Kết quả nghiên cứu cho thấy CĐCL có tác động tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng TMCP Việt Nam khi tổng tài sản CĐCL ASS, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân CĐCL ROES, tỷ
Trang 1Luận văn thạc sỹ i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn này “Vai trò cổ đông chiến lược đối với lợi nhuận các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được
Trang 2Luận văn thạc sỹ iii
TÓM TẮT
Tìm kiếm cổ đông chiến lược là một trong những vấn đề quan trọng luôn được đưa ra bàn luận trong các cuộc họp Hội đồng cổ đông qua các năm của các ngân hàng TMCP Việt Nam nhằm mục đích gia tăng nguồn vốn, nâng cao năng lực quản
lý, cải thiện chính sách quản trị rủi ro, cải tổ ngân hàng Nghiên cứu này muốn tìm hiểu vai trò và các yếu tố chính của cổ đông chiến lược tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng TMCP Việt Nam như thế nào? Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của 18 ngân hàng TMCP Việt Nam với tổng số 144 quan sát trong giai đoạn 2006 –
2013 Thông tin được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán, báo cáo thường niên và thông tin hồ sơ doanh nghiệp được công bố trên các website của ngân hàng, CĐCL và vietstock.vn Phương pháp nghiên cứu là phương pháp định lượng, sử dụng mô hình hồi quy GLS với dữ liệu bảng (Data panel) Biến phụ thuộc
là lợi nhuận ngân hàng, được đại diện bởi tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) Biến giải thích gồm: Tổng tài sản CĐCL (ASS), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân CĐCL (ROES), tỷ lệ vốn góp CĐCL (EQU), CĐCL nước ngoài (TYPE1) và CĐCL trong nước (TYPE2), thời gian làm CĐCL (TIM) Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu các đặc điểm và đặc trưng tài chính ngân hàng tác động đến lợi nhuận ngân hàng TMCP Việt Nam ra sao? Các biến giải thích bao gồm: Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ vốn chủ sở hữu (EOA), tỷ lệ trạng thái tiền mặt (LIQ), tổng tài sản ngân hàng (ASSB), tỷ lệ chi phí hoạt động (EFF) và tuổi ngân hàng (AGE)
Kết quả nghiên cứu cho thấy CĐCL có tác động tích cực đến lợi nhuận của các ngân hàng TMCP Việt Nam khi tổng tài sản CĐCL (ASS), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân CĐCL (ROES), tỷ lệ góp vốn CĐCL (EQU), thời gian làm CĐCL (TIM) có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với ROE ngân hàng, trong đó CĐCL trong nước (TYPE2) tác động mạnh hơn CĐCL nước ngoài (TYPE1) Đối với các yếu tố đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng, ngoại trừ
tỷ lệ trạng thái tiền mặt (LIQ) không có ý nghĩa thống kê, các yếu tố khác đều có ý nghĩa thống kê với ROE Trong đó, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EOA), tỷ lệ chi phí hoạt động (EFF) và tuổi ngân hàng (AGE) có mối quan hệ ngược chiều với ROE Riêng tổng
Trang 3Luận văn thạc sỹ iv
tài sản (ASSB) có mối quan hệ cùng chiều với ROE ngân hàng
Trang 4Luận văn thạc sỹ v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu và lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng nghiên cứu 5
1.5 Phạm vi nghiên cứu 6
1.6 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 6
1.7 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài 7
1.8 Bố cục của luận văn 7
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM 9
2.2 Cổ đông chiến lược 10
2.2.1 Khái niệm cổ đông 10
2.2.2 Cổ đông chiến lược 12
2.2.3 Cổ đông chiến lược nước ngoài của NHTMCP Việt Nam 13
2.2.4 Cổ đông chiến lược trong nước của NHTMCP Việt Nam 15
2.3 Các yếu tố chính của cổ đông chiến lược tác động đến lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam 17
2.3.1 Quy mô của CĐCL (Tổng tài sản-ASS) 18
2.3.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của CĐCL (ROES) 19
2.3.3 Giá trị vốn góp của CĐCL vào một ngân hàng (EQU) 20
2.3.4 Loại cổ đông chiến lược (TYPE1 và TYPE2) 20
2.3.5 Thời gian gắn bó của CĐCL đối với một ngân hàng (TIM) 21
2.4 Đặc trưng tài chính và đặc điểm NHTMCP Việt Nam 22
Trang 5Luận văn thạc sỹ vi
2.4.1 Quy mô và chất lượng tín dụng của NHTM 22
2.4.2 Thanh khoản của ngân hàng 23
2.4.3 Quy mô ngân hàng (Tổng tài sản – Assets) 25
2.4.4 Hiệu quả quản lý chi phí (tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập) 26
2.4.5 Đặc điểm ngân hàng (tuổi ngân hàng - Age) 27
2.5 Các nghiên cứu trước về tác động của cổ đông chiến lược, đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng đối với lợi nhuận của ngân hàng 27
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 32
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 32
3.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 36
3.3 Mẫu nghiên cứu 37
3.4 Phương pháp nghiên cứu 38
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Thống kê mô tả các biến 39
4.2 Ma trận hệ số tương quan các cặp biến 42
4.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của các biến độc lập VIF 44
4.4 Kiểm định lựa chọn mô hình nghiên cứu 44
4.4.1 Kiểm định lựa chọn giữa FEM (Fixed Effects Model) và REM (Random Effects Model) 44
4.4.2 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi White 46
4.4.3 Kiểm định hiện tượng tự tương quan Wooldridge 46
4.4.4 Kết quả hồi quy bằng phương pháp ước lượng GLS 47
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 49
4.5.1 Các yếu tố về CĐCL 49
4.5.2 Các yếu tố về đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng 52
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu sau 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 6Luận văn thạc sỹ vii
A TIẾNG ANH 63
B TIẾNG VIỆT 66 PHỤ LỤC 68 PHỤ LỤC A DANH SÁCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÓ CỔ ĐÔNG CHIẾN LƯỢC 68 PHỤ LỤC B DANH SÁCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÓ CỔ ĐÔNG CHIẾN LƯỢC NƯỚC NGOÀI 69 PHỤ LỤC C DANH SÁCH CÁC NGÂN HÀNG THÀNH LẬP MỚI, CỔ PHẦN HOÁ, HỢP NHẤT, SÁP NHẬP TRONG GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN 2013 70 PHỤ LỤC D DANH SÁCH 18 NGÂN HÀNG ĐƯỢC LỰA CHỌN NGHIÊN CỨU72 PHỤ LỤC E KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN CỦA CÁC BIẾN ĐỘC LẬP 73 PHỤ LỤC F KIỂM ĐỊNH HAUSMAN 74 PHỤ LỤC G KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯƠNG PHƯƠNG SAI SAI SỐ THAY ĐỔI WHITE 76 PHỤ LỤC H KẾT QUẢ HỒI QUY BIẾN PHỤ THUỘC ROE 80
Trang 7Luận văn thạc sỹ viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1 Mô tả các biến phụ thuộc và kiểm soát ……… 34
Bảng 3.2 Danh sách CĐCL nước ngoài năm tài chính khác thời điểm 31/12 … 39
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến 41
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan 45
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến các biến độc lập VIF 46
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Hausman 47
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi White 48
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan Wooldridge 49
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy bằng phương pháp ước lượng GLS 49
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định giả thuyết 50
Trang 8Luận văn thạc sỹ ix
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
CĐCL : Cổ đông chiến lược
HTNH : Hệ thống ngân hàng
NHNN : Ngân hàng nhà nước
TCTD : Tổ chức tín dụng
BCTC : Báo cáo tài chính
ROE : Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân
ROA : Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân
ASS : Tổng tài sản cổ đông chiến lược
LASS : Log tổng tài sản cổ đông chiến lược
ROES : Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cổ đông chiến lược
EQU : Tỷ lệ góp vốn cổ đông chiến lược
TYPE1 : Cổ đông chiến lược nước ngoài
TYPE2 : Cổ đông chiến lược trong nước
TIM : Thời gian làm CĐCL
LOA : Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản ngân hàng
NPL : Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng
EOA : Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ngân hàng
LIQ : Tỷ lệ trạng thái tiền mặt ngân hàng
ASSB : Tổng tài sản ngân hàng
LASSB : Log tổng tài sản ngân hàng
EFF : Tỷ lệ chi phí hoạt động ngân hàng
AGE : Tuổi ngân hàng
Trang 9Luận văn thạc sỹ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu và lý do nghiên cứu
Năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính của thế giới đã ảnh hưởng, tác động xấu đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có các định chế tài chính, ngân hàng lớn tưởng như không thể bị ảnh hưởng như UniCredit, AIG, Merrill Lynch, Citi Group, JP Morgan Chase Và tất yếu theo quy luật thị trường, hàng loạt các vụ mua bán, sáp nhập các công ty tài chính, ngân hàng, đặc biệt ở Mỹ với hơn 40 ngân hàng bị phá sản và hàng chục ngân hàng tự nguyện hoặc bị mua bán và sáp nhập trong năm 2008 (Bùi Thị Lý, 2009) Theo báo cáo của Tổng Cục Thống Kê (2011), nền kinh tế Việt Nam cũng đã gặp những thách thức, không những phải đối mặt với những diễn biến khó lường của kinh tế thế giới, mà còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nội tại như lạm phát tăng cao (đỉnh điểm 18,6% năm 2011), thâm hụt cán cân thương mại đạt mức kỷ lục (hơn 14% GDP), thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm đã làm cho nền kinh tế nói chung, trong đó có hệ thống ngân hàng (HTNH) Việt Nam nói riêng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong lịch sử ngành ngân hàng (NH) Trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM), nhiều ngân hàng đã gặp khó khăn trong kinh doanh, riêng các ngân hàng nhỏ không chỉ phải cạnh tranh với các ngân hàng trong và ngoài nước mà còn phải đối mặt với việc thay đổi chính sách lãi suất, tỷ giá của Nhà nước về kiềm chế lạm phát, đối phó khủng hoảng tài chính toàn cầu Ngoài ra, một yêu cầu về tài chính đặt ra cho các ngân hàng phải đạt được kế hoạch tăng vốn điều lệ tối thiểu theo lộ trình được quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP (2006) của Chính phủ về danh mục vốn pháp định của các Tổ chức tín dụng (TCTD) Theo đó, đến ngày 31/12/2008, vốn điều lệ tối thiểu của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) phải đạt 1.000
tỷ đồng, ngày 31/12/2010 đạt 3.000 tỷ đồng Đối với các ngân hàng đã có bề dày hoạt động lâu năm, vốn lớn thì điều này không gặp khó khăn, nhưng đối với một số ngân hàng nhỏ thì đây thực sự là một thách thức lớn, đặc biệt trong giai đoạn thị trường chứng khoán kém hấp dẫn, các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), phát hành bổ sung, tăng vốn không thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư (NĐT)
Trang 10Luận văn thạc sỹ 2
Do đó, để hoàn thành mục tiêu tăng vốn pháp định theo yêu cầu của Chính phủ, giải pháp đưa ra là kêu gọi các NĐT, NĐT chiến lược trong và ngoài nước tiếp tục đầu tư, góp vốn, mua cổ phần tại các NHTM để trở thành các cổ đông chiến lược (CĐCL) của các ngân hàng.Từ đó, hoạt động tìm kiếm CĐCL của các NHTM diễn ra sôi nổi Mục tiêu của các ngân hàng không chỉ đơn thuần cần có CĐCL để tăng vốn theo yêu cầu của Chính phủ mà còn liên quan đến chiến lược nâng cao sức cạnh tranh, cải tiến công nghệ, quản trị rủi ro hiệu quả, nâng cao thương hiệu, phát triển sản phẩm và vượt qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế từ sự hỗ trợ của các CĐCL Và năm 2007 – 2008, HTNH chứng kiến cuộc đua tìm kiếm CĐCL của hàng loạt các NHTMCP Vào thời điểm đó, việc có được các CĐCL danh tiếng, uy tín, tiềm lực tài chính mạnh đồng nghĩa với việc có được sự hỗ trợ tốt về vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị điều hành Ngoài ra, CĐCL cũng nhận được nhiều lợi ích ngoài lợi nhuận đầu tư như khả năng tiếp cận vốn vay, lãi suất thấp, thủ tục cấp tín dụng đơn giản, quảng bá thương hiệu Vì vậy, để trở thành CĐCL của ngân hàng thì phải trãi qua quá trình thoả hiệp, đáp ứng các điều kiện của cả hai bên đưa
ra
Mùa đại hội cổ đông 2015, vấn đề CĐCL vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn khi nhiều ngân hàng cho biết sẽ tìm thêm CĐCL để bán cổ phần Đặc biệt các NHTM yếu kém gấp rút tìm kiếm CĐCL giúp họ tái cơ cấu, xử lý nợ xấu để hoạt động lành mạnh hơn Thực tế cho thấy, CĐCL với tiềm lực tài chính, năng lực thị trường và trình độ quản lý vượt trội sẽ giúp ngân hàng vượt qua khó khăn Thuỳ Linh (2014) đưa ra một trường hợp thay đổi rõ rệt sau khi có CĐCL là NHTMCP Tiên Phong, tên viết tắt cũ TienPhongBank Ra đời năm 2008, sự non trẻ đã khiến TienPhongBank rơi vào nhóm 9 ngân hàng yếu kém buộc phải cải tổ Năm 2012, TienPhongBank bắt tay với Tập Đoàn Vàng Bạc Đá Quý DOJI bằng cách bán cho tập đoàn này 20% cổ phần Với tư cách CĐCL, Tập đoàn DOJI và các cổ đông hiện hữu đã hỗ trợ TienPhongBank bổ sung vốn điều lệ đạt mức 5.550 tỷ đồng để cải thiện thanh khoản Sau đó, TienPhongBank đã có cuộc tái cấu trúc khổng lồ: Đổi tên thành TPBank, tập trung kinh doanh 04 mũi nhọn chính gồm công nghệ cao và công nghệ thông tin, vàng, công nghiệp phụ trợ, ngân hàng điện tử và ngân hàng ưu tiên 04 mũi nhọn này dựa trên sức mạnh của 03 cổ đông sáng lập gồm Tập đoàn FPT, Tập đoàn Tái Bảo hiểm Việt Nam, Tổng Công ty Viễn Thông Mobifone cùng
Trang 11Luận văn thạc sỹ 3
02 cổ đông chiến lược SBI Ven Holdings Pte Ltd và DOJI Chỉ sau một năm tái cơ cấu, đến 31/12/2013, TPBank đã thu được kết quả kinh doanh khả quan Cụ thể, lợi nhuận trước thuế của TPBank đạt 362 tỷ đồng (vượt 15% so với chỉ tiêu), vốn huy động dân cư tăng 160% so với cùng kỳ năm 2012, tăng trưởng tín dụng trên 190%,
nợ xấu giảm xuống dưới 2%, số lượng khách hàng của TPBank đã tăng hơn 3 lần, đạt khoảng 240.000 khách hàng
Và khi nói đến CĐCL thì không thể bỏ qua mối quan hệ giữa NHTMCP Quân đội (MB) và Tập đoàn Viễn thông Quân Đội (Viettel) Năm 2013 đánh dấu bước ngoặt MB vươn lên vị trí số 1 trong hệ thống NHTMCP Việt Nam, lợi nhuận trước thuế hơn khá xa so với ngân hàng thứ 2 NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) gần 200 tỷ đồng Với nền tảng 50 triệu thuê bao Viettel, MB hiện là một trong những NH tiên phong về dịch vụ ngân hàng trên điện thoại Không dừng
ở đó, MB còn đang lên kế hoạch khai thác trụ sở Viettel trên toàn quốc và mạng lưới chi nhánh ở Lào, Campuchia, Myanmar và Châu Phi… Ngoài ra, Viettel còn là khách hàng lớn giúp huy động vốn cho MB trong thời gian qua, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng chung của MB (Thuỳ Linh, 2014)
Thuỳ Linh (2014) còn dẫn chứng thêm một trường hợp nữa, đó là mối quan hệ giữa Eximbank và Ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) Sở hữu 15,07% cổ phần Eximbank, 2014 đánh dấu năm thứ 6 SMBC là cổ đông chiến lược của NH này SMBC đã cung cấp cho Eximbank kinh nghiệm quản trị ngân hàng hiện đại, trang
bị công nghệ tiên tiến, xây dựng chiến lược phát triển bền vững, đẩy mạnh công nghệ ứng dụng thông tin, hệ thống bảo mật, phát triển nhanh các dịch vụ tiện ích của một ngân hàng hiện đại Với sự hỗ trợ của SMBC, trong 6 năm qua, Eximbank
đã liên tục phát triển và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới cho thị trường, vươn lên vị thế thứ 2 trong các NHTMCP hàng đầu tại Việt Nam (sau MB)
Từ một ngân hàng có vốn điều lệ 2.800 tỷ đồng và tổng tài sản 33.000 tỷ đồng vào năm 2007, đến cuối năm 2012, Eximbank đã trở thành ngân hàng có vốn điều lệ đạt 12.355 tỷ đồng và tổng tài sản hơn 170.000 tỷ đồng Hiện tại, Eximbank đã thiết lập quan hệ với 720 ngân hàng đại lý tại 65 quốc gia trên thế giới
Đồng thời, Thuỳ Linh (2014) lấy Ngân Hàng TMCP Đông Á là một trong những NHTMCP không có sự tham gia của CĐCL làm ngân hàng so sánh để thấy
sự khác biệt bởi từ năm 2005 trở về trước, ngân hàng Đông Á nằm trong top đầu
Trang 12Luận văn thạc sỹ 4
NHTMCP có quy mô về mạng lưới, thương hiệu, lợi nhuận, tổng tài sản ngang bằng với NHTMCP Á Châu (ACB), Eximbank, NHTMCP Thương Tín Sài Gòn (Sacombank)… nhưng đến thời điểm hiện tại đã bị các ngân hàng trên vượt xa về quy mô vốn, tổng tài sản và lợi nhuận
Thông qua sự phát triển và phân hoá mạnh mẽ của hệ thống NHTMCP từ năm
2006 đến nay thì câu hỏi đặt ra là các CĐCL tác động như thế nào đến lợi nhuận của các NHTMCP? Những yếu tố chính nào của CĐCL tác động đến lợi nhuận của NHTMCP? Trả lời các câu hỏi trên sẽ giúp các NHTMCP hiểu được vai trò, tầm quan trọng và các yếu tố chính của CĐCL đối với lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam, đặc biệt trong tình hình nền kinh tế phục hồi nhanh chóng, hệ thống NHTMCP cạnh tranh gay gắt và NHNN đang nghiên cứu dự thảo Nghị định mức vốn pháp định mới cho các TCTD, với dự kiến năm 2015 NHTM sẽ phải nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về vai trò của CĐCL đối với ngân hàng nhưng chỉ phân tích, đánh giá CĐCL nước ngoài như Hyun E.Kim và Byung-Yoon Lee (2004), Nicholas Hope và Fred Hu (2006), Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008)… và tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào giải thích cho các vấn đề trên
Với những lý do nêu trên, luận văn chọn đề tài “Vai trò cổ đông chiến lược đối với lợi nhuận ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” để nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trọng tâm của nghiên cứu này là tìm hiểu vai trò của cổ đông chiến lược đối với lợi nhuận các NHTMCP Việt Nam Vấn đề nghiên cứu này sẽ hướng đến và mong muốn đạt được các kết quả sau:
Xác định vai trò và các yếu tố chính của cổ đông chiến lược đối với lợi nhuận các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, từ đó giúp các NHTMCP Việt Nam chọn lựa CĐCL phù hợp
Ngoài ra, đề tài cũng xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố về đặc trưng tài chính và đặc điểm của NHTMCP Việt Nam đến lợi nhuận của các ngân hàng này
Trang 13Luận văn thạc sỹ 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu đã nêu trên, nghiên cứu tập trung cho việc trả lời các câu hỏi sau:
Vai trò CĐCL đối với lợi nhuận các NHTMCP Việt Nam như thế nào?
Những yếu tố chính nào của CĐCL tác động đến lợi nhuận của các NHTMCP? Mức độ tác động của các yếu tố đó ra sao?
Các yếu tố về đặc trưng tài chính và đặc điểm từng NHTMCP Việt Nam tác động đến lợi nhuận ra sao?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ NHTMCP Việt Nam, không bao gồm các NHTM nhà nước, NHTM nhà nước đã cổ phần hoá, NHTM có nguồn gốc nước ngoài và NHTMCP đã sáp nhập, hợp nhất, thành lập mới trong giai đoạn 2006 đến
2013 do:
Giai đoạn từ năm 2009 đến nay, hệ thống NHTM có nhiều biến động từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, hoạt động thâu tóm, hợp nhất, sáp nhập, thành lập mới, cổ phần hoá trong HTNH diễn ra phức tạp… vì vậy, báo cáo tài chính (BCTC) của các NHTMCP bị thâu tóm hay bị sáp nhập, hợp nhất, thành lập mới, cổ phần hoá không được công bố, bị thay đổi hoặc không còn thông tin
Các NHTM nhà nước chưa được IPO chịu sự quản lý của nhà nước, hoạt động kinh doanh được giám sát chặt chẽ, không có sự tham gia các cổ đông bên ngoài, chiến lược kinh doanh ngoài mục tiêu lợi nhuận còn thực thi các nhiệm vụ của chính phủ, NHNN đối với người dân, đối với các NHTMCP khác Ngoài ra, các NHTM nhà nước còn nhận được nhiều sự hỗ trợ của Chính phủ liên quan đến trợ cấp vốn, mặt bằng kinh doanh Nghiên cứu của Berger (2005) cũng đã chứng minh rằng, ở Trung Quốc, các NHTM có vốn
sở hữu nhà nước trên 50% có hiệu quả lợi nhuận thấp và chi phí cao hơn so với các NHTM khác do cơ chế hoạt động không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu mà chủ yếu thực thi các nhiệm vụ chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, trợ cấp khách hàng… Điều này cũng đã được chứng minh trong nghiên cứu của Sapienza (2004) Vì vậy, lợi nhuận của các NHTM nhà nước không thể
Trang 14họ hoạt động tại Việt Nam, hạn chế cấp dịch vụ cho các khách hàng trong nước nên mục tiệu lợi nhuận chưa phải là quan trọng nhất
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung xem xét, phân tích vai trò, các yếu tố chính của CĐCL, các yếu tố về đặc trưng tài chính và đặc điểm từng ngân hàng đối với lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ 2006 đến 2013 Dữ liệu sử dụng là dữ liệu bảng (data panel) cân bằng nên thời gian của dữ liệu phải có ít nhất 03 năm Qua những yêu cầu trên, do giai đoạn từ năm 2006 đến nay, hệ thống NHTM có nhiều biến động từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, hoạt động IPO của các NHTM nhà nước, hoạt động thâu tóm, hợp nhất, sáp nhập, thành lập mới trong hệ thống NH diễn ra phức tạp… vì vậy, luận văn chỉ thực hiện nghiên cứu trên một mẫu gồm 18 NHTMCP Việt Nam, không bao gồm các NHTM nhà nước, NHTM nhà nước đã cổ phần hoá, NHTM có nguồn gốc nước ngoài và các NHTMCP đã bị sáp nhập, hợp nhất, thành lập mới trong giai đoạn 2006 đến 2013
1.6 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp của 18 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ 2006 đến 2013 với tổng số 144 quan sát Dữ liệu nghiên cứu được thu thập chủ yếu qua website của các NHTMCP Việt Nam, website của các CĐCL, các website khác như cafef.vn, vietstock.vn… Cụ thể, các
dữ liệu kế toán được lấy từ báo cáo thường niên, BCTC đã được kiểm toán của các
Trang 15Luận văn thạc sỹ 7
NHTMCP và CĐCL, được tải từ các trang web trên; dữ liệu loại CĐCL, thông tin hoạt động của CĐCL được lấy thủ công từ báo cáo thường niên, mục tự giới thiệu trên website của NHTMCP và CĐCL; các dữ liệu khác được lấy thủ công từ website cafef.vn, vietstock.vn và website của NHTMCP, CĐCL
1.7 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài
Việc thực hiện đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học cũng như thực tiễn Về mặt khoa học, đề tài cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm
về tác động của CĐCL đối với lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này tại Việt Nam Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu này rất hữu ích cho các đối tượng như các nhà hội đồng quản trị, các nhà đầu tư cũng như các cổ đông của các NHTMCP Qua đó, hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị NHTMCP có thể hiểu được vai trò, lợi ích, các yếu tố chính của CĐCL có tác động đến lợi nhuận ngân hàng và từ đó đưa ra các tiêu chí lựa chọn CĐCL phù hợp Bên cạnh đó, đề tài cũng giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố về đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng đối với lợi nhuận của ngân hàng để từ đó các nhà quản trị xác định được các yếu tố nội tại tác động tốt hoặc xấu đến lợi nhuận và tìm kiếm CĐCL tốt nhất nhằm cải thiện, phát huy các yếu tố này
1.8 Bố cục của luận văn
Bố cục luận văn gồm 5 chương và được trình bày theo thứ tự sau:
Chương 1: Đặt vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục
tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và ứng dựng của đề tài, cuối cùng là bố cục của luận văn
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ngân hàng thương mại, hiệu quả kinh doanh
ngân hàng, cổ đông chiến lược, đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và cuối cùng trình bày các nghiên cứu trước có liên quan
Chương 3: Xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Trong chương này cũng sẽ trình bày rõ phương pháp nghiên cứu, cách thức chọn mẫu và cách đo lường các biến nghiên cứu
Trang 16Luận văn thạc sỹ 8
Chương 4: Thể hiện kết quả nghiên cứu và những thảo luận từ kết quả nghiên
cứu Trong chương này, các giả thuyết nghiên cứu trong chương 2 sẽ được chấp nhận hay bác bỏ và giải thích các yếu tố chính của CĐCL, đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng có tác động đến lợi nhuận của NHTMCP
Chương 5: Kết luận, kiến nghị, các hạn chế trong đề tài và đề xuất hướng
nghiên cứu tiếp theo
Trang 17Luận văn thạc sỹ 9
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài, chương 2 sẽ trình bày các nội dung như các lý thuyết về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, cổ đông chiến lược, đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và cuối cùng trình bày các nghiên cứu trước có liên quan
2.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
Theo Phan Đức Dũng (2009), hiệu quả hoạt động kinh doanh phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất, thông qua việc đo lường tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và vốn chủ
sở hữu Thái Văn Đại (2014) cho rằng, cũng như một doanh nghiệp, lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM và nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, bởi quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có Kohler (2012) cho rằng các ngân hàng báo cáo lợi nhuận lãi thuần cao hơn thì ổn định hơn Nghiên cứu của Poghosyan và Cihak (2011) cũng đưa ra quan điểm rằng các ngân hàng Châu Âu với thu nhập cao thì ít có khả năng trãi qua rủi ro phá sản trong năm sắp tới Vì vậy, hiệu quả kinh doanh là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi các ngân hàng đạt lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn (Olweny
và Shipho, 2011) Và chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (Return on equity - ROE) được xem là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được các nhà quản trị và các cổ đông đặc biệt
Trang 18Tổng tài sản bình quânVốn chủ sở hữu bình quânTrong đó, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng thu nhập phản ánh hiệu quả quản lý chi phí của ngân hàng; tỷ suất tổng thu nhập trên tổng tài sản bình quân phản ánh các chính sách quản lý danh mục đầu tư của ngân hàng, đặc biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản; tỷ lệ tổng tài sản bình quân trên vốn chủ sở hữu bình quân phản ánh chính sách đòn bẩy về tài chính tức là việc lựa chọn nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động ngân hàng là nợ hay vốn chủ sở hữu Tổng thu nhập của ngân hàng bao gồm tất cả các nguồn thu từ các sản phẩm, dịch vụ như các khoản thu từ lãi cho vay, từ hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh ngoại hối, hoạt động trên thị trường liên ngân hàng, các khoản thu dịch vụ và thu khác (Thái Văn Đại, 2014) Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua tỷ số ROE phải được xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng phát triển và quy luật vận động của chúng Ngoài ra, việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của chính ngân hàng đang phân tích, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ đó dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu, từ đó dễ dàng tìm ra các biện pháp phù hợp (Thái Văn Đại, 2014)
2.2 Cổ đông chiến lược
2.2.1 Khái niệm cổ đông
Trong một công ty cổ phần, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và Luật doanh nghiệp (2005) có quy định rõ: “Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần” Ở các tập đoàn lớn, các cổ đông là những cá nhân hoặc tổ chức đầu tư tiền của họ để sở hữu một số lượng cổ phiếu nhất định với mong muốn nhận được lợi nhuận từ giá trị gia tăng tiềm năng của cổ phiếu hoặc cổ tức trong tương lai Trong khi ở các công ty nhỏ, họ có thể là người thành lập doanh nghiệp hoặc người có quyền lợi cá nhân trong đó Khi nhà đầu tư mua cổ phần của các công ty, họ nhận được giấy chứng nhận thể hiện số lượng cổ phần mà họ sở hữu Nếu công ty mà họ đầu tư hoạt động
có lợi nhuận, nhà đầu tư sẽ được nhận một số tiền được chia từ lợi nhuận dựa trên
Trang 19Luận văn thạc sỹ 11
số lượng cổ phiếu mà họ nắm giữ, đó là cổ tức Ngoài ra, cổ đông cũng nhận được
số tiền có thể nhiều hoặc ít hơn số tiền mà họ mua cổ phiếu nếu họ bán cho nhà đầu
tư khác hoặc được công ty mua lại tuỳ thuộc giá thị trường của cổ phiếu vào thời điểm đó Đồng thời, bởi vì họ là chủ sở hữu một phần của một công ty, cổ đông có quyền biểu quyết tại các cuộc họp cổ đông của công ty, chẳng hạn như phê duyệt hay từ chối một đề nghị sáp nhập, xem xét các tài khoản công ty và nhận được báo cáo định kỳ về hoạt động của công ty Nếu cổ đông không thể tham dự cuộc họp thường niên, họ được phép bỏ phiếu bằng cách gửi thư trong lá phiếu của họ hoặc
uỷ quyền cho một cổ đông khác mà họ tin tưởng Hơn nữa, nếu một công ty quyết định phát hành thêm cổ phiếu, cổ đông hiện hữu có tùy chọn để mua cổ phiếu trước khi chúng được cung cấp cho công chúng Tuy nhiên, cổ đông cũng phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn mình đã góp vào
Và bất cứ công ty cổ phần nào cũng bắt buộc phải có cổ phần phổ thông và người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông Bên cạnh đó, có thể có thêm
cổ phần ưu đãi và người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi Cổ phần ưu đãi gồm các loại như ưu đãi biểu quyết, ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại hay ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định Ngoài ra, một hình thức cổ đông khác rất được quan tâm là cổ đông sáng lập Đây là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bảng điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần Theo Luật doanh nghiệp (2005), các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Trong vòng 3 năm kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh,
cổ đông sáng lập không được quyền chuyển nhượng cổ phần cho cổ đông sáng lập khác Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận Lúc đó, người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty Sau thời hạn ba năm, cổ đông sáng lập sẽ không bị hạn chế vấn đề này
Trang 20Luận văn thạc sỹ 12
2.2.2 Cổ đông chiến lược
Theo Hữu Đạo (2014) thì mục tiêu quan trọng nhất đối với bất kỳ công ty nào khi phát hành cổ phần là huy động vốn từ các nhà đầu tư Cổ đông phổ thông đa phần là nhà đầu tư góp vốn với mong muốn nhận được cổ tức hoặc chênh lệch giá trị cổ phiếu khi bán ra Cổ đông ưu đãi đa phần là các đối tượng như ban giám đốc, cán bộ nhân viên hay cổ đông hiện hữu nhận được cổ phiếu ưu đãi từ công ty Cổ đông sáng lập là cổ đông chắc chắn có trong tất cả các công ty cổ phần ngay từ lúc thành lập, có tầm ảnh hưởng quan trọng, không chỉ tác động trực tiếp đến nguồn vốn mà còn ảnh hưởng đến chiến lược phát triển, chính sách nhân sự, công nghệ sản phẩm… Tuy nhiên, có một hình thức cổ đông khác có tầm quan trọng không kém
cổ đông sáng lập và có tác động đến toàn bộ hoạt động của công ty đó là cổ đông chiến lược hay nhà đầu tư chiến lược Vậy cổ đông chiến lược là gì? Những đối tượng nào được xem là cổ đông chiến lược?
Cổ đông chiến lược là 01 từ phát sinh trong thị trường kinh tế, không phải là thuật ngữ trong văn bản luật, mặc dù một số văn bản luật đã nhắc tới nó Người kinh doanh thì có thể hiểu chiến lược kinh doanh là gì và căn cứ vào chiến lược của công ty, mà có thể xem 1 cổ đông là cổ đông chiến lược Cổ đông chiến lược có thể
là công ty đối tác liên doanh, có thể là công ty có tiềm năng tài chính hay cũng có thể là người lao động (Hữu Đạo, 2014)
Như vậy, cổ đông chiến lược ở đây được hiểu là nơi hội tụ những sức mạnh
mà doanh nghiệp đó đang thiếu và cần được tăng cường Ví dụ như để đẩy mạnh bán hàng, doanh nghiệp cần tìm những cổ đông tương đồng với yếu tố đầu ra của mình Khi sản xuất một sản phẩm nào đó, nếu những nhà phân phối, tiêu thụ đồng thời là cổ đông, họ sẽ ưu tiên cho sản phẩm ấy bởi vì nó gắn với quyền lợi của họ thì đầu ra của sản phẩm sẽ tốt hơn Nếu chọn cổ đông chiến lược ở lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thế mạnh của họ nằm ở khả năng quản trị Lúc đó, cổ đông chiến lược này sẽ mang kinh nghiệm và những điểm mạnh của họ để gắn kết vào doanh nghiệp, nhờ đó doanh nghiệp sẽ mạnh hơn Ngoài ra, có CĐCL là ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi trong việc tiếp cận vốn vay, lãi suất thấp, được
ưu tiên sử dụng các dịch vụ khác với thời gian xử lý nhanh, chi phí thấp… Do vậy, tùy theo loại hình kinh doanh của mình mà doanh nghiệp tìm kiếm cổ đông chiến lược cho phù hợp (Nguyễn Cao Khôi và Nguyễn Phương Linh, 2012)
Trang 21Luận văn thạc sỹ 13
Hoàng Duy (2013) cho rằng công ty không chỉ đạt được mục tiêu tăng vốn, củng cố tài chính mà còn nâng cao năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, phát triển sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị trường, nâng cao sức cạnh tranh… nếu công ty tìm được CĐCL phù hợp Nghiên cứu của Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) cũng chỉ ra rằng, nhà đầu tư chiến lược mang lại hiệu quả cho
hệ thống ngân hàng Trung Quốc nhiều hơn nhà đầu tư tài chính Theo Nghị định 59/2011/NĐ-CP (2011) về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần có quy định nhà đầu tư chiến lược như sau: “Nhà đầu tư chiến lược
là các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài có năng lực tài chính và có cam kết bằng văn bản trong việc gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hóa về: Chuyển giao công nghệ mới, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp, cung ứng nguyên vật liệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm” Như vậy, cổ đông chiến lược bao gồm cổ đông chiến lược nước ngoài và cổ đông chiến lược trong nước Theo đó, đề tài tiếp tục phân tích, tìm hiểu định nghĩa, điều kiện để trở thành CĐCL nước ngoài hoặc trong nước của NHTMCP
2.2.3 Cổ đông chiến lược nước ngoài của NHTMCP Việt Nam
Theo Nghị định số 01/2014/NĐ-CP (2014) về việc nhà đầu tư nước ngoài mua
cổ phần của TCTD Việt Nam có quy định chặt chẽ về việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược là tổ chức nước ngoài phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế có uy tín xếp hạng từ mức ổn định hoặc tương đương trở lên
Có đủ nguồn tài chính để mua cổ phần được xác định theo báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập năm liền kề trước năm nộp hồ sơ và nguồn vốn mua
cổ phần hợp pháp theo quy định của pháp luật
Việc mua cổ phần không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống TCTD Việt Nam; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh trong hệ thống TCTD Việt Nam
Không vi phạm nghiêm trọng pháp luật về tiền tệ, ngân hàng, chứng khoán
và thị trường chứng khoán của nước nơi nhà đầu tư nước ngoài đặt trụ sở
Trang 22 Có kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng từ 5 năm trở lên
Có tổng tài sản tối thiểu tương đương 20 tỷ đô la Mỹ vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ mua cổ phần
Có văn bản cam kết và kế hoạch rõ ràng về việc gắn bó lợi ích lâu dài với TCTD Việt Nam, hỗ trợ TCTD Việt Nam áp dụng công nghệ hiện đại; phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng; nâng cao năng lực tài chính, quản trị, điều hành
Không sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên tại bất kỳ TCTD nào khác tại Việt Nam
Cam kết hoặc đã sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên của TCTD Việt Nam mà
tổ chức nước ngoài đề nghị mua cổ phần và trở thành nhà đầu tư chiến lược nước ngoài Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD Việt Nam, ngoại trừ trong trường hợp đặc biệt để thực hiện cơ cấu lại TCTD yếu kém, gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống TCTD, Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại một TCTD cổ phần yếu kém được cơ cấu lại vượt quá giới hạn quy định
Với các điều kiện nêu trên, muốn trở thành CĐCL nước ngoài của các NHTMCP phải là ngân hàng, tập đoàn tài chính mạnh, có kinh nghiệm, đã được các
tổ chức xếp hạng đánh giá mức tín nhiệm cao… hay nói cách khác, đây chính là những ngân hàng, tập đoàn tài chính thành công tại quốc gia bản địa cũng như trên thế giới Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài của Hàn Quốc (1998) cũng quy định các điều kiện cụ thể đối với nhà đầu tư nước ngoài như:
Trang 23Luận văn thạc sỹ 15
Nhà đầu tư nước ngoài phải hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
và bảo hiểm
Tỷ lệ an toàn vốn (BIS) trên 8%
Hoạt động kinh doanh và tổng tài sản trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm chiếm trên 50% tổng hoạt động của nhà đầu tư
Hoạt động kinh doanh có lợi nhuận trong 02 năm liền kề kể từ thời điểm góp vốn làm CĐCL
Và khi có được CĐCL nước ngoài thì đồng nghĩa với việc NHTMCP Việt Nam thừa hưởng được những tinh tuý về công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tầm nhìn… tạo nên thành công của các ngân hàng, tập đoàn tài chính hàng đầu quốc tế (Thuỳ Linh, 2015)
Ngoài ra, nghị định số 01/2014/NĐ-CP (2014) cũng đưa ra các điều kiện đối với TCTD Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:
TCTD chuyển đổi hình thức pháp lý thành TCTD cổ phần phải có phương án
cổ phần hóa, phương án chuyển đổi được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật, trong đó có phương án bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài
TCTD cổ phần phải có phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ được Đại hội đồng cổ đông thông qua, trong đó có phương án bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài
Đối với TCTD cổ phần có tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trên 50% vốn điều lệ, phương án tăng vốn điều lệ, phương án bán cổ phiếu quỹ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước trước khi trình Đại hội đồng cổ đông thông qua
2.2.4 Cổ đông chiến lược trong nước của NHTMCP Việt Nam
Đối với cổ đông trong nước, tỷ lệ sở hữu cổ phần của một TCTD được quy định cụ thể theo Luật các tổ chức tín dụng (2010) như sau: “Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD; Một cổ đông là
tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một TCTD, trừ trường hợp sở hữu cổ phần theo quyết định của NHNN để xử lý TCTD gặp khó khăn; Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn
Trang 24Luận văn thạc sỹ 16
điều lệ của một TCTD” Nhưng lại không quy định các tiêu chí chọn lọc của cổ đông để trở thành CĐCL của TCTD Tuy nhiên, theo Thông tư số 10/2011/TT-NHNN (2011) có quy định cụ thể điều kiện để trở thành CĐCL đối với các NHTM nhà nước khi cổ phần hoá:
Là doanh nghiệp có kinh nghiệm, năng lực quản trị tốt, có tổng tài sản tối thiểu 3.000 tỷ đồng vào năm trước năm đăng ký tham gia CĐCL
Có đủ nguồn vốn góp: Vốn chủ sở hữu trừ đi các khoản đầu tư dài hạn bằng vốn chủ sở hữu và tài sản ngắn hạn trừ đi nợ ngắn hạn còn lại tối thiểu bằng
số vốn góp theo đăng ký tham gia CĐCL
Có tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE trên 15%, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản có ROA trên 1% của năm liền kề trước năm đăng ký tham gia CĐCL, có lợi nhuận ròng dương trong ba năm liên tiếp trước năm đăng ký tham gia CĐCL và không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng
Không là CĐCL, cổ đông lớn, cổ đông sáng lập tại bất kỳ tổ chức tín dụng nào tại Việt Nam vào thời điểm đăng ký tham gia CĐCL
Có cam kết bằng văn bản về việc hỗ trợ NHTM nhà nước cổ phần hóa trong một hoặc một số lĩnh vực Có cam kết bằng văn bản không chuyển nhượng
số cổ phần được mua trong thời gian tối thiểu 5 năm kể từ ngày mua cổ phần, trở thành CĐCL và không thực hiện các giao dịch nào với NHTM nhà nước cổ phần hoá dẫn đến xung đột lợi ích và tạo ra sự độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh với khách hàng, nhà đầu tư khác của NHTM nhà nước cổ phần hoá và đối với các TCTD khác
Đối với CĐCL trong nước là TCTD ngoài thoả mãn các điều kiện nêu trên đối với CĐCL trong nước, phải đáp ứng thêm các tiêu chí:
Đảm bảo duy trì các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động của TCTD theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Có tỷ lệ an toàn vốn CAR năm liền kề trước năm đăng ký tham gia CĐCL trên 10% và có tỷ lệ nợ xấu năm liền kề trước năm đăng ký tham gia CĐCL dưới 2%
TCTD không được mua cổ phần của NHTM nhà nước cổ phần hóa mà NHTM nhà nước cổ phần hóa là cổ đông, thành viên góp vốn của TCTD đó vào thời điểm đăng ký tham gia CĐCL
Trang 25Luận văn thạc sỹ 17
Thông qua các tiêu chí về việc lựa chọn CĐCL trong nước cho các NHTM nhà nước có thể thấy được tiêu chí đối với CĐCL nước ngoài cao hơn rất nhiều so với CĐCL trong nước Tuy vậy, các điều kiện trên không phải doanh nghiệp nội địa nào cũng đáp ứng được, chỉ có thể là các tập đoàn, tổng công ty, công ty lớn của Việt Nam mới có thể trở thành CĐCL của NHTM Nhà nước để giúp ngân hàng (danh sách NHTMCP có CĐCL được thể hiện chi tiết tại phụ lục A):
Nâng cao năng lực quản trị, điều hành, quản lý rủi ro
Ứng dụng công nghệ hiện đại
Việc ra quyết định sẽ không còn linh hoạt như trước đây
Ảnh hưởng đến quyền kiểm soát, thành lập dự án, tạo ra rủi ro tài chính, rủi
ro kinh doanh
Trách nhiệm và quyền hạn bị nhạt nhòa
Mất nhiều thời gian và công sức để điều phối, tham vấn các bên liên quan
Nhiều thách thức hơn trong công tác truyền thông nội bộ ngân hàng… Nhìn chung, khi thực hiện ký kết trở thành CĐCL chính thức nghĩa là các bên phải nhìn thấy những gì có thể hợp tác với nhau và phải có tầm nhìn về hiệu quả lâu dài Ở đây có hai khái niệm tách bạch Thứ nhất, đối tác chiến lược với nhau không
có nghĩa phải là cổ đông của nhau Có thể hai bên chỉ ký những hợp đồng hợp tác toàn diện Thứ hai, CĐCL giữa hai đơn vị là nhằm hỗ trợ nhau hơn là vì mục đích lợi nhuận và lợi nhuận là thành quả của việc hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau Nghiên cứu của Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) cũng chỉ ra rằng, nhà đầu
tư chiến lược mang lại hiệu quả cho hệ thống ngân hàng Trung Quốc nhiều hơn nhà đầu tư tài chính Do đó, để CĐCL có thể mang lại lợi ích như mong muốn, ngân hàng cần xác định rõ chiến lược kinh doanh, các điểm yếu, điểm mạnh của mình và
Trang 26Luận văn thạc sỹ 18
lựa chọn đối tác có những tiêu chí phù hợp để làm CĐCL Kết quả nghiên cứu của Nicholas Hope và Fred Hu (2006) chỉ ra rằng mặc dù mỗi ngân hàng khác nhau về định hướng phát triển, quy mô hoạt động và lợi thế cạnh tranh nhưng tất cả các ngân hàng hay doanh nghiệp đều mong muốn CĐCL của mình sở hữu tiềm lực lớn đối với những yếu tố sau:
Quy mô của CĐCL
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của CĐCL
Giá trị vốn của CĐCL đầu tư vào một ngân hàng
CĐCL là CĐCL nước ngoài
CĐCL cam kết gắn bó lâu dài với ngân hàng
Và thực tế, những yếu tố trên cũng là những tiêu chí lựa chọn CĐCL cho các TCTD, NHTM nhà nước khi cổ phần hoá theo Nghị định số 01/2014/NĐ-CP (2014)
và Thông tư số 10/2011/TT-NHNN (2011) Sau đây, đề tài tìm hiểu các yếu tố chính trên mà ngân hàng mong muốn có ở các CĐCL có thể có tác động đến lợi nhuận của các NHTMCP tại Việt Nam
2.3.1 Quy mô của CĐCL (Tổng tài sản-ASS)
Dù hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ hay bất kỳ lĩnh vực nào thì tổng tài sản luôn là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá quy mô của một doanh nghiệp Đồng thời, cũng trong bất kỳ hoạt động nào liên quan đến đầu tư, góp vốn, cho vay, sáp nhập… của các đối tượng bên ngoài đều nhìn nhận, đánh giá
và phân tích tổng tài sản cùng các chỉ số liên quan đến hiệu quả sử dụng tài sản để đưa ra các quyết định đầu tư, góp vốn hay cho vay… Và trong việc lựa chọn CĐCL của một NH cũng không ngoại lệ khi yếu tố tổng tài sản của cổ đông đó được cân nhắc đưa lên hàng đầu Theo Nicholas Hope và Fred Hu (2006), các ngân hàng nội địa Trung Quốc đánh giá tiêu chí quy mô tổng tài sản của CĐCL nước ngoài là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất khi lựa chọn CĐCL cho ngân hàng Nicholas Hope
và Fred Hu (2006) còn đưa ra kết quả các ngân hàng nội địa Trung Quốc đạt được lợi nhuận cao khi CĐCL có tổng tài sản cao, bởi khi có CĐCL có tổng tài sản giá trị lớn thì các ngân hàng nội địa Trung Quốc có một chỗ dựa vững chắc về tài chính để tăng quy mô hoạt động, hồ sơ ngân hàng tin cậy để tăng uy tín trong mắt khách hàng và cung cấp nguồn lực tài chính ổn định, lâu dài, liên tục đồng hành với ngân
Trang 27Luận văn thạc sỹ 19
hàng trong nhiều năm, từ đó gia tăng lợi nhuận liên tục Kết quả này tương đồng quan điểm với Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) Nghị định số 01/2014/NĐ-CP (2014) quy định CĐCL nước ngoài phải có tổng tài sản trên 20 tỷ
đô la Mỹ; Thông tư số 10/2011/TT-NHNN (2011) quy định CĐCL trong nước đối với NHTM nhà nước phải trên 3.000 tỷ đồng Như vậy, các cổ đông có quy mô tổng tài sản càng lớn thì càng có cơ hội trở thành CĐCL của ngân hàng Hay ở một khía cạnh khác, ngân hàng luôn tìm kiếm một CĐCL có quy mô tổng tài sản càng lớn càng tốt Vì vậy, đề tài đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ nhất:
H 1 : Có mối quan hệ đồng biến (+) giữa quy mô tổng tài sản của cổ đông chiến lược và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.3.2 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của CĐCL (ROES)
Tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực, ngành nghề, chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ có giá trị tổng tài sản khác nhau Ví dụ: Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại có nguồn vốn chủ yếu từ vốn góp chủ sở hữu và vay nợ từ các ngân hàng Trong đó, các doanh nghiệp hạn chế vay vốn ngân hàng vì chi phí lãi vay ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, vì vậy tổng tài sản sẽ được duy trì và tăng lên theo lợi nhuận giữ lại Còn đối với các ngân hàng, tài sản chủ yếu từ tiền gửi thanh toán, tiết kiệm của các cá nhân, tổ chức kinh tế… trong khi vốn góp chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ (Thái Văn Đại, 2014) Do đó, ngân hàng muốn có nguồn vốn dồi dào để ổn định thanh khoản, tăng giá trị cho vay ra ngoài… chỉ có một cách duy nhất là tăng huy động tiền gửi từ cá nhân, TCKT… từ đó tổng tài sản cũng tăng theo (Thái Văn Đại, 2014) Tuy nhiên, lợi nhuận mang lại thấp hơn rất nhiều so với tổng tài sản Do đó, ROE được xem là yếu tố chính để đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp, khả năng tạo ra lợi nhuận từ số tiền mà nhà đầu tư đã bỏ ra Và các NHTMCP đặc biệt quan tâm chỉ số này, bởi các CĐCL
có ROE cao cũng đồng nghĩa với việc tạo ra lợi nhuận cao và các CĐCL cũng sẽ chuyển giao lại cho NH các kỹ năng, kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp, bí quyết đầu tư sinh lợi hay tiết kiệm chi phí gia tăng lợi nhuận… Điển hình trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc, các ngân hàng xác định tiêu chí chính là ROE chứ không phải ROA khi lựa chọn CĐCL Nghiên cứu Nicholas Hope và Fred Hu (2006) chứng minh rằng các ngân hàng Trung Quốc có CĐCL có ROE cao thì ROE của
Trang 28Luận văn thạc sỹ 20
ngân hàng đó cũng cao hơn so với các ngân hàng khác bởi khi làm CĐCL của ngân hàng cũng sẽ tìm cách đẩy ROE ngân hàng tăng lên cao bằng chính kinh nghiệm và mục tiêu cốt lõi của họ Như vậy, có thể nói NHTMCP luôn mong muốn tìm kiếm CĐCL có ROE càng cao càng tốt Do đó, đề tài đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ hai:
H 2 : Có mối quan hệ đồng biến (+) giữa tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân của cổ đông chiến lược và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.3.3 Giá trị vốn góp của CĐCL vào một ngân hàng (EQU)
Khi nhà đầu tư quyết định đầu tư cổ phiếu của một doanh nghiệp thì lúc nào cũng mong muốn doanh nghiệp đó hoạt động hiệu quả, đạt lợi nhuận cao để từ đó nhà đầu tư nhận được nhiều lợi ích từ cổ tức hoặc sự gia tăng của cổ phiếu Hay nói cách khác, việc đầu tư đi kèm với lợi ích Giá trị đầu tư càng nhiều thì mong muốn lợi ích nhận được càng cao Riêng đối với CĐCL thì việc đầu tư vào một NHTMCP không chỉ riêng mục tiêu lợi nhuận mà còn là sự hợp tác, chuyển giao và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, đôi bên cùng có lợi CĐCL cung cấp vốn, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, giới thiệu khách hàng… và ngân hàng hỗ trợ ngược lại thông qua việc cấp tín dụng với lãi suất ưu đãi, chính sách giải ngân thuận lợi hoặc
để CĐCL tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành ngân hàng Và nghiên cứu của Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) đã chứng minh rằng, các ngân hàng Trung Quốc nhận giá trị góp vốn từ nhà đầu tư chiến lược hay tài chính càng cao thì lợi nhuận càng được cải thiện Và nghiên cứu của Yuhua Li, TongSheng Xu
và Hongling Yuan (2014) cũng cho kết quả tương tự Vì vậy, giá trị đầu tư càng nhiều thì lợi ích, lợi nhuận càng cao, đồng thời cũng thể hiện được thiện chí của đôi bên Do đó, đề tài đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ ba:
H 3 : Có mối quan hệ đồng biến (+) giữa tỷ lệ vốn góp của CĐCL đầu tư vào một ngân hàng và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.3.4 Loại cổ đông chiến lược (TYPE1 và TYPE2)
Nghị định số 01/2014/NĐ-CP (2014) quy định CĐCL nước ngoài phải có tổng tài sản trên 20 tỷ đô la mỹ; Thông tư số 10/2011/TT-NHNN trên 3.000 tỷ đồng đối với CĐCL trong nước, đồng thời CĐCL nước ngoài phải là tổ chức tín dụng nước
Trang 29Luận văn thạc sỹ 21
ngoài hoặc tập đoàn tài chính nước ngoài Như vậy, khi trở thành CĐCL nước ngoài của NHTMCP Việt Nam thì đó là một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nước ngoài hơn hẳn về quy mô, kinh nghiệm, tầm nhìn cũng như thương hiệu so với các CĐCL trong nước Bên cạnh đó, chính thương hiệu của CĐCL nước ngoài cũng là một ưu điểm lớn, góp phần tạo niềm tin nơi khách hàng đối với NHTMCP Việt Nam (danh sách NHTMCP có CĐCL nước ngoài được thể hiện chi tiết tại phụ lục B) Nghiên cứu của Levine (1996) kết luận rằng, các ngân hàng nước ngoài góp phần thúc đẩy
hệ thống ngân hàng Trung Quốc về chất lượng sản phẩm, cải tiến công nghệ, đào tạo nhân lực… và tăng tính cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau Đồng thời, ngân hàng nước ngoài cũng là nhân tố chính góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp
lý và cơ chế giám sát của nhà nước đối với HTNH Điều này đồng quan điểm với nghiên cứu của Yuhua Li, TongSheng Xu và Hongling Yuan (2014) vì CĐCL là các
tổ chức tài chính nước ngoài rất có kinh nghiệm trong xây dựng, phát triển mảng ngân hàng bán lẻ, ngân hàng doanh nghiệp, ngân hàng tư nhân, thẻ tín dụng, công nghệ thông tin, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro và quản lý nguồn nhân lực… Đề tài
tiếp tục đưa thêm giả thuyết nghiên cứu thứ tư:
H 4 : CĐCL nước ngoài tác động đến lợi nhuận NHTMCP Việt Nam tích cực hơn CĐCL trong nước
2.3.5 Thời gian gắn bó của CĐCL đối với một ngân hàng (TIM)
Thiện chí hợp tác của CĐCL không chỉ thể hiện qua giá trị đầu tư vào một NHTMCP Việt Nam mà còn có yếu tố thời gian Sự gắn kết lâu dài thể hiện niềm tin của CĐCL vào ngân hàng cũng như thể hiện sử ổn định của ngân hàng khi có sự tham gia của CĐCL Hoạt động ngân hàng cần nhất sự ổn định để thực hiện được những định hướng lâu dài nhằm tăng trưởng bền vững Theo nghiên cứu của Yuhua
Li, TongSheng Xu và Hongling Yuan (2014) thì thời gian nắm giữ cổ phần làm CĐCL của một ngân hàng có tác động rất lớn đến lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trung Quốc Bởi thời gian càng lâu thì các CĐCL và ngân hàng càng
có nhiều thời gian để thực hiện các chiến lược phát triển, cải cách hoạt động và là động lực để nâng cao hiệu quả, lợi nhuận của ngân hàng Vì vậy, đề tài đưa ra giả thuyết nghiên cứu thứ năm:
Trang 30Luận văn thạc sỹ 22
H 5 : Có mối quan hệ đồng biến (+) giữa thời gian làm CĐCL của NHTMCP
và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.4 Đặc trưng tài chính và đặc điểm NHTMCP Việt Nam
2.4.1 Quy mô và chất lượng tín dụng của NHTM
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thống đồng thời là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM hiện nay Vũ Thị Hiền (2011) đưa ra số liệu thống kê NHNN qua các năm của các NHTM thì doanh thu từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn khoảng 60 đến 70% tổng doanh thu Qua đó cho thấy tín dụng là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Tuy nhiên, quy mô tín dụng càng cao thì không có nghĩa là lợi nhuận sẽ tăng cao mà nó phụ thuộc rất nhiều vào việc quản lý rủi ro, thẩm định tín dụng của từng ngân hàng mà rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất của ngân hàng (Bessis, 2011) Theo Rose (1998) cho rằng do vốn chủ sở hữu của ngân hàng rất nhỏ so với tổng tài sản nên chỉ cần một
tỷ lệ nhỏ trong danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy
cơ phá sản Do đó xem xét quy mô cũng như chất lượng tín dụng là việc làm rất cần thiết trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong đó:
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (Loans over assets - LOA)
LOA = Tổng dư nợ
Tổng tài sản có x 100%
Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của NH, đánh giá khả năng sử dụng vốn để cho vay của NH Chỉ tiêu càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng cao, ngược lại càng thấp thì ngân hàng đang bị trì trệ vốn, sử dụng vốn bị lãng phí, có thể gây ảnh hưởng đến doanh thu cũng như
tỷ lệ thu lãi của ngân hàng (Thái Văn Đại, 2014) Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Alicia García-Herrero và cộng sự (2006) Tuy nhiên, nghiên cứu của Hyun E.Kim và Byung-Yoon Lee (2004) thì cho kết quả khác với quan điểm trên, tỷ lệ dư nợ càng cao thì lợi nhuận càng giảm Nguyên nhân được đưa ra là do các ngân hàng Hàn Quốc có tỷ lệ dư nợ cao nhưng chất lượng tín dụng thấp, tỷ lệ
nợ xấu cao, quản trị rủi ro tín dụng không hiệu quả Điều này tương đồng với quan điểm của Amador và cộng sự (2013) khi tăng trưởng tín dụng cao bất thường trong một thời gian dài dẫn đến sự gia tăng rủi ro của ngân hàng bắt nguồn từ việc giảm
Trang 31Luận văn thạc sỹ 23
khả năng thanh toán và gia tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Bên cạnh đó, Kohler (2012) cho rằng tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao bất thường có mức rủi ro cao hơn do ngân hàng có thể hạ thấp tiêu chuẩn cho vay để cạnh tranh và gia tăng dư nợ tín dụng Đề tài đưa ra giả thuyết thứ sáu:
H 6 : Có mối quan hệ nghịch biến (-) giữa tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
Tỷ lệ nợ xấu (Non performing loans – NPL)
NPL = Nợ xấu
Tổng dư nợ x 100%
Tỷ lệ nợ xấu xác định chất lượng tín dụng của NHTM, tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và lợi nhuận càng thấp Vấn đề này cũng đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu như Hyun E.Kim và Byung-Yoon Lee (2004), Nicholas Hope và Fred Hu (2006),… Bên cạnh đó, nghiên cứu của Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) còn chứng minh ngân hàng có CĐCL nước ngoài thì tỷ lệ nợ xấu càng giảm Ngoài ra, theo thông tư 36/2014/TT-NHNN (2014) của NHNN quy định NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá đối với khách hàng để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu khi tỷ lệ nợ xấu dưới 3% Như vậy, nếu tỷ lệ nợ xấu vượt mức 3% đồng nghĩa với việc ngân hàng gặp nhiều hạn chế trong việc phát triển tín dụng, gia tăng lợi nhuận Theo khảo sát về ngành ngân hàng Việt Nam năm 2013 của KPMG, nguyên nhân lợi nhuận sau thuế ngân hàng năm 2012 sụt giảm là do chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và chi phí hoạt động tăng Đề tài đưa ra giả thuyết thứ bảy:
H 7 : Có mối quan hệ nghịch biến (-) giữa tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.4.2 Thanh khoản của ngân hàng
Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của NHTM là đảm bảo khả năng thanh khoản đầy đủ Một ngân hàng có khả năng thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng ở chi phí hợp lý
và đúng lúc cần thiết Điều này có nghĩa là ngân hàng có sẵn lượng ngân quỹ dự trữ trong tay hoặc có thể tăng thêm bằng cách vay mượn hoặc bán bớt một số tài sản
Trang 32Luận văn thạc sỹ 24
mà ngân hàng đang có Thực tế cho chúng ta thấy hiện tượng thiếu hụt thanh khoản, thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Những ngân hàng này phải huy động vốn lãi suất cao hơn lãi suất cho vay để duy trì thanh khoản, chi trả các khoản tiền gửi đến hạn dẫn đến làm giảm lợi nhuận Và tình trạng thiếu hụt thanh khoản với mức độ lớn trở thành một trong những nguyên nhân đưa đến phá sản ngân hàng (Phan Thị Cúc, 2009)
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (Equity over assets – EOA)
𝐸𝑂𝐴 = Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản x 100%
Một trong những vấn đề đáng lưu tâm nhất của hệ thống ngân hàng là việc tăng và duy trì vốn chủ sở hữu ở mức thích hợp (Rose, 1998) Vốn chủ sở hữu có một ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng với các chức năng không thể thay thế như cung cấp nguồn lực ban đầu để giúp ngân hàng mới thành lập hoạt động, cung cấp nền tảng cho sự tăng trưởng và mở rộng, giảm thiểu rủi ro, duy trì niềm tin của công chúng và cổ đông vào khả năng quản lý và phát triển của ngân hàng Hiệp định uỷ ban Basel cũng đã ban hành Basel III, quy định các ngân hàng phải tăng mức vốn
dự trữ, đặc biệt là vốn các cổ đông Theo nghiên cứu của Hyun E.Kim và Yoon Lee (2004) thì tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng cao càng góp phần tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng Hàn Quốc, thể hiện rõ nhất đối với các ngân hàng có CĐCL nước ngoài Tương tự, Alicia García-Herrero và cộng sự (2006) cũng cho rằng ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận càng cao Ngoài ra, nghiên cứu của Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) còn cho thấy, CĐCL nước ngoài không chỉ gia tăng lợi nhuận mà còn gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của các ngân hàng Trung Quốc Giải thích được đưa ra là các ngân hàng có CĐCL tham gia thì có nguồn vốn dồi dào từ việc góp vốn của các CĐCL
Byung-và có thể tăng vốn điều lệ liên tục nên tỷ lệ vốn chủ sở hữu cải thiện, góp phần gia tăng lợi nhuận ngân hàng Vì vậy, đề tài đưa ra giả thuyết thứ tám:
H 8 : Có mối quan hệ đồng biến (+) giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
Trang 33Luận văn thạc sỹ 25
Tỷ lệ trạng thái tiền mặt (LIQ)
Tỷ lệ trạng thái tiền mặt =Tiền mặt + Tiền gửi, cho vay tại các TCTD
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời Nếu chỉ tiêu này càng cao thì khả năng chi trả các nhu cầu tiền mặt tức thời càng cao Đặc biệt, đối với nhu cầu rút tiền của người gửi vì đây là nhu cầu thanh khoản chính có tính thường xuyên, tức thời và vô điều kiện, bao gồm tất cả các loại thuộc tiền không kỳ hạn, tiền gửi phát hành séc, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn, tiền gửi có kỳ hạn đến hạn thanh toán, thanh toán kỳ phiếu hay trái phiếu đến hạn… (Thái Văn Đại, 2014)
Tuy nhiên, Hyun E.Kim và Byung-Yoon Lee (2004) cho rằng việc duy trì tỷ lệ trạng thái tiền mặt cao đồng nghĩa với việc phân bổ tài sản vào các tài sản sinh lời hơn sẽ giảm, dẫn đến lợi nhuận sụt giảm Chủ yếu là do các ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản bằng cách tăng huy động tiền gửi và duy trì tỷ lệ dư nợ trên tổng tài sản ở mức phù hợp thậm chí thấp Đề tài đưa ra giả thuyết thứ chín
H 9 : Có mối quan hệ nghịch biến (-) giữa tỷ lệ trạng thái tiền mặt và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.4.3 Quy mô ngân hàng (Tổng tài sản – Assets)
Theo Alicia García-Herrero và cộng sự (2006), quy mô tổng tài sản được coi
là một yếu tố quyết định liên quan đến lợi nhuận nhưng không có sự đồng thuận về hướng ảnh hưởng Một mặt, ngân hàng có quy mô lớn sẽ tiết kiệm được chi phí vì tính kinh tế theo quy mô Và trong thực tế, ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn có nhiều cơ hội đa dạng hóa đầu tư hơn nên cho phép duy trì hoặc thậm chí tăng lợi nhuận trong khi giảm rủi ro Mặt khác, quy mô lớn cũng có thể hàm ý rằng ngân hàng gặp khó khăn hơn nhiều trong việc quản lý hoặc nó có thể là hậu quả của chiến lược phát triển mạnh mẽ trong thời gian ngắn của một ngân hàng Các kết quả nghiên cứu trên thế giới cũng cho ý kiến trái chiều Goddard và cộng sự (2004), Garcia-Herrero và Vazquez (2007) cho thấy các ngân hàng lớn ở các nước công nghiệp phát triển có xu hướng được nhiều lợi nhuận hơn khi quy mô lớn hơn Điều này cùng quan điểm với Boyd và Prescott (1986) hay Salas và Saurina (2002) bởi các ngân hàng lớn là các ngân hàng có năng lực quản lý, tiềm lực tài chính
Trang 34Luận văn thạc sỹ 26
mạnh, đầu tư hiệu quả hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn Ngoài ra, các ngân hàng lớn quản lý rủi ro tốt hơn do có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư nhờ nguồn vốn dồi dào Sitroh và Rumble (2006) lại cho kết quả về mặt tiêu cực của quy mô ngân hàng Trong trường hợp Trung Quốc, ngân hàng có quy mô lớn lại liên quan đến sự can thiệp của chính phủ như các ngân hàng lớn nhất Trung Quốc
là bốn NHTM nhà nước với một phần lớn vốn góp của chính phủ nhưng hoạt động không hiệu quả do tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, khả năng quản trị rủi ro thấp Trong nghiên cứu của Alicia García-Herrero và cộng sự (2006) cũng chỉ ra nguyên nhân hệ thống ngân hàng Trung Quốc có lợi nhuận thấp hơn các nước khác là do tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao trong khi khả năng quản lý rủi ro tín dụng gặp nhiều hạn chế, hiệu quả thấp mặc dù quy mô ngân hàng rất lớn Điều này tương tự với kết quả nghiên cứu của Hawes va Chiu (2006), Nicholas Hope và Fred Hu (2006); Tan (2009) Đồng thời, hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2006 -
2013 khá tương đồng với hệ thống ngân hàng Trung Quốc vào thời điểm mà Sitroh
và Rumble (2006) nghiên cứu Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung đánh giá các NHTMCP và hạn chế đánh giá các ngân hàng nhà nước Vì vậy, Đề tài đưa ra giả thuyết thứ mười
H 10 : Có mối quan hệ đồng biến (+) giữa tổng tài sản và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.4.4 Hiệu quả quản lý chi phí (tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập)
Trong lý thuyết “Bad Management I”, Louzis và cộng sự (2012) cho rằng hiệu quả quản lý chi phí thấp có quan hệ đồng biến với sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu trong tương lai, đó là quản lý kém dẫn đến kỹ năng kém trong điểm số tín dụng, thẩm định tài sản đảm bảo và giám sát khách hàng vay Từ đó phát sinh các khoản vay mất khả năng thu hồi, tăng trích lập dự phòng và suy giảm lợi nhuận Nghiên cứu Hyun E.Kim và Byung-Yoon Lee (2004) sử dụng tỷ số chi phí hoạt động trên tổng thu nhập để đo lường tác động của hiệu quả quản lý chi phí đến lợi nhuận Và kết quả cho thấy, việc quản lý chi phí một cách hiệu quả tác động rất lớn đến sự tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng Đề tài đưa ra giả thuyết thứ mười một:
H 11 : Có mối quan hệ nghịch biến (-) giữa tỷ lệ chi phí hoạt động và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
Trang 35Luận văn thạc sỹ 27
2.4.5 Đặc điểm ngân hàng (tuổi ngân hàng - Age)
Ngân hàng có lịch sử lâu đời thì có tỷ suất lợi nhuận càng cao (Abedifar và cộng sự, 2012) Do ngân hàng tuổi đời lớn hơn sẽ có nhiều kinh nghiệm, số lượng khách hàng thân thiết cao, thương hiệu lâu đời và lợi thế thông tin khi hoạt động trong khu vực địa lý mới, thị trường sản phẩm mới Điều này tương đồng với quan điểm của Dhouibi (2013) khi cho rằng ngân hàng tồn tài lâu đời hơn thì nhiều kinh nghiệm và năng lực hơn Đề tài đưa ra giả thuyết thứ mười hai
H 12 : Có mối quan hệ đồng biến (+) giữa tuổi và lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam
2.5 Các nghiên cứu trước về tác động của cổ đông chiến lược, đặc trưng tài chính và đặc điểm ngân hàng đối với lợi nhuận của ngân hàng
Alicia García-Herrero và Daniel Santabárbara (2008) cố gắng tìm hiểu xem các nhà đầu tư nước ngoài có tầm ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của hệ thống NH Trung Quốc trong giai đoạn 1999 – 2006, thông qua 03 bậc phân tích Cụ thể:
Bậc 1: Đánh giá trực tiếp mối liên quan giữa sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài với lợi nhuận của NH Trung Quốc
Bậc 2: Xác định những yếu tố quyết định chính tạo ra lợi nhuận, bao gồm: Các chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu,
Bậc 3: Đánh giá tầm ảnh hưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đến các yếu
tố quyết định chính tạo ra lợi nhuận
Kết quả cho thấy, khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, hệ thống ngân hàng Trung Quốc được cải thiện về nhiều mặt như: Nợ xấu, uy tín, thương hiệu, khả năng huy động vốn, quản trị nhân lực, quản trị chiến lược gia tăng lợi nhuận liên tục qua các năm Đồng thời, nghiên cứu cũng nêu rõ:
Nhà đầu tư chiến lược mang lại hiệu quả hơn so với nhà đầu tư tài chính
Nhà đầu tư nước ngoài có nguồn vốn đầu tư thuộc sở hữu của chính nhà đầu tư đó hiệu quả hơn so với nhà đầu tư có nguồn vốn đầu tư nhận được qua uỷ thác tài chính, đầu tư của các cá nhân, tổ chức khác
Trang 36Luận văn thạc sỹ 28
Ngân hàng có nhà đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng vốn điều lệ càng lớn (giá trị góp vốn cao) thì hiệu quả hơn so với các ngân hàng có nhà đầu tư chiếm ít vốn điều lệ hoặc không nhận vốn góp
Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Trung Quốc giảm mạnh khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra rằng thật khó để đo được năng suất, sự hiệu quả của NH khi có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài bởi sự thao túng và can thiệp của chính phủ như: Giới hạn sở hữu tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài là 20% và tối đa 25% đối với tất cả nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời không có quyền nắm quyền quản trị rất giống với Việt Nam
Nicholas Hope và Fred Hu (2006) tham gia nghiên cứu về việc cải cách hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: CĐCL nước ngoài
có thể giúp đỡ bao nhiêu cho việc cải cách hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc? Kết quả cho thấy, CĐCL nước ngoài dường như đã góp phần thay đổi mọi mặt của ngân hàng từ việc kiểm soát và quản lý hoạt động hiệu quả; sáng tạo trong việc giới thiệu
và tiếp thị sản phẩm mới; nâng cao chất lượng tài sản toàn diện; quản lý thông tin kịp thời và chính xác; hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả; tăng cường sức mạnh về vốn cũng như cải thiện vị thế của các ngân hàng có sự tham gia của CĐCL nước ngoài thông qua việc phân tích và đánh giá các tiêu chuẩn mà ngân hàng Trung Quốc đang áp dụng để lựa chọn CĐCL như Quy mô tổng tài sản, vốn hoá thị trường, tiềm lực tài chính, tỷ suất lợi nhuận, sức mạnh tài chính, xếp hạng tín dụng, vốn hoá thị trường…, gần giống với các quy định của NHNN Việt Nam về điều kiện lựa chọn CĐCL cho các TCTD Tuy nhiên, cũng giống như Việt Nam, việc giới hạn về tỷ lệ sở hữu, sự khác biệt về văn hoá, khuôn khổ pháp lý, chất lượng tài sản và khả năng thanh khoản, tính minh bạch thường dẫn đến xung đột lợi ích khi các CĐCL nước ngoài là cổ đông thiểu số, đồng thời cũng hạn chế quyền tham gia điều hành ngân hàng Điều này đã gây nhiều trở ngại đến việc thu hút CĐCL nước ngoài cũng như tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng của Trung Quốc
Hyun E.Kim và Byung-Yoon Lee (2004) đánh giá hiệu quả, tác động của ngân hàng nước ngoài, cổ đông chiến lược nước ngoài với các điều kiện kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 1987 đến 2000 đối với các ngân hàng nội địa Hàn Quốc qua việc đánh giá tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ trạng thái tiền mặt, tỷ lệ dư nợ trên tổng tài
Trang 37Luận văn thạc sỹ 29
sản, tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập,
tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản, GDP, lạm phát và lãi suất thực đến ROA, ROE, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản, tỷ lệ tổng chi phí trên tổng tài sản của ngân hàng Đối với các ngân hàng có cổ đông chiến lược nước ngoài thì kết quả như sau:
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu càng cao thì lợi nhuận càng cao
Tỷ lệ trạng thái tiền mặt càng thấp thì lợi nhuận càng cao
Tỷ lệ dư nợ càng cao thì lợi nhuận càng thấp
Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận càng cao
Tỷ lệ nợ xấu càng thấp thì lợi nhuận càng cao
Tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận càng cao
GDP càng cao thì lợi nhuận càng cao
Lạm phát càng cao thì lợi nhuận càng cao
Lãi suất thực càng cao thì lợi nhuận càng thấp
Yuhua Li, TongSheng Xu và Hongling Yuan (2014) thì tìm hiểu những yếu tố,
cơ chế hợp tác của CĐCL nước ngoài đối với hiệu quả, lợi nhuận các ngân hàng Trung Quốc, kết quả đưa ra bao gồm các yếu tố sau:
CĐCL nước ngoài sở hữu cổ phần càng nhiều thì hiệu quả, lợi nhuận càng cao
CĐCL nước ngoài đưa càng nhiều nhà quản lý vào điều hành ngân hàng thì hiệu quả, lợi nhuận càng cao
CĐCL nước ngoài là các tổ chức tài chính chuyển giao công nghệ tốt hơn
so với các CĐCL nước ngoài hoạt động ngành nghề khác
CĐCL nước ngoài có thời gian nắm giữ cổ phần càng lâu thì hiệu quả, lợi nhuận của ngân hàng càng cao
Nghiên cứu của Nguyễn Cao Khôi và Nguyễn Phương Linh (2012) tìm hiểu
và đưa ra một số nguyên nhân vì sao các CĐCL nước ngoài cơ bản có thể thành lập ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam nhưng lại lựa chọn hình thức đầu tư mua cổ phần để trở thành cổ đông chiến lược của ngân hàng Việt Nam? Thực tế thì các CĐCL nước ngoài của NHTMCP sẽ có những lợi ích như sau: