MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không ngừng phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nam Định có vị trí thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía Đông Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 100 km về phía Bắc, có diện tích 1.652,29 km². Theo điều tra dân số ngày 01/04/2014 Nam Định có 1,805,771 người với mật độ dân số 1,196 người/km². Nam Định có 10 đơn vị hành chính cấp huyện là thành phố Nam Định và 9 huyện là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Ý Yên, Vụ Bản, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Mĩ Lộc, trong đó có một thành phố loại một là thành phố Nam Định và 3 huyện duyên hải thuộc Vịnh Bắc Bộ là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Người dân Nam Định chủ yếu là người Kinh, người theo đạo thiên chúa giáo khoảng 23% . Sau khi được tái thành lập, Nam Định đã có những bước chuyển mình đáng khích lệ, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra nhanh trên phạm vi rộng, các khu công nghiệp được hình thành đã thu hút nhiều lao động tạo điều kiện thuậnlợi để tỉnh Nam Định phát triển mọi mặt cả về kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền, công tác phòng ngừa tội phạm ở Nam Định đã đạt được kết quả đáng kể, an ninh chính trị được giữ ổn định, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Nam Định cũng gặp phải nhữngkhó khăn nhất định, như dân cư nhiều thành phần, trật tự xã hội diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm hoạt động với thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó kiểm soát... Các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định vẫn diễn ra, thậm chí còn có một số tội phạm tiếp tục phát sinh và phức tạp như tội: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gây ra nhiều thiệt hại cho cá nhân, các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp và nhân dân, từ đó đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Bên cạnh đó công tác điều tra khám phá tội phạm của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp cần thiết giữa các lực lượng tiến hành, sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân còn hạn chế. Tỷ lệ các vụ án được phát hiện thấp, tiến trình điều tra chậm, đề nghị xử lý bắt hình sự chưa cao. Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra xử lý các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là một đòi hỏi hết sức cấp bách, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định” làm đề tài nghiên cứu của mình. Như vậy, có thể nói, việc nghiên cứu vấn đề “Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định” là vấn đề cấp thiết và không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đó.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ VIẾT CHINH
ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN MINH ĐỨC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNGCẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠMSỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 7 1.2 Phân loại đối tượng cần chứng minh và phương pháp chứng minh 12 1.3 Ý nghĩa của đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt 17 1.4 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 20
Chương 2.THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINHTRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 36
2.1 Tình hình, đặc điểm, kinh tế xã hội, tổ chức bộ máy của các cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Nam Định 36 2.2 Những kết quả đạt được về việc xác định đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định thời gian qua (2013 - 2017) 39 2.3 Nguyên nhân của những hạn chế về xác định đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định 57
Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT CỦA CÁC CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 62
3.1 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 62 3.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 63
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra CQĐT Cơ quan điều tra
CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng CQANĐT Cơ quan an ninh điều tra
NTHTT Người tiến hành tố tụng TAND Tòa án nhân dân
TNHS Trách nhiệm hình sự VAHS Vụ án hình sự
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Trang 4MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ qua, Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta không ngừng phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nam Định có vị trí thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình
ở phía Đông Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 100 km về phía Bắc, có diện tích 1.652,29 km² Theo điều tra dân số ngày 01/04/2014 Nam Định có 1,805,771 người với mật độ dân số 1,196 người/km² Nam Định có 10 đơn vị hành chính cấp huyện là thành phố Nam Định và 9 huyện là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Ý Yên, Vụ Bản, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Mĩ Lộc, trong đó có một thành phố loại một là thành phố Nam Định và 3 huyện duyên hải thuộc Vịnh Bắc
Bộ là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng Người dân Nam Định chủ yếu là người Kinh, người theo đạo thiên chúa giáo khoảng 23% Sau khi được tái thành lập, Nam Định đã có những bước chuyển mình đáng khích lệ, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra nhanh trên phạm vi rộng, các khu công nghiệp được hình thành
đã thu hút nhiều lao động tạo điều kiện thuậnlợi để tỉnh Nam Định phát triển mọi mặt cả về kinh tế, văn hóa và xã hội
Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền, công tác phòng ngừa tội phạm ở Nam Định đã đạt được kết quả đáng kể, an ninh chính trị được giữ ổn định, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tích cực Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Nam Định cũng gặp phải nhữngkhó
Trang 5khăn nhất định, như dân cư nhiều thành phần, trật tự xã hội diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm hoạt động với thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó kiểm soát Các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định vẫn diễn ra, thậm chí còn có một số tội phạm tiếp tục phát sinh và phức tạp như tội: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gây ra nhiều thiệt hại cho cá nhân, các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp và nhân dân, từ đó đã ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế của đất nước Bên cạnh đó công tác điều tra khám phá tội phạm của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp cần thiết giữa các lực lượng tiến hành, sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân còn hạn chế Tỷ lệ các
vụ án được phát hiện thấp, tiến trình điều tra chậm, đề nghị xử lý bắt hình sự chưa cao Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra xử lý các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là một đòi hỏi hết sức cấp bách, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ đắc lực cho
sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước Vì vậy tôi chọn đề tài: “Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
từ thực tiễn tỉnh Nam Định” làm đề tài nghiên cứu của mình
Như vậy, có thể nói, việc nghiên cứu vấn đề “Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định” là vấn đề cấp thiết và không trùng lặp với các đề tài
nghiên cứu trước đó
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta cho đến nay, đề tài đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng, không phải là đề tài hoàn toàn mới mẻ Liên quan đến đề tài trên đã có một số luận
án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học được thực hiện Cụ thể như sau:
Trang 6- Luận văn thạc sỹ luật học học: “Quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Thanh Hòe năm 1997 đã trình bầy và
phân tích một cách khoa học về lý luận chứng minh và vận dụng chứng cứ để chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam [18]
- Luận văn thạc sỹ luật học “Quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Văn Du năm 1999 đã làm sáng tỏ những
vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận của quá trình giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.[13]
- Luận văn thạc sĩ luật học “Quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Như Quỳnh năm 2011 đã làm sáng tỏ
một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.[28]
- Luận văn tiến sĩ luật học "Thu thập đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam" của Tiến sỹ Nguyễn Văn Đương năm 2000.[16]
- Luận văn thạc sĩ "Hoạt động chứng minh của Tòa án trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" của học viên Nguyễn Thanh Vân - Học viên cao học khóa V đợt 1 năm
2014 Học viện khoa học xã hội.[37]
- Luận văn thạc sĩ "Đối tượng chứng minh trong các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng" của học viên cao học Nguyễn Chí Khuê - Học viên cao học khóa V đợt 1
năm 2014 Học viện khoa học xã hội.[19]
Ngoài ra còn có một số luận án tiến sỹ luật học, luận văn thạc sỹ của một số tác giả khác cũng đã đề cập đến việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự và quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
Ở dạng sách tham khảo và chuyên khảo tác giả các tác giả sau đã có công trình nghiên cứu một cách rất công phu như:
Trang 7- "Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam" và "Một số vấn
đề về chứng minh trong tố tụng hình sự " của Tiến sĩ Trần Quang Tiệp, tạp chí kiểm sát số 9, 2003 [30]
- Tiến sỹ Đỗ Văn Đương - Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự năm 2006.[12]
- "Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Chương VI, mục 6) PGS.TS
Võ Khánh Vinh chủ biên trường Đại học Huế năm 2000.[33]
- "Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003" của
Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục Bộ công an, Hà nội tháng 6/2004.[1]
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
tố tụng sử dụng phương pháp gì để chứng minh
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Xây dựng và làm rõ đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế liên quan đến đối tượng chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt và một số nguyên nhân cơ bản
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc điều tra giải quyết các tội xâm phạm sở hữu có tính
Trang 8chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định Đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp về việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật TTHS
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định” (Trên cơ sở số liệu của Văn phòng Công an tỉnh Nam Định)
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề cần chứng minh trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Các tội xâm phạm sở hữu ở đây tác giả đề cập đó là xâm phạm tài sản của Nhà nước, của cá nhân và các tổ chức Đối tượng cần chứng minh bao gồm nhiều vấn đề đó là: đối tượng chứng minh; nghĩa vụ chứng minh; quá trình chứng minh; phạm vi và giới hạn chứng minh, trong khuôn khổ luận văn tác giả không thể nghiên cứu chuyên sâu tất cả những vấn đề trên, do
đó luận văn chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật TTHS đối tượng chứng minh được quy định trong BLTTHS nói chung từ đó rút ra được đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt của CQĐT Nghiên cứu những bất cập giữa lý luận và thực tiễn
từ đó đề ra những giải pháp khắc phục
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vụ án xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản nằm trong Chương các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 2015 xảy ra trên địa bàn tỉnh Nam Định và thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT các cấp thuộc Công an tỉnh Nam Định
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Những vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra trên địa bàn nghiên cứu từ 01/12/2012 đến 30/11/ 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và
Trang 9duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cải cách tư pháp
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn được sử dụng bao gồm phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và trao đổi khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tế của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Với kết quả đạt được của luận văn có thể đóng góp vào lý luận về chứng
cứ và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt dưới góc độ pháp luật TTHS và đưa ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác thực tiễn điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt để nâng cao hiệu quả áp dụng luật TTHS Ngoài ra luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác pháp luật, học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học
7.Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt của các Cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG
CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1.1 Khái niệm và đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các
vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.1 Khái niệm đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự
Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “Đối tượng” trên đây được hiểu là một danh từ chỉ người, vật, hiện tượng mà con người tác động tới, thuật ngữ “Chứng minh” là một nhận thức suy luận để khẳng định tính chân lý của một luận điểm nào
đó, bằng cách dựa vào tính chân lý đã được thực tiễn xác nhận Trong thực tiễn khi người ta cần sự thật để chứng tỏ một vấn đề thật, giả thì người ta cần chứng minh
Như vậy khái niệm “Đối tượng cần chứng minh” là tổng hợp những vấn đề cần
phải được xác định làm rõ để giải quyết đúng đắn một sự việc nhất định
Thế giới khách quan là đối tượng nhận thức của con người nhằm chỉ ra được những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy Tuy nhiên trong từng lĩnh vực hoạt động nhận thức có một đối tượng nhận thức riêng Hoạt động chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung vụ án và các tình tiết có liên quan đến vụ án Mục đích cuối cùng của việc nhận thức này cũng chính là phục
vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng, thực hiện công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự nói chung là tổng hợp những vấn đề mà các CQTHTT cần phải làm sáng tỏ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, đấu tranh, phòng ngừa tội phạm
Trong mỗi vụ án hình sự khác nhau, thì đối tượng, phạm vi yêu cầu chứng minh
có sự khác nhau, tuy nhiên mọi tội phạm đều có những đặc điểm chung, quy luật chung được khái quát những vấn đề chung nhất mà CQTHTT thường phải chứng minh trong bất kì vụ án nào Ví dụ: Có hành vi phạm tội xảy ra không, thời gian, địa
Trang 11điểm, những tình tiết khác nhau của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện tội phạm, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; người thực hiện hành vi nguy hiểm
có năng lực TNHShay không, mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHScủa bị can, bị cáo; tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Trong luật TTHS còn quy định nội dung chứng minh có thể bao gồm những tình tiết khác có liên quan đến vụ án, tùy thuộc vào từng tội phạm cụ thể Hoặc những chi tiết chỉ phải chứng minh khi phát sinh những hoạt động tố tụng có liên quan, ví dụ căn cứ biện pháp tạm giam, biện pháp ngăn chặn
Trong thực tế, vụ việc phạm tội xảy ra rất đa dạng và phong phú về tính chất, mức độ, hoàn cảnh.v.v… tuy nhiên tất cả các tội phạm đều có bản chất chung và việc giải quyết VAHS, xử lý tội phạm đều có những nguyên tắc chung nhất định, vì vậy ta có thể rút ra được những vấn đề chung nhất mà khi giải quyết VAHS nào cũng phải chứng minh, đó là những vấn đề thuộc bản chất vụ án, những vấn đề liên quan đến việc xác định TNHScủa người phạm tội, đối tượng cần chứng minh này phải được quy định trong BLTTHS Ngoài ra, BLTTHS còn quy định phải chứng minh những vấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn VAHS đó Những vấn đề luật TTHS quy định buộc phải chứng minh giống nhau theo quy định của luật TTHS, song những tình tiết cụ thể mà các tình tiết này cấu thành vấn đề chứng minh là khác nhau Ví dụ: Đối với vụ án cướp tài sản, tất cả vụ án đều phải chứng minh được hành vi phạm tội đó là hành vi gì, tuy nhiên ở mỗi vụ án cướp tài sản khác nhau thì hành vi đó là khác nhau, có thể là hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc đe dọa dùng vũ lực
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, bên cạnh việc thực hiện các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật không chỉ nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội mà còn nhằm mục đích đấu tranh phòng, chống tội phạm Do đó, trong quá trình điều tra, chứng minh vụ án hình sự, CQĐT phải làm
rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội Trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt, CQĐT cần phải chứng minh thêm: Nguyên nhân dẫn đến
Trang 12hành vi chiếm đoạt tài sản của nạn nhân, do thiếu tiền tiêu xài hay do nguyên nhân khác; điều kiện phạm tội cần xác định xem tội phạm được thực hiện trong điều kiện hoàn cảnh nào v.v… tất cả các yếu tố chứng minh trên phục vụ cho mục đích phòng chống và ngăn ngừa tội phạm mới xảy ra
Khi nghiên cứu khái niệm đối tượng cần chứng minh trong VAHS cho thấy, BLTTHS không nêu khái niệm đối tượng chứng minh mà chỉ nêu những vấn đề phải chứng minh trong VAHS Trong khoa học luật TTHS nhìn chung các nhà khoa học có sự thống nhất về bản chất khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS, những quan điểm về cách thức thể hiện có sự khác nhau, có ba quan điểm chủ yếu
về đối tượng chứng minh như sau:
Quan điểm thứ nhất, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự
là tất cả các tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự.” [26Tr166]
Quan điểm thứ hai, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự
là tất cả các tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn khách quan, toàn diện vụ án hình sự” [15Tr87]
Quan điểm thứ ba, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả các tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và người phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ
án hình sự ” [17]
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba vì nội hàm của khái niệm thể hiện được đầy đủ bản chất của đối tượng chứng minh trong VAHS và đã có phân biệt sự kiện với tình tiết vụ án
Trong VAHS, sự kiện chủ yếu (hay sự kiện quan trọng) của đối tượng cần chứng minh ở đây chính là hành vi phạm tội và chủ thể thực hiện tội phạm, bởi nếu không có yếu tố này thì sẽ không có căn cứ để khởi tố VAHS; những sự việc khác
có mối quan hệ chặt chẽ với sự kiện chủ yếu của đối tượng chứng minh như lỗi của chủ thể thực hiện tội phạm, hình thức lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHScủa người phạm tội.v.v… là những tình tiết của vụ án
Trang 13Trên cơ sơ phân tích về đối tượng chứng minh và sự tiếp thu những điểm hợp
lý, khắc phục sự hạn chế trong khái niệm đối tượng chứng minh của một số tác giả, dưới góc độ khoa học luật TTHS, chúng ta có thể rút ra khái niệm đầy đủ về đối
tượng chứng minh trong vụ án hình sự như sau: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là tổng hợp tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết mà những vấn đề này được luật TTHS quy định các cơ quan THTT phải làm rõ
để xác định bản chất của vụ án và những nội dung khác có liên quan đến vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan THTT ra các quyết định phù hợp với quy định của luật hình sự, luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm [ 22]
1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
* Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 bao gồm: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan tổ chức, doanh nghiệp
Như vậy: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”
* Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nằm trong chương XVI phần các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 2015 với 08 Điều bao gồm: Điều
168 tội cướp tài sản, Điều 169 tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 170 tội cưỡng đoạt tài sản, Điều 171 tội cướp giật tài sản, Điều 172 tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Điều 173 tội trộm cắp tài sản, Điều 174 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 175 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 14Từ những phân tích các khái niệm trên, có thể thấy các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt có dấu hiệu riêng là dấu hiệu“Chiếm đoạt” hay còn gọi là dấu hiệu “Tư lợi”, dấu hiệu “Chiếm đoạt” ở đây là chiếm đoạt tài sản, so với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt hay còn gọi là “Không tư lợi”
như các tội: Tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan tổ chức, doanh nghiệp
Từ phân tích khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nói chung, chúng ta có thể
đưa ra khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt Trong đó chiếm đoạt là hành vi cố ý dịch chuyển trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình”.[24]
1.1.3 Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Dưới góc độ của luật TTHS thì điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn hoạt động của TTHS sự bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố VAHS đến khi lập bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra khi có đủ căn cứ theo quy định của luật TTHS Trong giai đoạn này, CQĐT có thẩm quyền có trách nhiệm tiến hành các hoạt động theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, làm rõ có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những vấn đề khác
có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án
Trên cơ sở quy định của BLTTHS và thực tiễn hoạt động điều tra VAHS, khoa
học điều tra hình sự xác định: “ Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình trình tố tụng, do Cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm” Định nghĩa trên đã chỉ ra những điểm cơ bản nhất, phản ánh bản chất của hoạt động điều tra [14]
Trên cơ sở phát triển khái niệm điều tra VAHS của khoa học điều tra hình sự,
có thể xác định: “Điều tra vụ án hình sự về vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là hoạt động của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến
Trang 15hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS đối với những vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra, đã được khởi tố nhằm mục đích chứng minh sự thật khách quan của vụ án theo yêu cầu pháp luật”
Như vậy đối tượng của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những vụ án hình sự về các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra, đã được khởi tố Chủ thể của hoạt động điều tra vụ án hình sự
về các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định về phân công, phân cấp điều tra Hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS, quá trình điều tra, chủ thể điều tra được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để làm rõ sự thật vụ án Bản chất của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là quá trình nhận thức, chứng minh sự thật khách quan của vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra theo yêu cầu của pháp luật
1.1.4 Khái niệm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Thông qua việc nghiên cứu khái niệm đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự nói chung, khái niệm các tội xâm phạm sở hữu và khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, ta có thể rút ra khái niệm đối tượng chứng
minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như sau: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là tổng hợp những sự kiện và các tình tiết của vụ án phải được CQĐT xác định bằng chứng cứ để giải quyết đúng đắn các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt
1.1.5 Đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.5.1 Đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trang 16Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có các dấu hiệu đặc trưng sau:
- Các dấu hiệu về khách thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt: Đối tượng tác động của tội phạm trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là:
+ Đối với các tội: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản có khách thể được bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm phạm quan
hệ nhân thân đó Trong đó quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành
vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành
+ Đối với các tội: Tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có khách thể là quan hệ sở hữu
Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm: Các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lý của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có những đặc điểm riêng so với tài sản thuộc đối tượng tác động của các tội phạm khác như tội: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 Bộ luật hình sự 2015) Những đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là: + Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị vật chất cụ thể Tài sản thể hiện dưới dạng phi vật chất như quyền sử dụng đất, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp Tài sản không có giá trị vật chất cụ thể như nguồn nước tự nhiên, sinh vật dưới biển, thú trong rừng thì không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Mặt khác tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải có giá trị sử dụng Tài sản không có giá trị sử dụng như thuốc tân dược hết thời hạn sử dụng mang tiêu hủy, động vật chết
Trang 17đã đem chôn thì không phải là đối tượng của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.
+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải có chủ sở hữu cụ thể Tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu
đã tự nguyện từ bỏ trước khi xảy ra hành vi chiếm đoạt thì không phải là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có thể có nhiều dạng khác nhau như những vật thể cụ thể, song cũng có thể là các giấy
tờ mà thông qua đó người phạm tội có thể nhận được một số tiền hoặc tài sản như: Phiếu gửi xe, giấy tờ ký gửi, cầm đồ tài sản, thẻ thanh toán
+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tài sản thông thường có thể trao đổi, mua bán một cách hợp pháp
- Các dấu hiệu về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt: Để chiếm đoạt được tài sản thì tội phạm có các hành vi khách quan khác nhau, có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (đối với tội cướp tài sản); hành vi bắt cóc con tin và hành vi đe dọa chủ tài sản (đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc hành
vi uy hiếp tinh thần người khác (đối với tội cưỡng đoạt tài sản); hành vi nhanh chóng chiếm đoạt (đối với tội cướp giật tài sản), hành vi công khai chiếm đoạt tài sản (đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản (đối với tội trộm cắp tài sản) và hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản (đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Các dấu hiệu về mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản: Mục đích mà kẻ phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là cố ý chiếm được tài sản Tức người phạm tội biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện
Như đã trình bày trên, người thực hiện hành vi vi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt đều có ý thức chiếm đoạt Xuất phát từ khách thể được bảo
Trang 18vệ mà hành vi khách quan của tội này không có dấu hiệu chiếm đoạt cho nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội Vì vậy dấu hiệu mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Đây là cơ
sở phân biệt các tội này với các tội khác do Bộ luật hình sự quy định có hành vi khách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này
- Các dấu hiệu về mặt chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản: Chủ thể của tội phạm nói chung và của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thể của tội phạm mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới là chủ thể của tội phạm
BLHS không quy định năng lực trách nhiệm hình sự là gì, mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) và tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12) Từ quy định này, chúng ta có thể hiểu chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải là người ở một độ tuổi nhất định và là người nhận thức được và điều khiển được hành vi của mình
Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là chiếm của người làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế,
ở khái niệm này chiếm đoạt được xem là hành vi dùng vũ lực, quyền uy để lấy tài sản của người khác có chủ đích
1.1.5.2 Đặc điểm của hoạt động điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Thứ nhất, Điều tra vụ án hình sự về các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt là quá trình chứng minh sự thật vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra Quá trình điều tra, CQĐT có trách nhiệm làm rõ các nội dung thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Thứ hai, Điều tra vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
đoạt phải làm rõ tài sản bị xâm hại Việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt
Trang 19có ý nghĩa quan trọng trong xác định tội phạm cũng như định khung xử lý phù hợp với quy định của BLHS Mặt khác, làm rõ đặc điểm tài sản bị xâm hại còn có ý nghĩa trong việc truy tìm tài sản trong vụ án
Ngoài việc xác định giá trị tài sản như trên, trong điều tra các vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn phải làm rõ chủ sở hữu, người quản lý các tài sản bị chiếm đoạt tức là xác định người bị hại trong vụ án
Thứ ba, Trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, chủ
thể điều tra phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp trong đó chủ yếu là các hoạt động theo trình tự, thủ tục của luật TTHS
1.1.5.3 Đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trên cơ sở việc nghiên cứu đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và đặc điểm của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt thì đặc điểm của đối thượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là:
- Thứ nhất: Đối tượng chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở
hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau, mà mỗi
sự kiện, tình tiết nói riêng và tổng thể của chúng nói chung, đều phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan đầy đủ toàn diện và chính xác Hoạt động chứng minh là hoạt động mà ở đó các chủ thể chứng minh sẽ sử dụng các phương tiện để làm sáng tỏ sự thật khách quan, đúng đắn của vấn đề nào đó nhằm tìm ra chân lý Như vậy, nếu hiểu theo cách này thì việc chứng minh trong TTHS là việc
sử dụng phương tiện chứng minh để làm sáng tỏ tình tiết cả vụ án hình sự Hiểu cách khác, hoạt động chứng minh trong TTHS là việc xác định chứng cứ chứng minh tất cả các sự kiện, các tình tiết có ý nghĩa
- Thứ hai: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở
hữu có tính chất chiếm đoạt mà luật TTHS quy định cần làm sáng tỏ là căn cứ để các CQTHTT giải quyết đúng đắn vụ án và đề ra biện pháp phòng ngừa tội phạm Hành vi phạm tội là hành vi trên thực tế đã xảy ra, hành vi đó các chủ thể tiến hành
Trang 20tố tụng chưa biết nhưng cần phải làm rõ và chứng minh, tất cả các hoạt động chứng minh đều nhằm mục đích làm rõ sự thật khách quan của VAHS, mục đích đó suy cho cùng là nhằm giải quyết VAHS, chứng minh hành vi đó có phải tội phạm hay không để có căn cứ khởi tố VAHS hoặc không khởi tố VAHS, chứng minh ai là người thực hiện hành vi nguy hiểm, có lỗi hay không có lỗi, người đó có đủ năng lực chịu TNHS không để làm căn cứ khởi tố bị can, từ đó có các biện pháp giải quyết vụ án phù hợp Ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, xác định đúng đối tượng là căn cứ xử lý đúng đắn vụ án không những giai đoạn điều tra mà ở những giai đoạn tiếp theo như truy tố, xét xử Nếu xác định sai đối tượng chứng minh sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sau đó Việc xác định đúng đối tượng chứng minh và chứng minh đầy đủ những sự kiện, tình tiết cần thiết còn giúp cho việc nghiên cứu, phân tích từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả
- Thứ ba: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt là những sự kiện, tình tiết do CQTHTT phải làm sáng tỏ, những vấn đề chưa biết đó được quy định trong luật TTHS Mỗi vụ án hình sự xảy
ra, có rất nhiều sự việc và các tình tiết liên quan, đó là cơ sở để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự, cũng có những sự kiện, tình tiết mặc dù thực tế xảy
ra gắn liền với vụ án, cũng như không có giá trị làm căn cứ đường lối xử lý vụ án, hoặc giúp giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan toàn diện Vì vậy, phải xác định sự kiện, tình tiết nào CQTHTT cần chứng minh và sự kiện, tình tiết nào không cần chứng minh là hết sức cần thiết, nhằm tránh việc chứng minh một cách không khoa học, chứng minh tràn lan, chứng minh cả những vấn đề không cần thiết gây lãng phí thời gian, tiền bạc của Nhà nước
1.2 Phân loại đối tượng cần chứng minh và phương pháp chứng minh
1.2.1 Phân loại đối tượng chứng minh
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khác nhau về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Cách phân loại thứ nhất: Căn cứ vào vai trò của vấn đề phải chứng minh trong việc xác định trách nhiệm pháp lý đối với người bị buộc tội, có thể phân chia
Trang 21thành hai nhóm: nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội và nhóm những vấn đề chứng minh có tính chất gỡ tội Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội bao gồm: Những dấu hiệu cấu thành tội phạm, hình thức lỗi, phương thức, thủ đoạn phạm tội, những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất
gỡ tội bao gồm: có hay không có tình tiết bác bỏ sự buộc tội đối với bị can, bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ TNHS, những tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự.v.v… Cách phân loại thứ hai: Căn cứ vào vị trí, ý nghĩa của những vấn đề phải chứng minh trong mối quan hệ với việc giải quyết vụ án có thể phân loại những vấn đề phải chứng minh trong VAHS thành: Những vấn đề phải chứng minh nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm; Những vấn đề phải chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến TNHS và hình phạt; Nhóm tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với VAHS
Những vấn đề cần chứng minh nằm trong yếu tố cấu thành tội phạm chính là chứng minh những vấn đề thuộc về mặt khách quan của tội phạm, khách thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm Chứng minh vấn đề này
là trả lời những vấn đề: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, đó là hành vi phạm tội gì, do ai thực hiện tội phạm, người thực hiện tội phạm có lỗi hay không, có đủ năng lực TNHS hay không.v.v…
trách nhiệm hình sự và hình phạt
Những vấn đề cần chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến TNHS và hình phạt bao gồm chứng minh những vấn đề: Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ TNHS, các tình tiết tăng nặng TNHS; các tình tiết miễn trách TNHS, miễn hình phạt; các tình tiết làm căn cứ loại trừ TNHS
Những tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với vụ án hình sự
Những tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với VAHS là những tình tiết không nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm, đồng thời cũng không ảnh hưởng
Trang 22đến TNHS và hình phạt nói chung, nhưng lại có giá trị chứng minh nhất định đối với VAHS Nếu chứng minh được các tình tiết đó sẽ giúp cho các CQTHTT giải quyết vụ án đảm bảo đúng đắn, chính xác, khách quan và toàn diện
1.2.3 Phương tiện chứng minh
- Khái niệm phương tiện chứng minh
Có rất nhiều khái niệm về phương tiện chứng minh nhưng hiểu theo nghĩa chung nhất và bao quát nhất là: Phương tiện chứng minh là những công cụ do pháp luật quy định, các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết sự kiện của vụ án hình sự
- Đặc điểm phương tiện chứng minh
Phương tiện chứng minh trong VAHS chủ yếu thể hiện qua các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử VAHS, trong đó các CQTHTT áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để thu thập chứng cứ, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Mỗi tài liệu được coi là chứng
cứ chỉ có giá trị chứng minh khi bảo đảm được tính hợp pháp của nó, tức là cơ quan tiến hành tố tụng khi thu thập chứng cứ đều phải theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Ở giai đoạn nào phải do pháp luật tố tụng quy định và điều chỉnh về trình tự thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ ở giai đoạn đó, chứng cứ mới có giá trị chứng minh
Trang 231.3 Ý nghĩa của đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Việc xác định đúng và đầy đủ đối tượng cần chứng minh trên phương diện lý luận và thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trên cả lĩnh vực xây dựng, hoàn thiện pháp luật cũng như áp dụng pháp luật TTHS nói chung và quy định luật TTHS nói riêng
1.3.1 Ý nghĩa trong lĩnh vực xây dựng pháp luật TTHS
Việc xác định đúng và đủ đối tượng cần chứng minh có ý nghĩa trong công tác xây dựng pháp luật TTHS thể hiện ở chỗ: Đây là cơ sở để các cơ quan xây dựng pháp luật đưa vào nội dung quy định của luật TTHS một cách đầy đủ những vấn đề phải chứng minh trong quá trình tố tụng vụ án hình sự, đó là cơ sở pháp lý cho CQTHTT, NTHTT nhận thức một cách đầy đủ và thống nhất về đối tượng chứng minh, giúp cho việc giải quyết vụ án một cách đầy đủ, toàn diện, đạt chất lượng tốt
và đảm bảo pháp chế
Như vậy, trên lĩnh vực xây dựng pháp luật việc xác định đúng đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự có ý nghĩa để các cơ quan lập pháp hoàn thiện quy định của luật TTHS, đảm bảo cho việc quy định trong pháp luật được đầy đủ, có lôgic, khoa học, thể hiện sự thống nhất toàn diện của tất cả các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự, cũng như tạo cơ sở pháp lý nhận thức của các CQTHTT
về đối tượng chứng minh
1.3.2 Ý nghĩa trong lĩnh vực áp dụng pháp luật TTHS
Việc xây dựng pháp luật để quản lý tốt là điều quan trọng tuy nhiên pháp luật chỉ phát huy tác dụng quản lý khi pháp luật được áp dụng vào thực tiễn Xây dựng được quy định đối tượng cần chứng minh là cơ sở để áp dụng vào thực tiễn, trong lĩnh vực áp dụng pháp luật TTHS hay cụ thể hơn là trong áp dụng giải quyết vụ án hình sự, việc xác định đúng, đủ những vấn đề cần phải chứng minh và vai trò của từng vấn đề có ý nghĩa như sau:
- Xác định đúng những vấn đề phải chứng minh hay còn gọi là đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự giúp cho các CQTHTT có phương hướng, kế hoạch
Trang 24điều tra phù hợp, nhằm giải quyết vụ án một cách đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời, giảm chi phí về tiền của, không vi phạm về thời gian điều tra Việc nắm rõ những quy định của luật TTHS về những vấn đề phải chứng minh giúp cho NTHTT, CQTHTT đánh giá được tính chất, hoàn cảnh cụ thể của từng vụ án, để xác định được cần chứng minh những vấn đề gì, từ đó thu thập những chứng cứ phù hợp với từng vụ án cụ thể Việc chứng minh phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật, bởi nguyên tắc pháp chế yêu cầu phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt
để, việc quy định tại pháp luật cũng có ý nghĩa định hướng cho CQTHTT phải làm
gì trước mỗi vụ án khi mà lượng thông tin cần làm sáng tỏ vụ án là rất nhiều, chứng
cứ cần thu thập là rất lớn
Trường hợp xác định không đúng đối cần tượng chứng minh hoặc xác định không đầy đủ đối tượng cần chứng minh sẽ dẫn đến giải quyết vụ án hình sự thiếu khách quan, không đúng quy định của pháp luật, từ đó dẫn đến tình trạng làm oan người vô tội, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm quyền con người hoặc bỏ lọt tội phạm Gây ra nhiều thiệt hại về vật chất và phí phạm thời gian khi các CQTHTT thực hiện các hoạt động tố tụng mà không hiệu quả như: trả hồ sơ, điều tra bổ sung, hủy kết luận điều tra, xử lý oan sai.v.v…
1.4 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.4.1 Cơ sở của quy định đối tượng cần chứng minh trong điều tra các
vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Việc quy định đối tượng chứng minh dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Phép biện chứng Mác - xít đã chỉ ra rằng, thế giới loài người đang tồn tại, sinh sống là thế giới vật chất, thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức con người, con người dù muốn hay không thì nó vẫn tồn tại, thuộc tính của vật chất là thuộc tính phản ánh, thuộc tính đó phản ánh vào trong bộ não người hình thành nên ý thức, có nghĩa là con người có khả năng nhận thức được thế giới đó, mọi sự kiện, vấn đề xảy ra và tồn tại trên thế giới này con người dù sớm hay muộn cũng sẽ nhận thức được Do đó, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Trang 25Lênin, mọi sự kiện đã xảy ra thì con người có khả năng nhận thức được, một hành
vi phạm tội diễn ra, CQTHTT có thể áp dụng các biện pháp, phương tiện của mình
để xác định sự việc đó diễn ra như thế nào, các tình tiết ra sao, có thể tái hiện lại trong ý thức con người các tình tiết đó Việc nhận thức được các tình tiết, sự kiện đã xảy ra trong một vụ án là vô cùng cần thiết, quyết định đến việc xử lý đúng đắn vụ
án hình sự, vì thế, đối với mỗi vụ án hình sự xảy ra, ta phải nhận thức được tất cả những vấn đề có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ án
Trên lĩnh vực lập pháp, luật hình sự, luật TTHS, các nhà lập pháp không thể liệt kê tất cả những vấn để phải chứng minh trong mỗi tội phạm cụ thể Để khắc phục những quan điểm sai lầm trên, thống nhất về mặt nhận thức và cũng là yêu cầu bắt buộc trong chứng minh vụ án hình sự, khoa học luật hình sự, luật TTHS phải nghiên cứu, khái quát được đối tượng cần chứng minh chung trong vụ án hình sự bao gồm những gì để các cơ quan áp dụng pháp luật trong quá trình chứng minh căn
cứ vào đó thực hiện nhiệm vụ chứng minh
Để xác định được những vấn đề phải chứng minh bao gồm những gì thì cơ quan lập pháp dựa vào căn cứ pháp lý đó là:
Thứ nhất: Căn cứ pháp lý thuộc quy định cấu thành tội phạm được quy định
trong BLHS, dựa vào đó các cơ quan xây dựng pháp luật quy định những vấn đề phải chứng minh bao gồm: Khách thể tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm
Thứ hai: Các quy định về xác định trách nhiệm hình sự, căn cứ áp dụng hình
phạt được quy định trong luật hình sự là căn cứ để cho cơ quan xây dựng pháp luật quy định đối tượng cần chứng minh gồm: Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.v.v…
Thứ ba: Những quy định khác trong luật hình sự, luật TTHS về đối tượng
cần chứng minh nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, đây là quy định mở, bởi với mỗi vụ án khác nhau, những vấn đề phải chứng minh là khác nhau, việc quy
Trang 26định như vậy giúp cho CQTHTT có sự áp dụng sát với thực tiễn xảy ra của các vụ
án, do pháp luật không thể liệt kê hết tất cả các vấn đề phải chứng minh
1.4.2 Quy định của pháp luật TTHS về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.4.2.1 Quy định của pháp luật TTHS về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ năm 1945 đến trước năm 1988
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, đất nước ta giành được độc lập, giai đoạn này nhiệm vụ cấp bách là bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền mới thành lập, bảo vệ nhân dân Ngày 21/02/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23 - SL thống nhất các lực lượng Liêm phong, Cảnh sát, Trinh sát, Quốc gia tự vệ trong toàn quốc thành “ Việt Nam Công an vụ” sau đổi tên thành Thứ Bộ Công an rồi Bộ Công an Nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự được giao cho lực lượng Công an Giai đoạn này
do tình hình cấp bách của đất nước, chưa có điều kiện ban hành Bộ luật TTHS, do
đó các sắc lệnh được Nhà nước ban hành nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu trước mắt Sắc lệnh số 33 - SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946, trong đó lần đầu tiên ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của TTHS, xác định chức năng nhiệm
vụ và quyền hạn của các CQTHTT, trong đó có quy định thủ tục tiến hành điều tra
vụ án hình sự Việc chứng minh vụ án hình sự thông qua chế định chứng cứ, chứng
cứ được ghi nhận ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật TTHS nhưng mới chỉ xem xét ở một khía cạnh nhất định, chưa có quy định về chứng minh và đối tượng chứng minh Điều 9 Nghị định số 82/NĐ ngày 25/2/1946 của Bộ tư pháp ấn định chi tiết
áp dụng Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 về tổ chức lại các Tòa án quân sự chỉ đề cập việc thu thập chứng cứ
Tuy nhiên, pháp luật TTHS ở giai đoạn này còn hạn chế ở chỗ việc điều tra vụ
án hình sự chưa được quy định riêng Các toà án binh đảm nhiệm cả việc điều tra, truy tố, xét xử, thậm chí là thi hành án, giáo dục và cải tạo phạm nhân Do đó có thể nói, vấn đề đối tượng chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thời kỳ này chưa được đề cập cụ thể Vào những năm 80 của thế kỷ
XX, cùng với sự phát triển của khoa học luật TTHS, khái niệm chứng cứ đã bắt đầu
Trang 27xuất hiện trong các sách báo pháp lý, là tiền đề cho quy định của BLTTHS ra đời sau đó
1.4.2.2 Quy định của BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
BLTTHS năm 1988 là BLTTHS đầu tiên của nước ta, BLTTHS năm 1998 tiếp tục ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của các quy phạm pháp luật TTHS trước
đó, ngoài ra còn bổ sung các nguyên tắc mới, quy định mới nhằm đảm bảo hoạt động chứng minh trong vụ án hình sự được thuận lợi, phù hợp với xu thế phát triển mới của xã hội Trong đó BLTTHS năm 1988 dành hẳn một chương để quy định về chứng cứ, trong đó cũng quy định các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình
sự, quy định về chứng cứ, trình tự, thủ tục để thu thập chứng cứ Trong Bộ luật đã quy định rõ những gì là chứng cứ và nguồn của chứng cứ để CQĐT lấy đó làm căn
cứ thực hiện chứng minh vụ án BLTTHS năm 1988 cũng đã quy định thẩm quyền điều tra của CQĐT, do đó chủ thể chứng minh được xác định rõ ràng
Cụ thể, tại Điều 47 BLTTHS năm 1988 quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Theo đó, đối tượng chứng minh tại điều luật bao gồm những vấn đề sau:
Phải chứng minh được những vấn đề thuộc cấu thành tội phạm như: có hành
vi phạm tội xảy ra không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội, ai là người thực hiện tội phạm, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý,
có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, động cơ, mục đích phạm tội
Như vậy, về cơ bản, BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 đều quy định cụ thể những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Những vấn đề cần phải chứng minh đó bao gồm: Những tình tiết thuộc yếu tố cấu thành tội phạm, những tình tiết xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị can, bị cáo và những vấn đề khác phải chứng minh trong vụ án hình sự
1.4.2.3 Quy định của BLTTHS 2015 về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
BLTTHS không có Điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, tuy nhiên căn cứ
Trang 28những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 và quy định về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại Điều
168, Điều 169, Điều 170, Điều 171, Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 175 BLHS năm 2015, thì CQĐT có thể căn cứ vào đó để xác định những vấn đề phải chứng minh khi điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
*) Những vấn đề phải chứng minh nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm
- Chứng minh mặt khách quan và khách thể của tội phạm
Khoản 1 Điều 85 quy định vấn đề đầu tiên phải chứng minh trong vụ án hình sự đó là: “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” Đối chiếu với quy định cấu thành tội phạm, việc quy định chứng minh những vấn đề này chính là quy định chứng minh mặt khách quan và chứng minh khách thể của tội phạm
“Mặt khách quan của tội phạm là mặt biểu hiện bên ngoài của tội phạm Là những biểu hiện của tội phạm ra thế giới khách quan, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho
xã hội (hành động và không hành động), hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội, công cụ, thủ đoạn, phương tiện phạm tội”
Trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì việc chứng minh hậu quả thiệt hại về mặt tài sản và quan hệ nhân thân là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm, đây là căn cứ định tội danh, định khung hình phạt Quá trình điều tra phải chứng minh được tài sản chiếm đoạt có giá trị là bao nhiêu, đối với tài sản là tiền mặt thì có thể dễ dàng xác định, tuy nhiên đối với những tài sản khác như đồ vật, phương tiện, cổ vật có giá trị thì phải tiến hành định giá mới xác định được mức độ thiệt hại Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói chung, nếu CQĐT không chứng minh được giá trị tài sản bị thiệt hại là bao nhiêu và quan hệ nhân thân bị xâm phạm như thế nào thì không thể kết luận người
đó phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội trộm cắp tài sản
Trang 29Chứng minh được thời gian, địa điểm, hoàn cảnh xảy ra hành vi xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt Mọi hành vi đều được diễn ra vào một thời gian nhất định, địa điểm ở đâu, hoàn cảnh như thế nào Do đó, pháp luật TTHS quyết định trong quá trình điều tra, CQĐT phải xác định hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra khi nào, từ thời điểm nào đến thời điểm nào, từ mấy giờ đến mấy giờ thì chấm dứt, gắn với địa điểm xảy ra hành vi phạm tội Địa điểm xảy ra hành vi phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định được thẩm quyền giải quyết vụ án, bởi thông thường vụ án xảy ra trên địa bàn nào thì thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trên địa bàn đó
Chứng minh công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn tội phạm đã thực hiện để xâm phạm quan hệ sở hữu, quan hệ nhân thân Ngoài việc xác định hành vi phạm tội thời gian địa điểm và hoàn cảnh gây án, theo quy định tại BLTTHS, CQĐT cũng phải chứng minh những tình tiết khác của hành vi phạm tội Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, CQĐT phải chứng minh người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã thực hiện bằng công
cụ, phương tiện gì, thủ đoạn ra sao để phạm tội Đó có thể là nhiều công cụ, phương tiện khác nhau tùy thuộc vào từng vụ án, từng tội cụ thể, phổ biến trong thực tế là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường đưa ra thông tin giả bằng lời nói, nói mình là người nhà của nạn nhân khiến cho nạn nhân tin rằng đó là thật…, đối với tội cướp tài sản người phạm tội thường dùng hung khí để đe dọa uy hiếp tinh thần của nạn nhân, đối với tội cướp giật tài sản người phạm tội thường dùng xe
mô tô để nhanh chóng tẩu thoát
Trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, việc chứng minh phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội còn làm căn cứ định khung hình phạt đối với người phạm tội Nó là cấu thành bắt buộc như tại khoản 2 Điều 168, Điều
169, Điều 171 đó là: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, Điều 174 Bộ luật hình sự: “Có tính chất chuyên nghiệp”,“ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa
cơ quan, tổ chức”, “ Dùng thủ đoạn xảo quyệt” CQĐT trong quá trình điều tra
phải chứng minh làm rõ các vấn đề trên
Trang 30“ Khách thể của các tội là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại” [33Tr131] Tuy nhiên quan hệ nhân thân không phải
ở tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt mà chỉ xuất hiện trong một số tội đó là: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản
- Chứng minh chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm
Khoản 2 Điều 85 BLTTHS năm 2015 quy định vấn đề phải chứng minh tiếp theo trong vụ án hình sự đó là: “Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích, động cơ phạm tội” Có thể thấy đây là những yếu tố thuộc mặt chủ quan và chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chủ thể của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt luôn là con người cụ thể, có thể một người hoặc nhiều người Để chứng minh người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì CQĐT phải chứng minh người
đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo quy định Căn cứ vào quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thì có thể kết luận rằng người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quy định như sau:
+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2015 thì: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 thì: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144,
150, 151, 168, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,
290, 299, 303, và 304 của Bộ luật này
Như vậy theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 thì đối với các tội: Trộm cắp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín
Trang 31nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản thì chủ thể của những tội này là người từ đủ 16 tuổi trở lên Đối với các tội: Cướp tài sản thì chủ thể của tội này là người từ đủ 14 tuổi trở lên
Người phạm tội không rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, cụ thể là người đó khi thực hiện hành vi phạm tội không phải người trực tiếp thực hiện mà có vai trò chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu trong vụ án có đồng phạm Việc chứng minh chủ thể trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản là điều bắt buộc, bởi hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải gắn với một con người cụ thể, không có người phạm tội thì không có tội phạm
Trong các quy định về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có quy định các dấu hiệu “Đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt” hoặc “ đã bị kết án về tội này hoặc các tội quy định tại điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 175
là những tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu “Chiếm đoạt” và Điều 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Khi chứng minh, CQĐT cũng phải làm
rõ các dấu hiệu này, đây là những dấu hiệu thuộc về nhân thân người phạm tội
Người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có lỗi hay không có lỗi Như chúng ta đã biết lỗi là trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi nguy hiểm do đó người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn như lén lút, gian dối, dùng vũ lực … mà mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và mong nó xảy ra
Mục đích, động cơ phạm tội Mục đích là cái cần đạt được sau khi thực hiện tội phạm Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì mục đích
đó là chiếm đoạt được tài sản của người khác Động cơ phạm tội là cái bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì đó chính là lòng ham muốn được sở hữu tài sản một cách không chính đáng Khi chứng minh, cần lưu ý mục đích của việc xâm phạm sở hữu là để chiếm đoạt chứ không phải mục đích khác
Trang 32*) Những vấn đề phải chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt
- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can bị cáo (Khoản 3 Điều 85 BLTTHS năm 2015):
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết xảy ra có ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, khiến cho hành vi phạm tội trở nên ít nguy hiểm hơn Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, cũng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều
51 BLHS năm 2015, ví dụ như: người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết khiến cho hành vi phạm tội trở nên nguy hiểm hơn, đó là những tình tiết được quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015, như: Phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội, tái phạm nguy hiểm, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ
nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên, lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, lợi dụng thiên tai, dịch bệnh Luật hình sự cũng quy định những tình tiết đã áp dụng để định khung thì không áp dụng là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, cụ thể các tội: Trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì không đặt vấn đề phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự bởi nó được áp dụng để định khung hình phạt tại khoản 2 hoặc khoản 3 của các tội này
- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra (Khoản 4 Điều 85 BLTTHS năm 2015): Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt gây thiệt hại
đối với quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, cụ thể là tài sản, lợi ích vật chất của nạn nhân bị xâm phạm, sức khỏe nạn nhân như thế nào CQĐT phải chứng minh
Trang 33được mức độ thiệt hại của mình vì hành vi chiếm đoạt, thiệt hại đã gây ra là bao nhiêu để làm căn cứ để xác định tội danh và căn cứ định khung hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm Đối với các tội có cấu thành vật chất như tội: Công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nếu tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng
và không thuộc các điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 172, Điều 173, Điều 174 hoặc dưới 4.000.000 đồng không thuộc các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 thì người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt không bị xử lý hình sự mà chỉ có thể xử lý hành chính Tùy theo giá trị tài sản thực
tế đã bị chiếm đoạt mà người thực hiện hành vi bị xử lý ở khung nào Việc chứng minh thuộc về CQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền, ví dụ: tài sản bị chiếm đoạt là cổ vật, giấy tờ có giá thì CQĐT phải tiến hành định giá theo thủ tục
để xác định giá trị Khi xác định chính xác giá trị tài sản thì mới có hướng xử lý tiếp theo vụ án
- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội (Khoản 5 Điều 85 BLTTHS năm 2015):
Đây là điểm mới trong quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, nguyên nhân và điều kiện phạm tội phần lớn không là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm cụ thể nhưng nó có ý nghĩa cho việc xác định đường lối xử lý vụ án một cách đúng đắn, có ý nghĩa trong công tác phòng ngừa tội phạm
- Những tình tiết liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (Khoản 6 Điều 85 BLTTHS năm 2015): Loại trừ
trách nhiệm hình sự là một chế định lớn được quy định tại Chương IV phần: Những quy định chung của BLHS, theo đó người thực hiện hành vi nguy hiểm trong những trường hợp: sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên, bởi những trường hợp này không được xem là có lỗi
Trang 34Người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt sẽ được miễn trách nhiệm hình sự khi có các căn cứ quy định tại Điều 29 BLHS 2015 Tuy nhiên, qua nghiên cứu, đối với tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, CQĐT
có căn cứ để xác định người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi:
+ Khi tiến hành điều tra, người phạm tội bị mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa
+ Người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào công tác điều tra khám phá tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được nhà nước và xã hội thừa nhận
Người phạm tội được miễn hình phạt khi có các căn cứ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự
*) Nhóm tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với vụ án hình sự
- Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với sự giải quyết vụ án hình sự Trong trường hợp vụ án hình sự giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (Điều 30 BLTTHS năm 2015): Như vậy, ở điều luật đã gián tiếp quy định CQTHTT
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải chứng minh các tình tiết có liên quan đến vấn đề bồi thường, bồi hoàn dân sự trong vụ án hình sự Trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, vấn đề bồi thường thiệt hại thường đặt ra, do người phạm tội gây thiệt hại về tài sản cho người khác, một tình tiết phổ biến đó là CQĐT phải chứng minh được người phạm tội phải bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội
sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc đảm bảo thi hành án, cơ quan, NTHTT trong phạm vi của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt
Trang 35tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh (Điều 109 BLTTHS năm 2015): Như vậy, trong trường hợp này CQĐT phải chứng minh được người
phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có khả năng gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố.v.v…để áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo luật định Tuy nhiên cũng cần chú ý những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng mà những người này có nơi cư trú và lai lịch rõ ràng và họ không bỏ chốn hoặc tiếp tục phạm tội hoặc có những căn cứ khác quy định tại Khoản 4 Điều 119 BLTTHS năm 2015 quy định về tạm giam Những người này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác
- Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ
án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội,
bị hại, người làm chứng khác và trả lời câu hỏi đặt ra (Điều 91 BLTTHS năm 2015): Rõ ràng với quy định như vậy thì một trong những vấn đề CQĐT phải chứng
minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là khi sử dụng lời khai của người làm chứng phải chứng minh được mối quan hệ giữa người làm chứng với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng khác
Đối với hành các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra đã lâu thì CQĐT khi tiến hành điều tra phải căn cứ vào quy định tại Điều 157 BLTTHS năm 2015 quy định căn cứ không khởi tố vụ án hình sự khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, nhiệm vụ của CQĐT là chứng minh vụ án đó còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không Nếu các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản phạm tội ít nghiêm trọng tức là thuộc khoản 1 các Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 175 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm, nếu các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phạm tội nghiêm trọng tức là thuộc khoản 1 Điều 168, Điều 169, Điều 170, Điều 171 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm, quá thời gian trên, không được khởi tố vụ án hình
sự, vụ án nếu đã khởi tố phải đình chỉ
Trang 36Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản do người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm thì CQĐT trong quá trình điều tra phải thu thập chứng cứ chứng minh thêm những vấn đề được quy định tại Điều 416 BLTTHS năm 2015, trong đó quy định, những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi BLTTHS năm 2003 sử dụng thuật ngữ người chưa thành niên để chỉ những người dưới 18 tuổi, tuy nhiên tại BLTTHS năm
2015 thống nhất sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” để đảm bảo tính thống nhất
và chính xác Đối với người dưới 18 tuổi, BLTTHS năm 2015 dành riêng một chương để quy định về thủ tục tố tụng đối với đối tượng này Có thể thấy, chính sách pháp luật của Nhà nước ngày càng quan tâm đến thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước Người chưa thành niên có những đặc điểm tâm sinh lý riêng, điều đó
có ảnh hưởng lớn đến việc phạm tội của đối tượng này nói chung cũng như các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng cho nên quy định về nguyên tắc tố tụng đối với người dưới 18 tuổi trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cũng có nhiều khác biệt
Theo quy định tại Điều 416 BLTTHS năm 2015, quá trình chứng minh trong điều tra vụ án hình sự, cụ thể là các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi CQĐT ngoài những vấn đề phải chứng minh được quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, thì cần phải chứng minh thêm những vấn đề sau:
Tuổi của người dưới 18 tuổi Việc xác định đúng tuổi có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định sự thật vụ án, người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt có cấu thành tội phạm hay không Từ đó có đường lối đúng đắn xử lý hình sự Theo quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì:
+ Người thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cụ thể các hành vi: Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa đủ 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 16 tuổi
Trang 37trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội: Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
+ Người thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cụ thể các hành vi: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa đủ 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Do đó, CQĐT phải chứng minh được tuổi của người phạm tội Việc xác định tuổi người bị buộc tội thì CQĐT phải căn cứ vào các quy định của pháp luật, dựa vào những giấy tờ tùy thân như: giấy chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu Nếu trường hợp đã áp dụng các biện pháp theo luật định mà vẫn không xác định được ngày tháng năm sinh thì ngày tháng năm sinh được xác định căn cứ theo khoản 2 điều 417 BLTTHS: Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng
đó làm ngày sinh Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi
Có hay không có người trên 18 tuổi xúi giục Do tâm sinh lý người dưới 18 tuổi thường phát triển chưa hoàn thiện, dễ bị kích động, lôi kéo, dễ nghe lời người khác để thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cho nên Cơ quan điều tra cần chứng minh được vụ án có sự tham gia của người thành niên hay không làm cơ sở để truy tố, xét xử đúng người, đúng tội
Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội Trong giai đoạn điều tra các
vụ án phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đối với người đủ 18 tuổi cũng phải chứng minh nguyên nhân điều kiện phạm tội nhưng ở góc độ khác, đối
Trang 38với người dưới 18 tuổi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt do
có những đặc điểm tâm sinh lý khác nên nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của những người này
Tiểu kết chương 1
Toàn bộ nội dung Chương 1, tác giả phân tích những vấn đề lý luận cơ bản
về khái niệm, đối tượng, nội dung và phạm vi đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng, từ đó đưa ra nhận thức của mình về vấn đề này
Tác giả cũng đã phân tích nội dung của đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 Thực hiện tốt các nội dung của đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt của CQĐT các cấp trong Công an tỉnh Nam Định
Những nhận thức được trình bày ở Chương 1 là cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các
vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt của CQĐT các cấp trong Công an tỉnh Nam Định trong 05 năm qua, từ năm 2013 đến năm 2017
Trang 39Chương 2 THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH
CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Tình hình, đặc điểm, kinh tế xã hội, tổ chức bộ máy của các cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Nam Định
2.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
Tỉnh Nam Định nằm ở phía Nam vùng châu thổ Sông Hồng, có địa giới hành chính: Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình và phía Đông Nam và phía Nam giáp Biển Đông, có diện tích tự nhiên 1.652.6 km vuông, mặt độ dân số 1.112 người/km vuông Tỉnh Nam Định có tuyến Quốc lộ 10 là tuyến giao thông tiếp giáp từ tỉnh Ninh Bình đi các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng và tuyến Quốc lộ 21 đi các tỉnh Hà Nam và Thành phố Hà Nội Nam Định có 09 huyện (Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thủy, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc) và 01 Thành phố Nam Định, thành phố loại II trực thuộc tỉnh, có 230 xã, phường, thị trấn Thành phố Nam Định là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh
Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển, trong những năm gần đây kinh tế phát triển theo hướng đa ngành nghề, làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao Nghề trồng lúa, nhân dân trong tỉnh trồng lúa có giá trị kinh tế như lúa tám thơm bán đi các tỉnh thành trong cả nước Nghề nuôi thủy, hải sản phát triển mang lại giá trị kinh tế cao như nuôi cá mú, nuôi cá bóng bớp, nuôi tôm sú, cua rèm, nuôi ngao vạng Nghề đánh bắt thủy, hải sản xa bờ bắt đầu phát triển, có rất nhiều đội tàu đánh bắt thủy hải sản xa bờ Sản phẩm của nghề nuôi
và đánh bắt thủy hải sản bán đi các tỉnh và xuất khẩu mang lại giá trị kinh tế cao Công nghiệp phát triển, công ty giày da tại xã Nghĩa Lạc, xã Nghĩa Minh huyện Nghĩa Hưng sản xuất giày da xuất khẩu ra nước ngoài, công ty đóng tàu Thịnh Long huyện Hải Hậu sản xuất và đóng tàu được bán đi trong cả nước Công ty May Sông
Trang 40xuất khẩu đi các nước Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ Đáng lưu ý, ngày 18/4/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định cùng chủ đầu tư động thổ xây dựng khu công nghiệp dệt may Rạng Đông với diện tích 500 ha giai đoạn 1 và giai đoạn 2 với diện tích 1.500 ha tại khu đất bãi bồi ven biển huyện Nghĩa Hưng Đây là khu công nghiệp dệt may lớn nhất toàn quốc tại thời điểm này Khu công nghiệp này đi vào hoạt động sẽ thu hút khoảng một vạn lao động và nguồn thu cho tỉnh khoảng 02 nghìn tỷ đồng một năm
Tình hình chính trị trên địa bàn tỉnh ổn định, không có khiếu kiện đông người xảy ra Các tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật Đạo thiên chúa giáo hoạt động trên tinh thần: Kính chúa yêu nước Hệ thống chính trị của tỉnh được xây dựng vững chắc, hoạt động có hiệu quả Quốc phòng an ninh được giữ vững Tỉnh Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển nên có nền văn hóa xã hội khá tốt, không còn những hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến việc chấp hành pháp luật và phát triển kinh tế xã hội Không còn tình trạng “phép Vua thua lệ làng” Nền giáo dục đào tạo của tỉnh Nam Định phát triển tốt Sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đạt nhiều kết quả tốt
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của CQĐT các cấp trong Công an tỉnh Nam Định
Theo quy định của Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự ngày 26/11/2015 thì hệ thống Cơ quan điều tra của Công an cấp tỉnh nói chung và hệ thống Cơ quan điều tra các cấp trong Công an tỉnh Nam Định nói riêng bao gồm 02 cấp, đó là Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp huyện
- Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nam Định bao gồm: Cơ quan an ninh điều tra và Cơ quan cảnh sát điều tra
1 Tổ chức Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nam Định gồm có các đội Điều tra, đội nghiệp vụ và bộ máy giúp việc Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nam Định gồm có 01 thủ trưởng và 01 phó thủ trưởng và các Điều tra viên
2 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định bao gồm: Văn phòng
Cơ quan cảnh sát điều tra; Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội (gọi