VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘIHÀ VIẾT CHINH ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TỪ THỰC TIỄN TỈNH NA
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ VIẾT CHINH
ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN MINH ĐỨC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Kết quả luận văn là sự học tập,
cố gắng nỗ lực của bản thân Vậy tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luậnvăn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Viết Chinh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đếnBan giám đốc Học viện khoa học xã hội cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy,chỉ bảo, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập Tôi xin trân trọng cảm ơn
sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả của TS Nguyễn MinhĐức, những định hướng của thầy quyết định đến sự thành công của luận văn
Những kết quả đã đạt được trong luận văn ngoài sự nỗ lực, cố gắng nghiên cứucủa bản thân tác giả, còn có sự kế thừa, tổng hợp tài liệu của các nhà nghiên cứu đitrước Tuy nhiên do điều kiện nghiên cứu, trình độ của bản thân còn hạn chế nhấtđịnh nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tác giả luận văn mong được sự giúp
đỡ và góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô và đồng nghiệp để luận văn đượchoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINHTRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤTCHIẾM ĐOẠT CỦA CÁC CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM
chiếm đoạt 63
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5BLHS Bộ luật hình sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra
CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng CQANĐT Cơ quan an ninh điều tra
Trang 6MỞ ĐẦU
l Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ qua, Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta không ngừng phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, đẩy mạnhcông cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quantrọng Đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thờitạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, độingũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thựchiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nam Định có vị trí thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình
ở phía Đông Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, giápbiển (vịnh Bắc Bộ) ở phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 100 km về phía Bắc, có diệntích 1.652,29 km2 Theo điều tra dân số ngày 01/04/2014 Nam Định có 1,805,771người với mật độ dân số 1,196 người/km2 Nam Định có 10 đơn vị hành chính cấphuyện là thành phố Nam Định và 9 huyện là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, ÝYên, Vụ Bản, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Mĩ Lộc, trong đó có một thànhphố loại một là thành phố Nam Định và 3 huyện duyên hải thuộc Vịnh Bắc Bộ làGiao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng Người dân Nam Định chủ yếu là người Kinh,người theo đạo thiên chúa giáo khoảng 23% Sau khi được tái thành lập, Nam Định
đã có những bước chuyển mình đáng khích lệ, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn tỉnhdiễn ra nhanh trên phạm vi rộng, các khu công nghiệp được hình thành đã thu hútnhiều lao động tạo điều kiện thuậnlợi để tỉnh Nam Định phát triển mọi mặt cả vềkinh tế, văn hóa và xã hội
Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền,công tác phòng ngừa tội phạm ở Nam Định đã đạt được kết quả đáng kể, an ninhchính trị được giữ ổn định, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tích cực Tuy nhiên,bên cạnh những thành tựu đạt được, Nam Định cũng gặp phải nhữngkhó khăn nhất
Trang 7định, như dân cư nhiều thành phần, trật tự xã hội diễn biến phức tạp, nhiều loại tộiphạm hoạt động với thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó kiểm soát Các tội phạm xâmphạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định vẫn diễn ra, thậmchí còn có một số tội phạm tiếp tục phát sinh và phức tạp như tội: Tội cướp tài sản,Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản, Tội cướp giật tài sản,Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gây ra nhiều thiệt hại cho cá nhân,các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp và nhân dân, từ đó đã ảnh hưởng đến sự phát triểnkinh tế của đất nước Bên cạnh đó công tác điều tra khám phá tội phạm của các cơquan chức năng còn nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp cần thiết giữa các lực lượngtiến hành, sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân còn hạn chế Tỷ lệ các vụ án được pháthiện thấp, tiến trình điều tra chậm, đề nghị xử lý bắt hình sự chưa cao Vì vậy việcnghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra xử lý cáctội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là một đòi hỏi hết sức cấp bách,góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ anninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát
triển kinh tế xã hội đất nước Vì vậy tôi chọn đề tài: “Đối tượng cần chứng minh
trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn
tỉnh Nam Định ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Như vậy, có thể nói, việc nghiên cứu vấn đề “Đối tượng cần chứng
minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ
thực tiễn tỉnh Nam Định ” là vấn đề cấp thiết và không trùng lặp với các đề tài
nghiên cứu trước đó
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta cho đến nay, đề tài đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự nóichung và trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng, khôngphải là đề tài hoàn toàn mới mẻ Liên quan đến đề tài trên đã có một số luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ luật học được thực hiện Cụ thể như sau:
Trang 8- Luận văn thạc sỹ luật học học: “Quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Thanh Hòe năm 1997 đã trình bầy và
phân tích một cách khoa học về lý luận chứng minh và vận dụng chứng cứ để chứngminh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam [18]
- Luận văn thạc sỹ luật học “Quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Văn Du năm 1999 đã làm sáng tỏ những
vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận của quá trình giải quyết vụ án hình sự trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm.[13]
- Luận văn thạc sĩ luật học “Quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ
án hình sự ở Việt Nam ” của tác giả Phạm Thị Như Quỳnh năm 2011 đã làm sáng tỏ
một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chứng minhtrong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.[28]
-Luận văn tiến sĩ luật học ”Thu thập đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam” của Tiến sỹ Nguyễn Văn Đương năm 2000.[16]
-Luận văn thạc sĩ ”Hoạt động chứng minh của Tòa án trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" của học viên Nguyễn Thanh Vân - Học viên cao học khóa V đợt 1 năm
2014 Học viện khoa học xã hội.[37]
-Luận văn thạc sĩ ”Đối tượng chứng minh trong các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng” của học viên cao học Nguyễn Chí Khuê - Học viên cao học khóa V đợt 1 năm
2014 Học viện khoa học xã hội.[19]
Ngoài ra còn có một số luận án tiến sỹ luật học, luận văn thạc sỹ của một sốtác giả khác cũng đã đề cập đến việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trongđiều tra vụ án hình sự và quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
Ở dạng sách tham khảo và chuyên khảo tác giả các tác giả sau đã có côngtrình nghiên cứu một cách rất công phu như:
Trang 9- "Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam" và "Một số vấn
đề về chứng minh trong tố tụng hình sự " của Tiến sĩ Trần Quang Tiệp, tạp chí kiểmsát số 9, 2003 [30]
- Tiến sỹ Đỗ Văn Đương - Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sựnăm 2006.[12]
- ”Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam” (Chương VI, mục 6) PGS.TS
Võ Khánh Vinh chủ biên trường Đại học Huế năm 2000.[33]
- ”Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của
Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục Bộ công an, Hà nội tháng 6/2004.[1]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể như sau:
- Xây dựng và làm rõ đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâmphạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác điều tra các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định, từ đó chỉ ra nhữngtồn tại, hạn chế liên quan đến đối tượng chứng minh trong điều tra các tộixâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và một số nguyên nhân cơ bản
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật vànâng cao hiệu quả của việc điều tra giải quyết các tội xâm phạm sở hữu cótính
Trang 10chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định Đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp về việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật TTHS.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 ĐỒÌ tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định ” (Trên cơ sở số liệu của Văn phòng Công an tỉnh Nam Định).
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề cần chứng minh trong các vụ án xâmphạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong điều tra các tội xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt Các tội xâm phạm sở hữu ở đây tác giả đềcập đó là xâm phạm tài sản của Nhà nước, của cá nhân và các tổ chức.Đối tượng cần chứng minh bao gồm nhiều vấn đề đó là: đối tượng chứngminh; nghĩa vụ chứng minh; quá trình chứng minh; phạm vi và giới hạnchứng minh, trong khuôn khổ luận văn tác giả không thể nghiên cứuchuyên sâu tất cả những vấn đề trên, do đó luận văn chỉ dừng lại ở góc độnghiên cứu dưới góc độ khoa học luật TTHS đối tượng chứng minh đượcquy định trong BLTTHS nói chung từ đó rút ra được đối tượng cần chứngminh trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt củaCQĐT Nghiên cứu những bất cập giữa lý luận và thực tiễn từ đó đề ranhững giải pháp khắc phục
- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vụ án xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt tài sản nằm trong Chương các tội xâm phạm
sở hữu của Bộ luật hình sự năm 2015 xảy ra trên địa bàn tỉnh Nam Định
và thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT các cấp thuộc Công an tỉnh NamĐịnh
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Những vụ án xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt xảy ra trên địa bàn nghiên cứu từ 01/12/2012 đến 30/11/ 2017
Trang 115 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cải cách tư pháp
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn được sử dụng bao gồm phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và trao đổi khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tế của luận văn
6.1 Ýnghĩa lý luận
Với kết quả đạt được của luận văn có thể đóng góp vào lý luận về chứng
cứ và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt dưới góc độ pháp luật TTHS và đưa ra cơ sở khoa họccủa việc hoàn thiện pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh trong các vụ ánxâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
6.2 Ýnghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác thựctiễn điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt để nâng cao hiệuquả áp dụng luật TTHS Ngoài ra luận văn có thể làm tài liệu tham khảo chonhững người làm công tác pháp luật, học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về đối tượng cần chứngminh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trongđiều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnhNam Định
Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng phápluật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu cótính chất chiếm đoạt của các Cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG
CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1.1 Khái niệm và đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các
vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.1 Khái niệm đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự
Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “Đối tượng” trên đây được hiểu là một danh từ chỉ người, vật, hiện tượng mà con người tác động tới, thuật ngữ “Chứng minh” là
một nhận thức suy luận để khẳng định tính chân lý của một luận điểm nào đó, bằngcách dựa vào tính chân lý đã được thực tiễn xác nhận Trong thực tiễn khi người tacần sự thật để chứng tỏ một vấn đề thật, giả thì người ta cần chứng minh Như vậy
khái niệm “Đối tượng cần chứng minh” là tổng hợp những vấn đề cần phải được xác
định làm rõ để giải quyết đúng đắn một sự việc nhất định
Thế giới khách quan là đối tượng nhận thức của con người nhằm chỉ ra đượcnhững quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy Tuy nhiên trong từng lĩnhvực hoạt động nhận thức có một đối tượng nhận thức riêng Hoạt động chứng minhtrong vụ án hình sự nói chung và trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung vụ án và các tình tiết có liênquan đến vụ án Mục đích cuối cùng của việc nhận thức này cũng chính là phục vụcho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt nói riêng, thực hiện công tác đấu tranh, phòng ngừa tộiphạm Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự nói chung là tổng hợp nhữngvấn đề mà các CQTHTT cần phải làm sáng tỏ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự,đấu tranh, phòng ngừa tội phạm
Trong mỗi vụ án hình sự khác nhau, thì đối tượng, phạm vi yêu cầu chứng minh
có sự khác nhau, tuy nhiên mọi tội phạm đều có những đặc điểm chung, quy luậtchung được khái quát những vấn đề chung nhất mà CQTHTT thường phải chứngminh trong bất kì vụ án nào Ví dụ: Có hành vi phạm tội xảy ra không, thời gian, địa
Trang 13điểm, những tình tiết khác nhau của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện tội phạm,
có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; người thực hiện hành vi nguy hiểm cónăng lực TNHShay không, mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ TNHScủa bị can, bị cáo; tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tộigây ra Trong luật TTHS còn quy định nội dung chứng minh có thể bao gồm nhữngtình tiết khác có liên quan đến vụ án, tùy thuộc vào từng tội phạm cụ thể Hoặcnhững chi tiết chỉ phải chứng minh khi phát sinh những hoạt động tố tụng có liênquan, ví dụ căn cứ biện pháp tạm giam, biện pháp ngăn chặn
Trong thực tế, vụ việc phạm tội xảy ra rất đa dạng và phong phú về tính chất,mức độ, hoàn cảnh.v.v tuy nhiên tất cả các tội phạm đều có bản chất chung và việcgiải quyết VAHS, xử lý tội phạm đều có những nguyên tắc chung nhất định, vì vậy ta
có thể rút ra được những vấn đề chung nhất mà khi giải quyết VAHS nào cũng phảichứng minh, đó là những vấn đề thuộc bản chất vụ án, những vấn đề liên quan đếnviệc xác định TNHScủa người phạm tội, đối tượng cần chứng minh này phải đượcquy định trong BLTTHS Ngoài ra, BLTTHS còn quy định phải chứng minh nhữngvấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn VAHS đó Những vấn đềluật TTHS quy định buộc phải chứng minh giống nhau theo quy định của luật TTHS,song những tình tiết cụ thể mà các tình tiết này cấu thành vấn đề chứng minh là khácnhau Ví dụ: Đối với vụ án cướp tài sản, tất cả vụ án đều phải chứng minh được hành
vi phạm tội đó là hành vi gì, tuy nhiên ở mỗi vụ án cướp tài sản khác nhau thì hành
vi đó là khác nhau, có thể là hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc đe dọa dùng vũlực
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, bên cạnh việc thực hiện các biện phápđiều tra theo quy định của pháp luật không chỉ nhằm phát hiện chính xác, nhanhchóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm,không làm oan người vô tội mà còn nhằm mục đích đấu tranh phòng, chống tộiphạm Do đó, trong quá trình điều tra, chứng minh vụ án hình sự, CQĐT phải làm rõnguyên nhân và điều kiện phạm tội Trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu cótính chất chiếm đoạt, CQĐT cần phải chứng minh thêm: Nguyên nhân dẫn đến hành
Trang 14vi chiếm đoạt tài sản của nạn nhân, do thiếu tiền tiêu xài hay do nguyên nhân khác;điều kiện phạm tội cần xác định xem tội phạm được thực hiện trong điều kiện hoàncảnh nào v.v tất cả các yếu tố chứng minh trên phục vụ cho mục đích phòng chống
và ngăn ngừa tội phạm mới xảy ra
Khi nghiên cứu khái niệm đối tượng cần chứng minh trong VAHS cho thấy,BLTTHS không nêu khái niệm đối tượng chứng minh mà chỉ nêu những vấn đề phảichứng minh trong VAHS Trong khoa học luật TTHS nhìn chung các nhà khoa học
có sự thống nhất về bản chất khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS, nhữngquan điểm về cách thức thể hiện có sự khác nhau, có ba quan điểm chủ yếu về đốitượng chứng minh như sau:
Quan điểm thứ nhất, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự
là tất cả các tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự ” [26Tr166].
Quan điểm thứ hai, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự
là tất cả các tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn khách quan, toàn diện vụ án hình sự” [15Tr87].
Quan điểm thứ ba, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự
là tổng hợp tất cả các tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và người phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn
vụ án hình sự ” [17].
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba vì nội hàm của khái niệm thể hiệnđược đầy đủ bản chất của đối tượng chứng minh trong VAHS và đã có phân biệt sựkiện với tình tiết vụ án
Trong VAHS, sự kiện chủ yếu (hay sự kiện quan trọng) của đối tượng cầnchứng minh ở đây chính là hành vi phạm tội và chủ thể thực hiện tội phạm, bởi nếukhông có yếu tố này thì sẽ không có căn cứ để khởi tố VAHS; những sự việc khác cómối quan hệ chặt chẽ với sự kiện chủ yếu của đối tượng chứng minh như lỗi của chủthể thực hiện tội phạm, hình thức lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ TNHScủa người phạm tội.v.v là những tình tiết của vụ án
Trang 15Trên cơ sơ phân tích về đối tượng chứng minh và sự tiếp thu những điểm hợp
lý, khắc phục sự hạn chế trong khái niệm đối tượng chứng minh của một số tác giả, dưới góc độ khoa học luật TTHS, chúng ta có thể rút ra khái niệm đầy đủ về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự như sau: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là tổng hợp tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết
mà những vấn đề này được luật TTHS quy định các cơ quan THTT phải làm rõ để xác định bản chất của vụ án và những nội dung khác có liên quan đến vụ án, trên cơ
sở đó các cơ quan THTT ra các quyết định phù hợp với quy định của luật hình sự, luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm [ 22]
1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
* Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015bao gồm: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tàisản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội chiếm giữtrái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tàisản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan tổ chức,doanh nghiệp
Như vậy: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”.
* Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nằm trong chương XVIphần các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 2015 với 08 Điều bao gồm: Điều 168tội cướp tài sản, Điều 169 tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 170 tội cưỡngđoạt tài sản, Điều 171 tội cướp giật tài sản, Điều 172 tội công nhiên chiếm đoạt tàisản, Điều 173 tội trộm cắp tài sản, Điều 174 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 175tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 16Từ những phân tích các khái niệm trên, có thể thấy các tội xâm phạm sở hữu có
tính chất chiếm đoạt có dấu hiệu riêng là dấu hiệu “Chiếm đoạt” hay còn gọi là dấu hiệu “Tư lợi”, dấu hiệu “Chiếm đoạt” ở đây là chiếm đoạt tài sản, so với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt hay còn gọi là “Không tư lợi” như các
tội: Tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố
ý làm hư hỏng tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước,
cơ quan tổ chức, doanh nghiệp
Từ phân tích khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nói chung, chúng ta có thể đưa ra khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt Trong đó chiếm đoạt là hành vi cố ý dịch chuyển trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình ”.[24]
1.1.3 Khái niệm điều tra vụ án hình sự
Dưới góc độ của luật TTHS thì điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn hoạtđộng của TTHS sự bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố VAHS đến khi lập bản kếtluận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra khi có đủ căn cứ theo quy địnhcủa luật TTHS Trong giai đoạn này, CQĐT có thẩm quyền có trách nhiệm tiến hànhcác hoạt động theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, làm rõ có haykhông có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những vấn đề khác
có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án
Trên cơ sở quy định của BLTTHS và thực tiễn hoạt động điều tra VAHS, khoa
học điều tra hình sự xác định: “ Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình trình tố tụng, do Cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm” Định nghĩa trên đã chỉ ra những điểm cơ bản nhất, phản ánh bản chất của hoạt động điều tra [14].
Trên cơ sở phát triển khái niệm điều tra VAHS của khoa học điều tra hình sự,
có thể xác định: “Điều tra vụ án hình sự về vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là hoạt động của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến
Trang 17hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS đối với những vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy
ra, đã được khởi tố nhằm mục đích chứng minh sự thật khách quan của vụ án theo yêu cầu pháp luật ”.
Như vậy đối tượng của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tínhchất chiếm đoạt là những vụ án hình sự về các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt đã xảy ra, đã được khởi tố Chủ thể của hoạt động điều tra vụ án hình sự
về các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là CQĐT và các cơ quanđược giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định về phân công, phân cấpđiều tra Hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS, quátrình điều tra, chủ thể điều tra được áp dụng các biện pháp theo quy định của phápluật để làm rõ sự thật vụ án Bản chất của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt là quá trình nhận thức, chứng minh sự thật khách quancủa vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra theo yêu cầu của phápluật
1.1.4 Khái niệm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Thông qua việc nghiên cứu khái niệm đối tượng cần chứng minh trong vụ ánhình sự nói chung, khái niệm các tội xâm phạm sở hữu và khái niệm các tội xâmphạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, ta có thể rút ra khái niệm đối tượng chứngminh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như sau:
Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là tổng hợp những sự kiện và các tình tiết của vụ án phải được CQĐT xác định bằng chứng cứ để giải quyết đúng đắn các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt.
1.1.5 Đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.1.5.1 Đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trang 18Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có các dấu hiệu đặc trưng sau:
- Các dấu hiệu về khách thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếmđoạt: Đối tượng tác động của tội phạm trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt là:
+ Đối với các tội: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tộicưỡng đoạt tài sản có khách thể được bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu
Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm phạm quan hệnhân thân đó Trong đó quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữunên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành viphạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành
+ Đối với các tội: Tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tộitrộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tàisản có khách thể là quan hệ sở hữu
Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm: Các tội xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác
và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lý của chủ sở hữu hoặc người quản lýtài sản Tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt có những đặc điểm riêng so với tài sản thuộc đối tượng tác động của cáctội phạm khác như tội: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiệnđiện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 Bộ luật hình sự 2015) Nhữngđặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là: + Tài sản phảiđược thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị vật chất cụ thể Tài sản thể hiện dướidạng phi vật chất như quyền sử dụng đất, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.Tài sản không có giá trị vật chất cụ thể như nguồn nước tự nhiên, sinh vật dưới biển,thú trong rừng thì không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu cótính chất chiếm đoạt Mặt khác tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu cótính chất chiếm đoạt phải có giá trị sử dụng Tài sản không có giá trị sử dụng nhưthuốc tân dược hết thời hạn sử dụng mang tiêu hủy, động vật chết đã đem chôn thìkhông phải là đối tượng của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trang 19+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạtphải có chủ sở hữu cụ thể Tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu
đã tự nguyện từ bỏ trước khi xảy ra hành vi chiếm đoạt thì không phải là đối tượngcủa các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cóthể có nhiều dạng khác nhau như những vật thể cụ thể, song cũng có thể là các giấy
tờ mà thông qua đó người phạm tội có thể nhận được một số tiền hoặc tài sản như:Phiếu gửi xe, giấy tờ ký gửi, cầm đồ tài sản, thẻ thanh toán
+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt lànhững tài sản thông thường có thể trao đổi, mua bán một cách hợp pháp
- Các dấu hiệu về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt: Để chiếm đoạt được tài sản thì tội phạm có các hành vi khách quan khácnhau, có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành
vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (đốivới tội cướp tài sản); hành vi bắt cóc con tin và hành vi đe dọa chủ tài sản (đối vớitội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc hành vi uyhiếp tinh thần người khác (đối với tội cưỡng đoạt tài sản); hành vi nhanh chóngchiếm đoạt (đối với tội cướp giật tài sản), hành vi công khai chiếm đoạt tài sản (đốivới tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản (đối với tộitrộm cắp tài sản) và hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản (đối với tội lừa đảochiếm đoạt tài sản)
- Các dấu hiệu về mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếmđoạt tài sản: Mục đích mà kẻ phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
là cố ý chiếm được tài sản Tức người phạm tội biết hành vi của mình nguy hiểm cho
xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện
Như đã trình bày trên, người thực hiện hành vi vi phạm các tội xâm phạm sởhữu có tính chiếm đoạt đều có ý thức chiếm đoạt Xuất phát từ khách thể được bảo
vệ mà hành vi khách quan của tội này không có dấu hiệu chiếm đoạt cho nên dấuhiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội Vì vậy dấu hiệu mục đích
Trang 20chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Đây là cơ
sở phân biệt các tội này với các tội khác do Bộ luật hình sự quy định có hành vikhách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này
- Các dấu hiệu về mặt chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếmđoạt tài sản: Chủ thể của tội phạm nói chung và của các tội xâm phạm sở hữu có tínhchất chiếm đoạt nói riêng là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưngkhông phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thể của tộiphạm mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới là chủ thể của tộiphạm
BLHS không quy định năng lực trách nhiệm hình sự là gì, mà chỉ quy địnhtình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) và tuổi chịu trách nhiệmhình sự (Điều 12) Từ quy định này, chúng ta có thể hiểu chủ thể của các tội xâmphạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải là người ở một độ tuổi nhất định và làngười nhận thức được và điều khiển được hành vi của mình
Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Theo Từ điển tiếng Việt,chiếm đoạt là chiếm của người làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế, ởkhái niệm này chiếm đoạt được xem là hành vi dùng vũ lực, quyền uy để lấy tài sảncủa người khác có chủ đích
1.1.5.2 Đặc điểm của hoạt động điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Thứ nhất, Điều tra vụ án hình sự về các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất
chiếm đoạt là quá trình chứng minh sự thật vụ án xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt đã xảy ra Quá trình điều tra, CQĐT có trách nhiệm làm rõ các nội dungthuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tínhchất chiếm đoạt
Thứ hai, Điều tra vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
đoạt phải làm rõ tài sản bị xâm hại Việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt
có ý nghĩa quan trọng trong xác định tội phạm cũng như định khung xử lý phù hợp
Trang 21với quy định của BLHS Mặt khác, làm rõ đặc điểm tài sản bị xâm hại còn có ý nghĩatrong việc truy tìm tài sản trong vụ án.
Ngoài việc xác định giá trị tài sản như trên, trong điều tra các vụ án hình sự vềcác tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn phải làm rõ chủ sở hữu, ngườiquản lý các tài sản bị chiếm đoạt tức là xác định người bị hại trong vụ án
Thứ ba, Trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, chủ
thể điều tra phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp trong đó chủ yếu là các hoạt độngtheo trình tự, thủ tục của luật TTHS
1.1.5.3 Đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trên cơ sở việc nghiên cứu đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu cótính chất chiếm đoạt và đặc điểm của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt thì đặc điểm của đối thượng cần chứng minh trong điều tracác vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là:
- Thứ nhất: Đối tượng chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở
hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau, mà mỗi
sự kiện, tình tiết nói riêng và tổng thể của chúng nói chung, đều phải được nghiêncứu, làm sáng tỏ một cách khách quan đầy đủ toàn diện và chính xác Hoạt độngchứng minh là hoạt động mà ở đó các chủ thể chứng minh sẽ sử dụng các phươngtiện để làm sáng tỏ sự thật khách quan, đúng đắn của vấn đề nào đó nhằm tìm rachân lý Như vậy, nếu hiểu theo cách này thì việc chứng minh trong TTHS là việc sửdụng phương tiện chứng minh để làm sáng tỏ tình tiết cả vụ án hình sự Hiểu cáchkhác, hoạt động chứng minh trong TTHS là việc xác định chứng cứ chứng minh tất
cả các sự kiện, các tình tiết có ý nghĩa
-Thứ hai: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở
hữu có tính chất chiếm đoạt mà luật TTHS quy định cần làm sáng tỏ là căn cứ để cácCQTHTT giải quyết đúng đắn vụ án và đề ra biện pháp phòng ngừa tội phạm Hành
vi phạm tội là hành vi trên thực tế đã xảy ra, hành vi đó các chủ thể tiến hành tố tụngchưa biết nhưng cần phải làm rõ và chứng minh, tất cả các hoạt động chứng minh
Trang 22đều nhằm mục đích làm rõ sự thật khách quan của VAHS, mục đích đó suy cho cùng
là nhằm giải quyết VAHS, chứng minh hành vi đó có phải tội phạm hay không để cócăn cứ khởi tố VAHS hoặc không khởi tố VAHS, chứng minh ai là người thực hiệnhành vi nguy hiểm, có lỗi hay không có lỗi, người đó có đủ năng lực chịu TNHSkhông để làm căn cứ khởi tố bị can, từ đó có các biện pháp giải quyết vụ án phù hợp
Ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, xác định đúng đối tượng là căn cứ xử lý đúng đắn
vụ án không những giai đoạn điều tra mà ở những giai đoạn tiếp theo như truy tố, xét
xử Nếu xác định sai đối tượng chứng minh sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sau
đó Việc xác định đúng đối tượng chứng minh và chứng minh đầy đủ những sự kiện,tình tiết cần thiết còn giúp cho việc nghiên cứu, phân tích từ đó đề ra các giải phápphòng ngừa tội phạm hiệu quả
- Thứ ba: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt là những sự kiện, tình tiết do CQTHTT phải làm sáng tỏ,những vấn đề chưa biết đó được quy định trong luật TTHS Mỗi vụ án hình sự xảy
ra, có rất nhiều sự việc và các tình tiết liên quan, đó là cơ sở để làm sáng tỏ sự thậtkhách quan của vụ án hình sự, cũng có những sự kiện, tình tiết mặc dù thực tế xảy ragắn liền với vụ án, cũng như không có giá trị làm căn cứ đường lối xử lý vụ án, hoặcgiúp giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan toàn diện Vì vậy, phải xác định
sự kiện, tình tiết nào CQTHTT cần chứng minh và sự kiện, tình tiết nào không cầnchứng minh là hết sức cần thiết, nhằm tránh việc chứng minh một cách không khoahọc, chứng minh tràn lan, chứng minh cả những vấn đề không cần thiết gây lãng phíthời gian, tiền bạc của Nhà nước
1.2 Phân loại đối tượng cần chứng minh và phương pháp chứng minh
1.2.1 Phân loại đối tượng chứng minh
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khác nhau về nhữngvấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Cách phân loại thứ nhất: Căn cứ vào vai trò của vấn đề phải chứng minh trongviệc xác định trách nhiệm pháp lý đối với người bị buộc tội, có thể phân chia thànhhai nhóm: nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội và nhóm những
Trang 23vấn đề chứng minh có tính chất gỡ tội Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tínhchất buộc tội bao gồm: Những dấu hiệu cấu thành tội phạm, hình thức lỗi, phươngthức, thủ đoạn phạm tội, những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bịcáo Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất gỡ tội bao gồm: có haykhông có tình tiết bác bỏ sự buộc tội đối với bị can, bị cáo, những tình tiết giảm nhẹTNHS, những tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự.v.v
Cách phân loại thứ hai: Căn cứ vào vị trí, ý nghĩa của những vấn đề phải chứngminh trong mối quan hệ với việc giải quyết vụ án có thể phân loại những vấn đề phảichứng minh trong VAHS thành: Những vấn đề phải chứng minh nằm trong các yếu
tố cấu thành tội phạm; Những vấn đề phải chứng minh nằm trong những tình tiết cóảnh hưởng đến TNHS và hình phạt; Nhóm tình tiết khác có giá trị chứng minh đốivới VAHS
& Những vấn đề cần chứng minh nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm
Những vấn đề cần chứng minh nằm trong yếu tố cấu thành tội phạm chính là chứngminh những vấn đề thuộc về mặt khách quan của tội phạm, khách thể của tội phạm,mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm Chứng minh vấn đề này là trảlời những vấn đề: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, đó là hành vi phạm tội gì,
do ai thực hiện tội phạm, người thực hiện tội phạm có lỗi hay không, có đủ năng lựcTNHS hay không.v.v
& Những vấn đề cần chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt
Những vấn đề cần chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đếnTNHS và hình phạt bao gồm chứng minh những vấn đề: Tính chất và mức độ củahành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ TNHS, các tình tiết tăng nặng TNHS; cáctình tiết miễn trách TNHS, miễn hình phạt; các tình tiết làm căn cứ loại trừ TNHS
& Những tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với vụ án hình sự
Những tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với VAHS là những tình tiếtkhông nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm, đồng thời cũng không ảnh hưởngđến TNHS và hình phạt nói chung, nhưng lại có giá trị chứng minh nhất định đối với
Trang 24VAHS Nếu chứng minh được các tình tiết đó sẽ giúp cho các CQTHTT giải quyết
vụ án đảm bảo đúng đắn, chính xác, khách quan và toàn diện
1.2.3 Phương tiện chứng minh
- Khái niệm phương tiện chứng minh
Có rất nhiều khái niệm về phương tiện chứng minh nhưng hiểu theo nghĩachung nhất và bao quát nhất là: Phương tiện chứng minh là những công cụ do phápluật quy định, các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết sự kiệncủa vụ án hình sự
- Đặc điểm phương tiện chứng minh
Phương tiện chứng minh trong VAHS chủ yếu thể hiện qua các giai đoạn điềutra, truy tố và xét xử VAHS, trong đó các CQTHTT áp dụng mọi biện pháp hợp pháp
để thu thập chứng cứ, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ ánmột cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Mỗi tài liệu được coi là chứng cứ chỉ cógiá trị chứng minh khi bảo đảm được tính hợp pháp của nó, tức là cơ quan tiến hành
tố tụng khi thu thập chứng cứ đều phải theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật quyđịnh Ở giai đoạn nào phải do pháp luật tố tụng quy định và điều chỉnh về trình tựthu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ ở giai đoạn đó, chứng cứ mới có giátrị chứng minh
Trang 251.3 Ý nghĩa của đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Việc xác định đúng và đầy đủ đối tượng cần chứng minh trên phương diện lýluận và thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trên c ả lĩnh vực xây dựng, hoàn thiện phápluật cũng như áp dụng pháp luật TTHS nói chung và quy định luật TTHS nói riêng
1.3.1 Ý nghĩa trong lĩnh vực xây dựng pháp luật TTHS
Việc xác định đúng và đủ đối tượng cần chứng minh có ý nghĩa trong côngtác xây dựng pháp luật TTHS thể hiện ở chỗ: Đây là cơ sở để các cơ quan xây dựngpháp luật đưa vào nội dung quy định của luật TTHS một cách đầy đủ những vấn đềphải chứng minh trong quá trình tố tụng vụ án hình sự, đó là cơ sở pháp lý choCQTHTT, NTHTT nhận thức một cách đầy đủ và thống nhất về đối tượng chứngminh, giúp cho việc giải quyết vụ án một cách đầy đủ, toàn diện, đạt chất lượng tốt
và đảm bảo pháp chế
Như vậy, trên lĩnh vực xây dựng pháp luật việc xác định đúng đối tượng cầnchứng minh trong vụ án hình sự có ý nghĩa để các cơ quan lập pháp hoàn thiện quyđịnh của luật TTHS, đảm bảo cho việc quy định trong pháp luật được đầy đủ, cólôgic, khoa học, thể hiện sự thống nhất toàn diện của tất cả các vấn đề cần chứngminh trong vụ án hình sự, cũng như tạo cơ sở pháp lý nhận thức của các CQTHTT vềđối tượng chứng minh
1.3.2 Ý nghĩa trong lĩnh vực áp dụng pháp luật TTHS
Việc xây dựng pháp luật để quản lý tốt là điều quan trọng tuy nhiên pháp luậtchỉ phát huy tác dụng quản lý khi pháp luật được áp dụng vào thực tiễn Xây dựngđược quy định đối tượng cần chứng minh là cơ sở để áp dụng vào thực tiễn, tronglĩnh vực áp dụng pháp luật TTHS hay cụ thể hơn là trong áp dụng giải quyết vụ ánhình sự, việc xác định đúng, đủ những vấn đề cần phải chứng minh và vai trò củatừng vấn đề có ý nghĩa như sau:
- Xác định đúng những vấn đề phải chứng minh hay còn gọi là đối tượng cầnchứng minh trong vụ án hình sự giúp cho các CQTHTT có phương hướng, kế hoạchđiều tra phù hợp, nhằm giải quyết vụ án một cách đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời,
Trang 26giảm chi phí về tiền của, không vi phạm về thời gian điều tra Việc nắm rõ nhữngquy định của luật TTHS về những vấn đề phải chứng minh giúp cho NTHTT,CQTHTT đánh giá được tính chất, hoàn cảnh cụ thể của từng vụ án, để xác địnhđược cần chứng minh những vấn đề gì, từ đó thu thập những chứng cứ phù hợp vớitừng vụ án cụ thể Việc chứng minh phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật, bởinguyên tắc pháp chế yêu cầu phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt
để, việc quy định tại pháp luật cũng có ý nghĩa định hướng cho CQTHTT phải làm gìtrước mỗi vụ án khi mà lượng thông tin cần làm sáng tỏ vụ án là rất nhiều, chứng cứcần thu thập là rất lớn
Trường hợp xác định không đúng đối cần tượng chứng minh hoặc xác địnhkhông đầy đủ đối tượng cần chứng minh sẽ dẫn đến giải quyết vụ án hình sự thiếukhách quan, không đúng quy định của pháp luật, từ đó dẫn đến tình trạng làm oanngười vô tội, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm quyềncon người hoặc bỏ lọt tội phạm Gây ra nhiều thiệt hại về vật chất và phí phạm thờigian khi các CQTHTT thực hiện các hoạt động tố tụng mà không hiệu quả như: trả
hồ sơ, điều tra bổ sung, hủy kết luận điều tra, xử lý oan sai.v.v
1.4 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.4.1 Cơ sở của quy định đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ
án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Việc quy định đối tượng chứng minh dựa trên cơ sở phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng Phép biện chứng Mác - xít đã chỉ ra rằng, thế giới loàingười đang tồn tại, sinh sống là thế giới vật chất, thế giới vật chất tồn tại độc lập với
ý thức con người, con người dù muốn hay không thì nó vẫn tồn tại, thuộc tính củavật chất là thuộc tính phản ánh, thuộc tính đó phản ánh vào trong bộ não người hìnhthành nên ý thức, có nghĩa là con người có khả năng nhận thức được thế giới đó, mọi
sự kiện, vấn đề xảy ra và tồn tại trên thế giới này con người dù sớm hay muộn cũng
sẽ nhận thức được Do đó, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
Trang 27-Lênin, mọi sự kiện đã xảy ra thì con người có khả năng nhận thức được, một hành viphạm tội diễn ra, CQTHTT có thể áp dụng các biện pháp, phương tiện của mình đểxác định sự việc đó diễn ra như thế nào, các tình tiết ra sao, có thể tái hiện lại trong ýthức con người các tình tiết đó Việc nhận thức được các tình tiết, sự kiện đã xảy ratrong một vụ án là vô cùng cần thiết, quyết định đến việc xử lý đúng đắn vụ án hình
sự, vì thế, đối với mỗi vụ án hình sự xảy ra, ta phải nhận thức được tất cả những vấn
đề có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ án
Trên lĩnh vực lập pháp, luật hình sự, luật TTHS, các nhà lập pháp không thểliệt kê tất cả những vấn để phải chứng minh trong mỗi tội phạm cụ thể Để khắc phụcnhững quan điểm sai lầm trên, thống nhất về mặt nhận thức và cũng là yêu cầu bắtbuộc trong chứng minh vụ án hình sự, khoa học luật hình sự, luật TTHS phải nghiêncứu, khái quát được đối tượng cần chứng minh chung trong vụ án hình sự bao gồmnhững gì để các cơ quan áp dụng pháp luật trong quá trình chứng minh căn cứ vào
đó thực hiện nhiệm vụ chứng minh
Để xác định được những vấn đề phải chứng minh bao gồm những gì thì cơquan lập pháp dựa vào căn cứ pháp lý đó là:
Thứ nhất: Căn cứ pháp lý thuộc quy định cấu thành tội phạm được quy định
trong BLHS, dựa vào đó các cơ quan xây dựng pháp luật quy định những vấn đềphải chứng minh bao gồm: Khách thể tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủthể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm
Thứ hai: Các quy định về xác định trách nhiệm hình sự, căn cứ áp dụng hình
phạt được quy định trong luật hình sự là căn cứ để cho cơ quan xây dựng pháp luậtquy định đối tượng cần chứng minh gồm: Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng tráchnhiệm hình sự, những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệmhình sự, miễn hình phạt.v.v
Thứ ba: Những quy định khác trong luật hình sự, luật TTHS về đối tượng cần
chứng minh nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, đây là quy định mở, bởivới mỗi vụ án khác nhau, những vấn đề phải chứng minh là khác nhau, việc quy định
Trang 28như vậy giúp cho CQTHTT có sự áp dụng sát với thực tiễn xảy ra của các vụ án, dopháp luật không thể liệt kê hết tất cả các vấn đề phải chứng minh.
1.4.2 Quy định của pháp luật TTHS về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.4.2.1 Quy định của pháp luật TTHS về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ năm 1945 đến trước năm 1988
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, đất nước ta giành được độc lập, giai đoạn nàynhiệm vụ cấp bách là bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền mới thành lập, bảo vệ nhândân Ngày 21/02/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23 - SL thống nhất cáclực lượng Liêm phong, Cảnh sát, Trinh sát, Quốc gia tự vệ trong toàn quốc thành “Việt Nam Công an vụ” sau đổi tên thành Thứ Bộ Công an rồi Bộ Công an Nhiệm vụđiều tra vụ án hình sự được giao cho lực lượng Công an Giai đoạn này do tình hìnhcấp bách của đất nước, chưa có điều kiện ban hành Bộ luật TTHS, do đó các sắc lệnhđược Nhà nước ban hành nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu trước mắt Sắc lệnh số 33 -
SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946, trong đó lần đầu tiên ghi nhậnmột số nguyên tắc cơ bản của TTHS, xác định chức năng nhiệm vụ và quyền hạn củacác CQTHTT, trong đó có quy định thủ tục tiến hành điều tra vụ án hình sự Việcchứng minh vụ án hình sự thông qua chế định chứng cứ, chứng cứ được ghi nhận ởnhiều văn bản quy phạm pháp luật TTHS nhưng mới chỉ xem xét ở một khía cạnhnhất định, chưa có quy định về chứng minh và đối tượng chứng minh Điều 9 Nghịđịnh số 82/NĐ ngày 25/2/1946 của Bộ tư pháp ấn định chi tiết áp dụng Sắc lệnh số21/SL ngày 14/2/1946 về tổ chức lại các Tòa án quân sự chỉ đề cập việc thu thậpchứng cứ
Tuy nhiên, pháp luật TTHS ở giai đoạn này còn hạn chế ở chỗ việc điều tra vụ
án hình sự chưa được quy định riêng Các toà án binh đảm nhiệm cả việc điều tra,truy tố, xét xử, thậm chí là thi hành án, giáo dục và cải tạo phạm nhân Do đó có thểnói, vấn đề đối tượng chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tínhchất chiếm đoạt thời kỳ này chưa được đề cập cụ thể Vào những năm 80 của thế kỷ
XX, cùng với sự phát triển của khoa học luật TTHS, khái niệm chứng cứ đã bắt đầu
Trang 29xuất hiện trong các sách báo pháp lý, là tiền đề cho quy định của BLTTHS ra đời sauđó.
1.4.2.2 Quy định của BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
BLTTHS năm 1988 là BLTTHS đầu tiên của nước ta, BLTTHS năm 1998 tiếptục ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của các quy phạm pháp luật TTHS trước đó,ngoài ra còn bổ sung các nguyên tắc mới, quy định mới nhằm đảm bảo hoạt độngchứng minh trong vụ án hình sự được thuận lợi, phù hợp với xu thế phát triển mớicủa xã hội Trong đó BLTTHS năm 1988 dành hẳn một chương để quy định vềchứng cứ, trong đó cũng quy định các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình
sự, quy định về chứng cứ, trình tự, thủ tục để thu thập chứng cứ Trong Bộ luật đãquy định rõ những gì là chứng cứ và nguồn của chứng cứ để CQĐT lấy đó làm căn
cứ thực hiện chứng minh vụ án BLTTHS năm 1988 cũng đã quy định thẩm quyềnđiều tra của CQĐT, do đó chủ thể chứng minh được xác định rõ ràng
Cụ thể, tại Điều 47 BLTTHS năm 1988 quy định những vấn đề phải chứngminh trong vụ án hình sự Theo đó, đối tượng chứng minh tại điều luật bao gồmnhững vấn đề sau:
Phải chứng minh được những vấn đề thuộc cấu thành tội phạm như: có hành
vi phạm tội xảy ra không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành viphạm tội, ai là người thực hiện tội phạm, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý,
có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, động cơ, mục đích phạm tội
Như vậy, về cơ bản, BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 đều quy định
cụ thể những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Những vấn đề cần phảichứng minh đó bao gồm: Những tình tiết thuộc yếu tố cấu thành tội phạm, nhữngtình tiết xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị can, bị cáo và nhữngvấn đề khác phải chứng minh trong vụ án hình sự
1.4.2.3 Quy định của BLTTHS 2015 về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trang 30BLTTHS không có Điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minhtrong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, tuy nhiên căn cứnhững vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 85 BLTTHSnăm 2015 và quy định về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại Điều
168, Điều 169, Điều 170, Điều 171, Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 175 BLHSnăm 2015, thì CQĐT có thể căn cứ vào đó để xác định những vấn đề phải chứngminh khi điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
*) Những vấn đề phải chứng minh nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm.
- Chứng minh mặt khách quan và khách thể của tội phạm
Khoản 1 Điều 85 quy định vấn đề đầu tiên phải chứng minh trong vụ án hình
sự đó là: “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tìnhtiết khác của hành vi phạm tội” Đối chiếu với quy định cấu thành tội phạm, việc quyđịnh chứng minh những vấn đề này chính là quy định chứng minh mặt khách quan
và chứng minh khách thể của tội phạm
“Mặt khách quan của tội phạm là mặt biểu hiện bên ngoài của tội phạm Lànhững biểu hiện của tội phạm ra thế giới khách quan, bao gồm: hành vi nguy hiểmcho xã hội (hành động và không hành động), hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mốiquan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây
ra, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội, công cụ, thủ đoạn, phương tiện phạmtội”
Trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì việcchứng minh hậu quả thiệt hại về mặt tài sản và quan hệ nhân thân là yếu tố bắt buộctrong cấu thành tội phạm, đây là căn cứ định tội danh, định khung hình phạt Quátrình điều tra phải chứng minh được tài sản chiếm đoạt có giá trị là bao nhiêu, đốivới tài sản là tiền mặt thì có thể dễ dàng xác định, tuy nhiên đối với những tài sảnkhác như đồ vật, phương tiện, cổ vật có giá trị thì phải tiến hành định giá mới xácđịnh được mức độ thiệt hại Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếmđoạt nói chung, nếu CQĐT không chứng minh được giá trị tài sản bị thiệt hại là baonhiêu và quan hệ nhân thân bị xâm phạm như thế nào thì không thể kết luận người
Trang 31đó phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như: Tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội trộm cắp tài sản
Chứng minh được thời gian, địa điểm, hoàn cảnh xảy ra hành vi xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt Mọi hành vi đều được diễn ra vào một thời gian nhấtđịnh, địa điểm ở đâu, hoàn cảnh như thế nào Do đó, pháp luật TTHS quyết địnhtrong quá trình điều tra, CQĐT phải xác định hành vi xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt xảy ra khi nào, từ thời điểm nào đến thời điểm nào, từ mấy giờ đến mấygiờ thì chấm dứt, gắn với địa điểm xảy ra hành vi phạm tội Địa điểm xảy ra hành viphạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định được thẩm quyền giải quyết vụ
án, bởi thông thường vụ án xảy ra trên địa bàn nào thì thuộc thẩm quyền điều tra củaCQĐT trên địa bàn đó
Chứng minh công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn tội phạm đã thựchiện để xâm phạm quan hệ sở hữu, quan hệ nhân thân Ngoài việc xác định hành viphạm tội thời gian địa điểm và hoàn cảnh gây án, theo quy định tại BLTTHS, CQĐTcũng phải chứng minh những tình tiết khác của hành vi phạm tội Đối với các tộixâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, CQĐT phải chứng minh người thực hiệnhành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã thực hiện bằng công cụ,phương tiện gì, thủ đoạn ra sao để phạm tội Đó có thể là nhiều công cụ, phương tiệnkhác nhau tùy thuộc vào từng vụ án, từng tội cụ thể, phổ biến trong thực tế là đốitượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường đưa ra thông tin giả bằng lời nói, nóimình là người nhà của nạn nhân khiến cho nạn nhân tin rằng đó là thật , đối với tộicướp tài sản người phạm tội thường dùng hung khí để đe dọa uy hiếp tinh thần củanạn nhân, đối với tội cướp giật tài sản người phạm tội thường dùng xe mô tô đểnhanh chóng tẩu thoát
Trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, việc chứng minhphương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội còn làm căn cứ định khung hình phạtđối với người phạm tội Nó là cấu thành bắt buộc như tại khoản 2 Điều 168, Điều
169, Điều 171 đó là: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, Điều 174 Bộ luật hình sự: “Có tính chất chuyên nghiệp”, “ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa
Trang 32cơ quan, tổ chức”, “ Dùng thủ đoạn xảo quyệt” CQĐT trong quá trình điều tra phải
chứng minh làm rõ các vấn đề trên
“ Khách thể của các tội là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ
và bị tội phạm xâm hại ” [33Tr131] Tuy nhiên quan hệ nhân thân không phải ở tất
cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt mà chỉ xuất hiện trong một sốtội đó là: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tàisản
- Chứng minh chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm
Khoản 2 Điều 85 BLTTHS năm 2015 quy định vấn đề phải chứng minh tiếptheo trong vụ án hình sự đó là: “Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi haykhông có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mụcđích, động cơ phạm tội” Có thể thấy đây là những yếu tố thuộc mặt chủ quan và chủthể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chủ thể của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt luôn làcon người cụ thể, có thể một người hoặc nhiều người Để chứng minh người phạmcác tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì CQĐT phải chứng minh người
đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo quy định Căn cứ vào quyđịnh tại Điều 12 BLHS năm 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thì có thể kếtluận rằng người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quyđịnh như sau:
+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2015 thì: Người từ đủ 16 tuổitrở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộluật này có quy định khác
+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 thì: Người từ đủ 14 tuổiđến dưới 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tộiđặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144,
150, 151, 168, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,
290, 299, 303, và 304 của Bộ luật này
Trang 33Như vậy theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 thì đốivới các tội: Trộm cắp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tínnhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản thì chủ thể của những tội này làngười từ đủ 16 tuổi trở lên Đối với các tội: Cướp tài sản thì chủ thể của tội này làngười từ đủ 14 tuổi trở lên.
Người phạm tội không rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình
sự, cụ thể là người đó khi thực hiện hành vi phạm tội không phải người trực tiếp thựchiện mà có vai trò chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu trong vụ án có đồng phạm Việc chứngminh chủ thể trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản làđiều bắt buộc, bởi hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải gắn vớimột con người cụ thể, không có người phạm tội thì không có tội phạm
Trong các quy định về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cóquy định các dấu hiệu “Đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt” hoặc “ đã bịkết án về tội này hoặc các tội quy định tại điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174,
175 là những tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu “Chiếm đoạt” và Điều 290 của Bộluật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Khi chứng minh, CQĐT cũng phảilàm rõ các dấu hiệu này, đây là những dấu hiệu thuộc về nhân thân người phạm tội
Người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có lỗi haykhông có lỗi Như chúng ta đã biết lỗi là trạng thái tâm lý của người thực hiện hành
vi nguy hiểm do đó người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạtthực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biết rõ hành vi chiếm đoạttài sản bằng các thủ đoạn như lén lút, gian dối, dùng vũ lực mà mình thực hiện lànguy hiểm cho xã hội và mong nó xảy ra
Mục đích, động cơ phạm tội Mục đích là cái cần đạt được sau khi thực hiệntội phạm Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì mục đích
đó là chiếm đoạt được tài sản của người khác Động cơ phạm tội là cái bên trongthúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, đối với các vụ án xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt thì đó chính là lòng ham muốn được sở hữu tài sản một
Trang 34cách không chính đáng Khi chứng minh, cần lưu ý mục đích của việc xâm phạm sởhữu là để chiếm đoạt chứ không phải mục đích khác.
*) Những vấn đề phải chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt
- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can bị cáo (Khoản 3 Điều 85 BLTTHS năm 2015):
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết xảy ra có ảnh hưởng đếntính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, khiến cho hành vi phạm tội trởnên ít nguy hiểm hơn Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tàisản, cũng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51BLHS năm 2015, ví dụ như: người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã tự nguyệnbồi thường, khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêmtrọng Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết khiến cho hành viphạm tội trở nên nguy hiểm hơn, đó là những tình tiết được quy định tại Điều 52BLHS năm 2015, như: Phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, lợidụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác đểphạm tội, tái phạm nguy hiểm, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai,người đủ 70 tuổi trở lên, lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, lợidụng thiên tai, dịch bệnh Luật hình sự cũng quy định những tình tiết đã áp dụng đểđịnh khung thì không áp dụng là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, cụ thể các tội: Trộmcắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tộilạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội bắt cóc nhằmchiếm đoạt tài sản thì không đặt vấn đề phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chấtchuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bởi
nó được áp dụng để định khung hình phạt tại khoản 2 hoặc khoản 3 của các tội này
- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra (Khoản 4 Điều 85 BLTTHS năm 2015): Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt gây thiệt hại
đối với quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, cụ thể là tài sản, lợi ích vật chất của
Trang 35nạn nhân bị xâm phạm, sức khỏe nạn nhân như thế nào CQĐT phải chứng minhđược mức độ thiệt hại của mình vì hành vi chiếm đoạt, thiệt hại đã gây ra là baonhiêu để làm căn cứ để xác định tội danh và căn cứ định khung hình phạt áp dụngđối với từng tội phạm Đối với các tội có cấu thành vật chất như tội: Công nhiênchiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụngtín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nếu tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng
và không thuộc các điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 172, Điều 173, Điều 174 hoặc dưới4.000.000 đồng không thuộc các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS năm
2015 thì người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt không bị xử
lý hình sự mà chỉ có thể xử lý hành chính Tùy theo giá trị tài sản thực tế đã bị chiếmđoạt mà người thực hiện hành vi bị xử lý ở khung nào Việc chứng minh thuộc vềCQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền, ví dụ: tài sản bị chiếm đoạt là cổvật, giấy tờ có giá thì CQĐT phải tiến hành định giá theo thủ tục để xác định giá trị.Khi xác định chính xác giá trị tài sản thì mới có hướng xử lý tiếp theo vụ án
- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội (Khoản 5 Điều 85 BLTTHS năm 2015):
Đây là điểm mới trong quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự,nguyên nhân và điều kiện phạm tội phần lớn không là yếu tố bắt buộc trong cấuthành tội phạm cụ thể nhưng nó có ý nghĩa cho việc xác định đường lối xử lý vụ ánmột cách đúng đắn, có ý nghĩa trong công tác phòng ngừa tội phạm
- Những tình tiết liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (Khoản 6 Điều 85 BLTTHS năm 2015): Loại trừ trách
nhiệm hình sự là một chế định lớn được quy định tại Chương IV phần: Những quyđịnh chung của BLHS, theo đó người thực hiện hành vi nguy hiểm trong nhữngtrường hợp: sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự,phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạmtội, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và côngnghệ, thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên, bởi những trường hợpnày không được xem là có lỗi
Trang 36Người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt sẽ đượcmiễn trách nhiệm hình sự khi có các căn cứ quy định tại Điều 29 BLHS 2015 Tuynhiên, qua nghiên cứu, đối với tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, CQĐT
có căn cứ để xác định người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi:
+ Khi tiến hành điều tra, người phạm tội bị mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đếnkhông còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa
+ Người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã tự thú,khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào công tác điều tra khám phá tội phạm, cốgắng hạn chế đến mức thấp nhất của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặcbiệt, được nhà nước và xã hội thừa nhận
Người phạm tội được miễn hình phạt khi có các căn cứ được quy định tạikhoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưađến mức miễn trách nhiệm hình sự
*) Nhóm tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với vụ án hình sự
- Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với sự giải quyết vụ án hình sự Trong trường hợp vụ án hình sự giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (Điều
30 BLTTHS năm 2015): Như vậy, ở điều luật đã gián tiếp quy định CQTHTT trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự phải chứng minh các tình tiết có liên quan đến vấn
đề bồi thường, bồi hoàn dân sự trong vụ án hình sự Trong các vụ án xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt, vấn đề bồi thường thiệt hại thường đặt ra, do ngườiphạm tội gây thiệt hại về tài sản cho người khác, một tình tiết phổ biến đó là CQĐTphải chứng minh được người phạm tội phải bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội
sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc đảm bảo thi hành án, cơ quan, NTHTT trong phạm vi của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh (Điều 109 BLTTHS năm
Trang 372015): Như vậy, trong trường hợp này CQĐT phải chứng minh được người phạm
các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có khả năng gây khó khăn chocông tác điều tra, truy tố.v.v để áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo luật định Tuynhiên cũng cần chú ý những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam đối vớiphụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bịbệnh nặng mà những người này có nơi cư trú và lai lịch rõ ràng và họ không bỏ chốnhoặc tiếp tục phạm tội hoặc có những căn cứ khác quy định tại Khoản 4 Điều 119BLTTHS năm 2015 quy định về tạm giam Những người này có thể áp dụng biệnpháp ngăn chặn khác
- Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ
án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời câu hỏi đặt ra (Điều 91 BLTTHS năm 2015):
Rõ ràng với quy định như vậy thì một trong những vấn đề CQĐT phải chứng minhtrong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là khi sử dụnglời khai của người làm chứng phải chứng minh được mối quan hệ giữa người làmchứng với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng khác
Đối với hành các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra đãlâu thì CQĐT khi tiến hành điều tra phải căn cứ vào quy định tại Điều 157 BLTTHSnăm 2015 quy định căn cứ không khởi tố vụ án hình sự khi hết thời hiệu truy cứutrách nhiệm hình sự, nhiệm vụ của CQĐT là chứng minh vụ án đó còn thời hiệu truycứu trách nhiệm hình sự hay không Nếu các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chấtchiếm đoạt tài sản phạm tội ít nghiêm trọng tức là thuộc khoản 1 các Điều 172, Điều
173, Điều 174, Điều 175 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm, nếucác hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phạm tội nghiêm trọng tức làthuộc khoản 1 Điều 168, Điều 169, Điều 170, Điều 171 thì thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự là 10 năm, quá thời gian trên, không được khởi tố vụ án hình sự, vụ ánnếu đã khởi tố phải đình chỉ
Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản do ngườidưới 18 tuổi thực hiện tội phạm thì CQĐT trong quá trình điều tra phải thu thập
Trang 38chứng cứ chứng minh thêm những vấn đề được quy định tại Điều 416 BLTTHS năm
2015, trong đó quy định, những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối vớingười bị buộc tội là người dưới 18 tuổi BLTTHS năm 2003 sử dụng thuật ngữ ngườichưa thành niên để chỉ những người dưới 18 tuổi, tuy nhiên tại BLTTHS năm 2015thống nhất sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” để đảm bảo tính thống nhất vàchính xác Đối với người dưới 18 tuổi, BLTTHS năm 2015 dành riêng một chương
để quy định về thủ tục tố tụng đối với đối tượng này Có thể thấy, chính sách phápluật của Nhà nước ngày càng quan tâm đến thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước.Người chưa thành niên có những đặc điểm tâm sinh lý riêng, điều đó có ảnh hưởnglớn đến việc phạm tội của đối tượng này nói chung cũng như các hành vi xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng cho nên quy định về nguyên tắc tố tụng đốivới người dưới 18 tuổi trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếmđoạt cũng có nhiều khác biệt
Theo quy định tại Điều 416 BLTTHS năm 2015, quá trình chứng minh trongđiều tra vụ án hình sự, cụ thể là các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạtđối với người phạm tội dưới 18 tuổi CQĐT ngoài những vấn đề phải chứng minhđược quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, thì cần phải chứng minh thêm nhữngvấn đề sau:
Tuổi của người dưới 18 tuổi Việc xác định đúng tuổi có ý nghĩa rất quantrọng trong việc xác định sự thật vụ án, người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu cótính chất chiếm đoạt có cấu thành tội phạm hay không Từ đó có đường lối đúng đắn
xử lý hình sự Theo quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHSnăm 2015 thì:
+ Người thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cụthể các hành vi: Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tàisản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạttài sản chưa đủ 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 16 tuổitrở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội: Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài
Trang 39sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
+ Người thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cụthể các hành vi: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa đủ 14 tuổi thìkhông phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu tráchnhiệm hình sự về các tội: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Do đó, CQĐT phải chứng minh được tuổi của người phạm tội Việc xác địnhtuổi người bị buộc tội thì CQĐT phải căn cứ vào các quy định của pháp luật, dựa vàonhững giấy tờ tùy thân như: giấy chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, chứng minhthư nhân dân, sổ hộ khẩu Nếu trường hợp đã áp dụng các biện pháp theo luật định
mà vẫn không xác định được ngày tháng năm sinh thì ngày tháng năm sinh được xácđịnh căn cứ theo khoản 2 điều 417 BLTTHS: Trường hợp xác định được tháng nhưngkhông xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngàycuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xácđịnh được nửa của năm nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuốicùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xácđịnh được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng củatháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp không xác địnhđược năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi
Có hay không có người trên 18 tuổi xúi giục Do tâm sinh lý người dưới 18tuổi thường phát triển chưa hoàn thiện, dễ bị kích động, lôi kéo, dễ nghe lời ngườikhác để thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cho nên Cơquan điều tra cần chứng minh được vụ án có sự tham gia của người thành niên haykhông làm cơ sở để truy tố, xét xử đúng người, đúng tội
Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội Trong giai đoạn điều tra các vụ
án phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đối với người đủ 18 tuổi cũngphải chứng minh nguyên nhân điều kiện phạm tội nhưng ở góc độ khác, đối vớingười dưới 18 tuổi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt do có
Trang 40những đặc điểm tâm sinh lý khác nên nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tộicủa những người này
Những nhận thức được trình bày ở Chương 1 là cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt của CQĐT các cấp trong Công an tỉnh Nam Định trong 05 năm qua, từ năm 2013 đến năm 2017