách, góp phầnthực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninhquốc gia và giữ gìn TTATXH, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế -

xã hội và của cả nước

Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Những vấn đề cần chứng minh trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sở hữu Những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn và giải pháp liến nghị” để làm tiểu luận của mình.

Trang 2

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHỮNG VẤN

ĐỀ CẦN CHỨNG MINH TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

1.1 Những đặc trưng cơ bản trong điều tra các tội XPSH

1.1.1 Đặc điểm pháp lí của các tội phạm XPSH

Trong điều tra và kiểm sát hoạt động điều tra các tội phạm nói chung, việcnhận thức đúng các đặc điểm pháp lí của tội phạm có ý nghĩa hết sức quantrọng Có hiểu đúng các qui định về các tội phạm XPSH, các cơ quan tiến hành

tố tụng mới xác định đúng phương hướng điều tra, xử lí đảm bảo đúng yêu cầucủa pháp luật

Các tội phạm XPSH được qui định tại Chương XIV - Các tội phạm XPSHcủa BLHS năm 1999, với 13 điều, từ Điều 133 đến Điều 145 Các tội phạmXPSH có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:

- Các dấu hiệu về khách thể của tội phạm

Các tội phạm XPSH có khách thể là quan hệ sở hữu về tài sản Điều đó cónghĩa là các tội phạm XPSH là những hành vi xâm hại hoặc đe doạ xâm hại, gâythiệt hại cho quan hệ sở hữu thuộc các hình thức sở hữu toàn dân; sở hữu củacác tổ chức chính trị, chính trị - xã hội; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữucủa các tổ chức xã hội; tổ chức xã hội - nghề nghiệp; sở hữu hỗn hợp; sở hữuchung

Quyền sở hữu về tài sản là khách thể của các tội phạm XPSH nhưng mộttội phạm XPSH có thể không xâm phạm vào tất cả ba quyền năng (quyền chiếmhữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) của chủ sở hữu Một hành vi chỉ cần gâythiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến một trong ba quyền năng đó cũng cấuthành tội XPSH như tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142) chẳng hạn, chỉ xâmphạm đến quyền sử dụng tài sản

Quyền sở hữu về tài sản bị xâm hại bởi các tội phạm XPSH là quyền sởhữu tài sản của người khác ngoài chủ thể thực hiện tội phạm Hành vi xâm hạiđến quyền sở hữu tài sản của chính mình không cấu thành tội XPSH

Trong các tội phạm XPSH, khách thể loại và khách thể trực tiếp đều làquyền sở hữu tài sản Vì vậy, để phân biệt các tội phạm XPSH cụ thể phải phântích từng nội dung quyền năng pháp lí của quyền sở hữu tài sản bị xâm hại, đồngthời phải dựa vào các dấu hiệu khác của tội phạm Trong trường hợp cá biệt, một

số tội phạm XPSH còn xâm hại tới các quan hệ xã hội khác được luật hình sựbảo vệ Trong trường hợp này, hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội khácphải đồng thời với quyền sở hữu tài sản mới cấu thành tội phạm XPSH Chẳnghạn hành vi dùng vũ lực tấn công người khác chỉ cấu thành tội phạm cướp tàisản theo qui định tại Điều 133 BLHS khi có sự chiếm đoạt hoặc nhằm để chiếmđoạt tài sản

Tài sản thuộc các hình thức sở hữu được pháp luật bảo vệ là thực thể biểuhiện khách thể của tội phạm, là đối tượng của các tội phạm XPSH Tài sản là đốitượng tác động của các tội XPSH có những đặc điểm riêng so với tài sản thuộcđối tượng tác động của các tội phạm khác Những đặc điểm đó là:

Trang 3

+ Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị vật chất cụ thể.Tài sản thể hiện dưới dạng phi vật chất như quyền sử dụng đất, quyền tác giả,quyền sở hữu công nghiệp ; tài sản không có giá trị vật chất cụ thể như nguồnnước tự nhiên, sinh vật dưới biển, thú trong rừng không phải là đối tượng tácđộng của các tội phạm XPSH Mặt khác, tài sản là đối tượng của các tội phạmXPSH phải có giá trị sử dụng Tài sản không có giá trị sử dụng như thuốc tândược hết thời hạn sử dụng mang tiêu huỷ, động vật chết đã đem chôn khôngphải là đối tượng của các tội phạm XPSH.

+ Tài sản là đối tượng của các tội phạm XPSH phải có chủ sở hữu cụ thể.Tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu đã tự nguyện từ bỏtrước khi xảy ra hành vi chiếm đoạt không phải là đối tượng của các tội phạmXPSH

+ Tài sản là đối tượng của các tội XPSH có thể có nhiều dạng khác nhaunhư những vật thể cụ thể song cũng có thể là các giấy tờ mà thông qua đó ngườiphạm tội có thể nhận được một số tiền hoặc tài sản như: phiếu gửi xe; giấy tờ kígửi, cầm đồ tài sản; thẻ thanh toán

+ Tài sản là đối tượng của các tội phạm XPSH là những tài sản thôngthường, có thể trao đổi, mua bán một cách hợp pháp Những tài sản có tính chấtđặc biệt như vũ khí, phương tiện quân sự, chất độc, chất nổ, chất phóng xạ, matuý là đối tượng của các tội phạm được định tại các điều luật ngoài các tộiphạm qui định tại Chương XIV không coi là đối tượng của các tội phạm XPSH.Những vật có thực nhưng theo phong tục, tập quán chưa từng được coi là tài sảnthì hành vi chiếm đoạt cũng không cấu thành tội phạm XPSH Chẳng hạn: hành

vi chiếm đoạt hài cốt lính Mĩ chết trận tại Việt Nam

Như vậy, khách thể của các tội phạm XPSH là quyền sở hữu tài sản Tàisản là đối tượng tác động của các tội phạm XPSH phải thoả mãn các đặc điểmvốn có của tài sản thông thường, đồng thời thoả mãn các yếu tố về sự tác độngcủa hành vi, ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi XPSH

- Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan

Trước hết, về hành vi khách quan Các tội phạm XPSH đều có hành vikhách quan xâm hại đến các quyền năng của chủ sở hữu tài sản Đó là các hành

vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đến các quyền chiếm hữu, sử dụng,định đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản Có thể phân loại các hành vi XPSHthành hai loại như sau:

+ Hành vi XPSH có tính chất chiếm đoạt tài sản Chiếm đoạt tài sản là hành

vi cố ý chuyển giao một cách bất hợp pháp tài sản thuộc sở hữu người khácthành tài sản của mình hoặc một nhóm người hay người khác mà chủ thể chiếmđoạt quan tâm Hành vi chiếm đoạt tài sản làm mất khả năng thực hiện cả quyềnchiếm giữ, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu tài sản Các hành vi XPSH có tínhchất chiếm đoạt được qui định trong BLHS trong 8 điều từ Điều 133 đến Điều

140, bao gồm: hành vi cướp tài sản (Điều 133); hành vi bắt cóc nhằm chiếmđoạt tài sản (Điều 134); hành vi cưỡng đoạt tài sản (Điều 135); hành vi cướp giậttài sản (Điều 136); hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); hành vi

Trang 4

trộm cắp tài sản (Điều 138); hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); hành

vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140)

+ Hành vi XPSH không có tính chất chiếm đoạt Những hành vi XPSHkhông có tính chất chiếm đoạt được qui định từ Điều 141 đến Điều 145 BLHSbao gồm những hành vi: hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); hành vi

sử dụng trái phép tài sản (Điều 142); hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tàisản (Điều 143); hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản củaNhà nước (Điều 144); hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều145)

Về hậu quả tác hại, đa số các tội phạm XPSH hậu quả không phải là dấuhiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm trừ một số trường hợp cá biệt như: Tộithiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều144); tội vô ý gây thiệt hạn nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145) Hậu quả ở cáctội phạm này là những thiệt hại vật chất và ở mức độ nghiêm trọng mới cấuthành tội phạm Mức độ thiệt hại về vật chất cũng là ranh giới để phân biệt tộiphạm với hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu TNHS và phân định cáctrường hợp thuộc các khung hình phạt khác nhau BLHS năm 1999 qui định, giátrị tài sản bị xâm hại do hành vi chiếm đoạt gây ra là từ 500.000 đồng trở lênmới bị truy cứu TNHS Tuy nhiên, có thể truy cứu TNHH với những ngườichiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 500.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọnghoặc đã bị xử lí hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tộichiếm đoạt chưa được xoá án mà còn vi phạm Riêng với các tội vô ý gây thiệthại nghiêm trọng đến tài sản, thì thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng trở lênmới bị truy cứu TNHS

- Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Các tội phạm XPSH có chủ thể là những người thoả mãn các điều kiệnchung của chủ thể tội phạm và tuỳ theo từng tội phạm mà độ tuối chịu TNHSđược xác định không giống nhau Riêng đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệthại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS), chủ thể của tộiphạm phải là người có trách nhiệm quản lí tài sản của Nhà nước

- Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm

Các tội phạm XPSH chủ yếu có cấu thành lỗi cố ý, bao gồm tất cả các tộiphạm có tính chất chiếm đoạt và một số tội không có tính chất chiếm đoạt là: tộichiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142);tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS) Chỉ có hai tội quiđịnh tại Điều 144 và Điều 145 được qui định bởi lỗi vô ý

Về động cơ, mục đích phạm tội, có thể các tội phạm XPSH thành hai loại:+ Các tội phạm có tính chất tư lợi, bao gồm: tất cả các tội phạm có tínhchất chiếm đoạt; tội chiếm giữa trái phép tài sản và tội sử dụng trái phép tài sản;+ Các tội phạm không có tính chất tư lợi, bao gồm: tội cố ý huỷ hoại hoặclàm hư hỏng tài sản; tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sảncủa Nhà nước; tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

Trang 5

Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Các tội phạm XPSH là hành vi của người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.

1.1.2 Đặc điểm của hoạt động điều tra các tội phạm XPSH

Dưới góc độ của luật TTHS thì điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn hoạtđộng TTHS bắt đầu từ khi có có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi lập kếtluận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra khi có đủ căn cứ theo quiđịnh của luật TTHS Trong giai đoạn này, CQĐT có thẩm quyền có trách nhiệmtiến hành các hoạt động theo qui định của Bộ luật TTHS để thu thập chứng cứ,làm rõ có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội vànhững vấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án

Trên cơ sở qui định của luật TTHS và thực tiễn hoạt động điều tra vụ ánhình sự, khoa học ĐTHS xác định: “Điều tra vụ án hình sự là hoạt động củaCQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo luậtđịnh, được tiến hành theo thủ tục và trình tự TTHS nhằm làm rõ sự thật của vụ

án đã xảy ra theo yêu cầu của pháp luật” Định nghĩa trên đã chỉ ra những điểm

cơ bản nhất, phản ánh bản chất của hoạt động điều tra

Trên cơ sở phát triển khái niệm điều tra vụ án hình sự của khoa học ĐTHS,

có thể xác định: Điều tra vụ án hình sự về tội phạm XPSH là hoạt động của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS đối với những vụ án XPSH đã xảy ra, đã được khởi tố nhằm mục đích chứng minh

sự thật khách quan của vụ án theo yêu cầu pháp luật.

Như vậy, đối tượng của hoạt động điều tra các vụ án XPSH là những vụ ánhình sự về các tội phạm XPSH đã xảy ra, đã được khởi tố Chủ thể của hoạtđộng điều tra vụ án hình sự về tội phạm XPSH là CQĐT và các cơ quan đượcgiao tiến hành một số hoạt động điều tra theo qui định về phân công, phân cấpđiều tra Hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS,quá trình điều tra, chủ thể điều tra được áp dụng các biện pháp theo qui định củapháp luật để làm rõ sự thật vụ án Bản chất của hoạt động điều tra các vụ ánXPSH là quá trình nhận thức, chứng minh sự thật khách quan của vụ án XPSH

đã xảy ra theo yêu cầu pháp luật

Từ những nội dung cơ bản về hoạt động điều tra và đặc điểm pháp lí củacác tội phạm XPSH có thể xác định, điều tra vụ án hình sự về các tội phạmXPSH có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, điều tra vụ án hình sự về các tội phạm XPSH là quá trình chứngminh sự thật vụ án XPSH đã xảy ra Quá trình điều tra, CQĐT có trách nhiệmlàm rõ các nội dung thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự về các tộiphạm XPSH Xét về bản chất, hoạt động chứng minh trong điều tra các vụ ánXPSH là hoạt động kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt tư duy và thực tiễn được quiđịnh bằng các chế định pháp luật TTHS Sự kết hợp đó luôn xoay quanh nhữngvấn đề cần phải chứng minh trong vụ án Trên cơ sở qui định tại Điều 63 Bộ luậtTTHS và đặc điểm của các tội phạm XPSH có thể xác định những vấn đề cầnchứng minh trong vụ án XPSH bao gồm:

Trang 6

+ Có hành vi phạm tội XPSH xảy ra hay không, hành vi XPSH cụ thể nào,tội danh và điều khoản áp dụng đối với hành vi đó, thời gian, địa điểm xảy ra tộiphạm, thủ đoạn thực hiện, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi XPSH;

+ Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? Có đồng phạm hay không? Vaitrò, vị trí của từng người trong quá trình thực hiện tội phạm? Họ có năng lựcTNHS hay không? Có lỗi không? Động cơ, mục đích phạm tội là gì?

+ Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với từng đối tượng theoquy định của Bộ luật hình sự (Điều 46, Điều 48); đặc điểm về nhân thân của cácđối tượng đang được điều tra

+ Loại tài sản và giá trị tài sản bị chiếm đoạt và những thiệt hại khác về tàisản, tính mạng, sức khoẻ con người, tác hại về chính trị, văn hoá, tư tưởng dohành vi phạm tội XPSH gây ra

Một vụ án XPSH chỉ được thừa nhận đã được chứng minh trong khuôn khổđiều tra khi chủ thể hoạt động điều tra đã thu thập được đầy đủ chứng cứ chứngminh đầy đủ những vấn đề cần phải chứng minh nêu trên Trong trường hợp,chứng minh được tội phạm và người thực hiện tội phạm XPSH, chủ thể điều tramới lập hồ sơ đề nghị truy tố người đã có chứng cứ chứng minh họ thực hiện tộiphạm, những người không có chứng cứ chứng minh họ thực hiện tội phạm thìkhông được đề nghị truy tố Như vậy, hiệu quả của công tác điều tra vụ án phụthuộc vào quá trình chứng minh tội phạm XPSH

- Điều tra vụ án hình sự về các tội phạm XPSH phải làm rõ tài sản bị xâmhại Việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ, sử dụng tráiphép, bị huỷ hoại, làm hư hỏng, bị thiệt hại có ý nghĩa quan trọng trong xác địnhtội phạm cũng như định khung xử lí phù hợp với qui định của BLHS Mặt khác,làm rõ đặc điểm tài sản bị xâm hại còn có ý nghĩa trong truy tìm tài sản trongnhững vụ án XPSH có tính chất chiếm đoạt, vụ lợi

Tổng kết kinh nghiệm quá trình đấu tranh chống các tội phạm XPSH,TAND tối cao, Viện KSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp đã ban hànhThông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25tháng 12 năm 2001 hướng dẫn áp dụng một số qui định tại Chương XIV - “Cáctội phạm XPSH” của BLHS năm 1999 Theo Thông tư này có thể xác định một

số vấn đề cần chú ý khi xác định giá trị tài sản bị xâm hại trong các vụ án hình

sự về các tội phạm XPSH như sau:

+ Trong trường hợp làm rõ được người vi phạm ý thức được giá trị của tàisản định xâm hại thì lấy giá trị đó làm căn cứ để truy cứu TNHS và định khung

xử lí đối với người vi phạm;

+ Nếu người có hành vi XPSH có ý định xâm phạm đến tài sản nhưngkhông quan tâm đến giá trị tài sản thì lấy giá thị trường của tài sản bị xâm hại tạiđịa phương vào thời điểm xảy ra tội phạm để xem xét việc truy cứu TNHS vàđịnh khung xử lí đối với người vi phạm;

+ Trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn, thì dựa vào lời khai củanhững người biết về tài sản để xác định đó là tài sản gì; nhãn mác của tài sản;giá trị ban đầu và giá trị còn lại của tài sản, xác định giá thực tế tại địa phương

Trang 7

vào thời điểm tài sản bị xâm hại trên cơ sở đó kết luận về giá trị tài sản bị xâmhại;

+ Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành viXPSH nhưng giá trị tài sản bị xâm hại dưới mức tối thiểu để truy cứu TNHS quiđịnh của BLHS và không thuộc các trường hợp khác để truy cứu TNHS (gâyhậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính; đã bị kết án nhưng chưa đượcxoá án tích ), đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xửphạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm hại bằng hoặc trênmức tối thiểu để truy cứu TNHS theo qui định của BLHS thì người thực hiệnnhiều lần cùng một loại hành vi XPSH phải bị truy cứu TNHS về tội phạmtương ứng theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu: Các hành viXPSH được thực hiện một cách liên tục; Việc thực hiện hành vi XPSH có tínhchất chuyên nghiệp (lấy tài sản do việc XPSH làm nguồn sống chính); Với mụcđích XPSH, nhưng do điều kiện, hoàn cảnh khách quan nên việc XPSH phảiđược thực hiện nhiều lần mà mỗi lần xâm phạm tài sản có giá trị dưới 500.000đồng Trong những trường hợp này, không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tộinhiều lần” theo điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS và không áp dụng tình tiết tăngnặng định khung “có tính chất chuyên nghiệp” qui định tại Khoản 2 của các điềuluật tương ứng

Ngoài việc xác định giá trị tài sản như trên, trong điều tra các vụ án hình sự

về các tội phạm XPSH còn phải làm rõ chủ sở hữu, người quản lí các tài sản bịchiếm đoạt tức là xác định người bị hại trong vụ án Như đã phân tích về đặcđiểm của các tội phạm XPSH, tài sản là đối tượng của các tội phạm XPSH phải

có chủ sở hữu cụ thể Vì vậy xác định người bị hại (tổ chức hoặc cá nhân) trong

vụ án là một yêu cầu trong điều tra các vụ án XPSH Việc làm rõ người bị hạitrong các vụ án XPSH không chỉ giúp cho việc làm rõ sự thật của vụ án mà còngiúp truy tìm tài sản trả lại cho người bị chiếm đoạt, giải quyết bồi thường vậtchất

- Trong điều tra các tội phạm XPSH, chủ thể điều tra phải sử dụng đồng bộnhiều biện pháp trong đó chủ yếu là các hoạt động theo trình tự, thủ tục của luậtTTHS Điều tra vụ án XPSH trước hết là hoạt động ĐTHS, được tiến hành mộtcách công khai theo qui định của luật TTHS Chính vì vậy, quá trình điều tra chủthể điều tra phải sử dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp điều tra theoqui định của Bộ luật TTHS Tuy nhiên, do tính chất các tội phạm XPSH thườngdiễn ra nhanh, đối tượng thường bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi phạm tội dovậy trong điều tra vụ án XPSH, ngoài các hoạt động tố tụng, chủ thể điều tra còn

sử dụng các hoạt động nghiệp vụ khác phục vụ cho công tác điều tra như hoạtđộng nghiệp vụ trinh sát, biện pháp kỹ thuật Tuy vậy, để phù hợp với nguyêntắc của TTHS, kết quả của các biện pháp ngoài tố tụng phải được chuyển hoá,thu nhận theo những thủ tục, trình tự tố tụng bảo đảm yêu cầu về nguồn và biệnpháp thu thập chứng cứ theo qui định của luật TTHS

- Hoạt động điều tra nói chung và điều tra các tội phạm XPSH nói riêng rất

dễ bị phiến diện, một chiều, ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn sau của quátrình tố tụng Hoạt động điều tra được tiến hành ngay sau khi phát hiện có dấu

Trang 8

hiệu của vụ án XPSH Các thông tin, dấu vết của các vụ án XPSH thường đa,phản ánh trên nhiều nguồn khác nhau Trong khi đó, hoạt động điều tra phảiđược tiến hành trong những khuôn khổ pháp lí về mặt thời hạn, biện pháp nêncác điều tra viên dễ phiến diện, một chiều Thực tế, khi tiến hành điều tra, cácđiều tra viên thường hoạt động độc lập, tự giải quyết những vấn đề cần phảichứng minh và thường có xu hướng buộc tội nhiều hơn gỡ tội Điều đó dễ đưađiều tra viên đến chỗ chỉ chú ý đến những chứng cứ buộc tội, chứng cứ làm tăngTNHS mà bỏ quên các chứng cứ gỡ tội, chứng cứ làm giảm nhẹ TNHS cho bịcan Mặt khác, trong quá trình điều tra các vụ án XPSH thường tiến hành cácbiện pháp nghiệp vụ trinh sát hỗ trợ và các biện pháp này được tiến hành bí mật,nên có thể dẫn đến sự chệch hướng điều tra mà điều tra viên không lường trước.Khả năng phiến diện, một chiều, chệch hướng điều tra luôn đạt ra những yêu cầucho chính công tác điều tra và công tác kiểm sát điều tra nhằm tránh những sailầm, thiếu sót đáng tiếc xảy ra.

1.2 Đặc điểm hình sự và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.

1.2.1 Đặc điểm hình sự các tội phạm xâm phạm sở hữu.

Ngoài những đặc điểm chung giống các loại tội phạm khác, tội phạm xâmphạm sở hữu còn có những đặc điểm riêng sau đây:

1.2.1.1 Đặc điểm về đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu.

- Phần lớn đối tượng của những vụ án xâm phạm sở hữu là nam giới, cónhiều tiền án, tiền sự, một số bị can không có nơi cư trú nhất định

- Thường là những đối tượng côn đồ, lưu manh, hung hãn, có quan hệ giađình và xã hội phức tạp;

- Đặc điểm tâm lý: Đa số các đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu cónhững hành vi liều lĩnh, đặc biệt là đối tượng phạm tội cướp tài sản có hành vitàn bạo, coi thường tính mạng người khác Khi thực hiện tội phạm thế hiện tínhliều lĩnh cao độ, quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, bằng mọi thủ đoạn đểđạt được mục đích chiếm đoạt tài sản của nạn nhân

- Đặc biệt, đối tượng phạm tội xâm phạm sở hữu thường tham gia vào cáchoạt động tệ nạn như nghiện ma tuý, cờ bạc, bảo kê gái mại dâm, các nhà hàng,tiệm nhảy

1.2.1.2 Thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm:

*Giai đoạn chuẩn bị gây án:

Nội dung của giai đoạn chuẩn bị gây án bao gồm:

- Lựa chọn mục tiêu để thực hiện tội phạm:

+ Đối với những vụ cướp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản bọn chúng thường

đi trên đường, đến các nhà ga, bến xe, đón phục ở các đoạn đường vắng để lựachọn những người có nhiều tài sản để cướp, cướp giật, cưỡng đoạt

+ Đối với những vụ xảy ra trong nhà, bọn tội phạm thường nhằm vàonhững gia đình giàu có, các chủ tiệm vàng sau đó chúng điều tra quy luật sinhhoạt, làm ăn, buôn bán của chủ nhà, tìm hiểu những nơi cất các tài sản để thựchiện hành vi cướp, cướp giật, cưỡng đoạt, trộm cắp

Trang 9

+ Đối với những vụ xảy ra ở các kho hàng, kho bạc, ngân hàng thì bọnchúng nghiên cứu kỹ giá trị của các loại tài sản đó, chế độ bảo vệ, đặc điểm địahình xung quanh khu vực kho hàng, ngân hàng, kho bạc để thực hiện hành vichiếm đoạt.

- Chuẩn bị vũ khí, công cụ phương tiện cần thiết để gây án Mua sắm vũkhí, phương tiện đi lại, bình xịt hơi cay, kìm cộng lực, chìa khoá vạn năng

* Giai đoạn gây án:

- Tiếp cận mục tiêu tấn công bằng các thủ đoạn như bí mật đột nhập, giảdanh người mua hàng; giả danh cán bộ Công an, cán bộ kiểm tra điện nước; giảdanh cán bộ đưa thư từ, bưu phẩm; giả làm khách hỏi thăm đường để tiếp cận

- Sau khi tiếp cận mục tiêu, chúng thường nhanh chóng thực hiện hành vichiếm đoạt tài sản Nếu gặp sự cản trở, chúng tháo chạy, hoặc chủ động tấn côngchống trả để chiếm đoạt tài sản hoặc bỏ chạy

* Giai đoạn sau khi gây án:

- Nhanh chóng rút khỏi hiện trường

- Nhiều trường hợp khi bị truy đuổi bọn tội phạm sử dụng vũ khí chống trả

- Nhanh chóng cất giấu, tiêu thụ các tài sản đã chiếm đoạt được

1.2.1.3 Địa điểm và thời gian gây án:

- Địa điểm gây án thường lựa chọn là những nơi có đặc điểm địa hình thuậnlợi cho việc xuất hiện, gây án và rút khỏi hiện trường sau khi gây án

- Thời gian gây án: thường tập trung chủ yếu trong khoảng từ 17h - 23h

1.2.1.4 Những dấu vết phổ biến của vụ án xâm phạm sở hữu

- Dấu vết chân, dấu vết giày, dép, dấu vết vân tay của thủ phạm,

- Dấu vết công cụ, phương tiện gây án, dấu vết súng đạn, dấu vết nguồnhơi, dấu vết lục soát tài sản,

- Dấu vết sinh vật như máu, lông, tóc trong các vụ cướp, cướp giật, trộmcắp tài sản;

- Các loại dấu vết khác như: dấu vết đổ vỡ, thay đổi đồ vật tại hiện trường,dấu vết cỏ, cây bị dập nát

- Trường hợp nạn nhân của vụ xâm phạm sở hữu bị thương hoặc bị giết màtrước đó có sự vật lộn, giằng co, chống cự lại thủ phạm thì trên cơ thể của nạnnhân và thủ phạm có thể để lại các dấu vết bầm tím, cào cắn, bông, vải, sợi,máu, lông, tóc

- Ngoài ra, trên đường đến hoặc rút chạy khỏi hiện trường của vụ án còn

có thể có các loại vũ khí như súng, dao, lựu đạn, dây trói; những đồ vật, phươngtiện do thủ phạm vứt lại hoặc đánh rơi

1.2.1.5 Những công cụ, phương tiện và vũ khí mà bọn tội phạm xâm phạm

sở hữu thường sử dụng khi gây án:

Súng, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê, kiếm, mã tấu, búa, rìu, gậy gỗ, thanh sắt,côn gỗ, hộp xịt hơi cay, thuốc ngủ, thuốc mê, kìm cộng lực, chìa khoá vạn năng,dây trói, mũ che mặt, găng tay cao su, các loại phương tiện giao thông như xemáy, xe đạp, ô tô và các phương tiện thông tin liên lạc như điện thoại di động

Trang 10

Việc quyết định sử dụng loại công cụ, vũ khí gây án nào phụ thuộc vào thóiquen, sở trường của đối tượng gây án hoặc nhóm đối tượng gây án cũng như mụctiêu, địa điểm mà chúng dự định và lựa chọn để thực hiện tội phạm

1.2.1.6 Đặc điểm nhân thân người bị hại

Trong các vụ án xâm phạm sở hữu người bị hại là người bị xâm phạm trựctiếp về tài sản, đối với tội phạm cướp, cưỡng đoạt tài sản, người bị hại bị đe doạ

về tinh thần nên họ thường rơi vào tình trạng tinh thần bị hoảng loạn, sợ hãi;trong một số trường hợp họ còn bị đau đớn về thể xác do hành vi sử dụng vũ lựccủa người phạm tội Do vậy, đa số người bị hại đều căm ghét người phạm tội,tích cực cộng tác với cơ quan điều tra trong việc cung cấp những thông tin phảnánh về tội phạm, mong muốn cơ quan điều tra nhanh chóng tìm ra thủ phạm vàtài sản bị chiếm đoạt

Song bên cạnh đó, cũng có một số ít người bị hại vì những nguyên nhânkhác nhau như sợ lộ bí mật đời tư, sợ lộ những hành vi phạm tội trước đó củachính người bị hại như: buôn lậu, tham ô nên thường có hành vi cản trở hoạtđộng điều tra; không tích cực cộng tác với cơ quan điều tra

2.2.2 Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu.

Căn cứ vào các Điều từ 133 đến 145 Bộ luật Hình sự và Điều 63 Bộ luật Tốtụng hình sự, trong quá trình điều tra các tội phạm xâm phạm sở hữu cần chứngminh những vấn đề cơ bản sau:

Một là: Có vụ xâm phạm sở hữu xảy ra hay không?

Để chứng minh làm rõ vấn đề này cần tiến hành khám nghiệm hiện trường,lấy lời khai người bị hại, lấy lời khai những người làm chứng để thu thập tàiliệu chứng cứ làm rõ hành vi chiếm đoạt tài sản, vũ khí, công cụ phương tiện màthủ phạm đã sử dụng khi thực hiện tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra

Hai là: Thời gian và địa điểm xảy ra

Vấn đề thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm xâm phạm sở hữu cần đượclàm rõ, vì đây là cơ sở để tiến hành những biện pháp điều tra ban đầu, truy bắtngười phạm tội theo dấu vết nóng, xác định phạm vi đối tượng gây án, nhữngngười làm chứng về vụ án Để làm rõ thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm xâmphạm sở hữu cần tiến hành các biện pháp khám nghiệm hiện trường, lấy lời khaingười bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can

Ba là: Thủ đoạn gây án.

Những tài liệu về thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm có thể thu thậpđược trong quá trình khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người bị hại, hỏicung bị can

Bốn là: Công cụ, phương tiện thủ phạm sử dụng để thực hiện tội phạm.

Trong quá trình điều tra cần làm rõ được đặc điểm, chủng loại, nguồn gốccủa những công cụ, phương tiện và vũ khí mà thủ phạm sử dụng khi gây án Đểthu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh làm rõ vấn đề này và phát hiện thu giữcần tiến hành các biện pháp khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bịcan, trưng cầu giám định

Năm là: Những tài sản bị chiếm đoạt.

Trang 11

Chứng minh làm rõ số lượng, chủng loại, giá trị, đặc điểm, nguồn gốc củanhững tài sản bị chiếm đoạt là căn cứ để xác định có tội phạm xâm phạm sở hữuxảy ra hay không, mức độ thiệt hại và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.Những tài liệu phản ánh về những tài sản bị chiếm đoạt có thể thu thập đượcthông qua các biện pháp lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, khám xét,hỏi cung bị can

Sáu là: Người bị hại trong vụ án xâm phạm sở hữu.

Trong quá trình điều tra cần chứng minh làm rõ người bị hại là ai, trườnghợp người bị hại bị thương thì phải làm rõ đặc tính, mức độ thương tích và mốiliên hệ nhân quả giữa vết thương tích với hành vi dùng vũ lực của người phạmtội bằng cách trưng cầu giám định Đặc tính và mức độ thương tích là cơ sở để

cá thể hoá hành vi phạm tội, mức độ hình phạt cũng như xác định mức độ bồithường thiệt hại do hành vi tội phạm gây ra

Bảy là: Người thực hiện hành vi phạm tội

Trong quá trình điều tra cần chứng minh làm rõ những ai là người thực hiệnhành vi phạm tội? Họ tên tuổi, địa chỉ của các bị can phạm tội xâm phạm sở hữu,khi thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm hay không? Nếu có đồng phạm cầnchứng minh làm rõ vai trò, vị trí của từng bị can trong vụ án Đặc biệt chú ý làm

rõ đặc điểm nhân thân của từng bị can trong vụ án Khi đánh giá vai trò vị trí củatừng bị can trong vụ án cần căn cứ vào nội dung của sự bàn bạc, thoả thuận vàhành vi cụ thể của từng bị can trong quá trình gây án Nếu băng, ổ nhóm tội phạmxâm phạm sở hữu hoạt động đã lâu thì phải làm rõ được từng giai đoạn hoạt độngcủa băng, ổ nhóm, tất cả những vụ án do băng, ổ nhóm tội phạm gây ra và vai tròcủa từng đối tượng trong từng vụ án

Tám là: Động cơ và mục đích phạm tội.

Động cơ và mục đích phạm tội xâm phạm sở hữu được phản ánh chủ yếu ởđộng cơ tư lợi và mục đích chiếm đoạt tài sản, bên cạnh đó cũng có động cơ huỷhoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Để làm rõ vấn đề này cần phải đánh giá đặcđiểm hành vi phạm tội, quan hệ của thủ phạm với người bị hại, đặc điểm nhânthân của thủ phạm và giá trị của tài sản mà thủ phạm định chiếm đoạt hay đãchiếm đoạt, định huỷ hoại hoặc làm hư hỏng hay đã huỷ hoại hoặc làm hư hỏng

Chín là: Chứng minh làm rõ những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm.

Nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề cần chứng minh nêutrên trong từng vụ án sẽ định hướng cho Điều tra viên thực hiện yêu cầu củapháp luật, đó là chứng minh làm rõ sự thật của từng vụ án cụ thể một cách kháchquan, toàn diện và đầy đủ Tuy vậy, những vấn đề cần phải chứng minh trongđiều tra tội phạm xâm phạm sở hữu nêu trên chưa phải đã hết Mức độ cụ thểhoá những vấn đề cần chứng minh này phụ thuộc vào từng điều kiện cụ thể vàtừng tội danh trong nhóm các tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định trong

Bộ luật Hình sự

Trang 12

Chương 2 NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU

2.1 Những kết quả đạt được trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sở hữu

Trong thời gian qua, công tác điều tra với tội phạm sở hữu đã được nhữngkết quả nhất định:

- Tổ chức lực lượng của các đơn vị công an từng bước được kiện toàn,công tác bố trí lực lượng ban đầu đã phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế tạiđịa phương Cán bộ, chiến sỹ làm nhiệm vụ điều tra các tội phạm xâm phạm sởhữu phần lớn được đào tạo cơ bản, có năng lực, có phẩm chất đạo đức, bản lĩnhvững vàng, xông xáo, có nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh phòng chống tộiphạm nói chung và tội xâm phạm sở hữu nói riêng

- Các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản như: công tác điều tra cơ bản, công tácsưu tra, xác minh hiềm nghi, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật được chấnchỉnh và từng bước đã phát huy tác dụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm

- Công tác phòng tội phạm đã được chú trọng, trong đó công tác tuyêntruyền vận động quần chúng, công tác quản lý đối tượng, quản lý địa bàn, tuyếntrọng điểm đã được coi là các mặt công tác cơ bản trong đấu tranh chống tộiphạm

- Công tác điều tra khám phá xử lý các đối tượng hoạt động xâm phạm sởhữu đã đạt được những kết quả cao Công tác phối hợp lực lượng trong đấutranh phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu đã được thực hiện kịp thời, cóchiều sâu và ngày càng được tăng cường

Trên đây là một số kết quả mà lực lượng làm công tác đấu tranh phòngchống tội phạm xâm phạm sở hữu đạt được

2.2 Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình điều tra các tội xâm phạm sở hữu

Tuy nhiên vẫn còn có những khó khăn, vướng mắc trong công tác điều travới loại tội phạm này, cụ thể như sau:

- Về tổ chức lực lượng đấu tranh chống tội phạm xâm phạm sở hữu cònnhiều vấn đế bất hợp lý như: tổ chức lượng lượng làm công tác điều tra còn phântán, chưa chuyên sâu phù hợp với từng loại tội phạm, từng địa bàn Mô hình tổchức của Cơ quan điều tra theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004triển khai chậm và hình thức, chưa đi sâu vào các công tác nghiệp vụ cụ thể

- Trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế, không đồng đều, kiện toàn công táckhó khăn, trang bị phương tiện chưa đảm bảo yêu cầu nên đã ảnh hưởng đến kếtquả đấu tranh chống tội phạm hình sự nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữunói riêng

- Sự phối hợp giữa mảng điều tra và mảng trinh sát theo cơ chế của pháplệnh mới chưa chặt chẽ, mỗi mảng vẫn còn hoạt động riêng lẽ theo cách mình,dẫn tới hiệu của của công tác điều tra phám phá còn nhiều hạn chế

- Phương tiện được trang bị để phục vụ đấu tranh chống tội phạm xâmphạm sở hữu còn rất thiếu, chưa có kế hoạch lâu dài Trong đó các đối tượnghoạt động xâm phạm sở hữu khio hoạt động phạm tội, bị phát hiện, bắt giữ

Trang 13

chúng chống trả quyết liệt, nhiều lúc ảnh hưởng đến tính mạng sức khỏe của cán

bộ chiến sỹ

- Kinh phí đầu cho công tác này còn hạn chế, không đảm bảo yêu cầu đấutranh chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng và tội phạm hình sự nói chungtrong tình hình mới

- Công tác nghiệp vụ cơ bản gồm: điều tra cơ bản, sưu tra, xác minh hiềmnghi, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật đã có nhiều cố gắng nhưng kết quảđạt được chưa cao, còn bộc lộ nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng hoạtđộng

- Đối tượng hoạt động xâm phạm sở hữu ngày càng táo bạo, trắng trợn vàtinh vi xảo quyệt, chúng luôn tìm mọi cách để đối phó lại hoạt động điều tra củacác cơ quan Công an

- Sự phối hợp giữa các địa phương, các lực lượng trong đấu tranh chống tộiphạm xâm phạm sở hữu còn tồn tại nhiều hạn chế, khiếm khuyết, mang nặng vềhình thức Vai trò của Công an xã, phường, thị trấn chưa được nâng cao trongviệc quản lý đối tượng, quản lý địa bàn theo quy định của pháp luật về hànhchính

- Một số quyết định Tố tụng hình sự của cơ quan điều tra không được Việnkiểm sát cùng cấp phê chuẩn Và cũng chưa có văn bản quy định pháp luật nàoquy định chặt chẽ về mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểmsát Cho nên, nhiều quyết định của Cơ quan điều tra không được Viện kiểm sátphê chuẩn, nên gây khó khăn cho cơ quan điều tra

-Tình trạng người sau khi chấp hành hình phạt tù tái phạm đối với tội xâmphạm sở hữu là rất cao (khoảng 50%), đối với những người tái phạm khi thựchiện tội phạm là rất nguy hiểm, vì sẽ tinh vi, có nhiều thủ đoạn đối phó hơn

- Công tác tập huấn đối với việc thực hiện quyết định 360, 361, 362, 363của Bộ trưởng Bộ Công an còn ít Đặc biệt là quyết định 362 về công tác xâydựng và sử dụng mạng lưới bí mật nên cán bộ trinh sát chưa thể năm hết nộidung, chưa thấm nhuần công tác này

- Việc tiếp nhận tin báo đối với các vụ án xâm phạm sở hữu còn chậm dongười báo tin đến cơ quan Công an xã, phường, thị trấn báo tin và lực lượngcông an cơ sở thực hiện việc nhận tin và báo tin lên các lực lượng làm công tácđiều tra đối với tội phạm xâm phạm sở hữu còn chậm Khi tiếp nhận tin báo, cán

bộ trực ban còn chưa thu thập đày đủ thông tin liên quan đến vụ án mà ngườibáo tin biết

Hiện nay trong quá trình điều tra các vụ án XPSH Cơ quan CSĐT đã đạtđược những kết quả nhất định, góp phần vào công tác khám phá tội phạm Songkết quả khám phá loại tội phạm này rất thấp so với kết quả khám phá các loại tộiphạm khác, nguyên nhân chính của tình trạng trên là do những hạn chế trongphương pháp điều tra loại tội phạm này như sau:

Việc phân công, phân cấp trong quá trình điều tra các vụ án XPSH có tínhchiếm đoạt xảy ra nói chung và điều tra các tội phạm XPSH, nói riêng chưathống nhất Chủ yếu do Cơ quan CSĐT cấp Huỵên tiến hành điều tra, khi xuấthiện vấn đề khó giải quyết mới chuyển giao cho cơ quan điều tra cấp Tỉnh

Ngày đăng: 11/04/2013, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w