1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc

70 808 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều Tra Thu Nhập Và Xu Hướng Lựa Chọn Dịch Vụ Gửi Tiết Kiệm Tại Ngân Hàng Của Cán Bộ Giảng Viên Đại Học Huế
Trường học Đại học Huế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 652,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế

Trang 1

MỤC LỤC

Phần một: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Phần hai: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8

Chương I:TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

1.1 Cơ sở lý thuyết 8

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 16

Chương II: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21

2.1 Thống kê mô tả về đối tượng điều tra 21

2.2 Khảo sát về thu nhập của cán bộ giảng viên đang công tác tại Đại học Huế 29

2.3 Phân bổ chi tiêu của cán bộ giảng viên 37

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên 46

Chương III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 62

3.1 Kết luận 62

3.2 Giải pháp 64

Phần ba: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Kiến nghị 68

Trang 2

Phần một: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, Việt Nam cũng đangdần hội nhập khi là thành viên chính thức của khối ASEAN tham giaAFTA và APEC, trở thành thành viên chính thức của tổ chức thươngmại thế giới WTO Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục giữ ở mức caovới những con số đầy ấn tượng, tốc độ tăng GDP bình quân đầungười giai đoạn 2006-2010 đạt 7%/ năm Tốc độ phát triển kinh tếcao trong khi tốc độ tăng dân số giảm dẫn đến GDP bình quân đầungười ngày một tăng, nếu như thu nhâp bình quân đầu người năm

1990 chỉ là 130 USD/ người thì năm 2008 con số này đã tăng lên gấptám lần với 1047 USD/ người và năm 2010 là 1160 USD/người

Khi mà đời sống ngày càng được nâng cao thì việc người dân ngoàiviệc chi tiêu thu nhập cho những nhu cầu thiết yếu thì họ còn chitiêu cho những nhu cầu cao hơn như giải trí, mua sắm,du lịch vv.Phần thu nhập dư thừa sẽ dùng để đầu tư hoặc tích lũy tài sản.Những người thích rủi ro để có được suất sinh lời cao họ sẽ đầu tưvào các loại chứng khoán, vàng, ngoại tệ, các dự án vv Nhữngngười thích an toàn người ta sẽ chọn phương án gửi tiền vào ngânhàng

Hiện nay đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn các hệ thống ngânhàng, đó không chỉ là ngân hàng nhà nước mà còn là các ngân hàng

tư nhân Ngân hàng được hình thành nên như là một sự tất yếu đểđáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính cho xã hội Các dịch vụ trongngân hàng đã được bổ sung đa dạng với nhiều tiện ích, tính năngmới cung cấp cho khách hàng để thỏa mãn tối đa nhu cầu cầu họ Trong đó, cán bộ giảng viên đại học chiếm một bộ phận nhỏ trongdân cư là những thành phần trí thức trong xã hội Họ có thu nhậpcao và khá ổn định Tuy nhiên thu nhập của họ không giống nhau và

Trang 3

việc họ phân bổ thu nhập vào trong chi tiêu cũng khác nhau Một xuhướng chung là thường thì chi tiêu bao giờ cũng nhỏ hơn thu nhập,phần tài sản dư thừa có thể dùng để đầu tư hoặc gửi tiết kiệm tạingân hàng Hiện nay nhiều ngân hàng đã xác định được những cán

bộ giảng viên là những đối tượng khách hàng thực sự tiềm năng để

có những biện pháp khuyến khích, ưu tiên trong việc huy động vốnbằng dịch vụ gửi tiết kiệm với lãi suất cao

Với điều kiện có khá nhiều ngân hàng để lựa chọn thì việc nghiêncứu các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn dịch vụ tiết kiệmtại ngân hàng của cán bộ giảng viên đại học sẽ giúp cho các ngânhàng có những chiến lược phù hợp để nâng cao uy tín và chất lượngphục vụ để trở thành sự lựa chọn hàng đầu của khách hàng

Xuất phát từ những nguyên nhân trên nhóm chúng tôi thống nhất điđến đề tài “Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiếtkiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế”

2 Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu:

 Câu hỏi nghiên cứu

- Mức thu nhập của cán bộ giảng viên đang làm việc và công tác tạicác trường đại học thành viên Đại học Huế là bao nhiêu?

- Cán bộ giảng viên đang làm việc và công tác tại các trường đại họcthành viên Đại học Huế phân bổ thu nhập trong chi tiêu như thế nào?

- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng củacác cán bộ giảng viên đang làm việc và công tác tại các trường đạihọc thành viên Đại học Huế ?

 Mục tiêu nghiên cứu:

Từ những nhận xét mong muốn nêu trên, mục tiêu của đề tài sẽhướng vào các vấn đề cụ thể sau:

 Ước lượng thu nhập của các hộ gia đình cán bộ giảng viên đangcông tác tại Đại học Huế

Trang 4

 Ước lượng việc phân bổ chi tiêu cả các hộ gia đình cán bộ giảngviên đang công tác tại Đại học Huế.

 Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn dịch vụ gửitiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đai học Huế

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài mong muốn xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến xuhướng hành vi lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng Thôngqua hành vi của mẫu nghiên cứu để tạo được tính khái quát cao Tuynhiên, do hạn chế về thời gian nghiên cứu, kinh phí hạn hẹp, vốnkiến thức và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên phạm vi nghiên cứucủa đề tài chỉ kiểm soát những cá nhân đã từng gửi dịch vụ tiết kiệmtại ngân hàng Thông qua hành vi của mẫu nghiên cứu trong việctham gia gửi tiết kiệm tại ngân hàng đề tài rút ra được những tácnhân ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tạingân hàng

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cán bộ giảng viên Đại học Huế,những người đã từng sử dụng dịch vụ tiết kiệm tại ngân hàng dựatrên thái độ, ứng xử của họ đối với dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngânhàng Thông qua đó đưa ra kết luận cho mô hình nghiên cứu thôngqua số lượng 50 mẫu khảo sát

Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành từ ngày 10 tháng

10 đến ngày 13 tháng 11 năm 2011

4 Phương pháp nghiên cứu.

 Đề tài nghiên cứu trải qua hai giai đoạn:

Nghiên cứu sơ bộ: được thực hiện thông qua phương pháp định tínhnhằm mục đích khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sátchung để đo lường các khái niệm nghiên cứu với các nội dung sau

 Hình thức thực hiện:

Trang 5

- Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, xây dựng mô hình nghiên cứu lýthuyết Được thực hiện từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 10 năm

2011 tại địa bàn thành phố Huế

- Sử dụng kỹ thuật thảo luận nhóm mục tiêu (Focus group) với cácthầy cô thuộc trường Đại học Huế đã từng sử dụng qua dịch vụgửi tiết kiệm tại ngân hàng (17 người trong độ tuổi từ 30-40, 5người thuộc trường ngoại ngữ, 6 người thuộc trường khoa học, 4người thuộc trường nông lâm và 2 người thuộc trường kinh tế)

- Vấn đề được đưa ra thảo luận là các ý kiến của giảng viên vềnhững lợi ích mà dịch vụ gửi tiết kiệm mang lại cho họ, ý kiếnđánh giá đối với bản thân mỗi người về tầm quan trọng củanhững lợi ích đó Rồi những ý kiến tác động của nhóm tham khảonào ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ và những động cơ nàothúc đẩy họ làm theo những ý kiến đó Mục đích của buổi thảoluận nhóm là để điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát dùng để

đo lường các yếu tố kiểm soát

Các bước nghiên cứu định tính:

- Xác định được những lợi ích mà người tham gia dịch vụ gửi tiếtkiệm họ cảm nhận được khi họ thực hiện hoặc có ý định thực hiệngiao dịch

- Biết được vì sao họ lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng

mà không phải là một nơi khác như bưu điện hay bảo hiểm

- Nhóm tham khảo nào sẽ là người ảnh hưởng đến quyết định lựachọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng

- Động lực nào thúc đẩy họ làm theo ý kiến của nhóm tham khảokhi lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng

Nghiên cứu chính thức: được thực hiện bằng phương pháp nghiêncứu định lượng nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua

Trang 6

phương pháp phỏng vấn trực tiếp các thầy, cô của trường Đại họcHuế tại địa bàn thành phố Huế Kết quả nghiên cứu chính thức dùng

để kiểm định lại mô hình lý thuyết

Các bước thực hiện:

chỉnh bảng câu hỏi sao cho thật rõ ràng nhằm thu được kết quả

để có thể đạt được mục tiêu nghiên cứu

người phỏng vấn phải giải thích nội dung bảng hỏi để người trảlời hiểu câu hỏi và trả lời chính xác theo những đánh giá của họ

 Phương pháp phân tích số liệu:

- Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứusau:Phương pháp thống kê mô tả cho thu nhập và chi tiêu Qua

đó biết được mức thu nhập nào là cao nhất, thấp nhất và mứcnào là phổ biến nhất Ngoài ra con so sánh mức thu nhập và chitiêu giữa các giảng viên trong bốn trường đại học (Kinh Tế,Ngoại Ngữ, Khoa Học và Nông Lâm)

yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tạingân hàng

- Hồi quy tương quan các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựachọn gửi tiết kiệm tại ngân hàng

Trang 7

QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU:

HÌNH SỐ 4.1: QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Phương pháp chọn mẫu dự kiến áp dụng là phương pháp chọn mẫungẫu nhiên hệ thống Từ danh sách tổng thể có được được sắp xếptheo thứ tự bảng chữ cái các trường và các khoa, nhóm nghiên cứuthực hiện bước nhảy k để đảm bảo sự phân bố đồng điều trong đốitượng điều tra Áp dụng công thức chọn mẫu, mẫu dự kiến điều tra là:

Cơ sở lý thuyết Thang đo 1 Thảo luận nhóm

Điều chỉnh

Nghiên cứu định lượng

Phát triển và xử lý thang đo:

-Hệ số cronbach anpha để kiểm tra mức độ chặt chẽ giữa các mục hỏi -Loại các biến có EFA nhỏ

Phân tích hồi quy:

-Xây dựng mô hình nghiên cứu -Kiểm định các giả thuyết

Trang 8

Để tính kích cỡ mẫu, nhóm nghiên cứu đã sử dụng công thứcsau:

2 2(1 )

Trang 9

từ nhu cầu cơ bản như ăn, mặc là các nhu cầu thiết yếu, tiếp theo đó là việc sử dụngthu nhập để chi tiêu cho các nhu cầu cao hơn như dịch vụ giải trí, mua sắm,du lịch đó

là nhu cầu về được tôn trọng, khẳng định bản thân Cuối cùng, phần thu nhập dư thừa

sẽ được dùng để đầu tư sinh lợi hoặc tích lũy tài sản

Một trong những lựa chọn để giải quyết phần thu nhập dư thừa là đầu tư hoặcgửi tiết kiệm Nếu như nhu cầu của họ chỉ là chọn nơi an toàn để cất giữ tài sản thì họ

có thể lựa chọn hình thức gửi tiết kiệm, còn nếu mong muốn khả năng sinh lời cao vàchấp nhận rủi ro thì họ sẽ đầu tư vào chứng khoán, vàng, hoặc ngoại tệ

Đối với các cán bộ giảng viên Đại học có thu nhập ổn định, họ thường lựa chọnhình thức gửi tiết kiệm như là phương án tích lũy tài sản tốt nhất, vừa đảm bảo tính antoàn và khả năng sinh lời khá cao Và trong các loại hình dịch vụ tiết kiệm tại cácngân hàng hiên nay, khách hàng có thể lựa chọn các loại hình khác nhau như: tiết kiệm

có kì hạn, tiết kiệm không kì hạn, thanh toán thẻ điện tử Ngoài việc gửi tiền tại ngânhàng ra thì khách hàng có thể lựa chọn thêm các dịch vụ khác như gửi tiết kiệm tại bưuđiện hoặc mua bảo hiểm

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu

về hành vi lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại HọcHuế để biết được vì sao khách hàng lại lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm, nó cung cấpnhững lợi ích gì cho họ cũng như những mong muốn, kỳ vọng của khách hàng về dịch

vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng Và cuối cùng là những nhân tố nào tác động đến xuhướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng mà không phải là ở nơi khác

Trang 10

Theo đó, chúng tôi sử dụng thuyết hành động hợp lý TRA để giải thích cho ýđịnh hành vi trong việc lựa chọn loại hình dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng Đề tàinghiên cứu các đối tượng là cán bộ giảng viên Đại Học Huế, những người đã từng sửdụng dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng và đánh giá những trải nghiệm của họ sau khi

Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cungcấp các dịch vụ quản lý cho công chúng, đồng thời nó cũng thực hiên nhiều vai tròkhác nhau trong nền kinh tế Thành công của các ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vàonăng lực về việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện cácdịch vụ một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh Sau đây là cácdịch vụ phổ biến trong ngân hàng:

 Dịch vụ truyền thống:

Thực hiện trao đổi và buôn bán ngoại tệ

Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại

Nhận tiền gửi

Bảo quản vật có giá trị

Tài trợ cho các hoạt động của chính phủ

Cung cấp các tài khoản giao dịch

Cung cấp các dịch vụ ủy thác

 Những dịch vụ mới phát triển gần đây:

Cho vay tiêu dùng

Tư vấn tài chính

Quản lý tiền mặt

Dịch vụ thuê mua thiết bị

Cho vay tài trợ dự án

Trang 11

Bán các dịch vụ bảo hiểm

Cung cấp các kế hoạch hưu trí

Cung cấp các dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán

Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp

Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bảo hiểm

Gửi tiết kiệm là một trong những dịch vụ quan trọng trong các loại hình dịch vụ

ở ngân hàng Khi khách hàng gửi tiền vào đó, ngoài khoản tiền gốc họ còn nhận đượcphần tiền lãi tùy theo lãi suất của từng ngân hàng Nếu bạn rút tiền ra trước kỳ hạn bạn

sẽ bị phạt tiền hoặc nhận được lãi thấp hơn

1.1.3 Dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng cho cán bộ giảng viên

Cán bộ giảng viên là những đối tượng có thu nhập cao và ổn định trong xãhội, đang là đối tượng khách hàng mục tiêu mà nhiều ngân hàng đang hướng đến.Hiện nay một số ngân hàng đã có một số ưu đãi lớn dành cho đối tượng khách hàng

là giảng viên như:

Nhân dịp ngày nhà giáo Việt Nam 20-11, VIETBANK triển khai chươngtrình “Ưu đãi dành cho nhà giáo” thì Quý Thầy, Cô ngoài việc có thể tham gia cácchương trình khuyến mãi hiện có thì sẽ được hưởng lãi suất cao và nhận được quà tặngtrong bộ sưu tập “ Hành trang nhà giáo” khi gửi tiết kiệm tại ngân hàng Vietbank Đâyđược xem như là hoạt động tiếp theo trong chiến dịch thiết kế sản phẩm dành cho từngđối tượng khách hàng mục tiêu của Vietbank Toàn thể cán bộ nhân viên Vietbank tạihơn 70 điểm hoạt động trên cả nước đã sẵn sàng cung cấp sản phẩm dịch vụ tốt nhấttới các cán bộ, giảng viên, giáo viên

Để phân loại các loại hình dịch vụ tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng, ta có thểcăn cứ vào một số tiêu thức sau:

 Nếu phân theo lãi suất thì sẽ có hai loại hình tiết kiệm:

 Tiết kiệm theo lãi suất cố định (fix): lãi được quy định trước vàkhách hàng sẽ được nhận vào cuối mỗi kỳ có thể là 1,2,3,6,9,12 hay 36tháng

Trang 12

 Tiết kiệm theo lãi suất thả nổi( float) : lãi suất sẽ được dựa trênmức lãi thị trường để ấn định theo từng kỳ.

 Nếu phân theo kỳ hạn gửi tiết kiệm sẽ bao gồm:

7 Tiền gửi ưu đãi tỷ giá

8 Lãi suất siêu thả nổi

1 Tiền gửi thanh toán

2 Tiền gửi tiết kiệm kiều hối

(Theo Hiệp hội marketing Hoa Kì )

Hay nói cách khác hành vi người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêudùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu cá nhân Đó làtrước, trong và sau khi mua

Tiến trình mua hàng của người tiêu dùng bao gồm 5 bước : nhận thức nhu cầu,tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, mua hàng Nghiên cứu hành vi kháchhàng giúp nhà Marketing hiểu được tại sao khách hàng mua hay không mua sản phẩm,các yếu tố nào tác động đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng

Những nhân tố bên ngoài bao gồm văn hóa giai cấp, các nhóm tham chiếu và hộgia đình góp phần hình thành nên một kiểu sống cụ thể của khách hàng Các nhân tốbên trong như quá trình nhận thức, trình độ học vấn, động cơ, tính cách cảm xúc củađối tượng là giảng viên ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn dịch vụ tiết kiệm tạingân hàng Khách hàng lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ để duy trì hay là thay đổi lối

Trang 13

sống đó Sự kết hợp của một kiểu sống cụ thể, những thái độ và những tác động tìnhhuống sẽ giúp kích hoạt quá trình quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng.

Trang 14

1.1.5 Mô hình lý thuyết

(Nguồn: Schiffman và Kanuk, Consumer behavior, Prentice – Hall International Editions, 3rd ed, 1987)

Yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý địnhhành vi Ý định bị tác động bởi thái độ và quy chuẩn chủ quan

Thái độ và chuẩn chủ quan: Thái độ là những niềm tin về kết quả của ngườimua đối với thuộc tính sản phẩm là tích cực hay tiêu cực khi thực hiện hành vi đó Do

đó khi xét đến yếu tố thái độ của người mua phải xem xét trên cơ sở niềm tin của họđối với thuộc tính sản phẩm là tích cực hay tiêu cực và có quan trọng hay không quantrọng đối với bản thân họ và thứ hai là trên cơ sở họ đánh giá thế nào về kết quả khi

Niềm tin về những người ảnh

hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên

hay không nên mua sản phẩm

Sự thúc đẩy làm theo ý muốn

của những người ảnh hưởng

Đo lường niềm tin đối với

Xu hướng hành vi

Hành vi thực sự

Trang 15

Thuyết hành vi kiểm soát cảm nhận (Theory of Perceived Behaviour - TPB)

(Nguồn : Ajzen,1991 )

Mô hình TPB khắc phục nhược điểm của TRA bằng cách thêm vào một biến

nữa là hành vi kiểm soát cảm nhận Nó đại diện cho các nguồn lực cần thiết của một

người để thực hiện một công việc bất kỳ Mô hình TPB được xem như là tối ưu hơnđối với TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùngmột nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu

(Nguồn: Fred David, 1989 )

Mô hình TAM chuyên sử dụng để giải thích và dự đoán về sự chấp nhận và sửdụng một công nghệ Hai yếu tố cơ bản của mô hình là sự hữu ích cảm nhận và sự dễ

sử dụng cảm nhận Sự hữu ích cảm nhận là “mức độ để một người tin rằng sử dụng hệ

Niềm tin kiểm soát

Quy chuẩn chủ quan

Thái độ

Ý định hành vi

Thói quen sử dụng hệ thống

Sự dễ sử dụng cảm nhận

Sự hữu ích cảm nhận

Thái độ

Biến bên ngoài

Trang 16

thống đặc thù sẽ nâng cao thực hiện công việc của chính họ” Sự dễ sử dụng cảm nhận

là “ mức độ mà một người tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù mà không cần sự nỗ lực”

1.1.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng mô hình TRA để tiến hành nghiên cứu cácyếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn gửi tiết kiệm tại ngân hàng

Đề tài sử dụng thuyết hành động hợp lý TRA (theory of reasonable action) làm

vụ trong ngân hàng và đặc biệt là dịch vụ gửi tiết kiệm còn khá ít, chỉ chiếm một bộphận khá nhỏ trong dân cư Trong đó, cán bộ giảng viên đại học là những thành phầntri thức có thu nhập cao và ổn định trong xã hội Việc sử dụng dịch vụ gửi tiết kiệm tạingân hàng đối với bản thân họ sẽ không chỉ bị chi phối bởi thái độ chính là niềm tincủa cán bộ giảng viên đối với dịch vụ gửi tiền tiết kiệm là tích cực hay là tiêu cực màcòn là việc họ đánh giá về kết quả của việc gửi tiết kiệm là quan trọng hay không quantrọng đối với bản thân họ Ngoài ra bản thân các cán bộ giảng viên có bị chi phối quyếtđịnh sử dụng dịch vụ gửi tiết kiệm bởi các người ảnh hưởng như vợ/chồng, gia đình,bạn bè, người có kinh nghiệm sử dụng dịch vụ, tư vấn viên nên hay không nên sửdụng dịch vụ và sự thúc đẩy làm theo các đối tượng có liên quan

Trang 17

1.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Vị trí địa lý

Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 16-16,80 vĩ độ Bắc và 107,8-108,20 độkinh Đông phía Bắc và phía Tây giáp huyện Hương Trà, phía Nam giáp thị xã HươngThuỷ, phía Đông giáp thị xã Hương Thuỷ và huyện Phú Vang Tọa lạc hai bên bờdòng sông Hương, về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112km, cách biển Thuận

An 12 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 15 km và cách Cảng nước sâu Chân Mây 50

km Diện tích tự nhiên của thành phố Huế là 83,3 km2, dân số trung bình năm 2003ước là 350.400 người, chiếm 1,5% về diện tích và 1,5% về dân số so với cả nước Mật

độ dân số gần 4200 người/km2 Toàn thành phố có 27 đơn vị hành chính, bao gồm 24phường và 3 xã

Thành phố Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên hệ sinh thái đa dạng phongphú và diện mạo riêng tạo nên được một không gian hấp dẫn, được xác định trongkhông gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An- VọngCảnh Thành Phố Huế hội tụ đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ tạothành một không gian cảnh quan thiên nhiên đô thịu, văn hóa lý tưởng để tổ chức cácloại hình Festival và các loại hình du lịch thể thao khác Thành Phố Huế là địa bàn lýtưởng gắn kết tài nguyên, văn hóa đặc sắc với du lịch mà không một thành phố, địadanh nào ở nước ta có được và là một trong năm trung tâm du lịch quốc gia Huế nằm

ở vị trí trung tâm của các di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn,Phong Nha Kẻ Bàng) và gần các thành phố cố đô của các nước trong khu vực

Thành phố Huế là một trong những vùng có khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới giómùa mang tính chuyển tiếp từ xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khíhậu chuyển tiếp giữa Bắc và Nam nước ta nên có mù khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh.Nhiệt độ trung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24-25 độ C

Vị trí kinh tế như trên tạo điều kiện thuận lợi cho Thừa Thiên Huế phát triểnsản xuất hàng hóa và mở rộng gia lưu kinh tế xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc

tế Tạo đều kiện cho thành phố thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm

tỷ trọng nông nghiệpvà phát triển mạng lưới dịch vụ, thương mại du lịch và côngnghiệp tăng nhanh

Trang 18

1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Trong những năm qua kinh tế thành phố Huế đẫ đạt được những thành tựu tolớn, nhịp độ tăng trưởng cao Năm 2010, mặc dù gặp nhiều khó khăn và thách thức,nhưng nhìn chung tình hình kinh tế xã hội của thành phố tiếp tục ổn định và pháttriển Với nỗ lực và quyết tâm cao, thành phố đã hoàn thành và vượt kế hoạch 13 chỉtiêu, trong đó các chỉ tiêu chủ yếu như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng mức bán lẻhàng hóa và dịch vụ, tổng sản phẩm bình quân đầu người, giá trị hàng xuất khẩu, thungân sách, tổng vốn đầu tư trên địa bàn đều vượt kết hoạch Các nguồn vốn hỗ trợcủa Chính phủ, của Tỉnh để phát triển hạ tầng, chỉnh trang đô thị được triển khainhanh, đúng tiến độ; các chính sách xã hội được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đúngđối tượng Các dự án trọng điểm, nhất là các dự án đầu tư hạ tầng, chỉnh trang, nângcấp đô thị không chỉ tạo được bước đột phá về phát triển hạ tầng mà còn góp phầnlàm tăng mỹ quan đô thị, giữ gìn cảnh quan, môi trường Huế ngày càng xanh- sạch-đẹp Cụ thể, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 13,5%, cao hơn 0,7% so vớimức tăng trưởng của năm 2009 Cơ cấu kinh tế tiếp tục theo hướng Dịch vụ- Côngnghiệp, xây dựng- Nông lâm nghiệp trong đó dịch vụ chiếm 71% GDP bình quânđầu người đạt 1.350 USD(năm 2009 là 2.003USD) Như vậy mức độ phát triển cao

và thu nhập bình quân đầu người của thành phố Huế tăng lên là điều kiện cũng nhưkết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật để thànhphố tiếp tục đẩy nhanh phát triển kinh tế theo công nghiệp hóa – hiện đại hóa đấtnước Có thể thấy rằng thu nhập bình quân đầu người (1.350USD) của người dân có

xu hướng tăng lên, đời sống của họ được cải thiện hơn tuy nhiên so với thu nhập bìnhquân đầu người tại thành phố Đà Nẵng là 2.016 USD thì mức sống của người dân tạiđây còn tương đối thấp

Thành phố Huế là một trung tâm văn hóa, du lịch và dịch vụ, việc thành phốHuế trở thành thành phố Festival đã thi hút không ít một lượng khách du lịch đến vớiHuế và giúp cho hình ảnh của Huế được quảng bá rộng rãi đến nhiều nơi trên thế giới,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước

Cùng với sự phát triển kinh tế là hệ thống giáo dục, thành phố Huế là mộttrung tâm giáo dục đào tạo lớn của cả nước và khu vực với 08 trường đại học, nhiều

Trang 19

trường cao đẳng, viện nghiên cứu; là trung tâm y tế chuyên sâu lớn thứ 3 của cảnước, trung tâm khám chữa bệnh phục vụ cho nhu cầu phát triển của cả vùng, vớiBệnh viện Trung ương Huế có lịch sử 115 năm hình thành và phát triển Đây là lợithế để xây dựng, phát triển thành phố Huế thành cực phát triển kinh tế, văn hoá xãhội quan trọng của miền Trung.

1.2.3 Đặc điểm đối tượng giảng viên đang công tác tại Đại học Huế

Nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn ngân hàng củagiảng viên Đại Học Huế về dịch vụ gửi tiền tiết kiệm, nhóm nghiên cứu tiến hành khảosát trên các đối tượng khách hàng là giảng viên của bốn trường đại học thành viên trựcthuộc Đại Học Huế là trường Đại học Kinh tế, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Nông lâm

và trường Đại học Khoa học Huế

Đối với cán bộ giảng viên đang công tác tại trường Đại học Nông lâm Huế, chủyếu phân bổ ở khu vực phía Bắc sông Hương, khu vực thành nội song tập trung nhiềunhất vẫn là đường Phùng Hưng và khu tập thể giảng viên tại số 8 Triệu Quang Phục.Điều này cũng là dễ hiểu bởi lý do trường Đại Học Nông Lâm có trụ sở tại 102- PhùngHưng, việc nhà ở gần với giảng đường sẽ giúp các thầy cô thuận lợi hơn trong việc đilại cũng như công tác giảng dạy Trong khi đó các giảng viên của trường ĐH Kinh Tế,

ĐH Ngoại Ngữ và ĐH Khoa Học, họ sống chủ yếu tại các phường phía Nam SôngHương, rải rác một số sống ở phía Bắc

Đối tượng điều tra mà nhóm nghiên cứu hướng đến là cán bộ giảng viên có độtuổi từ 30-40 đang công tác tại Đại Học Huế

Theo quan sát đối tượng mẫu điều tra trong quá trình phỏng vấn cá nhân trựctiếp từ ngày 31/10 đến 9/11, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng đa phần những giảngviên trong độ tuổi này đều có 1 đến 2 con còn nhỏ nên việc chi tiêu cho con cái làchưa nhiều, chủ yếu khoản tiền này được chi cho tiền sữa và các thực phẩm dinhdưỡng khác Nhà ở được xây dựng kiên cố, nhà 2 lầu là chủ yếu, có đầy đủ các tiệnnghi thiết yếu để phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày

Trang 20

Thông thường khi khách hàng lựa chọn một sản phẩm dịch vụ nào đó, họ đều

có những mục đích khác nhau Và mục đích đó chịu tác động rất lớn từ hoàn cảnh kinh

tế đặc biệt là thu nhập Xét trong địa bàn thành phố Huế, giảng viên được xem là đốitượng có mức thu nhập cao và tương đối ổn định hơn so với phần đông dân cư trongđịa bàn Với họ, nguồn tiền này có được do tích lũy từ thu nhập tiền lương, tiềnthưởng, các khoản thu nhập khác ngoài lương như dạy thêm, nhận các công trìnhnghiên cứu khoa học….Ngoài việc chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày thì lượng tiềnnhàn rỗi từ nhóm đối tượng này là tương đối cao Với tính cách lâu nay vốn dĩ đã ănsâu vào tâm trí người Huế, khi có tiền nhàn rỗi xu hướng tiết kiệm tại ngân hàng luônđược các thầy cô quan tâm hàng đầu

Đối tượng mà nhóm nghiên cứu hướng đến là cán bộ giảng viên Đại Học Huế

vì lý do những người này có mức thu nhập khá cao và thu nhập luôn được xem là yếu

tố quan trọng khi tham gia gửi tiết kiệm bởi lẽ nếu ổn định về kinh tế thì khả năng tíchtrữ tài sản là cao hơn Tuy số tiền gửi vào mỗi tháng là không nhiều nhưng nó giúp cho

họ tích lũy được vốn của mình nhằm phục vụ tốt hơn các kế hoạch chi tiêu trong tươnglai Đánh vào tâm lý của khách hàng là khả năng an toàn cho tài sản trong thời buổilạm phát tăng cao cũng như rủi ro cao ở những kênh đầu tư khác, bản thân mỗi giảngviên khi họ đến với ngân hàng để sử dụng dịch vụ tiết kiệm thì họ cũng có nhữngmong muốn nhất định Ví dụ như mong muốn sinh lời từ các khoản tiết kiệm, mộtmong muốn khác không kém phần quan trọng là phòng tránh rủi ro, tối đa hóa đượccác lợi ích được hưởng từ khoản tiền của mình

Năm 2010 thị trường tiền tệ khá sôi động với những diễn biến mạnh và phứctạp về lãi suất, tỷ giá ngoại tệ, giá vàng và thanh khoản cuối năm Sự phát triển gầnnhư đồng bộ của ngân hàng tạo cho giới giảng viên có nhiều sự lựa chọn về ngân hàng

mà họ muốn tới Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay có rất nhiều ngân hàngđang hoạt động kinh doanh cụ thể là 18 Ngân hàng thương mại, một ngân hàng chínhsách xã hội, một ngân hàng phát triển, 65 phòng giao dịch, 7 quỹ tiết kiệm, 7 quỹ tíndụng và 174 máy ATM Chính vì vậy việc cạnh tranh giữa các ngân hàng hết sức khốcliệt Các ngân hàng liên tục đưa ra những chương trình khuyến mãi, các chương trình

ưu đãi nhằm duy trì thu hút khách hàng, bên cạnh đó việc phát triển thêm nhiều phòng

Trang 21

giao dịch tại các điểm giao dịch thuận lợi cho khách hàng cũng là cách mà ngân hàngtrên địa bàn thành phố Huế áp dụng để mở rộng mạng lưới giao dịch và tạo điều kiệnthuận lợi đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân nói chung và cán bộ giảngviên nói riêng Theo báo cáo tình hình kinh tế 5 tháng đầu năm 2011 của tình ThừaThiên Huế thì “với hoạt động tín dụng ngân hàng, nguồn vốn huy động có xu hướngtăng trở lại, trong đó tăng mạnh nhất là tiền gửi tiết kiệm từ dân cư Dự kiến đến cuốitháng 5/2011, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 13.412 tỷ đồng, tăng 18,7%

so với cùng kỳ”

Và theo kết quả rút ra từ cuộc khảo sát tác động của lạm phát đến đời sống củangười tiêu dùng và đo lường thái độ lạc quan của người tiêu dùng về tình hình kinh tế– xã hội trong năm 2011 (do công ty nghiên cứu thị trường FTA thực hiện trong tháng3.2011 ở ba thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM): Nhìn chung, khi có tiềnnhàn rỗi người tiêu dùng thích đầu tư vào những lĩnh vực ổn định trong thời cuộc hiệnnay như gửi tiết kiệm (40%), mua vàng (31%) Họ ngần ngại và không mạnh dạn đầu

tư vào hoạt động kinh doanh (11%), bất động sản(10%), chứng khoán (2%) Như vậy

có thể kết luận rằng khi có lượng tiền nhàn rỗi thay vì thói quen dữ tiền mặt hay vàng

ở nhà, khách hàng có xu hướng gửi ngân hàng nhiều hơn

Trang 22

50 bảng, cụ thể như sau: Đại học Khoa học có 21 người, Đại học Nông lâm có 9người, Đại học Kinh tế có 6 người và Đại học Ngoại ngữ có 14 người (tỉ lệ % lần lượtlà: 42%, 18%, 12%, 28% Do đặc điểm số lượng cán bộ giảng viên của từng trườngkhác nhau và một số khó khăn trong việc tìm kiếm đối tượng phỏng vấn (như: địa chỉ

có sự sai lệch, một số giảng viên đang học nghiên cứu sinh trong hoặc ngoài nước…)nên nhóm đã có một số điều chỉnh nhất định trong kết cấu mẫu

Về giới tính, trong 50 người được nhóm phỏng vấn (tương đương với 100%),

thì có 21 nam và 29 nữ (tương đương với 42% và 58 %) Số liệu cụ thể như sau:

- Trong 21 nam, Đại học Khoa học có 11 người, Đại học Nông lâm có 5 người,Đại học Kinh tế có 3 người và Đại học Ngoại ngữ có 2 người (tỉ lệ phần trămlần lượt là: 22%, 10%, 6% và 4%)

- Trong 29 nữ, Đại học Khoa học có 10 người, Đại học Nông lâm có 4 người, Đạihọc Kinh tê có 3 người và Đại học Ngoại ngữ có 12 người (tỉ lệ phần trămtương ứng lần lượt là: 20%, 8%, 6% và 24%)

Như vậy, trong 4 trường đại học mà nhóm điều tra thì cả ba trường Đại họcKhoa học, Đại học Nông lâm và Đại học Kinh tế đều có tỷ lệ nam, nữ khá cân bằng,chỉ riêng có trường Đại học Ngoại ngữ là có sự chênh lệch rất lớn (2 nam và 12 nữ)

Trang 23

(Nguồn: Số liệu điều tra)

Về tình trạng hôn nhân, qua số liệu điều tra của nhóm thì trong tổng số 50người thì đa số là đã lập gia đình (có 47 người, tương đương với 94%) và chỉ có 3người là chưa lập gia đình (tương đương với 6%)

Trong 47 người đã lập gia đình có 2 người chưa có con và có 45 người là đã có

1 hoặc 2 con (tỷ lệ phần trăm lần lượt là: 4% và 90%)

Số lượng người đã có gia đình và hiện đang có 1 con là 30 người (chiếm 60%), cụ thể:

- Đã có gia đình và có 1 con dưới 6 tuổi có 22 người, chiếm phần lớn trong đốitượng phong vấn (tỷ lệ phần trăm là 44%)

- Đã có gia đình và có 1 con trên 6 tuổi có 8 người (chiếm 16%)

Số lượng người đã có gia đình và hiện đang có 2 con là 15 người (chiếm 20%), cụ thể:

- Đã có gia đình và có 2 con dưới 6 tuổi có 5 người (tương đương với 10%)

- Đã có gia đình và có 2 con trên 6 tuổi có 2 người (tương đương với 4%)

- Đã có gia đình và có 2 con, trong đo 1 con dưới 6 tuổi và 1 con trên 6 tuổi có 8người (tương đương với 16%)

Biểu đồ 1: Tình trạng hôn nhân

( Nguồn: Số liệu điều tra )

Trang 24

Tần số Phần trăm

Đã có gia đình và có 1 con dưới 6 tuổi 22 44.0

Có 1 con dưới 6 tuổi và 1 con trên 6 tuổi 8 16.0

( Nguồn: Số liệu điều tra )

Về trình độ học vấn: trong tổng số 50 người được phỏng vấn chỉ có 3 người hiện

đang là cử nhân (chiếm 6%), và tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp chỉ có 2 người đềuthuộc trường nông lâm (chiếm 4%), và do đặc thù ngành tại trường nông lâm nên cóthêm chức danh tiến sĩ (có 1 người, chiếm 2%) Còn chiếm đa số trong các đối tượngđược phỏng vấn là những người hiện đang là thạc sĩ và tiến sĩ Cụ thể:

- Có 38 người hiện đang là thạc sĩ, chiếm phần lớn trong các đối tượng được hỏi (tỷ

lệ phần trăm tương ứng là 76%) Trong đó, trường khoa học và trường ngoại ngữ

là chiếm đa số (Đại học Khoa học có 18 người và Đại học Ngoại ngữ có 11 người)

- Hiện đang là tiến sĩ có 6 người, trong đó Đại học Ngoại ngữ có 3 người, Đại họcKinh tế có 2 người và Đại học Khoa học có 1 người (tỷ lệ % tương ứng là 12%).Đối với các cơ sở nghiên cứu như các trường đại học thì việc học lên cao sẽgiúp ích nhiều hơn cho các giảng viên, và hiện tại thì thời gian hoàn thành chươngtrình thạc sĩ là khoảng 2 năm và đối với tiến sĩ là khoảng 4 năm, vi vậy thì số lượnggiảng viên tầm 30-40 đang là thạc sĩ sẽ chiếm số lượng lớn hơn như theo kết quảđiều tra của nhóm

Trang 25

( Nguồn: số liệu điều tra)

Hiện nay thì mỗi ngân hàng đều cung cấp rất nhiều các dịch vụ cá nhân chokhách hàng (như: gửi tiết kiêm, ebanking, ATM…).Khách hàng vì vậy mà có nhiều sựlựa chọn khác nhau Và một người có thể lựa chọn cùng lúc nhiều dich vụ cá nhân tạinhiều ngân hàng khác nhau Qua điều tra của nhóm thì đa số các giảng viên đều có xuhướng lựa chọn các dịch vụ cá nhân tại các ngân hàng nhà nước lâu năm và có uy tínnhư Vietcombank, Vietinbank, Techcombank và Agribank

Trang 26

Bảng 3: Tình hình sử dụng ngân hàng

Nơi làm việc

TổngcộngĐại học

Kinh tế

Đại họcNgoạingữ

Đại họcKhoahọc

Đại học

Nônglâm

( Nguồn: số liệu điều tra)

- Đối với Vietcombank, có 23 người đã, đang sử dụng dịch vụ cá nhân tại đây,chiếm số lượng lớn nhất trong số lượng người được hỏi

- Đối với Vietinbank, có 20 người đã, đang sử dụng dịch vụ cá nhân tại đây

- Đối với Techcombank và Agribank thì số lượng người đã, đang sử dụng dịch vụ

cá nhân tại đây lần lượt là 9 người và 8 người

Tuy nhiên, một số ngân hàng tư nhân có uy tín như Đông Á và Sacombank cũng đượccác giảng viên lựa chọn để sử dụng các dịch vụ cá nhân tại đây Cụ thể:

- Đối với Đông Á, có 36 người đã, đang sử dụng dịch vụ cá nhân tại đây Đâycũng là ngân hàng có số lượng giảng viên lựa chọn sử dụng dịch vụ cá nhân cao nhấttrong các ngân hàng

- Đối với Sacombank, có 7 người đã, đang sử dụng các dịch vụ cá nhân tại đây.Ngoài 5 ngân hàng trên, các ngân hàng còn lại đều có số lượng giảng viên đã, đang sửdụng các dịch vụ cá nhân chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn

Trang 27

Về dịch vụ, do nhu cầu con người ngày càng cao và ngày càng có nhiều dịch vụ

phát triển để đáp ứng nhu cầu đó.Vì thế nên dịch vụ ngân hàng cũng dần đa dạng vàphong phú Khách hàng cũng có nhiều sự lựa chọn khác nhau Một người có thể lựachọn cùng lúc nhiều ngân hàng với nhiều mục đích riêng.Trong số các ngân hàng trênnhìn chung thì ta thấy ngân hàng Dong A bank,Vietcombank,Vietinbank, Sacom bankđược sử dụng nhiều nhất.Và xét ở góc độ từng trường ta thấy rằng ngân hàngTechcombank được sử dụng nhiều nhất ở trường Đại học Nông lâm(4/5 người),ngânhàng Vietcombank (12/11 người),Vietinbank được sử dụng nhiều nhất (17/20 người) ởtrường khoa học,còn Dong A bank được sử dụng nhiều nhất ở Đại học Ngoại ngữ vàĐại học Kinh tế, ngân hàng Agribank được sử dụng nhiều nhất ở Đại học Khoa học vàĐại học Ngoại ngữ, ngân hàng Sacombank được sử dụng nhiều ở Đại học Khoa học

và Đại học Ngoại ngữ Do các ngân hàng đều có những chính sách khác nhau nên việcđầu tư,hỗ trợ hay giới thiệu thương hiệu ngân hàng mình vào từng cơ quan,trường học

là không giống nhau tùy theo mục đích của ngân hàng đó.Chẳng hạn như thẻ ngânhàng Dong A bank được dùng để rút tiền ,chuyển khoản,trả lương ở Đại học NgoạiNgữ ,Đại học Kinh tế…

Trang 28

Bảng 4 : Tình hình sử dụng các dịch vụ cá nhân tại các ngân hàng

Nơi làm việc

TổngcộngĐại học

Kinh tế

Đại họcNgoạingữ

Đại họcKhoahọc

Đại họcNônglâm

Chuyển tiền, chuyển

(nguồn: số liệu điều tra )

Căn cứ vào biểu đồ trên ta thấy rằng các dịch vụ thanh toán qua thẻ được sửdụng nhiều nhất, 48 người do việc chi trả lương qua thẻ, sau đó là gửi tiết kiệm 46

Trang 29

người, chuyển khoản 26 người, interbank, smsbank 10 người,vay vốn 9 người và gửivàng 1 người.Còn việc sử dụng dịch vụ vay vốn ngân hàng là những người có nguồnthu nhập còn thấp,chưa có công việc làm thêm ngoài giờ, có con nhỏ, đang có nhu cầumuốn xây dựng nhà cửa, đang đi học…Dịch vụ gửi tiết kiệm chiếm nhiêù nhất là Đạihọc Khoa học và Đại học Ngoại ngữ Bởi vì, phần lớn phụ nữ thường là người chủ yếutrong việc cất giữ nguồn thu nhập trong gia đình,vì thế họ luôn chọn cho mình giảipháp cất giữ tiền vừa an toàn ,vừa mang lại hiệu quả tối ưu nhất trong hiện tại cũngnhư trong tương lai Do vậy,việc họ lựa chọn việc gửi tiền vào tiết kiệm cung là phùhợp đối với họ lúc này Đặc biệt, với gia đình có 1 con trên 6 tuổi các khoản chi tiêucủa họ có phần dư thừa hơn người có con nhỏ Hơn nữa, đối với giảng viên,cán bộ đạihọc ngoài thu nhập từ lương theo học vị thì họ cũng có thể kiếm thu nhập từ nhiềunguồn khác nhau.Đối với một số giảng viên đại học khác tại sao họ lại không chọn lựadịch vụ gửi tiết kiệm tại các ngân hàng, dù họ cũng có nguồn tiền dư thừa Đó là vì họchọn các phương án đầu tư vào các loại hình khác nhau mà họ cho là mang lại lợinhuận cao hơn từ việc gửi ngân hàng Các hình thức sử dụng thẻ ngân hàng đa dạng,phong phú giúp cho khách hàng thỏa mãn được các nhu cầu của mình.

2.2 Khảo sát về thu nhập của cán bộ giảng viên đang công tác tại Đại học Huế 2.2.1 Phân loại thu nhập của cán bộ giảng viên.

Thu nhập của các gia đình được đánh giá thông qua những tài sản mà các giađình đang sở hữu Bằng việc quan sát và thu thập thông tin của về tài sản rồi từ đó xếploại và dự đoán thu nhập của họ sẽ đem lại giá trị cao hơn bởi vì mọi người thường có

xu hướng trả lời không đúng thu nhập của mình Kết quả khảo sát được trình bày qua

Trang 30

Bảng 5: Phân loại thu nhập giảng viên

Đại họcKinh tế

Đại học Ngoạingữ

Đại học Khoahọc

Đại họcNônglâmXếp

(Nguồn: Số liệu điều tra )

Với A: thu nhập nhiều hơn 1000 USD/tháng

B: thu nhập từ 500 đến 1000 USD/thángC: thu nhập từ 350 đến 500 USD/thángD: thu nhập từ 250 đến 350 USD/thángE: thu nhập từ 150 đến 250 USD/thángF: thu nhập thấp hơn 150 USD/tháng

2.2.1.1 Thu nhập loại A

Theo thang đánh giá tài sản dựa vào tài sản thì xếp loại A nghĩa là những giađình có thu nhập trên 1000 USD/ tháng Theo bảng số liệu điều tra, đối tượng giảngviên là những người có mức thu nhập cao trên 1000USD (khoảng hơn 20.000.000đồng/tháng) chiếm 15% Nghĩa là có 6/40 giảng viên được điều tra thu nhập có mức

Trang 31

lương nằm trên khoảng này Trong đó tại trường Đại học Kinh tế & Đại học Nông lâmđều có 1 giảng viên chiếm 2.5% còn Đại học Khoa học và Đại học Ngoại ngữ mỗitrường có 2 giảng viên (5%).

Những gia đình giảng viên có nguồn thu nhập cao và khá ổn định trên 20.000.000đồng thường là những gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu Một phần họ biết cách khaithác tối đa từ những thế mạnh của bản thân bởi lẽ thu nhập cứng của mỗi giảng viêngiao động từ 4 - 5 triệu Một mình điều này không thể làm nên được thu nhập trên 20triệu đồng Do tính chất đặc thù của từng chuyên ngành giảng dạy, từng lĩnh vực vàtrường đại học khác nhau mà mỗi cán bộ giảng viên họ có thêm được nhiều công việcliên quan trực tiếp đến chính ngành dạy của họ Ví dụ như đối với các giảng viên khoakiến trúc của đại học Khoa học, ngoài việc đứng lớp thì họ còn tham gia làm tư vấnthiết kế cho các công trình nhà ở, cảnh quan đô thị…công việc tuy không ổn địnhnhưng khi hoàn thành thì khoản tiền nhận được cũng không phải là ít Còn đối vớigiảng viên của đại học Kinh tế họ thường tìm kiếm cho mình những đề tài, các nghiêncứu khoa học,….Một lý do khác nữa cũng được xem là quan trọng góp phần vào trongcác gia đình có thu nhập cao đó là ngoài mức lương của đối tượng giảng viên thìkhoản tiền này phụ thuộc rất lớn vào ngành nghề, địa vị, thu nhập của chồng(vợ) haynhững người đang sống cùng họ Đa phần những người có thu nhập cao này đều cócông ty riêng, các cửa hàng kinh doanh, một ngành nghề tay trái nào đó để tìm kiếmnguồn tiền khác từ bên ngoài

Những đồ dùng thiết yếu là nhóm mà họ không thể cắt giảm cho cuộc sống hàngngày là tivi, tủ lạnh (50/50 gia đình giảng viên), 41 trong tổng số 50 gia đình giảngviên có sử dụng điện thoại bàn, 45/50 gia đình giảng viên có trang bị máy tính bàn haylaptop nhằm phục vụ cho công việc hay giải trí…Tuy nhiên người ta dễ dàng nhậndiện được nhóm đối tượng này vì xu hướng sử dụng những sản phẩm thuộc dòng caocấp.Như là xe máy cao cấp, các loại xe ô tô từ 4 đến 16 chỗ Cụ thể trường Đại họcKinh tế có 1 giảng viên sử dụng xe máy cao cấp, 1 giảng viên sử dụng ô tô, và con sốnày cao nhất là trường Đại học Ngoại ngữ (6 giảng viên) , 2 giảng viên sử dụng xe hơiđời mới, theo sau đó là giảng viên của Đại học Khoa học và Đại học Nông lâm (4giảng viên sử dụng xe máy cao cấp), 1 giảng viên sử dụng loại xe 4-16 chỗ đời mới

Trang 32

Như vậy có thể kết luận rằng, những đối tượng có mức thu nhập bình quân caotrên khoảng 1000USD thường có xu hướng lựa chọn những tài sản có giá trị cao, đảmbảo chất lượng cuộc sống và thể hiện được đẳng cấp của mình.

2.2.1.2 Thu nhập loại B

Xếp loại B là những hộ gia đình có thu nhập từ 500 cho đến 1000 USD mỗi tháng(khoảng từ 10 triệu cho đến 20 triệu mỗi tháng) Từ số liệu thu được từ bảng hỏi điềutra, có 5% giảng viên đến từ trường Đại học Kinh tế, 5% giảng viên Đại Học NgoạiNgữ và 17.5 % giảng viên Đại Học Ngoại Ngữ nằm trong khoảng thu nhập này Mứclương đó tại thành phố Huế là khá dư giả cho chi tiêu, hiện nay các trường Đại Họcnói chung và Đại Học Huế nói riêng đều tạo điều kiện cho giảng viên trẻ, giảng viêndạy các môn cơ bản, lý luận đứng lớp nhiều hơn để tăng thu nhập Những giảng viên ởmức thu thập này thường từ 35-40 tuổi Có kinh nghiệm và thâm niên giảng giạy ởmức trung, một số cán bộ giảng viên đang học lên các học vị cao hơn hoặc đã là tiến

sỹ Nguồn thu nhập mà họ có được ngoài lương chính thì họ còn đi dạy đối tượng lànhững người học tại chức, tuy không nắm được con số chính xác là bao nhiêu nhưngcăn cứ trên mức thu, số lượng người học thì có thể nói nguồn thu từ tại chức là rất lớn.Còn đối với các giảng viên lâu năm, có tiếng, hoặc các giảng viên làm việc ở các bộmôn ứng dụng, chuyên ngành thì cách kiếm tiền sẽ khác hơn Cũng giống như nhómđối tượng có mức thu nhập trên 20 triệu đồng, lương được trả theo thâm niên công tác

và học hàm học vị những người này thường có nhiều cơ hội hơn trong khi tiếp vậnnhững dự án, làm cố vấn cho các chương trình, đề án Chưa kể gia đình giảng viên cócác cửa hàng hay hệ thống kinh doanh bên ngoài thị trường

Nhìn chung thu nhập của đối tượng giảng viên đang công tác tại các trường ĐạiHọc thành viên trực thuộc đại học Huế là tương đối cao Có tới 77.5% giảng viên cómức thu nhập chung cho cả gia đình trên 10 triệu Thu nhập cao dẫn tới nhu cầu chitiêu cũng ở một mức khác cao hơn, họ có đủ tiền để trang bị những đồ dùng và tài sảnthiết yếu trong gia đình như máy tính, máy giặt, tivi thế hệ mới, điện thoại cố định vàđiện thoại di động… Để phục vụ cho việc đi lại, nhóm đối tượng ở mức thu nhập nàythường có xu hướng mua xe máy cấp cao, một số gia đình có điều kiện hơn thì mua xe

Trang 33

ô tô 4- 16 chỗ, lắp đặt điều hòa với mong muốn một cuộc sống với những tiện nghiđầy đủ và sang trọng.

Đây được xem là khoảng thu nhập phổ biến đối với những gia đình có cán bộgiảng viên Đại Học trên địa bàn thành phố Huế Hầu hết họ chỉ một thu nhập chính là

từ lương, không có thu nhập ngoài nhiều nếu có thì cũng là không đáng kể, trung bìnhcủa hai vợ chồng giảng viên giao động từ 8-10 triệu

Thu nhập luôn được xem là yếu tố quan trọng chi phối tất cả những sinh hoạtcũng như chi tiêu cho cuộc sống gia đình Đây là mức lương trung bình khá và nhữngchi tiêu chủ yếu của nhóm đối tượng này theo bảng thống kê tài sản có một số đặcđiểm chung sau đây: hầu hết các thiết bị đồ dùng gia đình là tương đối đầy đủ như tivimàu, điện thoại, máy giặt hay máy vi tính Những tài sản này được hầu hết các giảngviên ở tất cả mức thu nhập đều chi tiêu với lý do đây là hàng hóa thiết yếu ví dụ tivimàu giảng viên của cả 4 trường đều chi tiêu, trường Đại học Khoa học là 20, Đại họcNông lâm là 9, Đại học Ngoại ngữ là 14, Đại học Kinh tế là 6, một số mặt hàng nhưđầu VCD, DVD, hay máy lạnh là có một số khác biệt tương đối nhỏ Một số giảngviên cảm thấy nhu cầu là chưa cần thiết nên chưa chi tiêu Như đối với giảng viên tạiĐại học Nông Lâm chỉ có 6/9 giảng viên cảm thấy điện thoại bàn là cần thiết, số cònlại cho rằng điện thoại di động được ưu tiên hơn, con số này ở trường Đại học Ngoạingữ là 10/14

Tuy nhiên một đặc điểm có thể xem là xu hướng chi tiêu chung của nhóm đốitượng này là với khoản thu nhập có được thì xe máy họ sử dụng chủ yếu là xe máy cấp

Trang 34

trung bình Con số này là tương đối giữa các trường Có 36/50 giảng viên sử dụng xemáy cấp trung bình này.

2.2.1.4 Thu nhập loại D và E

Đây là nhóm hộ gia đình có thu nhập từ 150 cho đến 350 USD/tháng Nhómgiảng viên có mức thu nhập từ 3-7 triệu thường là những người khoảng chừng từ 30-

32 tuổi tuy nhiên số giảng viên có nguồn thu nhập từ 3-7 triệu chỉ chiếm 7,5% phân

bố đều cho ba trường Kinh tế, Khoa học và Nông lâm

Được xem là những giảng viên trẻ tuổi nghề cũng như thâm niên công tác là chưacao, giảng viên trẻ kéo theo thời lượng đứng tiết trên giảng đường là tương đối ít, họchàm học vị dừng lại ở bằng cử nhân hay thạc sỹ Một khi chưa có học hàm, học vị nhưtiến sỹ, phó giáo sư thì rất ít có khả năng được giao đề tài, các công trình nghiên cứukhoa học Và theo ý kiến của nhiều trường đại học mức thu nhập của giảng viên làtương đối thấp, nguồn thu nhập chủ yếu là lương giảng dạy và phụ cấp lương Phụ cấplương cũng được tính theo thâm niên làm việc và chức danh Và đây được xem là mộtkhó khăn cửa những giảng viên trong độ tuổi này Việc làm thêm của giảng viên Đạihọc không bó hẹp như giáo viên Trung học phổ thông Ngoài việc lên lớp giảng viêncòn có thể đi dạy ở các trường đại học khác theo lời mời nhận được, dạy tại trung tâmluyện thi Không thể phủ nhận làm thêm kiểu này mang lại thu nhập tương đối tuynhiên đa phần họ là những người trẻ, cuộc sống chưa ổn định do lương còn thấp

Thu nhập của một giảng viên thường được tạo nên bởi những nguồn chính: Lươngtheo hệ số nhà nước, có thêm phụ cấp thâm niên, phụ cấp chức vụ nhưng giảng viên trẻthì phụ cấp này gần như hoàn toàn không có; Tiền vượt giờ và nghiên cứu khoa học.Lương cơ bản của một giảng viên trẻ trường nào cũng như trường nào, đúng theo quyđịnh bậc lương của nhà nước, chỉ cao gấp 1,5 lần so với lương cơ bản của nhà nước.Nhìn chung những giảng viên nằm trong mức thu nhập này của 4 trường là khôngđáng kể, trong 50 mẫu điều tra chỉ duy nhất giảng giảng viên thược trường đại họcNông Lâm là có mức thu nhập cả gia đình thấp hơn 6 triệu chiếm 2%, khoảng thu nhập

từ 6 – 8 triệu là 20,4% trong đó Đại học Kinh tế 2 giảng viên (4,1%) con số này bằngvới Đại Học Ngoại Ngữ Đại học Khoa học và Đại học Nông lâm là 6.1% Với khoảnthu nhập này chỉ đủ để chi tiêu những nhu cầu cần thiết, các đồ dùng gia đình chủ yếu

Ngày đăng: 21/09/2012, 17:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH SỐ 4.1:  QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
4.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU (Trang 7)
Bảng 1: Tỷ lệ nam nữ - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 1 Tỷ lệ nam nữ (Trang 23)
Bảng 2: Trình độ học vấn - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 2 Trình độ học vấn (Trang 25)
Bảng 3: Tình hình sử dụng ngân hàng - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 3 Tình hình sử dụng ngân hàng (Trang 26)
Bảng 4 : Tình hình sử dụng các dịch vụ cá nhân tại các ngân hàng - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 4 Tình hình sử dụng các dịch vụ cá nhân tại các ngân hàng (Trang 28)
Bảng 5: Phân loại thu nhập giảng viên - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 5 Phân loại thu nhập giảng viên (Trang 30)
Bảng 7 : Phân bổ chi tiêu trong gia đình - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 7 Phân bổ chi tiêu trong gia đình (Trang 38)
Bảng 8: Ước lượng mức chi tiêu trong gia đình - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 8 Ước lượng mức chi tiêu trong gia đình (Trang 44)
Bảng 9: Kiểm định độ tin cậy của thang đo - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 9 Kiểm định độ tin cậy của thang đo (Trang 48)
Bảng 11: Kết quả rút trích nhân tố khám phá Các nhân tố chính Trọng số %   biến   thiên - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 11 Kết quả rút trích nhân tố khám phá Các nhân tố chính Trọng số % biến thiên (Trang 55)
Bảng 12: KMO and Bartlett's Test - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 12 KMO and Bartlett's Test (Trang 57)
Bảng 13: Ý định gởi tiết kiệm tại ngân hàng - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 13 Ý định gởi tiết kiệm tại ngân hàng (Trang 58)
Bảng 14: kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 14 kiểm định độ phù hợp của mô hình hồi quy (Trang 60)
Bảng 15: Bảng phân tích hệ số tương quan - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 15 Bảng phân tích hệ số tương quan (Trang 60)
Bảng 16: Mô hình hồi quy bội - Điều tra thu nhập và xu hướng lựa chọn dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng của cán bộ giảng viên Đại học Huế.doc
Bảng 16 Mô hình hồi quy bội (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w