1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định

84 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 813,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng cần chứng minh bao gồm nhiều vấn đề đó là: đối tượng chứng minh; nghĩa vụ chứng minh; quá trình chứng minh; phạm vi và giới hạn chứng minh, trong khuôn khổ luận văn tác giả khô

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ VIẾT CHINH

ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN

XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT

TỪ THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự

Mã số : 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN MINH ĐỨC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi Kết quả luận văn là sự học tập,

cố gắng nỗ lực của bản thân Vậy tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám đốc Học viện khoa học xã hội cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả của TS Nguyễn Minh Đức, những định hướng của thầy quyết định đến sự thành công của luận văn Những kết quả đã đạt được trong luận văn ngoài sự nỗ lực, cố gắng nghiên cứu của bản thân tác giả, còn có sự kế thừa, tổng hợp tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước Tuy nhiên do điều kiện nghiên cứu, trình độ của bản thân còn hạn chế nhất định nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tác giả luận văn mong được sự giúp

đỡ và góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNGCẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠMSỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 7

1.1 Khái niệm và đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 7 1.2 Phân loại đối tượng cần chứng minh và phương pháp chứng minh 12 1.3 Ý nghĩa của đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm

sở hữu có tính chất chiếm đoạt 17 1.4 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 20

Chương 2.THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINHTRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 36

2.1 Tình hình, đặc điểm, kinh tế xã hội, tổ chức bộ máy của các cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Nam Định 36 2.2 Những kết quả đạt được về việc xác định đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định thời gian qua (2013 - 2017) 39 2.3 Nguyên nhân của những hạn chế về xác định đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định 57

Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT CỦA CÁC CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 62

3.1 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 62 3.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 63

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra CQĐT Cơ quan điều tra

CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng CQANĐT Cơ quan an ninh điều tra

NTHTT Người tiến hành tố tụng TAND Tòa án nhân dân

TNHS Trách nhiệm hình sự VAHS Vụ án hình sự

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình thực hiện công cuộc đổi mới hơn hai thập kỷ qua, Đảng, Nhà nước

và nhân dân ta không ngừng phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng Đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã thu được nhiều thành tựu to lớn trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nam Định có vị trí thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với tỉnh Thái Bình

ở phía Đông Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 100 km về phía Bắc, có diện tích 1.652,29 km² Theo điều tra dân số ngày 01/04/2014 Nam Định có 1,805,771 người với mật độ dân số 1,196 người/km² Nam Định có 10 đơn vị hành chính cấp huyện là thành phố Nam Định và 9 huyện là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Ý Yên, Vụ Bản, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Mĩ Lộc, trong đó có một thành phố loại một là thành phố Nam Định và 3 huyện duyên hải thuộc Vịnh Bắc

Bộ là Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng Người dân Nam Định chủ yếu là người Kinh, người theo đạo thiên chúa giáo khoảng 23% Sau khi được tái thành lập, Nam Định đã có những bước chuyển mình đáng khích lệ, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra nhanh trên phạm vi rộng, các khu công nghiệp được hình thành

đã thu hút nhiều lao động tạo điều kiện thuậnlợi để tỉnh Nam Định phát triển mọi mặt cả về kinh tế, văn hóa và xã hội

Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền, công tác phòng ngừa tội phạm ở Nam Định đã đạt được kết quả đáng kể, an ninh chính trị được giữ ổn định, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tích cực Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Nam Định cũng gặp phải nhữngkhó

Trang 7

khăn nhất định, như dân cư nhiều thành phần, trật tự xã hội diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm hoạt động với thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó kiểm soát Các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định vẫn diễn ra, thậm chí còn có một số tội phạm tiếp tục phát sinh và phức tạp như tội: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Tội trộm cắp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gây ra nhiều thiệt hại cho cá nhân, các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp và nhân dân, từ đó đã ảnh hưởng đến

sự phát triển kinh tế của đất nước Bên cạnh đó công tác điều tra khám phá tội phạm của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập, chưa có sự phối hợp cần thiết giữa các lực lượng tiến hành, sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân còn hạn chế Tỷ lệ các

vụ án được phát hiện thấp, tiến trình điều tra chậm, đề nghị xử lý bắt hình sự chưa cao Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác điều tra xử lý các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là một đòi hỏi hết sức cấp bách, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ đắc lực cho

sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội đất nước Vì vậy tôi chọn đề tài: “Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

từ thực tiễn tỉnh Nam Định” làm đề tài nghiên cứu của mình

Như vậy, có thể nói, việc nghiên cứu vấn đề “Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định” là vấn đề cấp thiết và không trùng lặp với các đề tài

nghiên cứu trước đó

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta cho đến nay, đề tài đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng, không phải là đề tài hoàn toàn mới mẻ Liên quan đến đề tài trên đã có một số luận

án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học được thực hiện Cụ thể như sau:

Trang 8

- Luận văn thạc sỹ luật học học: “Quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Thanh Hòe năm 1997 đã trình bầy và

phân tích một cách khoa học về lý luận chứng minh và vận dụng chứng cứ để chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam [18]

- Luận văn thạc sỹ luật học “Quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Văn Du năm 1999 đã làm sáng tỏ những

vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận của quá trình giải quyết vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.[13]

- Luận văn thạc sĩ luật học “Quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ

án hình sự ở Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Như Quỳnh năm 2011 đã làm sáng tỏ

một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.[28]

- Luận văn tiến sĩ luật học "Thu thập đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam" của Tiến sỹ Nguyễn Văn Đương năm 2000.[16]

- Luận văn thạc sĩ "Hoạt động chứng minh của Tòa án trong giai đoạn xét xử hình sự sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" của học viên Nguyễn Thanh Vân - Học viên cao học khóa V đợt 1 năm

2014 Học viện khoa học xã hội.[37]

- Luận văn thạc sĩ "Đối tượng chứng minh trong các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lâm Đồng" của học viên cao học Nguyễn Chí Khuê - Học viên cao học khóa V đợt 1

năm 2014 Học viện khoa học xã hội.[19]

Ngoài ra còn có một số luận án tiến sỹ luật học, luận văn thạc sỹ của một số tác giả khác cũng đã đề cập đến việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự và quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự

Ở dạng sách tham khảo và chuyên khảo tác giả các tác giả sau đã có công trình nghiên cứu một cách rất công phu như:

Trang 9

- "Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam" và "Một số vấn

đề về chứng minh trong tố tụng hình sự " của Tiến sĩ Trần Quang Tiệp, tạp chí kiểm sát số 9, 2003 [30]

- Tiến sỹ Đỗ Văn Đương - Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự năm 2006.[12]

- "Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Chương VI, mục 6) PGS.TS

Võ Khánh Vinh chủ biên trường Đại học Huế năm 2000.[33]

- "Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003" của

Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục Bộ công an, Hà nội tháng 6/2004.[1]

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

tố tụng sử dụng phương pháp gì để chứng minh

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Xây dựng và làm rõ đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế liên quan đến đối tượng chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm

sở hữu có tính chất chiếm đoạt và một số nguyên nhân cơ bản

- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc điều tra giải quyết các tội xâm phạm sở hữu có tính

Trang 10

chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định Đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp về việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật TTHS

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn tỉnh Nam Định” (Trên cơ sở số liệu của Văn phòng Công an tỉnh Nam Định)

4.2.Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu những vấn đề cần chứng minh trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Các tội xâm phạm sở hữu ở đây tác giả đề cập đó là xâm phạm tài sản của Nhà nước, của cá nhân và các tổ chức Đối tượng cần chứng minh bao gồm nhiều vấn đề đó là: đối tượng chứng minh; nghĩa vụ chứng minh; quá trình chứng minh; phạm vi và giới hạn chứng minh, trong khuôn khổ luận văn tác giả không thể nghiên cứu chuyên sâu tất cả những vấn đề trên, do

đó luận văn chỉ dừng lại ở góc độ nghiên cứu dưới góc độ khoa học luật TTHS đối tượng chứng minh được quy định trong BLTTHS nói chung từ đó rút ra được đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt của CQĐT Nghiên cứu những bất cập giữa lý luận và thực tiễn

từ đó đề ra những giải pháp khắc phục

- Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vụ án xâm phạm

sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản nằm trong Chương các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 2015 xảy ra trên địa bàn tỉnh Nam Định và thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT các cấp thuộc Công an tỉnh Nam Định

- Phạm vi thời gian nghiên cứu: Những vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra trên địa bàn nghiên cứu từ 01/12/2012 đến 30/11/ 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và

Trang 11

duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cải cách tư pháp

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn được sử dụng bao gồm phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và trao đổi khoa học

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tế của luận văn

6.1.Ý nghĩa lý luận

Với kết quả đạt được của luận văn có thể đóng góp vào lý luận về chứng

cứ và những vấn đề cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt dưới góc độ pháp luật TTHS và đưa ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

6.2.Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác thực tiễn điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt để nâng cao hiệu quả áp dụng luật TTHS Ngoài ra luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác pháp luật, học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học

7.Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn tỉnh Nam Định

Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt của các Cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG

CẦN CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM

SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1.1 Khái niệm và đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các

vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.1.1 Khái niệm đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự

Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “Đối tượng” trên đây được hiểu là một danh từ chỉ người, vật, hiện tượng mà con người tác động tới, thuật ngữ “Chứng minh” là một nhận thức suy luận để khẳng định tính chân lý của một luận điểm nào

đó, bằng cách dựa vào tính chân lý đã được thực tiễn xác nhận Trong thực tiễn khi người ta cần sự thật để chứng tỏ một vấn đề thật, giả thì người ta cần chứng minh

Như vậy khái niệm “Đối tượng cần chứng minh” là tổng hợp những vấn đề cần

phải được xác định làm rõ để giải quyết đúng đắn một sự việc nhất định

Thế giới khách quan là đối tượng nhận thức của con người nhằm chỉ ra được những quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy Tuy nhiên trong từng lĩnh vực hoạt động nhận thức có một đối tượng nhận thức riêng Hoạt động chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung vụ án và các tình tiết có liên quan đến vụ án Mục đích cuối cùng của việc nhận thức này cũng chính là phục

vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng, thực hiện công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự nói chung là tổng hợp những vấn đề mà các CQTHTT cần phải làm sáng tỏ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, đấu tranh, phòng ngừa tội phạm

Trong mỗi vụ án hình sự khác nhau, thì đối tượng, phạm vi yêu cầu chứng minh

có sự khác nhau, tuy nhiên mọi tội phạm đều có những đặc điểm chung, quy luật chung được khái quát những vấn đề chung nhất mà CQTHTT thường phải chứng minh trong bất kì vụ án nào Ví dụ: Có hành vi phạm tội xảy ra không, thời gian, địa

Trang 13

điểm, những tình tiết khác nhau của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện tội phạm, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; người thực hiện hành vi nguy hiểm

có năng lực TNHShay không, mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHScủa bị can, bị cáo; tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Trong luật TTHS còn quy định nội dung chứng minh có thể bao gồm những tình tiết khác có liên quan đến vụ án, tùy thuộc vào từng tội phạm cụ thể Hoặc những chi tiết chỉ phải chứng minh khi phát sinh những hoạt động tố tụng có liên quan, ví dụ căn cứ biện pháp tạm giam, biện pháp ngăn chặn

Trong thực tế, vụ việc phạm tội xảy ra rất đa dạng và phong phú về tính chất, mức độ, hoàn cảnh.v.v… tuy nhiên tất cả các tội phạm đều có bản chất chung và việc giải quyết VAHS, xử lý tội phạm đều có những nguyên tắc chung nhất định, vì vậy ta có thể rút ra được những vấn đề chung nhất mà khi giải quyết VAHS nào cũng phải chứng minh, đó là những vấn đề thuộc bản chất vụ án, những vấn đề liên quan đến việc xác định TNHScủa người phạm tội, đối tượng cần chứng minh này phải được quy định trong BLTTHS Ngoài ra, BLTTHS còn quy định phải chứng minh những vấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn VAHS đó Những vấn đề luật TTHS quy định buộc phải chứng minh giống nhau theo quy định của luật TTHS, song những tình tiết cụ thể mà các tình tiết này cấu thành vấn đề chứng minh là khác nhau Ví dụ: Đối với vụ án cướp tài sản, tất cả vụ án đều phải chứng minh được hành vi phạm tội đó là hành vi gì, tuy nhiên ở mỗi vụ án cướp tài sản khác nhau thì hành vi đó là khác nhau, có thể là hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc đe dọa dùng vũ lực

Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, bên cạnh việc thực hiện các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật không chỉ nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội mà còn nhằm mục đích đấu tranh phòng, chống tội phạm Do đó, trong quá trình điều tra, chứng minh vụ án hình sự, CQĐT phải làm

rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội Trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt, CQĐT cần phải chứng minh thêm: Nguyên nhân dẫn đến

Trang 14

hành vi chiếm đoạt tài sản của nạn nhân, do thiếu tiền tiêu xài hay do nguyên nhân khác; điều kiện phạm tội cần xác định xem tội phạm được thực hiện trong điều kiện hoàn cảnh nào v.v… tất cả các yếu tố chứng minh trên phục vụ cho mục đích phòng chống và ngăn ngừa tội phạm mới xảy ra

Khi nghiên cứu khái niệm đối tượng cần chứng minh trong VAHS cho thấy, BLTTHS không nêu khái niệm đối tượng chứng minh mà chỉ nêu những vấn đề phải chứng minh trong VAHS Trong khoa học luật TTHS nhìn chung các nhà khoa học có sự thống nhất về bản chất khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS, những quan điểm về cách thức thể hiện có sự khác nhau, có ba quan điểm chủ yếu

về đối tượng chứng minh như sau:

Quan điểm thứ nhất, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự

là tất cả các tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự.” [26Tr166]

Quan điểm thứ hai, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự

là tất cả các tình tiết phải được xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn khách quan, toàn diện vụ án hình sự” [15Tr87]

Quan điểm thứ ba, cho rằng: “Đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả các tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và người phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ

án hình sự ” [17]

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba vì nội hàm của khái niệm thể hiện được đầy đủ bản chất của đối tượng chứng minh trong VAHS và đã có phân biệt sự kiện với tình tiết vụ án

Trong VAHS, sự kiện chủ yếu (hay sự kiện quan trọng) của đối tượng cần chứng minh ở đây chính là hành vi phạm tội và chủ thể thực hiện tội phạm, bởi nếu không có yếu tố này thì sẽ không có căn cứ để khởi tố VAHS; những sự việc khác

có mối quan hệ chặt chẽ với sự kiện chủ yếu của đối tượng chứng minh như lỗi của chủ thể thực hiện tội phạm, hình thức lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHScủa người phạm tội.v.v… là những tình tiết của vụ án

Trang 15

Trên cơ sơ phân tích về đối tượng chứng minh và sự tiếp thu những điểm hợp

lý, khắc phục sự hạn chế trong khái niệm đối tượng chứng minh của một số tác giả, dưới góc độ khoa học luật TTHS, chúng ta có thể rút ra khái niệm đầy đủ về đối

tượng chứng minh trong vụ án hình sự như sau: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là tổng hợp tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết mà những vấn đề này được luật TTHS quy định các cơ quan THTT phải làm rõ

để xác định bản chất của vụ án và những nội dung khác có liên quan đến vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan THTT ra các quyết định phù hợp với quy định của luật hình sự, luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm [ 22]

1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

* Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 bao gồm: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan tổ chức, doanh nghiệp

Như vậy: “Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”

* Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nằm trong chương XVI phần các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 2015 với 08 Điều bao gồm: Điều

168 tội cướp tài sản, Điều 169 tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Điều 170 tội cưỡng đoạt tài sản, Điều 171 tội cướp giật tài sản, Điều 172 tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, Điều 173 tội trộm cắp tài sản, Điều 174 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều 175 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trang 16

Từ những phân tích các khái niệm trên, có thể thấy các tội xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt có dấu hiệu riêng là dấu hiệu“Chiếm đoạt” hay còn gọi là dấu hiệu “Tư lợi”, dấu hiệu “Chiếm đoạt” ở đây là chiếm đoạt tài sản, so với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt hay còn gọi là “Không tư lợi”

như các tội: Tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan tổ chức, doanh nghiệp

Từ phân tích khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nói chung, chúng ta có thể

đưa ra khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt Trong đó chiếm đoạt là hành vi cố ý dịch chuyển trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình”.[24]

1.1.3 Khái niệm điều tra vụ án hình sự

Dưới góc độ của luật TTHS thì điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn hoạt động của TTHS sự bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố VAHS đến khi lập bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra khi có đủ căn cứ theo quy định của luật TTHS Trong giai đoạn này, CQĐT có thẩm quyền có trách nhiệm tiến hành các hoạt động theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ, làm rõ có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những vấn đề khác

có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ án

Trên cơ sở quy định của BLTTHS và thực tiễn hoạt động điều tra VAHS, khoa

học điều tra hình sự xác định: “ Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình trình tố tụng, do Cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm” Định nghĩa trên đã chỉ ra những điểm cơ bản nhất, phản ánh bản chất của hoạt động điều tra [14]

Trên cơ sở phát triển khái niệm điều tra VAHS của khoa học điều tra hình sự,

có thể xác định: “Điều tra vụ án hình sự về vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là hoạt động của CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến

Trang 17

hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS đối với những vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra, đã được khởi tố nhằm mục đích chứng minh sự thật khách quan của vụ án theo yêu cầu pháp luật”

Như vậy đối tượng của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những vụ án hình sự về các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra, đã được khởi tố Chủ thể của hoạt động điều tra vụ án hình sự

về các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định về phân công, phân cấp điều tra Hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự, thủ tục của luật TTHS, quá trình điều tra, chủ thể điều tra được áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để làm rõ sự thật vụ án Bản chất của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là quá trình nhận thức, chứng minh sự thật khách quan của vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra theo yêu cầu của pháp luật

1.1.4 Khái niệm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Thông qua việc nghiên cứu khái niệm đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự nói chung, khái niệm các tội xâm phạm sở hữu và khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, ta có thể rút ra khái niệm đối tượng chứng

minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như sau: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là tổng hợp những sự kiện và các tình tiết của vụ án phải được CQĐT xác định bằng chứng cứ để giải quyết đúng đắn các vụ án xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt

1.1.5 Đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các tội xâm phạm

sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.1.5.1 Đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Trang 18

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có các dấu hiệu đặc trưng sau:

- Các dấu hiệu về khách thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt: Đối tượng tác động của tội phạm trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là:

+ Đối với các tội: Tội cướp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cưỡng đoạt tài sản có khách thể được bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm phạm quan

hệ nhân thân đó Trong đó quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành

vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành

+ Đối với các tội: Tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có khách thể là quan hệ sở hữu

Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm: Các tội xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lý của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có những đặc điểm riêng so với tài sản thuộc đối tượng tác động của các tội phạm khác như tội: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290 Bộ luật hình sự 2015) Những đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là: + Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị vật chất cụ thể Tài sản thể hiện dưới dạng phi vật chất như quyền sử dụng đất, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp Tài sản không có giá trị vật chất cụ thể như nguồn nước tự nhiên, sinh vật dưới biển, thú trong rừng thì không phải là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Mặt khác tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải có giá trị sử dụng Tài sản không có giá trị sử dụng như thuốc tân dược hết thời hạn sử dụng mang tiêu hủy, động vật chết

Trang 19

đã đem chôn thì không phải là đối tượng của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.

+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải có chủ sở hữu cụ thể Tài sản không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu

đã tự nguyện từ bỏ trước khi xảy ra hành vi chiếm đoạt thì không phải là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có thể có nhiều dạng khác nhau như những vật thể cụ thể, song cũng có thể là các giấy

tờ mà thông qua đó người phạm tội có thể nhận được một số tiền hoặc tài sản như: Phiếu gửi xe, giấy tờ ký gửi, cầm đồ tài sản, thẻ thanh toán

+ Tài sản là đối tượng của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tài sản thông thường có thể trao đổi, mua bán một cách hợp pháp

- Các dấu hiệu về mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt: Để chiếm đoạt được tài sản thì tội phạm có các hành vi khách quan khác nhau, có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (đối với tội cướp tài sản); hành vi bắt cóc con tin và hành vi đe dọa chủ tài sản (đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc hành

vi uy hiếp tinh thần người khác (đối với tội cưỡng đoạt tài sản); hành vi nhanh chóng chiếm đoạt (đối với tội cướp giật tài sản), hành vi công khai chiếm đoạt tài sản (đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản (đối với tội trộm cắp tài sản) và hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản (đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

- Các dấu hiệu về mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản: Mục đích mà kẻ phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là cố ý chiếm được tài sản Tức người phạm tội biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện

Như đã trình bày trên, người thực hiện hành vi vi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt đều có ý thức chiếm đoạt Xuất phát từ khách thể được bảo

Trang 20

vệ mà hành vi khách quan của tội này không có dấu hiệu chiếm đoạt cho nên dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội Vì vậy dấu hiệu mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này Đây là cơ

sở phân biệt các tội này với các tội khác do Bộ luật hình sự quy định có hành vi khách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này

- Các dấu hiệu về mặt chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản: Chủ thể của tội phạm nói chung và của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng không phải ai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng đều là chủ thể của tội phạm mà chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới là chủ thể của tội phạm

BLHS không quy định năng lực trách nhiệm hình sự là gì, mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) và tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12) Từ quy định này, chúng ta có thể hiểu chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải là người ở một độ tuổi nhất định và là người nhận thức được và điều khiển được hành vi của mình

Như vậy, từ những phân tích trên đây có thể hiểu: Theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là chiếm của người làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế,

ở khái niệm này chiếm đoạt được xem là hành vi dùng vũ lực, quyền uy để lấy tài sản của người khác có chủ đích

1.1.5.2 Đặc điểm của hoạt động điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Thứ nhất, Điều tra vụ án hình sự về các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất

chiếm đoạt là quá trình chứng minh sự thật vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra Quá trình điều tra, CQĐT có trách nhiệm làm rõ các nội dung thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Thứ hai, Điều tra vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm

đoạt phải làm rõ tài sản bị xâm hại Việc xác định đúng giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Trang 21

có ý nghĩa quan trọng trong xác định tội phạm cũng như định khung xử lý phù hợp với quy định của BLHS Mặt khác, làm rõ đặc điểm tài sản bị xâm hại còn có ý nghĩa trong việc truy tìm tài sản trong vụ án

Ngoài việc xác định giá trị tài sản như trên, trong điều tra các vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn phải làm rõ chủ sở hữu, người quản lý các tài sản bị chiếm đoạt tức là xác định người bị hại trong vụ án

Thứ ba, Trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, chủ

thể điều tra phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp trong đó chủ yếu là các hoạt động theo trình tự, thủ tục của luật TTHS

1.1.5.3 Đặc điểm đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Trên cơ sở việc nghiên cứu đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và đặc điểm của hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt thì đặc điểm của đối thượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là:

- Thứ nhất: Đối tượng chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở

hữu có tính chất chiếm đoạt bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau, mà mỗi

sự kiện, tình tiết nói riêng và tổng thể của chúng nói chung, đều phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan đầy đủ toàn diện và chính xác Hoạt động chứng minh là hoạt động mà ở đó các chủ thể chứng minh sẽ sử dụng các phương tiện để làm sáng tỏ sự thật khách quan, đúng đắn của vấn đề nào đó nhằm tìm ra chân lý Như vậy, nếu hiểu theo cách này thì việc chứng minh trong TTHS là việc

sử dụng phương tiện chứng minh để làm sáng tỏ tình tiết cả vụ án hình sự Hiểu cách khác, hoạt động chứng minh trong TTHS là việc xác định chứng cứ chứng minh tất cả các sự kiện, các tình tiết có ý nghĩa

- Thứ hai: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở

hữu có tính chất chiếm đoạt mà luật TTHS quy định cần làm sáng tỏ là căn cứ để các CQTHTT giải quyết đúng đắn vụ án và đề ra biện pháp phòng ngừa tội phạm Hành vi phạm tội là hành vi trên thực tế đã xảy ra, hành vi đó các chủ thể tiến hành

Trang 22

tố tụng chưa biết nhưng cần phải làm rõ và chứng minh, tất cả các hoạt động chứng minh đều nhằm mục đích làm rõ sự thật khách quan của VAHS, mục đích đó suy cho cùng là nhằm giải quyết VAHS, chứng minh hành vi đó có phải tội phạm hay không để có căn cứ khởi tố VAHS hoặc không khởi tố VAHS, chứng minh ai là người thực hiện hành vi nguy hiểm, có lỗi hay không có lỗi, người đó có đủ năng lực chịu TNHS không để làm căn cứ khởi tố bị can, từ đó có các biện pháp giải quyết vụ án phù hợp Ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, xác định đúng đối tượng là căn cứ xử lý đúng đắn vụ án không những giai đoạn điều tra mà ở những giai đoạn tiếp theo như truy tố, xét xử Nếu xác định sai đối tượng chứng minh sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sau đó Việc xác định đúng đối tượng chứng minh và chứng minh đầy đủ những sự kiện, tình tiết cần thiết còn giúp cho việc nghiên cứu, phân tích từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả

- Thứ ba: Đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt là những sự kiện, tình tiết do CQTHTT phải làm sáng tỏ, những vấn đề chưa biết đó được quy định trong luật TTHS Mỗi vụ án hình sự xảy

ra, có rất nhiều sự việc và các tình tiết liên quan, đó là cơ sở để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự, cũng có những sự kiện, tình tiết mặc dù thực tế xảy

ra gắn liền với vụ án, cũng như không có giá trị làm căn cứ đường lối xử lý vụ án, hoặc giúp giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan toàn diện Vì vậy, phải xác định sự kiện, tình tiết nào CQTHTT cần chứng minh và sự kiện, tình tiết nào không cần chứng minh là hết sức cần thiết, nhằm tránh việc chứng minh một cách không khoa học, chứng minh tràn lan, chứng minh cả những vấn đề không cần thiết gây lãng phí thời gian, tiền bạc của Nhà nước

1.2 Phân loại đối tượng cần chứng minh và phương pháp chứng minh

1.2.1 Phân loại đối tượng chứng minh

Dựa vào các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách phân loại khác nhau về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự

Cách phân loại thứ nhất: Căn cứ vào vai trò của vấn đề phải chứng minh trong việc xác định trách nhiệm pháp lý đối với người bị buộc tội, có thể phân chia

Trang 23

thành hai nhóm: nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội và nhóm những vấn đề chứng minh có tính chất gỡ tội Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội bao gồm: Những dấu hiệu cấu thành tội phạm, hình thức lỗi, phương thức, thủ đoạn phạm tội, những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất

gỡ tội bao gồm: có hay không có tình tiết bác bỏ sự buộc tội đối với bị can, bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ TNHS, những tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự.v.v… Cách phân loại thứ hai: Căn cứ vào vị trí, ý nghĩa của những vấn đề phải chứng minh trong mối quan hệ với việc giải quyết vụ án có thể phân loại những vấn đề phải chứng minh trong VAHS thành: Những vấn đề phải chứng minh nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm; Những vấn đề phải chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến TNHS và hình phạt; Nhóm tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với VAHS

Những vấn đề cần chứng minh nằm trong yếu tố cấu thành tội phạm chính là chứng minh những vấn đề thuộc về mặt khách quan của tội phạm, khách thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm Chứng minh vấn đề này

là trả lời những vấn đề: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, đó là hành vi phạm tội gì, do ai thực hiện tội phạm, người thực hiện tội phạm có lỗi hay không, có đủ năng lực TNHS hay không.v.v…

trách nhiệm hình sự và hình phạt

Những vấn đề cần chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến TNHS và hình phạt bao gồm chứng minh những vấn đề: Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ TNHS, các tình tiết tăng nặng TNHS; các tình tiết miễn trách TNHS, miễn hình phạt; các tình tiết làm căn cứ loại trừ TNHS

 Những tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với vụ án hình sự

Những tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với VAHS là những tình tiết không nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm, đồng thời cũng không ảnh hưởng

Trang 24

đến TNHS và hình phạt nói chung, nhưng lại có giá trị chứng minh nhất định đối với VAHS Nếu chứng minh được các tình tiết đó sẽ giúp cho các CQTHTT giải quyết vụ án đảm bảo đúng đắn, chính xác, khách quan và toàn diện

1.2.3 Phương tiện chứng minh

- Khái niệm phương tiện chứng minh

Có rất nhiều khái niệm về phương tiện chứng minh nhưng hiểu theo nghĩa chung nhất và bao quát nhất là: Phương tiện chứng minh là những công cụ do pháp luật quy định, các chủ thể chứng minh được sử dụng để làm rõ các tình tiết sự kiện của vụ án hình sự

- Đặc điểm phương tiện chứng minh

Phương tiện chứng minh trong VAHS chủ yếu thể hiện qua các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử VAHS, trong đó các CQTHTT áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để thu thập chứng cứ, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Mỗi tài liệu được coi là chứng

cứ chỉ có giá trị chứng minh khi bảo đảm được tính hợp pháp của nó, tức là cơ quan tiến hành tố tụng khi thu thập chứng cứ đều phải theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Ở giai đoạn nào phải do pháp luật tố tụng quy định và điều chỉnh về trình tự thu thập, kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ ở giai đoạn đó, chứng cứ mới có giá trị chứng minh

Trang 25

1.3 Ý nghĩa của đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Việc xác định đúng và đầy đủ đối tượng cần chứng minh trên phương diện lý luận và thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trên cả lĩnh vực xây dựng, hoàn thiện pháp luật cũng như áp dụng pháp luật TTHS nói chung và quy định luật TTHS nói riêng

1.3.1 Ý nghĩa trong lĩnh vực xây dựng pháp luật TTHS

Việc xác định đúng và đủ đối tượng cần chứng minh có ý nghĩa trong công tác xây dựng pháp luật TTHS thể hiện ở chỗ: Đây là cơ sở để các cơ quan xây dựng pháp luật đưa vào nội dung quy định của luật TTHS một cách đầy đủ những vấn đề phải chứng minh trong quá trình tố tụng vụ án hình sự, đó là cơ sở pháp lý cho CQTHTT, NTHTT nhận thức một cách đầy đủ và thống nhất về đối tượng chứng minh, giúp cho việc giải quyết vụ án một cách đầy đủ, toàn diện, đạt chất lượng tốt

và đảm bảo pháp chế

Như vậy, trên lĩnh vực xây dựng pháp luật việc xác định đúng đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự có ý nghĩa để các cơ quan lập pháp hoàn thiện quy định của luật TTHS, đảm bảo cho việc quy định trong pháp luật được đầy đủ, có lôgic, khoa học, thể hiện sự thống nhất toàn diện của tất cả các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự, cũng như tạo cơ sở pháp lý nhận thức của các CQTHTT

về đối tượng chứng minh

1.3.2 Ý nghĩa trong lĩnh vực áp dụng pháp luật TTHS

Việc xây dựng pháp luật để quản lý tốt là điều quan trọng tuy nhiên pháp luật chỉ phát huy tác dụng quản lý khi pháp luật được áp dụng vào thực tiễn Xây dựng được quy định đối tượng cần chứng minh là cơ sở để áp dụng vào thực tiễn, trong lĩnh vực áp dụng pháp luật TTHS hay cụ thể hơn là trong áp dụng giải quyết vụ án hình sự, việc xác định đúng, đủ những vấn đề cần phải chứng minh và vai trò của từng vấn đề có ý nghĩa như sau:

- Xác định đúng những vấn đề phải chứng minh hay còn gọi là đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự giúp cho các CQTHTT có phương hướng, kế hoạch

Trang 26

điều tra phù hợp, nhằm giải quyết vụ án một cách đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời, giảm chi phí về tiền của, không vi phạm về thời gian điều tra Việc nắm rõ những quy định của luật TTHS về những vấn đề phải chứng minh giúp cho NTHTT, CQTHTT đánh giá được tính chất, hoàn cảnh cụ thể của từng vụ án, để xác định được cần chứng minh những vấn đề gì, từ đó thu thập những chứng cứ phù hợp với từng vụ án cụ thể Việc chứng minh phải đảm bảo đúng quy định của pháp luật, bởi nguyên tắc pháp chế yêu cầu phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh và triệt

để, việc quy định tại pháp luật cũng có ý nghĩa định hướng cho CQTHTT phải làm

gì trước mỗi vụ án khi mà lượng thông tin cần làm sáng tỏ vụ án là rất nhiều, chứng

cứ cần thu thập là rất lớn

Trường hợp xác định không đúng đối cần tượng chứng minh hoặc xác định không đầy đủ đối tượng cần chứng minh sẽ dẫn đến giải quyết vụ án hình sự thiếu khách quan, không đúng quy định của pháp luật, từ đó dẫn đến tình trạng làm oan người vô tội, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm quyền con người hoặc bỏ lọt tội phạm Gây ra nhiều thiệt hại về vật chất và phí phạm thời gian khi các CQTHTT thực hiện các hoạt động tố tụng mà không hiệu quả như: trả hồ sơ, điều tra bổ sung, hủy kết luận điều tra, xử lý oan sai.v.v…

1.4 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.4.1 Cơ sở của quy định đối tượng cần chứng minh trong điều tra các

vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Việc quy định đối tượng chứng minh dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Phép biện chứng Mác - xít đã chỉ ra rằng, thế giới loài người đang tồn tại, sinh sống là thế giới vật chất, thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức con người, con người dù muốn hay không thì nó vẫn tồn tại, thuộc tính của vật chất là thuộc tính phản ánh, thuộc tính đó phản ánh vào trong bộ não người hình thành nên ý thức, có nghĩa là con người có khả năng nhận thức được thế giới đó, mọi sự kiện, vấn đề xảy ra và tồn tại trên thế giới này con người dù sớm hay muộn cũng sẽ nhận thức được Do đó, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -

Trang 27

Lênin, mọi sự kiện đã xảy ra thì con người có khả năng nhận thức được, một hành

vi phạm tội diễn ra, CQTHTT có thể áp dụng các biện pháp, phương tiện của mình

để xác định sự việc đó diễn ra như thế nào, các tình tiết ra sao, có thể tái hiện lại trong ý thức con người các tình tiết đó Việc nhận thức được các tình tiết, sự kiện đã xảy ra trong một vụ án là vô cùng cần thiết, quyết định đến việc xử lý đúng đắn vụ

án hình sự, vì thế, đối với mỗi vụ án hình sự xảy ra, ta phải nhận thức được tất cả những vấn đề có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ án

Trên lĩnh vực lập pháp, luật hình sự, luật TTHS, các nhà lập pháp không thể liệt kê tất cả những vấn để phải chứng minh trong mỗi tội phạm cụ thể Để khắc phục những quan điểm sai lầm trên, thống nhất về mặt nhận thức và cũng là yêu cầu bắt buộc trong chứng minh vụ án hình sự, khoa học luật hình sự, luật TTHS phải nghiên cứu, khái quát được đối tượng cần chứng minh chung trong vụ án hình sự bao gồm những gì để các cơ quan áp dụng pháp luật trong quá trình chứng minh căn

cứ vào đó thực hiện nhiệm vụ chứng minh

Để xác định được những vấn đề phải chứng minh bao gồm những gì thì cơ quan lập pháp dựa vào căn cứ pháp lý đó là:

Thứ nhất: Căn cứ pháp lý thuộc quy định cấu thành tội phạm được quy định

trong BLHS, dựa vào đó các cơ quan xây dựng pháp luật quy định những vấn đề phải chứng minh bao gồm: Khách thể tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm

Thứ hai: Các quy định về xác định trách nhiệm hình sự, căn cứ áp dụng hình

phạt được quy định trong luật hình sự là căn cứ để cho cơ quan xây dựng pháp luật quy định đối tượng cần chứng minh gồm: Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.v.v…

Thứ ba: Những quy định khác trong luật hình sự, luật TTHS về đối tượng

cần chứng minh nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, đây là quy định mở, bởi với mỗi vụ án khác nhau, những vấn đề phải chứng minh là khác nhau, việc quy

Trang 28

định như vậy giúp cho CQTHTT có sự áp dụng sát với thực tiễn xảy ra của các vụ

án, do pháp luật không thể liệt kê hết tất cả các vấn đề phải chứng minh

1.4.2 Quy định của pháp luật TTHS về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

1.4.2.1 Quy định của pháp luật TTHS về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ năm 1945 đến trước năm 1988

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, đất nước ta giành được độc lập, giai đoạn này nhiệm vụ cấp bách là bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền mới thành lập, bảo vệ nhân dân Ngày 21/02/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23 - SL thống nhất các lực lượng Liêm phong, Cảnh sát, Trinh sát, Quốc gia tự vệ trong toàn quốc thành “ Việt Nam Công an vụ” sau đổi tên thành Thứ Bộ Công an rồi Bộ Công an Nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự được giao cho lực lượng Công an Giai đoạn này

do tình hình cấp bách của đất nước, chưa có điều kiện ban hành Bộ luật TTHS, do

đó các sắc lệnh được Nhà nước ban hành nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu trước mắt Sắc lệnh số 33 - SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946, trong đó lần đầu tiên ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của TTHS, xác định chức năng nhiệm

vụ và quyền hạn của các CQTHTT, trong đó có quy định thủ tục tiến hành điều tra

vụ án hình sự Việc chứng minh vụ án hình sự thông qua chế định chứng cứ, chứng

cứ được ghi nhận ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật TTHS nhưng mới chỉ xem xét ở một khía cạnh nhất định, chưa có quy định về chứng minh và đối tượng chứng minh Điều 9 Nghị định số 82/NĐ ngày 25/2/1946 của Bộ tư pháp ấn định chi tiết

áp dụng Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 về tổ chức lại các Tòa án quân sự chỉ đề cập việc thu thập chứng cứ

Tuy nhiên, pháp luật TTHS ở giai đoạn này còn hạn chế ở chỗ việc điều tra vụ

án hình sự chưa được quy định riêng Các toà án binh đảm nhiệm cả việc điều tra, truy tố, xét xử, thậm chí là thi hành án, giáo dục và cải tạo phạm nhân Do đó có thể nói, vấn đề đối tượng chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thời kỳ này chưa được đề cập cụ thể Vào những năm 80 của thế kỷ

XX, cùng với sự phát triển của khoa học luật TTHS, khái niệm chứng cứ đã bắt đầu

Trang 29

xuất hiện trong các sách báo pháp lý, là tiền đề cho quy định của BLTTHS ra đời sau đó

1.4.2.2 Quy định của BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

BLTTHS năm 1988 là BLTTHS đầu tiên của nước ta, BLTTHS năm 1998 tiếp tục ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của các quy phạm pháp luật TTHS trước

đó, ngoài ra còn bổ sung các nguyên tắc mới, quy định mới nhằm đảm bảo hoạt động chứng minh trong vụ án hình sự được thuận lợi, phù hợp với xu thế phát triển mới của xã hội Trong đó BLTTHS năm 1988 dành hẳn một chương để quy định về chứng cứ, trong đó cũng quy định các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình

sự, quy định về chứng cứ, trình tự, thủ tục để thu thập chứng cứ Trong Bộ luật đã quy định rõ những gì là chứng cứ và nguồn của chứng cứ để CQĐT lấy đó làm căn

cứ thực hiện chứng minh vụ án BLTTHS năm 1988 cũng đã quy định thẩm quyền điều tra của CQĐT, do đó chủ thể chứng minh được xác định rõ ràng

Cụ thể, tại Điều 47 BLTTHS năm 1988 quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Theo đó, đối tượng chứng minh tại điều luật bao gồm những vấn đề sau:

Phải chứng minh được những vấn đề thuộc cấu thành tội phạm như: có hành

vi phạm tội xảy ra không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội, ai là người thực hiện tội phạm, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý,

có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, động cơ, mục đích phạm tội

Như vậy, về cơ bản, BLTTHS năm 1988 và BLTTHS năm 2003 đều quy định cụ thể những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự Những vấn đề cần phải chứng minh đó bao gồm: Những tình tiết thuộc yếu tố cấu thành tội phạm, những tình tiết xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị can, bị cáo và những vấn đề khác phải chứng minh trong vụ án hình sự

1.4.2.3 Quy định của BLTTHS 2015 về đối tượng cần chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

BLTTHS không có Điều luật riêng quy định những vấn đề phải chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, tuy nhiên căn cứ

Trang 30

những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 và quy định về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại Điều

168, Điều 169, Điều 170, Điều 171, Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 175 BLHS năm 2015, thì CQĐT có thể căn cứ vào đó để xác định những vấn đề phải chứng minh khi điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

*) Những vấn đề phải chứng minh nằm trong các yếu tố cấu thành tội phạm

- Chứng minh mặt khách quan và khách thể của tội phạm

Khoản 1 Điều 85 quy định vấn đề đầu tiên phải chứng minh trong vụ án hình sự đó là: “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” Đối chiếu với quy định cấu thành tội phạm, việc quy định chứng minh những vấn đề này chính là quy định chứng minh mặt khách quan và chứng minh khách thể của tội phạm

“Mặt khách quan của tội phạm là mặt biểu hiện bên ngoài của tội phạm Là những biểu hiện của tội phạm ra thế giới khách quan, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho

xã hội (hành động và không hành động), hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội, công cụ, thủ đoạn, phương tiện phạm tội”

Trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì việc chứng minh hậu quả thiệt hại về mặt tài sản và quan hệ nhân thân là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm, đây là căn cứ định tội danh, định khung hình phạt Quá trình điều tra phải chứng minh được tài sản chiếm đoạt có giá trị là bao nhiêu, đối với tài sản là tiền mặt thì có thể dễ dàng xác định, tuy nhiên đối với những tài sản khác như đồ vật, phương tiện, cổ vật có giá trị thì phải tiến hành định giá mới xác định được mức độ thiệt hại Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói chung, nếu CQĐT không chứng minh được giá trị tài sản bị thiệt hại là bao nhiêu và quan hệ nhân thân bị xâm phạm như thế nào thì không thể kết luận người

đó phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt như: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội trộm cắp tài sản

Trang 31

Chứng minh được thời gian, địa điểm, hoàn cảnh xảy ra hành vi xâm phạm

sở hữu có tính chất chiếm đoạt Mọi hành vi đều được diễn ra vào một thời gian nhất định, địa điểm ở đâu, hoàn cảnh như thế nào Do đó, pháp luật TTHS quyết định trong quá trình điều tra, CQĐT phải xác định hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra khi nào, từ thời điểm nào đến thời điểm nào, từ mấy giờ đến mấy giờ thì chấm dứt, gắn với địa điểm xảy ra hành vi phạm tội Địa điểm xảy ra hành vi phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định được thẩm quyền giải quyết vụ án, bởi thông thường vụ án xảy ra trên địa bàn nào thì thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trên địa bàn đó

Chứng minh công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn tội phạm đã thực hiện để xâm phạm quan hệ sở hữu, quan hệ nhân thân Ngoài việc xác định hành vi phạm tội thời gian địa điểm và hoàn cảnh gây án, theo quy định tại BLTTHS, CQĐT cũng phải chứng minh những tình tiết khác của hành vi phạm tội Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, CQĐT phải chứng minh người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã thực hiện bằng công

cụ, phương tiện gì, thủ đoạn ra sao để phạm tội Đó có thể là nhiều công cụ, phương tiện khác nhau tùy thuộc vào từng vụ án, từng tội cụ thể, phổ biến trong thực tế là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường đưa ra thông tin giả bằng lời nói, nói mình là người nhà của nạn nhân khiến cho nạn nhân tin rằng đó là thật…, đối với tội cướp tài sản người phạm tội thường dùng hung khí để đe dọa uy hiếp tinh thần của nạn nhân, đối với tội cướp giật tài sản người phạm tội thường dùng xe

mô tô để nhanh chóng tẩu thoát

Trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, việc chứng minh phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội còn làm căn cứ định khung hình phạt đối với người phạm tội Nó là cấu thành bắt buộc như tại khoản 2 Điều 168, Điều

169, Điều 171 đó là: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, Điều 174 Bộ luật hình sự: “Có tính chất chuyên nghiệp”,“ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa

cơ quan, tổ chức”, “ Dùng thủ đoạn xảo quyệt” CQĐT trong quá trình điều tra

phải chứng minh làm rõ các vấn đề trên

Trang 32

“ Khách thể của các tội là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo

vệ và bị tội phạm xâm hại” [33Tr131] Tuy nhiên quan hệ nhân thân không phải

ở tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt mà chỉ xuất hiện trong một số tội đó là: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản

- Chứng minh chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm

Khoản 2 Điều 85 BLTTHS năm 2015 quy định vấn đề phải chứng minh tiếp theo trong vụ án hình sự đó là: “Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích, động cơ phạm tội” Có thể thấy đây là những yếu tố thuộc mặt chủ quan và chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

Chủ thể của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt luôn là con người cụ thể, có thể một người hoặc nhiều người Để chứng minh người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì CQĐT phải chứng minh người

đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo quy định Căn cứ vào quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thì có thể kết luận rằng người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quy định như sau:

+ Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2015 thì: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác

+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 thì: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144,

150, 151, 168, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,

290, 299, 303, và 304 của Bộ luật này

Như vậy theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 thì đối với các tội: Trộm cắp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín

Trang 33

nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản thì chủ thể của những tội này là người từ đủ 16 tuổi trở lên Đối với các tội: Cướp tài sản thì chủ thể của tội này là người từ đủ 14 tuổi trở lên

Người phạm tội không rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, cụ thể là người đó khi thực hiện hành vi phạm tội không phải người trực tiếp thực hiện mà có vai trò chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu trong vụ án có đồng phạm Việc chứng minh chủ thể trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản là điều bắt buộc, bởi hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phải gắn với một con người cụ thể, không có người phạm tội thì không có tội phạm

Trong các quy định về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có quy định các dấu hiệu “Đã bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt” hoặc “ đã bị kết án về tội này hoặc các tội quy định tại điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 175

là những tội xâm phạm sở hữu có dấu hiệu “Chiếm đoạt” và Điều 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Khi chứng minh, CQĐT cũng phải làm

rõ các dấu hiệu này, đây là những dấu hiệu thuộc về nhân thân người phạm tội

Người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có lỗi hay không có lỗi Như chúng ta đã biết lỗi là trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi nguy hiểm do đó người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn như lén lút, gian dối, dùng vũ lực … mà mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và mong nó xảy ra

Mục đích, động cơ phạm tội Mục đích là cái cần đạt được sau khi thực hiện tội phạm Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì mục đích

đó là chiếm đoạt được tài sản của người khác Động cơ phạm tội là cái bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì đó chính là lòng ham muốn được sở hữu tài sản một cách không chính đáng Khi chứng minh, cần lưu ý mục đích của việc xâm phạm sở hữu là để chiếm đoạt chứ không phải mục đích khác

Trang 34

*) Những vấn đề phải chứng minh nằm trong những tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt

- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can bị cáo (Khoản 3 Điều 85 BLTTHS năm 2015):

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết xảy ra có ảnh hưởng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, khiến cho hành vi phạm tội trở nên ít nguy hiểm hơn Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, cũng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều

51 BLHS năm 2015, ví dụ như: người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết khiến cho hành vi phạm tội trở nên nguy hiểm hơn, đó là những tình tiết được quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015, như: Phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội, tái phạm nguy hiểm, phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ

nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên, lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, lợi dụng thiên tai, dịch bệnh Luật hình sự cũng quy định những tình tiết đã áp dụng để định khung thì không áp dụng là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, cụ thể các tội: Trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì không đặt vấn đề phạm tội có tổ chức, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình

sự bởi nó được áp dụng để định khung hình phạt tại khoản 2 hoặc khoản 3 của các tội này

- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra (Khoản 4 Điều 85 BLTTHS năm 2015): Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt gây thiệt hại

đối với quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, cụ thể là tài sản, lợi ích vật chất của nạn nhân bị xâm phạm, sức khỏe nạn nhân như thế nào CQĐT phải chứng minh

Trang 35

được mức độ thiệt hại của mình vì hành vi chiếm đoạt, thiệt hại đã gây ra là bao nhiêu để làm căn cứ để xác định tội danh và căn cứ định khung hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm Đối với các tội có cấu thành vật chất như tội: Công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nếu tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng

và không thuộc các điểm a, b, c, d Khoản 1 Điều 172, Điều 173, Điều 174 hoặc dưới 4.000.000 đồng không thuộc các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 thì người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt không bị xử lý hình sự mà chỉ có thể xử lý hành chính Tùy theo giá trị tài sản thực

tế đã bị chiếm đoạt mà người thực hiện hành vi bị xử lý ở khung nào Việc chứng minh thuộc về CQĐT và các cơ quan khác được giao thẩm quyền, ví dụ: tài sản bị chiếm đoạt là cổ vật, giấy tờ có giá thì CQĐT phải tiến hành định giá theo thủ tục

để xác định giá trị Khi xác định chính xác giá trị tài sản thì mới có hướng xử lý tiếp theo vụ án

- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội (Khoản 5 Điều 85 BLTTHS năm 2015):

Đây là điểm mới trong quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, nguyên nhân và điều kiện phạm tội phần lớn không là yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm cụ thể nhưng nó có ý nghĩa cho việc xác định đường lối xử lý vụ án một cách đúng đắn, có ý nghĩa trong công tác phòng ngừa tội phạm

- Những tình tiết liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (Khoản 6 Điều 85 BLTTHS năm 2015): Loại trừ

trách nhiệm hình sự là một chế định lớn được quy định tại Chương IV phần: Những quy định chung của BLHS, theo đó người thực hiện hành vi nguy hiểm trong những trường hợp: sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ, thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên, bởi những trường hợp này không được xem là có lỗi

Trang 36

Người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt sẽ được miễn trách nhiệm hình sự khi có các căn cứ quy định tại Điều 29 BLHS 2015 Tuy nhiên, qua nghiên cứu, đối với tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, CQĐT

có căn cứ để xác định người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi:

+ Khi tiến hành điều tra, người phạm tội bị mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa

+ Người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào công tác điều tra khám phá tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được nhà nước và xã hội thừa nhận

Người phạm tội được miễn hình phạt khi có các căn cứ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 BLHS mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự

*) Nhóm tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với vụ án hình sự

- Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với sự giải quyết vụ án hình sự Trong trường hợp vụ án hình sự giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự (Điều 30 BLTTHS năm 2015): Như vậy, ở điều luật đã gián tiếp quy định CQTHTT

trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải chứng minh các tình tiết có liên quan đến vấn đề bồi thường, bồi hoàn dân sự trong vụ án hình sự Trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, vấn đề bồi thường thiệt hại thường đặt ra, do người phạm tội gây thiệt hại về tài sản cho người khác, một tình tiết phổ biến đó là CQĐT phải chứng minh được người phạm tội phải bồi thường bao nhiêu, bồi thường cho ai

- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội

sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc đảm bảo thi hành án, cơ quan, NTHTT trong phạm vi của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt

Trang 37

tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh (Điều 109 BLTTHS năm 2015): Như vậy, trong trường hợp này CQĐT phải chứng minh được người

phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có khả năng gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố.v.v…để áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo luật định Tuy nhiên cũng cần chú ý những trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh nặng mà những người này có nơi cư trú và lai lịch rõ ràng và họ không bỏ chốn hoặc tiếp tục phạm tội hoặc có những căn cứ khác quy định tại Khoản 4 Điều 119 BLTTHS năm 2015 quy định về tạm giam Những người này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

- Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ

án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội,

bị hại, người làm chứng khác và trả lời câu hỏi đặt ra (Điều 91 BLTTHS năm 2015): Rõ ràng với quy định như vậy thì một trong những vấn đề CQĐT phải chứng

minh trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đó là khi sử dụng lời khai của người làm chứng phải chứng minh được mối quan hệ giữa người làm chứng với người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng khác

Đối với hành các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt xảy ra đã lâu thì CQĐT khi tiến hành điều tra phải căn cứ vào quy định tại Điều 157 BLTTHS năm 2015 quy định căn cứ không khởi tố vụ án hình sự khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, nhiệm vụ của CQĐT là chứng minh vụ án đó còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không Nếu các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản phạm tội ít nghiêm trọng tức là thuộc khoản 1 các Điều 172, Điều 173, Điều 174, Điều 175 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm, nếu các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt phạm tội nghiêm trọng tức là thuộc khoản 1 Điều 168, Điều 169, Điều 170, Điều 171 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm, quá thời gian trên, không được khởi tố vụ án hình

sự, vụ án nếu đã khởi tố phải đình chỉ

Trang 38

Đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản do người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm thì CQĐT trong quá trình điều tra phải thu thập chứng cứ chứng minh thêm những vấn đề được quy định tại Điều 416 BLTTHS năm 2015, trong đó quy định, những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi BLTTHS năm 2003 sử dụng thuật ngữ người chưa thành niên để chỉ những người dưới 18 tuổi, tuy nhiên tại BLTTHS năm

2015 thống nhất sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” để đảm bảo tính thống nhất

và chính xác Đối với người dưới 18 tuổi, BLTTHS năm 2015 dành riêng một chương để quy định về thủ tục tố tụng đối với đối tượng này Có thể thấy, chính sách pháp luật của Nhà nước ngày càng quan tâm đến thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước Người chưa thành niên có những đặc điểm tâm sinh lý riêng, điều đó

có ảnh hưởng lớn đến việc phạm tội của đối tượng này nói chung cũng như các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng cho nên quy định về nguyên tắc tố tụng đối với người dưới 18 tuổi trong điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cũng có nhiều khác biệt

Theo quy định tại Điều 416 BLTTHS năm 2015, quá trình chứng minh trong điều tra vụ án hình sự, cụ thể là các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi CQĐT ngoài những vấn đề phải chứng minh được quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015, thì cần phải chứng minh thêm những vấn đề sau:

Tuổi của người dưới 18 tuổi Việc xác định đúng tuổi có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định sự thật vụ án, người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu

có tính chất chiếm đoạt có cấu thành tội phạm hay không Từ đó có đường lối đúng đắn xử lý hình sự Theo quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì:

+ Người thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cụ thể các hành vi: Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa đủ 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 16 tuổi

Trang 39

trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội: Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

+ Người thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cụ thể các hành vi: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản chưa đủ 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Do đó, CQĐT phải chứng minh được tuổi của người phạm tội Việc xác định tuổi người bị buộc tội thì CQĐT phải căn cứ vào các quy định của pháp luật, dựa vào những giấy tờ tùy thân như: giấy chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu Nếu trường hợp đã áp dụng các biện pháp theo luật định mà vẫn không xác định được ngày tháng năm sinh thì ngày tháng năm sinh được xác định căn cứ theo khoản 2 điều 417 BLTTHS: Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng

đó làm ngày sinh Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi

Có hay không có người trên 18 tuổi xúi giục Do tâm sinh lý người dưới 18 tuổi thường phát triển chưa hoàn thiện, dễ bị kích động, lôi kéo, dễ nghe lời người khác để thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cho nên Cơ quan điều tra cần chứng minh được vụ án có sự tham gia của người thành niên hay không làm cơ sở để truy tố, xét xử đúng người, đúng tội

Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội Trong giai đoạn điều tra các

vụ án phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đối với người đủ 18 tuổi cũng phải chứng minh nguyên nhân điều kiện phạm tội nhưng ở góc độ khác, đối

Trang 40

với người dưới 18 tuổi phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt do

có những đặc điểm tâm sinh lý khác nên nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của những người này

Tiểu kết chương 1

Toàn bộ nội dung Chương 1, tác giả phân tích những vấn đề lý luận cơ bản

về khái niệm, đối tượng, nội dung và phạm vi đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng, từ đó đưa ra nhận thức của mình về vấn đề này

Tác giả cũng đã phân tích nội dung của đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 Thực hiện tốt các nội dung của đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm

sở hữu có tính chất chiếm đoạt của CQĐT các cấp trong Công an tỉnh Nam Định

Những nhận thức được trình bày ở Chương 1 là cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng cần chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và các

vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt của CQĐT các cấp trong Công an tỉnh Nam Định trong 05 năm qua, từ năm 2013 đến năm 2017

Ngày đăng: 20/06/2018, 11:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w