1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại

47 492 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Lý Luận Về Kinh Tế Trang Trại
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Bài Tiểu Luận
Năm xuất bản 1999
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 345 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại

Trang 1

Lời nói đầu

Kinh tế trang trại xuất hiện trong quá trình đổi mới ở nớc ta và đang đợc phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay, mặc dù mới ở bớc khởi đầu, song mô hình kinh tế này đã sớm khẳng định đợc vai trò quan trọng đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn Kinh tế trang trại hiện

đang là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá chủ yếu trong nền nông nghiệp Việt Nam

Sự tạo lập và phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế của đất nớc Tuy nhiên, để hình thành và phát triển nó nh thế nào cho thuận lợi, đem đến hiệu quả cao nhất và phù hợp với định hớng XHCN của nền kinh tế mà Đảng và Nhà nớc ta đã xác định lại là một vấn đề đòi hỏi đợc quan tâm nghiên cứu và giải quyết của các ngành, các cấp và của mọi ngời

Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn,

em tự thấy việc tìm hiểu về sự hình thành và quá trình phát triển của kinh tế trang trại trong nông nghiệp nớc ta là điều thực sự cần thiết, phục vụ và tạo điều kiện b-

ớc đầu cho quá trình học tập, nghiên cứu và công tác của em sau này

Những số liệu sử dụng trong bài viết có nguồn từ số liệu điều tra, khảo sát

3044 trang trại và phỏng vấn 3044 chủ trang trại và 756 cán bộ các cấp ở 15 tỉnh, thành phố trọng điểm do trờng ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện tháng 5, 6, 7 năm 1999

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo đã hớng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành công trình này

Trang 2

phần I

Những vấn đề lý luận cơ bản

về kinh tế trang trại

Trong hơn một thập kỷ vừa qua, cùng với quá trình đổi mới và sự phát triển vợt bậc của nền kinh tế, nông nghiệp nớc ta đã có một bớc tiến dài trên con đờng phát triển của mình, đạt đợc những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt

Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, thờng xuyên phải nhập lơng thực, thực phẩm từ nớc ngoài, đến nay chúng ta đã hoàn toàn tự túc đợc lơng thực, thực phẩm, bảo đảm sự ấm no trong đời sống của nhân dân và an ninh lơng thực quốc gia với mức độ tăng trởng trung bình năm đặt 4,3% Năm 1997 so với năm 1987 sản lợng lơng thực tăng 1,8 lần, cà phê tăng 20 lần, cao su tăng 3,5 lần, chè tăng 1,8 lần

Không những thế, sản phẩm của nông nghiệp thờng xuyên chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu của đất nớc, thờng xuyên chiếm 40-45% với mức tăng đạt trên 20%/năm Hàng năm thu về hàng tỷ đô la, góp phần quan trọng đa

đất nớc vợt qua khủng hoảng kinh tế, ổn định xã hội, tạo tiền đề tiến hành những cải cách sâu rộng khác để bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Góp phần vào sự phát triển to lớn đó, kinh tế trang trại trong nông nghiệp Việt Nam đã thể hiện đợc vai trò và u thế của mình, phấn đấu vơn lên trở thành hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá chủ yếu trong nông nghiệp, nông thôn nớc ta.Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ng nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, t liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một ngời chủ độc lập, sản xuất đợc tiến hành quy mô, ruộng đất và các yếu tố sản xuất đợc tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản

lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trờng

Từ khái niệm trên ta thấy các đặc điểm của trang trại đợc biểu hiện: trang trại

là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở, là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiết cho xã hội, bao gồm nông, lâm, thuỷ sản, đồng thời quá trình kinh tế trang trại là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, bao gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Trang trại

Trang 3

không phải là một thành phần kinh tế, và ngoài trang trại ra còn có những hình thức tổ chức cơ sở trong nông nghiệp khác nh nông, lâm trờng quốc doanh, kinh tế

hộ nông dân,

- Mục đích sản xuất cơ bản của trang trại là sản xuất hàng hoá

- T liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một ngời chủ

độc lập, nếu t liệu sản xuất đi thuê hoặc đợc giao quyền sử dụng

- Các yếu tố vật chất của sản xuất nh đất đai, tiền vốn trong trang trại đợc tập trung với quy mô nhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá

- Trang trại tự chủ hoàn toàn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh từ lựa chọn phơng hớng kinh doanh, quyết định kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tổ chức sản xuất, đến tiếp cận thị trờng, tiêu thụ sản phẩm,

- Chủ trang trại là ngời có ý chí và năng lực tổ chức quản lý, có kinh nghiệm

và kiến thức nhất định về sản xuất kinh doanh nông nghiệp và thờng là ngời trực tiếp quản lý trang trại

- Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn, trang trại có nhu cầu cao hơn nông hộ về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thờng xuyên tiếp cận thị trờng

- Phần lớn trang trại đều có thuê mớn lao động và có thu nhập vợt trội với hộ nông dân trong vùng

Từ những phân tích, đánh giá ở trên ta thấy rằng sự hình thành và phát triển của kinh tế trang trại chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản

Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn,

kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững tạo việc làm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ lại lao động, dân c, xây dựng nông thôn mới

Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bớc chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn

Hiện nay, số lợng các đơn vị và hộ gia đình sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp ở nớc ta rất lớn Tuy nhiên, để đợc công nhận là một trang trại thì theo Thông t liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ra ngày 23/6/2000 các đơn vị và

hộ gia đình này cần có những điều kiện tiên quyết sau đây:

Trang 4

Một là, Giá trị sản lợng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm đạt từ 40

triệu đồng một năm ở các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung từ 50 triệu đồng trở lên ở các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

Hai là, quy mô sản xuất phải tơng đối lớn và vợt trội so với kinh tế hộ nông

dân tơng ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế, cụ thể về định hớng

- Với trang trại trồng trọt:

+ Trồng cây hàng năm: từ 2ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung Từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

+ Trang trại trồng cây lâu năm: từ 3ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung Từ 5ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Riêng trang trại trồng hồ tiêu thì diện tích từ 0,5ha trở lên

+ Trang trại lâm nghiệp: từ 10ha trở lên đối với tất cả các vùng trong cả nớc

- Với trang trại chăn nuôi:

+ Chăn nuôi đại gia súc: chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thờng xuyên từ 10 con trở lên Chăn nuôi lấy thịt có thờng xuyên từ 50 con trở lên

+ Chăn nuôi gia súc: chăn nuôi sinh sản có thờng xuyên từ 20 con trở lên;

đối với dê, cừu từ 100 con trở lên

Chăn nuôi lợn thịt có thờng xuyên từ 100 con trở lên không kể lợn sữa, dê thịt từ 200 con trở lên

+ Chăn nuôi gia cầm: có thờng xuyên từ 2000 con trở lên (không tính số

đầu con dới 1 ngày tuổi)

- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:

Diện tích mặt nớc để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1ha trở lên)

- Trang trại trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong giống thuỷ sản và thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lợng hàng hoá.

Với nhận thức về kinh tế trang trại và hớng dẫn nhận dạng trang trại nh trên,

em thấy rằng việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu trong quá trình phát triển nền nông nghiệp và nông thôn nớc ta hiện nay Để hình thành

và phát triển kinh tế trang trại, theo em cần những điều kiện chủ yếu sau đây:

Tr

ớc hết , ta nói đến nhóm các điều kiện khách quan.

Trang 5

Để hình thành và phát triển kinh tế trang trại, ở đây sự tác động tích cực của Nhà nớc thông qua định hớng khuyến khích cho sự hình thành và phát triển của kinh tế trang trại, hỗ trợ về nhiều mặt Sự phù hợp trong các chính sách đa ra đóng vai trò quan trọng hàng đầu cho việc hình thành kinh tế trang trại.

Các chính sách và luật pháp của Nhà nớc cũng phải tạo điều kiện cho quá trình tập trung và tích tụ ruộng đất đợc diễn ra thuận lợi vì ruộng đất là t liệu sản xuất chủ yếu, là điều kiện không thể thiếu của mỗi trang trại, ruộng đất phải đợc tập trung đến một mức phù hợp nhất định tuỳ theo phơng hớng kinh doanh mới mong hình thành kinh tế trang trại

Hàng năm các trang trại sản xuất ra một khối lợng sản phẩm hàng hoá lớn nên cần có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến, vì vậy công nghiệp chế biến cần đi trớc một bớc

Để phục vụ cho sự ra đời và phát triển của kinh tế trang trại cũng cần có sự phát triển nhất định của kết cấu cơ sở hạ tầng, trớc hết là giao thông, thuỷ lợi,

điện, sự hình thành và phát triển của các vùng sản xuất chuyên môn hoá cũng là

điều kiện cần thiết giúp cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại đợc thuận lợi hơn Trong thời kỳ hiện nay thì quá trình liên doanh, liên kết và hợp tác giữa các trang trại và với các hình thức khác trong sản xuất cũng là một điều kiện quan trọng và một điều kiện sau cùng nhng cũng không kém phần quan trọng trong nhóm các điều kiện khách quan này đó là phải có môi trờng pháp lý thuận lợi cho kinh tế trang trại ra đời và phát triển

Thứ hai: ta nói đến nhóm điều kiện về phía trang trại đó là chủ trang trại phải

có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nông nghiệp, phải có sự tích tụ nhất định về kinh nghiệm sản xuất, về tri thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh

Ngoài ra cần có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất, trớc hết và quan trọng hơn cả đó là vốn và đất đai

Muốn thu đợc hiệu quả cao thì quản lý sản xuất và kinh doanh của trang trại cũng cần phải dựa trên cơ sở hạch toán và phân tích kinh doanh

Khái niệm và những điều kiện hình thành và phát triển của kinh tế trang trại

đã nêu ở trên đã cho ta thấy đợc phần nào vai trò và vị trí của nó đối với nền kinh

tế quốc dân Không dừng lại ở đó, với đặc trng là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp sản xuất hàng hoá, kinh tế trang trại đã thể hiện đợc vai trò hết sức to lớn trong việc sản xuất lơng thực, thực phẩm cung cấp cho xã hội trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn mới

Trang 6

Trang trại lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm phơng thức sản xuất chủ yếu Vì vậy nó cho phép huy động sử dụng đất

đai, sức lao động và các nguồn lực khách một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả.Trang trại với kết quả và hiệu quả sản xuất cao đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng manh mún, tạo lập chuyên môn hoá, tập trung hoá, góp phần

đẩy nhanh nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá

Qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần thúc đẩy công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất có liên quan ở nông thôn phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn Với cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh tiên tiến, trang trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông qua chính hoạt động sản xuất của mình

Mặt khác, phát triển kinh tế trang trại làm tăng hộ giàu một cách chính đáng, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn,

là tấm gơng cho hộ nông dân về cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến và

có hiệu quả Góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn hiện nay của nớc ta

Không những thế, trang trại còn góp phần to lớn vào việc cải tạo môi trờng sinh thái, thể hiện rõ nhất ở các trang trại trồng cây lâu năm và lâm nghiệp, môi tr-ờng trong sạch, phòng chống bão lũ, những lợi ích không thể tính hết đợc bằng tiền

Với u thế rõ rệt thể hiện trong vị trí và vai trò của mình kinh tế trang trại hiện

đang đợc phát triển rộng khắp và là hình thức sản xuất hàng hoá chủ yếu trong nông nghiệp của tất cả các quốc gia trên thế giới Các trang trại này không ngừng tăng lên về quy mô sản xuất nh ở Mỹ năm 1950 trung bình một trang trại là 86ha,

đến năm 1960 là 120ha và đến năm 1992 đã là 198,7ha ở nớc Anh, tình hình cũng tơng tự, năm 1950 diện tích bình quân một trang trại là 36ha, năm 1987 con

số đó là 71ha

Ngay cả những quốc gia đất nông nghiệp bình quân theo đầu ngời thấp nh Nhật Bản, quy mô sản xuất cũng không ngừng tăng lên, năm 1950, diện tích trung bình là 0,8ha nhng đến năm 1993 con số này là 1,38ha

Quy mô bình quân của các trang trại không ngừng tăng lên còn đợc biểu hiện

ở việc đầu t tiền vốn là t liệu sản xuất không ngừng tăng nh hiện nay ở Tây Âu khoảng 70% trang trại gia đình đã mua máy móc dùng riêng, ở Nhật Bản đến năm

1985 có 67% số trang trại có máy kéo nhỏ và 20% có máy kéo lớn

Trang 7

Sự phát triển của hình thức kinh tế trang trại ở các nớc trên thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học quý báu về phơng thức sản xuất kinh doanh cũng nh xu h-ớng phát triển, hoạt động của nó.

Thực hiện đổi mới theo đờng lối của Đảng và Nhà nớc ở nớc ta hiện nay, phát triển sản xuất nông sản hàng hoá là một tất yếu, là đòi hỏi bức thiết đặt ra từ điều kiện bên trong và bên ngoài

ở trong nớc, nông nghiệp không thể dừng lại ở sản xuất tự túc, mà phải nhanh chóng tiến lên sản xuất nông sản hàng hoá để đáp ứng nhu cầu của công nghiệp hoá đất nớc: bảo đảm lơng thực thực phẩm cho c dân ngoài nông nghiệp ngày càng tăng, bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng nhanh khối lợng nông sản xuất khẩu để phục vụ trở lại nông nghiệp

ở ngoài nớc, nhu cầu về mậu dịch nông sản giữa Việt Nam và các nớc ngày càng tăng, đòi hỏi nhiều nông sản hàng hoá Sản xuất nông sản hàng hoá trong

điều kiện mở cửa, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới không chỉ đòi hỏi khối lợng nông sản nhiều, ổn định, mà còn yêu cầu sản phẩm có chất lợng cao, giá thành hạ, tạo đợc u thế cạnh tranh trên thị trờng nông sản trong nớc và thế giới

Để đáp ứng đợc đòi hỏi tất yếu đó, chúng ta không thể không phát triển kinh

tế trang trại

ý thức đợc vị trí và vai trò quan trọng cũng nh tính tất yếu của việc phát triển kinh tế trang trại đối với toàn bộ sự phát triển của nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng Đảng và Nhà nớc ta đã có những u tiên, khuyến khích cho sự ra

đời và phát triển của kinh tế trang trại trong nông nghiệp nớc ta

Cùng với các chính sách đổi mới toàn diện nền kinh tế, các chính sách, quy

định và luật pháp định hớng, tạo khung pháp lý, khuyến khích trang trại hình thành và phát triển thờng xuyên đợc ban hành và ngày càng hoàn thiện

Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) và luật đất đai (1993) ban hành đã mở

đờng và là chỗ dựa vững chắc để các hộ tiểu nông chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành các trang trại không chỉ ở những vùng đã quen sản xuất hàng hoá mà cả ở những vùng chỉ quanh quẩn sau hàng rào tự cấp, tự túc Tỷ suất hàng hoá nông nghiệp của cả nớc đợc tăng lên rõ rệt

Trong những năm gần đây điều này càng đợc thể hiện rõ nét thông qua chủ trơng đối với kinh tế trang trại đã đợc nêu trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ t của Ban chấp hành Trung ơng Đảng (tháng 12 năm 1997) và Nghị quyết số 06 ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị về phát triển nông nghiệp nông thôn Quyết

Trang 8

định 67/1999/QĐUB ngày 30/3/1999 của Chính phủ về vay vốn không phải thế chấp.

Nghị định số 178/1999/NQ-CP ngày 29/12/1999 về việc trang trại đợc dùng tài sản từ vốn vay để bảo đảm tiền vay Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 quy định về việc thu thuế thu nhập của các trang trại, và mới đây nhất là Nghị quyết số 03/200/NQ-CP ra ngày 02/2/2000 quy định rất rõ về quan điểm cũng nh các chính sách của Nhà nớc đối với việc phát triển kinh tế trang trại Trong đó nêu rõ:

Nhà nớc khuyến khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại Các hộ gia

đình, cá nhân đầu t phát triển kinh tế trang trại đợc Nhà nớc giao đất, cho thuê

đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theo pháp luật để sản xuất kinh doanh.

Nhà nớc đặc biệt khuyến khích việc đầu t khai thác và sử dụng có hiệu quả

đất trống, đồi núi trọc ở trung du, miền núi, biên giới, hải đảo, tận dụng khai thác các loại đất còn hoang hoá, ao, hồ, đầm, bãi bồi ven sông, ven biển, mặt n-

ớc, eo vịnh, đầm phá để sản xuất nông, lâm, ng nghiệp theo hớng chuyên canh với tỷ suất hàng hoá cao Đối với vùng đất hẹp, ngời đông, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại sử dụng ít đất, nhiều lao động, thâm canh cao gắn với chế biến và thơng mại, dịch vụ, làm ra nông sản có giá trị kinh tế lớn.

Ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với những hộ nông dân có vốn, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp hàng hoá và những hộ không có đất sản xuất nông nghiệp mà có nguyện vọng tạo dựng cơ nghiệp lâu dài trong nông nghiệp.

Nhà nớc thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ nông dân, phát triển kinh tế trang trại đi đôi với chuyển đổi hợp tác xã cũ, mở rộng các hình thức kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh giữa các hộ nông dân, các trang trại, các nông, lâm trờng quốc doanh, doanh nghiệp Nhà n-

ớc và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để tạo động lực và sức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp, nông thôn phát triển.

Nhà nớc hỗ trợ về vốn, khoa học - công nghệ chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển bền vững.

Tăng cờng công tác quản lý Nhà nớc để các trang trại phát triển lành mạnh, có hiệu quả.

Trang 9

Với các chính sách nêu trên, chúng ta đang dần tiến tới một bộ chính sách thực sự hoàn chỉnh để khuyến khích kinh tế trang trại phát triển Điều này cũng đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta là chấp nhận và khuyến khích kinh

tế trang trại phát triển nh là một tất yếu trong quá trình đi lên của nền kinh tế đất nớc

Trang 10

Phần II

Thực trạng phát triển kinh tế trang trại

trong nông nghiệp Việt Nam hiện nay

Thực tế, thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại đợc đầu t vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trờng

Hiện nay, hình thức kinh tế trang trại đang tăng nhanh về số lợng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, nhng chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình nông dân

và một tỷ lệ đáng kể của gia đình cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội, công an đã nghỉ hu Hầu hết các trang trại có quy mô đất đai tơng đối nhỏ, nguồn gốc đất đai

đa dạng sử dụng lao động gia đình là chủ yếu; một số trang trại có thuê thuê lao

động thời vụ và thờng xuyên

Hầu hết vốn đầu t là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng, vốn vay của các tổ chức tín dụng chỉ chiếm tỷ trọng thấp Phần lớn trang trại đã phát huy đợc lợi thế của vùng, lấy ngắn nuôi dài có hiệu quả

Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn lực vốn trong dân mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo; tăng thêm nông sản hàng hoá, một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng

Cụ thể, theo số liệu điều tra thực tế 3044 trang trại do trờng ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện ở 15 tỉnh, thành phố trọng điểm trong cả nớc, làm nổi bật nên thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta nh sau:

Trang 11

1-/ Chủ trang trại.

Có sự khác biệt rất lớn về nguồn gốc xuất thân, giới tính của chủ trang trại giữa các vùng, các miền trong cả nớc Nếu tựu chung lại thì có tới 91,85% chủ trang trại là nam giới, trong khi đó chỉ có 8,15% là nữ chủ trang trại

Nguồn gốc xuất thân của chủ trang trại cũng rất đa dạng, trong đó số chủ trang trại là nông dân chiếm tới 62,35%, riêng Khánh Hoà tỷ lệ này là 83,75; Ninh Thuận là 81,25% Cán bộ chủ chốt cấp xã chiếm 8,84%, riêng Yên Bái tỷ lệ này là 17% Số chủ trang trại là bộ đội, công an trở về địa phơng chiếm 8,11% Chủ trang trại là công chức chiếm 4,73% Công nhân đang làm việc chiếm 3,42% và chủ trang trại khác chiếm 3,19%

Số chủ trang trại là Đảng viên chiếm 24,08% Trong đó Yên Bái tỷ lệ này là 52%, Nghệ An 37,04% Số chủ trang trại là đoàn viên thanh niên chiếm 2,92% Trong đó Sơn La chiếm 6,5% và ở Nghệ An tỷ lệ này là 6,3%

2-/ Các yếu tố sản xuất của trang trại.

2.1 Đất đai của trang trại

Đất đai là t liệu sản xuất chủ yếu trong hoạt động sản xuất nông, lâm và thuỷ sản Để phát triển kinh tế trang trại trớc hết phải dựa vào đất đai, nhất là những cây trồng, vật nuôi cần một lợng diện tích đất đủ lớn để sản xuất ra một lợng sản phẩm hàng hoá nhất định Vì thế kinh tế trang trại cần đợc phát triển ở vùng trung du, miền núi và ven biển nơi mà quỹ đất có khả năng khai phá và sử dụng còn lớn Thực tế có sự chênh lệch đáng kể trong quỹ đất của trang trại giữa các tỉnh Trong khi bình quân chung một trang trại có 6,63ha thì ở Nghệ An tỷ lệ này là 12,69ha Yên Bái 10,17ha nhng ở Đồng Nai chỉ có 2,753ha, Sơn La 3,27ha Nhóm trang trại lâm nghiệp có quy mô đất là 20,29ha, trang trại kinh doanh cây lâu năm có 6,10ha, trang trại chăn nuôi có 1,48ha Chủ trang trại nông dân có quy mô 6,27ha, chủ trang trại khác có quy mô lớn hơn 8,66ha

Nguồn gốc đất đai của trang trại cũng rất đa dạng, trong đó phần đất đợc giao chiếm đại bộ phận, tính bình quân phần đất này là 71,83%, tỷ trọng đất cha đợc giao chiếm 28,17%, trong đó diện tích nhận thầu của HTX chiếm 31,46%, nhận chuyển nhợng đất 19,27%, nhận thầu của nông - lâm trờng chiếm 18,9%, tự khai hoang chiếm 17,99%, nhận khoán chủ dự án 9,59% Cá biệt có các trang trại ở Thanh Hoá và Hà Nội tỷ lệ đất cha đợc giao chiếm trên 50% trong đó chủ yếu nhận thầu của HTX trên 72% ở Nghệ An, tỷ trọng đất cha đợc giao chiếm 21,48% nhng ở đây các trang trại phần lớn nhận thầu đất đai của các nông, lâm tr-ờng và chủ dự án (chiếm 76,13%) với nhiều hình thức rất khác nhau

Trang 12

Cơ cấu quỹ đất của các trang trại bao gồm đất nông nghiệp chiếm 58,81%,

đất lâm nghiệm chiếm 28,73% đất nuôi trồng thuỷ sản chiếm 11,49% và đất thổ c0,97% Cơ cấu đất đai tuỳ thuộc vào điều kiện từng địa phơng, từng hớng kinh doanh sản xuất, từng nhóm chủ trang trại Gialai, Đăklăk tỷ trọng đất nông nghiệp chiếm cao từ 92-95%, trong khi đó các trang trại Yên Bái đất nông nghiệp chiếm 30,8%, đất lâm nghiệp chiếm 67,64% Nghệ An đất nông nghiệp chiếm 23,98%,

đất lâm nghiệp chiếm 64,46% Các trang trại kinh doanh cây lâu năm đất nông nghiệp chiếm trên 80%, nhóm trang trại lâm nghiệp, tỷ trọng đất lâm nghiệp chiếm 90% Nhóm trang trại thuỷ sản, diện tích mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản chiếm 80,3%

Nghiên cứu biểu số 1 sau đây ta sẽ thấy rõ đợc điều này

Biểu 1: Nguồn đất bình quân năm

(Chung 15 tỉnh)

Đơn vị: ha

Tiêu chí Đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp nuôi thuỷ sản Mặt nớc Tổng số

1- Đất nhận thầu của HTX 0,1713 0,0265 0,3847 0,5826 2- Thuê của t nhân 0,0192 0,0013 0,0018 0,0223 3- Nhận chuyển nhợng 0,3294 0,0136 0,0139 0,3569

Trang 13

2.2 Vốn và nguồn vốn của trang trại.

Vốn là yếu tố quan trọng, để phát triển kinh tế trang trại đòi hỏi phải có vốn, trong đó các chủ trang trại cần phải tích tụ một lợng vốn tự có nhất định, đó là một trong những điều kiện tiên quyết, nếu không có điều kiện này sẽ không thể hình thành trang trại một cách thuận lợi Quy mô vốn bình quân một trang trại tơng đối lớn, đạt 291,43 triệu đồng những lại có sự chênh lệch lớn giữa các địa phơng

Trang 14

BiÓu 2 - Nguån vèn b×nh qu©n trang tr¹i thêi ®iÓm ®iÒu tra

Yªn B¸i

Qu¶ng Ninh

Hµ Néi

Thanh Ho¸

NghÖ An

Gia Lai

§¾c L¾c

L©m

§ång

Kh¸nh Hoµ

Ninh ThuËn

B×nh D¬ng

§ång Nai

Long An

Cµ Mau

I Tæng sè vèn 291,43 111,24 95,90 112,67 164,60 120,36 113,66 372,75 619,52 552,96 360,57 348,62 489,68 209,74 159,70 151,00 Vèn tù cã 265,18 88,71 85,02 102,04 125,66 97,10 99,66 344,19 595,75 513,22 334,14 304,33 439,71 189,41 141,30 136,82

Trang 15

Nhìn vào biểu 2 ta thấy rằng quy mô vốn bình quân một trang trại ở mỗi tỉnh không đều nhau Cao nhất là các trang trại Đăklăk đạt 619,50 triệu, thấp nhất là Yên Bái đạt 96,38 triệu đồng Nhóm trang trại chăn nuôi lợn và trồng cây lâu năm theo thống kê điều tra có quy mô trên 300 triệu đồng.

Nguồn vốn chủ yếu dựa vào vốn tự có là chính, bình quân các trang trại vốn

tự có chiếm 91,3% Vốn vay chiếm 8,93% trong đó vốn vay trực tiếp từ ngân hàng chiếm 48,08%, vốn đầu t ứng trớc chiếm 10,19% vay theo dự án 6,7%, vay khác chiếm 34,99%

Nguồn vốn vay của các trang trại rất đa dạng, phần lớn các tỉnh phía Nam các trang trại dựa vào vốn vay trực tiếp từ ngân hàng chiếm tỷ trọng cao nh Gia Lai chiếm 65,57%, Đăklăk chiếm 66,34%, Ninh Thuận 73,83%, Long An là 68,76% một số tỉnh khác lại dựa vào đầu t ứng trớc nh Sơn La chiếm 53,17% vốn vay, Yên Bái dựa vào vay dự án chiếm 37,37%, Hà Nội dựa vào vốn vay khác chiếm 52,56% Tuỳ thuộc vào điều kiện sản xuất của từng địa phơng từng hớng kinh doanh chính mà cơ cấu giá trị sản xuất và tài sản chủ yếu có sự khác nhau giữa các trang trại Trang trại ở Gia Lai, Đắc Lắc tỷ trọng giá trị vờn cây lâu năm chiếm trên 84%, giá trị tài sản cố định có nguồn gốc kỹ thuật chiếm 10,41% Trang trại ở

Đồng Nai giá trị tài sản có nguồn gốc kỹ thuật chiếm cao 28,37%, giá trị đàn vật nuôi cơ bản chiếm 11,08%

2.3 Về sức lao động.

Trang 16

Bảng 3 - Phân tổ số trang trại điều tra theo quy mô lao động trong độ tuổi và lao động làm thuê

Đơn vị: trang trại

Số

TT Tiêu thức phân tổ Sơn Chia theo Tỉnh 15 tỉnh Chung

La Yên Bái Quảng Ninh Nội Hà Thanh Hoá Nghệ An Gia Lai Đắc Lắc Đồng Lâm Khánh Hoà Thuận Ninh Dơng Bình Đồng Nai Long An Mau Cà

II Phân tổ theo số lao động làm thuê thờng xuyên

Số trang trại thuê LĐ

III Phân tổ theo số ngày công lao động thuê theo thời vụ

Số trang trại thuê LĐ

Trang 18

Đại bộ phận các chủ trang trại là nam giới và dân tộc kinh Trình độ văn hoá của chủ trang trại có trình độ cấp II trở lên chiếm 80,7%, trong đó các chủ trang trại ở Hà Nội, Thanh Hoá, Nghệ An chiếm tỷ lệ từ 91,8 đến 96,7% Các chủ trang trại có trình độ chuyên môn từ sơ cấp đến đại học có 949 ngời, chiếm 31,8%, trong đó số có trình độ đại học chỉ chiếm 5,6% Số lao động trong độ tuổi bình quân 1 trang trại là 2,86 ngời lao động trên độ tuổi là 0,41 ngời, lao động dới độ tuổi là 0,84 ngời.

Qua số liệu ở biểu 3 cho thấy số lao động làm thuê ở các trang trại cha nhiều, bình quân một trang trại thuê 0,98 lao động thờng xuyên, trong đó các trang trại ở

Đắc Lắc thuê gần 2 lao động, ở Hà Nội, Thanh Hoá thuê gần 1,5 lao động

Trong số 3044 trang trại điều tra có 1184 trang trại thuê lao động thờng xuyên (chiếm 38,90%) trong đó các trang trại ở Lâm Đồng chiếm 51,79%, ở Đắc Lắc là 76,51%

Phân tổ các trang trại thuê lao động thờng xuyên từ 1-2 lao động chiếm 69,01%, trong đó tỷ lệ này ở các trang trại Nghệ An là 90%, Gia Lai chiếm 72,79% Số lao động thuê từ 3-4 lao động thờng xuyên chiếm 18,92%, riêng các trang trại ở Lâm Đồng chiếm 24,14%, Thanh Hoá là 28,68%

Số trang trại thuê thờng xuyên từ 5 lao động trở lên chiếm 12,08%, trong đó các trang trại ở Hà Nội chiếm 21,88%, Bình Dơng 21,10% Có 2403 trang trại thuê lao động theo thời vụ, chiếm 78,95% tổng số trang trại điều tra, trong đó có 80,32% các trang trại thuê hàng năm dới 500 ngày công

Số trang trại từ 1000 ngày công trở lên rất ít, chỉ có 139 trang trại

3-/ Tổ chức hoạt động sản xuất của trang trại.

Trên cơ sở đất đợc giao, vốn tự có và vốn vay kết hợp với sức lao động của gia đình hoặc có thể thuê thêm lao động, các chủ trang trại đã tiến hành sản xuất kinh doanh, thu đợc nhiều lợi nhuận, tạo đợc việc làm cho một bộ phận không nhỏ ngời dân có thu nhập ổn định

3.1 Các loại hình sản xuất kinh doanh.

Các chủ trang trại đã lựa chọn hớng kinh doanh sản xuất hàng hoá chính kết hợp với phát triển tổng hợp theo phơng châm lấy ngắn nuôi dài, khai thác tổng hợp các tiềm năng sẵn có để phát triển kinh tế, sớm đa các trang trại vào định hình sản xuất

Trang 19

Trong 3044 trang trại đợc điều tra, hớng hoạt động chủ yếu đợc tập trung vào các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.

Nhìn vào biểu 4 ta thấy có 2619 trang trại kinh doanh nông nghiệp là chính, riêng trồng trọt có 2353 trang trại với các hớng kinh doanh chính: cây hàng năm (lúa, mía) có 421 trang trại, cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su, chè, hồ tiêu,

điều, ) có 1588 trang trại, cây ăn quả (vải, nhãn, cam, xoài, ) có 344 trang trại Trong số 1588 trang trại có hớng sản xuất kinh doanh chính là cây công nghiệp lâu năm đợc phân bố tơng đối đều về số lợng giữa ba vùng lớn, song đáng chú ý vùng Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung, số trang trại này chiếm tỷ trọng lớn: 86,95% tổng số trang trại của vùng Trong đó cây cà phê đợc trồng nhiều ở các trang trại Đắc Lắc với 1314,6ha, ở Gia Lai 1137,5ha, ở Lâm Đồng 1098,6ha Cây cao su tập trung chủ yếu ở các trang trại của Bình Dơng với 1711,9ha, Gia Lai 128,3ha Các trang trại kinh doanh chè ở Lâm Đồng với 114,3ha, Yên Bái 178,3ha

và Nghệ An 103,6ha

Biểu 4: Số lợng trang trại phân theo hớng sản xuất

kinh doanh chính ở 3 vùng lớn của nớc ta.

Đơn vị: Trang trại

Nhóm trang trại theo các

hớng kinh doanh Tổng số Các tỉnh Trong đó phân theo 3 vùng lớn

miền Bắc Tây Nguyên và Duyên Hải miền Trung Nam Bộ

Trang 20

3.2 Đầu t chi phí sản xuất của trang trại.

Đầu t chi phí sản xuất bình quân chung 1 trang trại khá lớn là 69,722 triệu

đồng, trong đó chi phí vật chất chiếm 71,64%, chi phí lao động chiếm 24,94% và chi phí khác chiếm 3,43% Mức chi phí này lại không đều giữa các tỉnh Giữa tỉnh cao nhất và thấp nhất chênh lệch tới 11 lần Quan hệ giữa đầu t chi phí vật chất và chi phí lao động của trang trại giữa các vùng cũng khác nhau, nhìn chung các trang trại ở các tỉnh phía Nam tỷ trọng chi phí vật chất cao, trên 80% tổng chi phí sản xuất Ngợc lại ở các tỉnh phía Bắc và khu 4 cũ lại chi nhiều cho lao động và tỷ trọng này lên tới 37% Đầu t chi phí trong các trang trại chăn nuôi lợn, gia cầm rất cao ở chi phí vật chất (trên 90%) chi phí lao động chỉ chiếm từ 6-8,5% Đầu t chi phí vật chất lao động bình quân 1 trang trại là 17,387 triệu đồng, trong đó tiền công thuê là 9,376 triệu, chiếm 58,88% Các trang trại trồng cây lâu năm chiếm 75,3% tổng số tiền công thuê của ngành trồng trọt và chiếm 60,44% chi phí lao

động của nhóm trang trại này Nhóm trang trại chăn nuôi lợn và gia cầm tỷ trọng tiền công thuê chiếm hơn 16% chi phí lao động

3.3 Cơ cấu sản xuất của trang trại.

Cơ cấu sản xuất của trang trại là biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ về lợng của các ngành, các bộ phận cấu thành trong sản xuất ở đây, ta tập trung xem xét cơ cấu sản xuất của trang trại trên hai chỉ tiêu chính đó là: cơ cấu giá trị sản xuất (tổng thu) và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các ngành, các bộ phận sản xuất trong trang trại

Trang 21

Biểu 5: Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá của các trang trại

theo hớng kinh doanh khác nhau

Đơn vị: %

Nhóm trang trại theo

h-ớng kinh doanh Tổng số Trồng trọt Chăn nuôi Trong đó Thuỷ sản

đó chủ yếu là cây công nghiệp và cây ăn quả) chăn nuôi chiếm 19,99%, thuỷ sản

và lâm nghiệp chiếm 17,09% ở Duyên hải miền Trung tỷ trọng giá trị sản xuất thuỷ sản chiếm 77,27%, tỷ trọng ngành trồng trọt chiếm 21,8% (chủ yếu là cây ăn quả) Các trang trại thuộc nhóm có hớng kinh doanh cây ăn quả, cây hàng năm, cây lâu năm, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt chiếm từ 73 đến 97% Nhóm trang trại chăn nuôi đại gia súc, chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi lợn tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm từ 78-98% Nhìn vào biểu 4 ta cũng thấy rằng cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hoá các trang trại cũng phản ánh xu thế chung t-

ơng tự nh cơ cấu giá trị sản xuất

Nhìn chung các trang trại có tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành, sản phẩm cao hoặc thấp thì tơng tự cũng có tỷ trọng giá trị sản phẩm hàng hoá của các

Trang 22

ngành, sản phẩm tơng ứng cao hoặc thấp Giữa hai chỉ tiêu có sự chênh lệch nhng

đều phản ánh xu hớng chung đó

4-/ Kết quả và hiệu quả sản xuất của trang trại.

Kinh tế trang trại nớc ta mới phát triển và đã phát triển tơng đối mạnh trong những năm gần đây, nhng phần lớn trang trại đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản đối với các vờn cây lâu năm, rừng trồng nguyên liệu, nhất là các trang trại bớc đầu đã

đem lại kết quả rõ rệt Điều này thể hiện trên nhiều mặt, tuy nhiên chúng ta chỉ xem xét trên một số mặt chủ yếu sau đây:

4.1 Tổng doanh thu của trang trại.

Biểu 6: Tổng thu bình quân một trang trại năm 1998

Trang 23

ở thời kỳ kiến thiết cơ bản Ngợc lại các trang trại ở Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ đạt mức doanh thu khá cao.

Các trang trại có hớng kinh doanh chăn nuôi lợn, gia cầm, thuỷ sản có quy mô doanh thu lớn, cao hơn nhiều so với mức bình quân chung Chủ trang trại nông dân và chủ trang trại khác có mức tổng thu cao hơn mức trung bình chung, đạt 110

đến 139 triệu đồng

4.2 Giá trị sản phẩm hàng hoá của trang trại.

Sản xuất hàng hoá là đặc trng cơ bản và bản chất của kinh tế trang trại, để

đánh giá trình độ phát triển kinh tế hàng hoá có thể sử dụng hai chỉ tiêu đó là quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá và tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hoá

Giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân một trang trại điều tra là 91,449 triệu

đồng, trong đó các trang trại ở các tỉnh có quy mô nhỏ đạt từ 18-27 triệu đồng nh Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An Ngợc lại các tỉnh nh Đắc Lắc, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Ninh Thuận đạt quy mô từ 132 triệu đồng trở lên Các sản phẩm hàng hoá của trang trại điều tra, chủ yếu là nông sản và thuỷ sản Cha có lâm sản vì đại đa

số rừng trồng đang trong thời gian chăm sóc và tu bổ Tất cả những điều này đợc thể hiện rất rõ ở biểu 7

Quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá của trang trại giữa các vùng có sự chênh lệch khá lớn Trong khi các trang trại vùng núi phía Bắc quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá còn nhỏ, phần lớn đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản thì ở vùng Duyên Hải miền Trung chủ yếu kinh doanh thuỷ sản có quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá lớn Nhóm trang trại lâm nghiệp quy mô giá trị sản phẩm mới đạt 19,322 triệu

đồng, trong đó ngành chính là lâm nghiệp cha có sản phẩm hàng hoá, giá trị sản phẩm hàng hoá trên là kết quả của mô hình lâm nông kết hợp, lấy ngắn nuôi dài

Ngày đăng: 19/03/2013, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Kinh tế trang trại gia đình Việt Nam và thế giới của Trần Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại gia đình Việt Nam và thế giới
Tác giả: Trần Đức
13. Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH - HĐH ở Việt Nam - GS.TS Nguyễn Đình Hng chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH - HĐH ở Việt Nam
Tác giả: GS.TS Nguyễn Đình Hng
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII Khác
2. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng Khác
3. Nghị quyết số 06 ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị Khác
4. Nghị định số 51/1999/ND-CP của Chính phủ Khác
5. Nghị định số 30/1998/ND-CP sửa đổi Khác
6. Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ Khác
8. Giáo trình kinh tế nông nghiệp và quản trị doanh nghiệp nông nghiệp của Trờng ĐH KTQD Khác
9. Tạp chí kinh tế nông nghiệp số 4/2000 Khác
10. Xu thế phát triển nông nghiệp thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XXI Khác
12. Nghiên cứu kinh tế số 248. Tháng 1/1999 Khác
14. Tạp chí nông thôn mới - Số 1, 2 năm 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3 - Phân tổ số trang trại điều tra theo quy mô lao động trong độ tuổi và lao động làm thuê - những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại
Bảng 3 Phân tổ số trang trại điều tra theo quy mô lao động trong độ tuổi và lao động làm thuê (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w