1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích chiến lược đối với ngân hàng acb.doc

41 1,8K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Chiến Lược Đối Với Ngân Hàng ACB
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngân Hàng
Thể loại bài thảo luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP HCM
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 354,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tích chiến lược đối với ngân hàng acb

Trang 1

Bài thảo luận nhóm

I Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần ACB:

1.1 Giới thiệu về ngân hàng ACB

- Tên đầy đủ: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phân Á Châu

- Tên giao dịch: Bằng tiếng anh Asia Commercial Bank

- Tên viết tắt: ACB

- Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP HCM

- Thành lập: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đã được thành lập

theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày24/04/1993, GIấy phép số 553/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh cấpngày 13/05/1993 Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động

- Loại hình doanh nghiệp: Ngân hàng cổ phần

Kể từ ngày 10/09/2009 vốn điều lệ của ACB là 7.705.743.780.000 đồng (Bảy

nghìn bảy trăm lẻ năm tỷ bảy trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm tám mươi nghìnđồng)

1.2 Ngành nghề knh doanh và các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) của Ngân hàng ACB

* Lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp:

 Giao dịch chứng khoán: theo giấy phép kinh doanh số 4104000006 cấp ngày29/06/2000

 Giao dịch vàng (saigon gold and silver ACB-SJC joint stock company) theogiấy phép số 4103003427 cấp ngày 24/05/2005

 Cho thuê tài chính

 Quản lý và khai thác

* Các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU: strategic Business)

Trang 2

 Trung tâm giao dịch vàng và bất động sản

 Công ty cổ phần địa ốc ACB (ACB Real Estate Joint Stock Company):ACBR được thành lập theo Giấy Chứng Nhận đăng ký kinh doanh số

4103000755 ngày 28/12/2001 do Sở Kế Hoạch Đầu Tư Tp HCM cấp

 Công ty chứng khoán ACB (ACB Securities): ACBS là một công ty TNHHmột thành viên, được Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước cấp phép hoạt độngkinh doanh ngày 29/06/2000 và được Sở Kế Hoạch Đầu Tư TP HCM cấpgiấy Chứng Nhận Đăng Ký Kinh Doanh số 4104000006 ngày 30/06/2000

 Công ty thẩm định giá địa ốc Á Châu (AREV – asia real estate valuation):AREV được thành lập vào tháng 11/2006 theo quyết định thành lập số 29/ACBR – QD ; ngày 01/11/2006 của Cty CP Địa ốc ACB Giấy chứng nhậnĐKKD số: 4104000220 ; ngày 24/11/06 của Sở KHĐT TP.HCM

 Công ty TNHH Một Thành viên Quản lý Quỹ ACB (ACB CapitalManagement Company Limited) Chủ sở hữu: Công ty chứng khoán ACB

 Công ty Cho thuê Tài chính Ngân hàng Á Châu (ACB Leasing)

 Trung tâm thẻ ACB (ACB Card)

 Công ty dịch vụ bảo vệ

 Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB

 Công ty cổ phần Sài Gòn Kim Hoàn ACB – SJC: Thành lập theo giấy phép

Sứ mạng kinh doanh của ACB được thể hiện thông qua khẩu hiệu “Ngân hàng

Á Châu – Ngân Hàng của mọi nhà”

1.4 Mục tiêu chiến lược

Trang 3

* Mục tiêu dài hạn: ACB đang thực hiện chiến lược 5 năm của mình với mục tiêu

trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam về tài sản, vốn và chất lượng hoạtđộng

 Tăng trưởng cao bằng cách tạo nên sự khác biệt cơ sở hiểu biết nhu cầukhách hàng ACB

 Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả đồng bộ và chuyên nghiệp

 Duy trì tình trạng tài chính ở mức độ an toàn, tối ưu hoá việc sử dụng vốn cổđông (30%)

 Có chiến lược chuẩn bị nguồn nhaan lực và đào tạo lực lượng nhân viênchuyên nghiệp

 Xây dựng “Văn hoá ACB” trở thành yếu tố tinh thần gắn kết toàn hệ thốngmột cách xuyên suốt

 Phong phú về sản phẩm

 Không bỏ sót khách hàng

* Mục tiêu ngắn hạn:(2009): “Mục tiêu tăng trưởng tăng trưởng tín dụng của

ACB trong năm 2009 từ 85%-90%, nợ xấu, kiềm chế dưới 1,2%”

 Mục tiêu của ACB là tăng thị phần tín dụng của mình lên mức 5% và tăng tỉ

lệ cho vay trên huy động từ 40% trong năm 20008 lên 50% trong năm 2009.Cũng trong năm 2009 ACB dự định mở thêm 38 chi nhánh, phòng giao dịchmới

1.5 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của ACB trong những năm gần đây

Chỉ tiêu( Triệu đồng) Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

Tổng doanh thu 3,217,362 6,405,118 13,479,274

Tổng chi phí 2,584,143 4,278,303 10,918,694

lợi nhuận trước thuế 687,219 2,126,815 2,560,580

Lợi nhuận sau thuế 505,576 1,760,008 2,210,682

Trang 4

Nhận xét: Hoạt động của Ngân hàng ACB không ngừng phát triển tổng tài sản

không ngừng tăng lên với tốc độ tăng đáng nể là từ 40%-50%/năm Lợi nhuận củangân hàng cũng tăng nhanh mặc dù trong giai đoạn này kinh tế thế giới đang chịuhậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ nhất là trong năm 2008 nhưnglợi nhuận của ACB vẫn tăng khoảng 20% so với năm 2007 từ 1,760 tỷ lên 2,210

tỷ Với các chỉ số tài chính trên ta có thể thấy phần nào vị thế của ACB trongngành ngân hàng Việt Nam

II.Phân tích môi trường bên ngoài

2.1 Các nghành kinh doanh của doanh nghiệp

 Huy động vốn (Nhận tiền gửi của khách hàng) bằng Việt Nam đồng, ngoại

 Kinh doanh ngoại tệ và vàng

 Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ

2.2 Tốc độ tăng trưởng ngành

- Tốc độ tăngtrưởng năm 2006: Tốc độ tăng trưởng ngành ngân hàng đạt 75,09%

- Tốc độ tăng trưởng năm 2007: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn đạt 36,5% và

tăng trưởng dư nợ tín dụng đạt 34%

- Tốc độ tăng trưởng năm 2008: Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2008 là 20,4%,

tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn do ảnh hưởng của khủng hoảng tàichính thế giới

- Tố độ tăng trưởng năm 2009: Tín dụng từ đầu năm đến nay tăng trưởng đến

14,9% trong khi tốc độ tăng trưởng trong 3 tháng đầu năm 2009 chỉ là 2,6% Tăngtrưởng tín dụng năm 2009 có thể đạt 25% vượt dự báo của ngân hàng Nhà Nước

Trang 5

Đánh giá: Theo nhận định của các chuyên gia thì ngành ngân hàng Việt Nam đang

trong giai đoạn tăng trưởng mạnh Với các tiềm năng phát triển của ngành:

 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn và tín dụng toàn ngành khá cao và vượt xatốc độ tăng trưởng GDP: Bình quân giai đoạn 2003- 2007 trên 30%/năm, caohơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP.Tuy năm 2008 tốc độ đó có chữnglại ở mức 25% nhưng cũng là ở mức cao

 So với tổng số dân 85 triệu, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ tài chính ngânhàng rất thấp, khoảng 5-8 triệu dân, tức chưa đến 10% dân số tiếp cận loạihình dịch vụ này

 Theo cuộc khảo sát bởi công ty tư vấn và quản lý McKinsey tiến hành, chobiết thanh niên Việt Nam ngày càng tin tưởng vào các ngân hàng thươngmại và thích sử dụng các dịch vụ ngân hàng hơn so với các thế hệ trước Sựkhác nhau về khuynh hướng tiêu dùngtheo tuổi tác ở Việt Nam hiện nay làkhá nổi bật, thể hiện qua xu hướng sử dụng các dịch vụ ngân hàng như thẻtín dụng, vay vốn, ngân hàng internet trong giới trẻ đang ngày càng tăng.Hiện nay có gần 10% dân số Việt Nam tiếp cận các dịch vụ của các tổ chứctài chính và khoảng 60% người dân thành phố có tài khoản tiết kiệm

(Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam)

= > Nhìn chung, thị trường Việt rất tiềm năng cho nghành ngân hàng phát triển, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng bán lẻ, bất chấp những khó khăn trong giai đoạn hiện nay

2.3 Tác động của môi trường vĩ mô đến ngành ngân hàng

a Nhân tố kinh tế:

 Do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lượng vốn đầu

tư trực tiếp FDI vào Việt Nam có xu hướng giảm nhẹ trong năm 2008 vànhững tháng đầu năm 2009, kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, ngườidân thắt chặt hầu bao của mình các doanh nghiệp hầu như không mở rộngsản xuất chính điều đó cũng ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn của cácngân hàng tình trạng đói tín dụng trở thành tình trạng chung của các ngânhàng trong giai đoạn này Hơn nữa cơn bão khủng hoảng tài chính năm 2007cũng làm cho một loạt các ngân hàng có tiêng trên thế giới lâm nạn LehmanBrothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG,… làm chỉ số niềm tin của kháchhàng vào khối ngành ngân hàng giảm xút mạnh người dân chủ động bảo vệđồng tiền của mình bằng các kim loại quý và ngoại tệ mạnh

Trang 6

 Những dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế thế giới trong quý III năm 2009cũng mang theo những nguy cơ mới cho ngành ngân hàng Theo các nhàphân tích kinh tế thì những tháng cuối năm 2009 tình hình lạm phát củanước ta có thể gia tăng do sự tăng mạng của giá vàng và giá xăng dầu sẽ kéotheo sự tăng giá của một loạt các hàng hoá khác hơn nữa tết Nguyên Đánđang đến gần nhu cầu về hàng hoá tăng mạnh cũng làm giá hàng hoá tăng.Việc lạm phát xảy ra sẽ làm hoạt động của các ngân hàng gặp khó khăn:

- Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốn củacác ngân hàng gặp nhiều khó khăn Để huy động được vốn, hoặc không muốn vốn

từ ngân hàng mình chạy sang các ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huy độngsát với diễn biến của thị trường vốn Nhưng nâng lên bao nhiêu là hợp lý, luôn làbài toán khó đối với mỗi ngân hàng Một cuộc chạy đua lãi suất huy động ngoàimong đợi tại hầu hết các ngân hàng (17% – 18%/năm cho kỳ hạn tuần hoặc tháng),luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lại tiếp tục cạnh tranh đẩy lãi suấthuy động lên, có ngân hàng đưa lãi suất huy động gần sát lãi suất tín dụng, kinhdoanh ngân hàng lỗ lớn nhưng vẫn thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệthống NHTM

- Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặt tiền

tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanhnghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng chomột số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệuquả, với mức độ rủi ro cho phép Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãisuất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng,rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng vàngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó khănđối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với cáckhách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạntrong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ Điều này đã ảnh hưởng đếntính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra làđiều khó tránh khỏi

 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, thì theo cam kết khi gianhập WTO, kể từ ngày 01/04/2009, các TCTD nước ngoài được thành lậpngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam với các ràng buộc về vốn.Đây sẽ là sức ép rất lớn đối với các NHTM trong nước Cho đến thời điểmhiện nay, cả nước có 4 NHTM nhà nước, 6 ngân hàng liên doanh, 37 NHTM

Trang 7

cổ phần, 44 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; 14 công ty tàichính; 13 công ty cho thuê tài chính; 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.Riêng trong năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã cấp phép thành lập mới 05ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, 03 NHTM cổ phần làNHTM cổ phần Tiên Phong, NHTM cổ phần Liên Việt và NHTM cổ phầnBảo Việt Như vậy, với một thị trường tài chính còn non trẻ chưa có kinhnghiệm thích ứng, xử lý với những biến động của kinh tế thị trường chưa cónhiều nhưng lại có quá nhiều chủ thể cung ứng dịch vụ ngân hàng thì việcbảo đảm cho các NHTM trong nước có vị trí xứng đáng trên thị trường quả

là công việc khó khăn, nhất là tiềm lực tài chính và kinh nghiệm kinh doanh.Bên cạnh những khó khăn thì khi ra nhập WTO cũng tạo cho các ngân hàng

cơ hội mới, các ngân hàng tiếp cận được với các phương pháp làm việc mới

và các sản phẩm mới của các ngân hàng nước ngoài hơn nữa để cạnh tranhthì các ngân hàng phải thay đổi mình làm cho hoạt động hiệu quả hơn từ đóthúc đẩy sự phát triển của các ngân hàng mang thương hiệu Việt trên trườngquốc tế

 Sự phục hồi của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2009 tạo điềukiện cho các ngân hàng có thể huy động vốn và cung cấp các dịch vụ thanhtoán của mình cho khách hàng

b Nhân tố chính trị - pháp luật

* Chính trị

Nền chính trị Việt Nam được đánh giá là có sự ổn định cao trên thế giới Đây làmột yếu tố rất thuận lợi cho ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.Với nền chính trị như vậy sẽ giúp cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp tránh được những rủi ro do chính trị gây ra Đây là một yếu tố hấpdẫn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư nhiều hơn vào thị trường Việt Nam trong đó

có ngành ngân hàng

- Thuận lợi:

+ Thu hút vốn đầu tư nước ngoài để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 8

+ Có điều kiện thuận lợi mở rộng thị trường

+ Xúc tiến việc liên kết giữa các ngân hàng

+ Có thể ổn định nguồn nhân lực của mình

- Cơ chế điều hành lãi suất:

 Hiện nay, ngày 16/5/2008, bằng Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN lãi suấthuy động sẽ chính thức bị khống chế trong hạn mức không vượt quá 150%lãi suất cơ bản do NHNN quy định (trừ trường hợp cho vay các nhu cầu vốnphục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tíndụng theo quy định tại Thông tư số 01/2009/TT-NHNN ngày 23/01/2009)

 Tại Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 NHNN đưa ra cáchxác định mức trần có khác đó là lãi suất cho vay không được vượt quá 150%lãi suất cơ bản do NHNN quy định

= >Với cơ chế lãi suất như vậy gây nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của các ngânhàng đi ngược với tiến trình hội nhập

Trang 9

- Cơ chế điều hành tỷ giá

 Theo cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thểdùng công cụ “tỷ giá bình quân liên ngân hàng” và “biên độ” để kiểm soát tỷgiá trên thị trường Mặc dù gọi là tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhưngNHNN thường ấn định tỷ giá này theo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô,thường là mang tính dài hạn Vì thế đôi khi nó có một “độ lệch” nhất định sovới thực tế biến động ngắn hạn trên thị trường

- Cơ chế quản lý ngoại hối

có thể đổi mới không chỉ quy trình nghiệp vụ mà còn có thể đổi mới về cách thứcphân phối đặc biệt phát triển các sản phẩm dịch vụ mới nhu thanh toán điện tử, vítiền điện tử…

- Công nghệ - kỹ thuật Việt Nam đang phát triển mạnh và dần bắt kịp các nướctrong khu vực và trên thế giới, trình độ đội ngũ các cán bộ công nghệ - kỹ thuật củaViệt Nam không ngừng được nâng cao cả về chất lượng và số lượng đáp ứng đượcđòi hỏi hiện đại hoá ngành ngân hàng trong thời kỳ hội nhập sâu rông nền kinh tếthế giới

- Đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của internet cũng như các phương tiệnthông tin đại chúng thì người dân có thể dễ dàng tìm hiểu về ngân hàng và ngượclại các ngân hàng cũng đễ dàng nắm bắt tâm lý và nhu cầu của khách hàng về sảnphẩm dịch vụ của mình Hơn thế nữa các đối tác nước ngoài hay khách hàng nướcngoài cũng có thể đến với ngân hàng

Trang 10

d Nhân tố văn hoá - xã hội

Hành vi của khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chi phối

khá nhiều bởi yếu tố văn hoá Trình độ văn hoá, thói quen tiêu dùng của người dân

cũng ảnh hưởng đến hành vi và nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng

 Ở Việt Nam thì phần lớn người dân ở lứa tuổi trung niên người nắm nguồn

tài chính lớn trong gia đình thì thường có tâm lý gửi tiền vào hoặc đi vay tại

các ngân hàng thương mại nhà nước vì nghĩ an toàn hơn Tâm lý đó cũng

ảnh hưởng lớn tới hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần của tư

nhân

 Xu hướng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng của giới trẻ ngày càng tăng

như vay vốn, thẻ tín dụng, thẻ ATM, ngân hàng điện tử tạo ra một trào lưu

mới ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các ngân hàng

 Trình độ của người dân Việt Nam không ngừng tăng lên làm cho nhận thức

người dân về lợi ích và vai trò của hoạt động ngân hàng cũng tăng lên nhanh

chóng Hơn nữa việc mua sắm ở các siêu thị và trung tâm thương mại lớn

đang trở thành thói quen của người dân ở các thành phố và đô thị lớn và việc

thanh toán điện tử đã và đang thay thế dần kiểu thanh toán truyền thống

 Tốc độ đô thị hoá của Việt Nam trong những năm gần đây phát triển rất

mạnh các khu chung cư và căn hộ cao cấp mọc lên ở khắp nơi, ngươi dân

qua đó có thể dễ dàng tiếp cận các dịch vụ ngân hàng như mua nhà trả góp…

 Việt Nam có tới 85 triệu dân nhưng mới chỉ có chưa tới 10% dân số sử dụng

các dịch vụ ngân hàng đây là một thị trường đầy tiềm năng

 Thu nhập và mức sống người dân Việt Nam trong những năm gần đây được

nâng cao đáng kể Với thu nhập tăng cao thì người dân có tiền tích luỹ và

đầu tư do vậy ngân hàng sẽ là nơi mà họ tìm đến để gửi tiền

Mô thức EFAS

Các nhân tố chiến lược Độ quan

trọng

Xếploại

Tổngđiểm quantrọng

Chú giải

- Việt Nam ra nhập WTO 0.1 4 0.4 Mở rộng thị trường

Trang 11

- Nguy cơ lạm phát quay

trở lại vào cuối năm

Nhận xét: Theo mô hình EFAS tổng điểm quan trọng của ACB là 3.1 chứng tỏ

trong quá trình hoạt động của mình ACB đã có những chiến lược phù hợp để tận

Trang 12

dụng và nắm bắt cơ hội kinh doanh và đồng thời cũng đưa ra những chính sáchchiến lược để đương đầu với các thách thức một cách khéo léo, linh hoạt luôn ở thếchủ động chứ không bị động

2.4 Đánh giá cường độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng

* Tồn tại các rào cản ra nhập nghành

- Yêu cầu về vốn đối với các ngân hàng tương đối lớn Theo quy định của ngânhàng Nhà Nước vốn điều lẹ tối thieeur của các ngân hàng thương mại tính đến31/12/2008 là 1000 tỷ VNĐ và từ 01/01/2009 là 3000 tỷ VNĐ Đây là con sốkhông nhỏ và là rào cản ra nhập ngành lớn

- Mức độ cạnh tranh trong ngành cao Các ngân hàng đều có thâm niên và tiềm lựcvốn tương đối lớn, lượng khách hàng truyền thống và thị phần nhất định nên không

dễ cho các ngân hàng mới trong cuộc chiến dành thị phần

- Ngân hàng là một ngành khá nhạy cảm Một ngân hàng lớn sụp đổ có thể kéotheo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống và nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng Do vậyngân hàng Nhà Nước thường cân nhắc kỹ trước những yêu cầu xin thành lập ngânhàng

*

Nguy cơ từ các ngân hàng mới

- Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽcàng lúc càng gia tăng Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao”của rào cản gia nhập Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽđược mở cửa dần theo lộ trình bảy năm Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơbản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàngViệt Nam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài

Trang 13

- Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phầntrong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trongHiệp định thương mại với Hoa Kỳ

- Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mạidịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàncác quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của cácngân hàng nước ngoài từ năm 2008

- Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại ViệtNam Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đạidiện tại Việt Nam và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngânhàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tănglên trong tương lai

- Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng cónguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phépthành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008 Ngoài các quy định về vốn điều lệ,quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sátchặt bởi Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên điều đó sẽ không thể ngăn cản nhữngdoanh nghiệp, đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ chophép thành lập ngân hàng trở lại

- Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường, thị trường mụctiêu mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sởkhách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây dựng được.Những điều này đặc biệt quan trọng bởi vì nó sẽ quyếtđịnh khả năng tồn tại củamột ngân hàng đang muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam

- Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bềnvững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ

sở khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôikéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộcphải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không Thực tếtrên thị trường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung

Trang 14

không cao do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lượcsản phẩm, dịch vụ

- Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thếcạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối Các ngânhàng thành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý

để đặt văn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vịtrí đẹp và tiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất Tuy vậy, cácngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát triển hệthống kinh doanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM

- Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng nhưthế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá caokhiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp Nhưngmột khi kinh tế thế giới hồi phục cộng với sự mở cửa của ngành ngân hàng theocác cam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới làmột điều gần như chắc chắn

*

Nguy cơ bị thay thế

Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thểxếp vào 5 loại:

• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)

• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)

• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán

• Là nơi cho vay tiền

• Là nơi hoạt động kiều hối

- Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm

do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trongcác gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình

sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử

Trang 15

dụng một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoàingân hàng.

- Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến chongười tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thìkhi có tiền lại rút hết ra để sử dụng Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trảlương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán khôngdùng tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân Nhưng cácđịa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắmsang trọng, những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm

- Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọcthẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán Chính sự bấttiện này cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sửdụng tiền mặt hơn là thông qua ngân hàng

- Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có khánhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảohiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất Đó làchưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi” Không phải lúc nào lãi suấtngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàngđang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũngbiến động thì lãi suất tiết kiệm của đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm

* Quyền lực của khách hàng

- Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ là việccác ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng khôngđồng thuận Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mìnhnhưng rõ ràng nó đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin củakhách hàng Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của kháchhàng trong ngành ngân hàng tại Việt Nam

- Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huyđộng được của khách hàng Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàngthì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy

Trang 16

cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao.Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốnchuyển nguồn vốn của mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào một nơi khác.

* Quyền lực của các nhà cung cấp

- Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng Họ có thể là những

cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu tráchnhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàngthường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùytheo điều kiện Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họkhông thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cungcấp khác Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống,ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làmtăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu

- Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắcđến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đếnnhững đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của mộtngân hàng Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của mộtngân hàng khác Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ

cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra Ở một khíacạnh khác, ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu

* Cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành

- Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ởViệt Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trởthành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á (*).Tuy khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tớingành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năngcòn rất lớn Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho cácngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường

độ cạnh tranh sẽ tăng lên Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị

Trang 17

trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thịtrường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi.

- Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện củanhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có mộtphân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ Họ đã phục vụnhững khách hàng này từ rất lâu ở những thị trường khác và khi khách hàng mởrộng thị trường sang Việt Nam thì ngân hàng cũng mở văn phòng đại diện theo

- Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà hiện nay nhiều ngânhàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợxấu trong cho vay bất động sản Họ có lợi thế làm từ đầu và có nhiều chọn lựatrong khi với không ít ngân hàng trong nước thì điều này là không thể Ngoài ra,ngân hàng ngoại còn có không ít lợi thế như hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụkhách hàng chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống Internetbanking)

- Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên nhiềunước của ngân hàng ngoại Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này, các ngân hàngtrong nước đã trang bị hệ thống hạ tầng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nhân sự khá quy mô Lợi thế của ngân hàng trong nước là mối quan hệ mật thiết với kháchhàng có sẵn

= > Đánh giá: Từ việc phân tích ngành ngân hàng ta thấy cường độ cạnh tranh

trong ngành này là mạnh vì:

 Số ngân hàng ở Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt là

sự ra đời của các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài và các chi nhánh củacác ngân hàng lớn trên thế giới

 Việt Nam là mảnh đất mầu mở cho các ngân hàng với mức lợi nhuận hàngnăm của các ngân hàng là rất cao từ 30-50%/ năm Hơn nữa ngành ngânhàng Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển cả về chấtlượng lẫn quy mô nên sự cạnh tranh giành giật thị phần giữa các ngân hàng

là rất khốc liệt Bên cạnh đó Việt Nam có 85 triệu dân mà mới chỉ có dưới10% dân số sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên là một thị trường hứa hẹnđầy tiềm năng

Trang 18

 Đặc thù của ngành ngân hàng là quyền lực thương lượng của khách hàng làrất cao sự sống còn của ngân hàng là phụ thuộc rất lớn vào khách hàng do đócác ngân hàng luôn phải tìm mọi cách giữ chân khách hàng và lôi kéo thêmkhách hàng của đối thủ về mình.

2.5 Các nhân tố thành công chủ yếu trong ngành(KFS):

- Ngành ngân hàng đang trong giai đoạn tăng trưởng cao: tốc độ tăng trưởng củangành ngân hàng trong giai đoạn năm 2007-2010 là 20%

- Một thị trường tiềm năng lớn: Tổng số dân Việt Nam là 85 triệu người nhưng chỉ

có chưa đến 10% dân số tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

- Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin tạo ra các sản phẩm, dịch vụmới cho ngành ngân hàng, san bằng các khoảng cách về địa lý

- Xu hướng giới trẻ Việt Nam tích cực sử dụng các dịch vụ ngân hàng

- Sự phục hồi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng

- Sự ổn định về chính trị: Việt Nam được đánh giá là nước có nền chính trị ổn địnhnhất thế giới

- Việt Nam ra nhập WTO mở ra một thời kỳ mới cho ngành ngân hàng Việt Nam

III Phân tích môi trường bên trong:

3.1 Sản phẩm chủ yếu của ACB

 Huy động vốn ( nhận tiền gửi của khách hàng ) bằng Việt Nam đồng, ngoại

tệ và vàng

 Sử dụng vốn ( Cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh ) bằng Việt Nam đồng, ngoại tệ và vàng

Trang 19

 Các dịch vụ trung gian ( thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiệndịch vụ ngân quỹ chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngân hàng )

 Kinh doanh ngoại tệ và vàng

 Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ

3.2 Thị trường của ngân hàng ACB

* Thị trường trong nước:

Hiện nay ACB chiếm 10% thị phần huy động tiết kiệm của cả nước, hơn 57%thị phần chủ thẻ tín dụng quốc tế, và chiếm phần lớn thị phần chuyển tiền nhanhWestern Union tại Việt Nam ACB cung cấp cho khách hàng hơn 200 sản phẩm cơbản mạng lưới giao dịch phủ khắp các địa bàn trọng điểm phát triển kinh tế và xãhội trên cả nước với trên 200 đơn vị Trong đó hoạt động tập trung tại hai thịtrường chính là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Trong thời gian tới ACB tiếptục mở rộng mạng lưới giao dịch của mình ra khắp cả nước đặc biệt là khu vựcđồng bằng sông Cửu Long và miền Trung để giúp khách hàng tiếp cận dễ dàng vớicác sản phẩm dịch vụ của ngân hàng

* Thị phần nước ngoài

Với khát vọng vươn tầm ra châu lục và thế giới thì hiện nay ACB đã có mặt tại

75 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhưng các dịch vụ của ACB cung cấp ởcác nước đó mới dừng ở việc cung cấp các dịch vụ chuyển tiền nhanh và thẻ tíndụng quốc tế do đó trong thời gian tới để chiếm lĩnh được các thị trường nướcngoài thì ACB phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

3.3 Đánh giá nguồn lực, năng lực của ngân hàng ACB dựa trên chuỗi giá trị

a Hoạt động cơ bản

* Huy động vốn

Trang 20

Huy động vốn là một hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng ACB.Nguồn vốn huy động của ACB qua các năm tăng cao, tính đến cuối năm 2005 là22.341 tỷ đồng và đến 31/12/2006 là 38.086 tỷ đồng Tính đến thời điểm30/9/2007 tổng vốn huy động đạt 61.286 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng vốn huyđộng duy trì ở mức cao, đạt 55,65% trong năm 2005; 70,47% trong năm 2006.Cuốinăm 2008, tổng vốn huy động của tập đoàn là 91.179 tỷ đồng, tăng 16.230 tỷ đồng

so với cuối năm 2007 Trong đó tiền gửi khách hàng vẫn là nguồn huy động chủyếu, chiếm khoảng 82% tổng vốn huy động của tập đoàn So với cuối năm 2007,

số lượng khách hàng giao dịch tiền gửi và số lượng tài khoản tiền gửi của ngânhàng đều tăng với việc ACB thu hút được thêm 111.005 khách hàng (+27.4%) và151.232 tài khoản (+23.6%)

Tính đến cuối quý II/2009, tổng vốn huy động của ACB đạt 110.724 tỷ đồng,tăng 21.4% so với cuối năm 2008 Trong đó vốn huy động từ tiền gửi khách hàngđạt 90.612 tỷ đồng, tăng 41.1% so với cuối năm 2008 trong đó chủ yếu là tiền gửitiết kiệm và tiền gửi không kỳ hạn Ngoài ra, khoản huy động từ chứng chỉ tiền gửivàng và trái phiếu cũng chiếm tỷ trọng khá lớn (15%) trong tổng nợ huy động

* Sử dụng vốn

ACB thực hiện chính sách tín dụng thận trọng và phân tán rủi ro Tổng dư nợcho vay đến 30/9/2007 chiếm tỷ lệ 41.40% tổng nguồn vốn huy động, đến cuốinăm 2008, tổng dư nợ cho vay của ACB đạt 34.832 tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm

2007 Cuối quý II/2009, con số trên đạt 51.052 tỷ đồng, tăng 46,5% so với thờiđiểm đầu năm Khách hàng vay nợ của ACB chủ yếu là các tổ chức kinh tế và cánhân trong nước và phần lớn là vay ngắn hạn Phần nguồn vốn huy động được cònlại được gửi tại các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, đầu tư vào các loạichứng khoán của các ngân hàng tương mại Nhà Nước, các loại chứng khoán củaChính phủ, một phần nguồn vốn khác được sử dụng đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp

Ngày đăng: 22/09/2012, 16:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nhận xét: Theo mô hình EFAS tổng điểm quan trọng của ACB là 3.1 chứng tỏ trong quá trình hoạt động của mình ACB đã có những chiến lược phù hợp để tận  - phân tích chiến lược đối với ngân hàng acb.doc
h ận xét: Theo mô hình EFAS tổng điểm quan trọng của ACB là 3.1 chứng tỏ trong quá trình hoạt động của mình ACB đã có những chiến lược phù hợp để tận (Trang 12)
5. Tình hình chính trị ổn định - phân tích chiến lược đối với ngân hàng acb.doc
5. Tình hình chính trị ổn định (Trang 32)
Đâu là sự khác biệt của ACB với các ngân hàng còn lại. Trong hình ảnh minh hoạ trên, ACB chỉ là một viên đá xấu xí nằm lẫn trong đống đá trắng - phân tích chiến lược đối với ngân hàng acb.doc
u là sự khác biệt của ACB với các ngân hàng còn lại. Trong hình ảnh minh hoạ trên, ACB chỉ là một viên đá xấu xí nằm lẫn trong đống đá trắng (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w