1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

13 716 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 39,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BIỆN PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình sản xuất, quá trình sản xuất không ngừng biến đổi năng suất lao động ngày càng được nâng

Trang 1

DANH SÁCH NHÓM CHICKENS:

1 VÕ THỊ MỸ HÀ (NT)

2 KHỔNG THỊ KIM PHỤNG

3 LÊ THỊ HIỀN LINH

4 LÊ THỊ THƯƠNG

5 TRỊNH THỊ HỒNG

CHỦ ĐỀ: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY MỤC LỤC

I TỔNG QUAN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

1 KHÁI NIỆM VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

2 PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

3 TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

4 THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

II NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG THẤP

III BIỆN PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình sản xuất, quá trình sản xuất không ngừng biến đổi năng suất lao động ngày càng được nâng cao Đặc biệt trong điều kiện hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa cùng với tính chất cạnh tranh khóc liệt của cạnh tranh thì vấn đề tăng năng suất lao động trở thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp

Tuy nhiên tại nước ta, trong một thời gian khá dài, vấn đề năng suất lao động không được quan tâm đúng mức, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước dẫ tới hiệu quả sản xuất thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực mặc dù chúng ta sở hữu lực lượng lao động dòi dào do yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập nền kinh tế đất nước vào nền kinh tế thế giới các doanh nghiệp buộc phải chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng trong đó đặc biệt là

năng suất lao động do đó nhóm em chọn đề tài : CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY với mục đích có thể chỉ ra các nguyên nhân

Trang 2

chớnh làm cho năng suất lao động của cỏc doanh nghiệp nước ta thấp gúp phần giỳp cỏc doanh nghiệp cú những biện phỏp nõng cao năng suất lao động phự hợp với doanh nghiệp của mỡnh

I Tổng quỏt về năng suất lao động.

1 Khỏi niệm năng suất lao động

Theo Karl Marx thì NSLĐ là “sức sản xuất của lao động cụ thể có ích”1 NSLĐ thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con ngời trong một đơn vị thời gian nhất

định

Theo quan niệm truyền thống: NSLĐ là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào, là lợng lao động

để tạo ra đầu ra đó NSLĐ đợc đo bằng số lợng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc bằng lợng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động theo khỏi niệm của OECD (Tổ chức Hợp tỏc và Phỏt triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development),trong cuốn sỏch

“Đo lường năng suất, đo lường tốc độ tăng năng suất tổng thể và năng suất ngành - 2002”

là tỷ lệ giữa lượng đầu ra trờn đầu vào, trong đú đầu ra được tớnh bằng GDP (tổng sản phẩm quốc nội) hoặc GVA (Tổng giỏ trị gia tăng - Gross Value Added), đầu vào thường được tớnh bằng: giờ cụng lao động, lực lượng lao động và số lượng lao động đang làm việc

2 Phõn loại năng suất lao động

NSLĐ có thể đợc chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, thông thờng ngời ta chia ra làm hai loại là NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội

2.1 Năng suất lao động cá nhân.

NSLĐ cá nhân là hiệu quả sản xuất của cá nhân ngời lao động trong một đơn vị thời gian NSLĐ cá nhân có vai trò rất lớn trong quá trình sản xuất Nó thờng đợc biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động Việc tăng hay giảm NSLĐ cá nhân phần lớn quyết

định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tăng NSLĐ cá nhân có nghĩa là giảm chi phí lao động sống dẫn đến làm giảm giá trị cho một đơn vị sản phẩm, giá thành sản xuất giảm, tăng lợi nhuận của công ty

NSLĐ cá nhân chủ yếu phụ thuộc vào bản thân ngời lao động nh trình độ, tay nghề, sức khoẻ, sự thành thạo trong công việc, tuổi tác và công cụ lao động mà ng ời lao

động đó sử dụng là công cụ thủ công hay cơ khí, là thô sơ hay hiện đại

2.2 Năng suất lao động xã hội.

NSLĐ xã hội là mức năng suất chung của một nhóm ngời hoặc của tất cả cá nhân

trong xã hội Vì vậy có thể khẳng định NSLĐ xã hội là chỉ tiêu hoàn hảo nhất giúp ta

đánh giá chính xác thực trạng công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng

nh phạm vi toàn xã hội Trong điều kiện hiện nay, NSLĐ xã hội ở phạm vi vĩ mô đ ợc hiểu nh NSLĐ của quốc gia, phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một ngời lao động cụ thể Nó là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá sức mạnh kinh tế của một nớc và so sánh giữa

Trang 3

NSLĐ xã hội tăng lên khi và chỉ khi cả chi phí lao động và lao động quá khứ cùng giảm, tức là đã có sự tăng lên của NSLĐ cá nhân và tiết kiệm vật t, nguyên liệu trong sản xuất

NSLĐ xã hội không chỉ phụ thuộc vào công cụ lao động, trình độ của ngời lao động

mà còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức lao động sản xuất của ngời lao động, điều kiện

tự nhiên, điều kiện lao động, bầu không khí văn hoá

3 Tăng năng suất lao động.

3.1 Khái niệm tăng năng suất lao động.

Tăng NSLĐ là “sự tăng lên của sức sản xuất hay NSLĐ, nói chung chúng ta hiểu là

sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá, sao cho số lợng lao động ít hơn mà lại có đợc sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn.”1

3.2 Bản chất của tăng năng suất lao động.

Trong quá trình sản xuất, lao động sống và lao động quá khứ bị hao phí theo những lợng nhất định Lao động sống là sức lực con ngời bỏ ra trong quá trình sản xuất Lao

động quá khứ, sản phẩm của lao động sống đã đợc vật hoá trong các giai đoạn sản xuất

tr-ớc kia biểu hiện ở giá trị máy móc, nguyên vật liệu)

Hạ thấp chi phí lao động sống nêu rõ đặc điểm tăng NSLĐ cá nhân Hạ thấp chi phí cả lao động sống và lao động quá khứ nêu rõ đặc điểm tăng NSLĐ xã hội Nh vậy, bản chất của việc tăng NSLĐ là hạ thấp lợng lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm (cả lao động sống và lao động quá khứ)

4 ý nghĩa của việc tăng năng suất lao động.

4.1 Đối với một chế độ xã hội.

Trong xã hội t bản, cùng với sự tăng NSLĐ, lợi nhuận t bản cũng tăng lên, giai cấp công nhân bị bóc lột nặng nề hơn, giai cấp công nhân bị bần cùng hoá Đặc tr ng của chủ nghĩa t bản là tăng NSLĐ gắn liền với tăng cờng độ lao động

Dới chế độ xã hội chủ nghĩa và hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa quyết định tính tất yếu khách quan của việc nâng cao NSLĐ Mục đích sản xuất của chủ nghĩa xã hội là thoả mãn ngày càng cao nhu cầu của mọi ngời trong xã hội Nâng cao NSLĐ gắn liền với việc nâng cao sự thoả mãn của ngời lao động và tiết kiệm thời gian lao động Vì vậy việc nâng cao NSLĐ không chỉ là vấn đề quan tâm của một bộ phận ngời lãnh đạo mà còn là vấn đề quan tâm của cả mọi ngời lao động Nâng cao NSLĐ cũng có nghĩa là nâng cao đời sống vật chất của chính bản thân ngời lao động

4.2 Trong quản lý kinh tế.

Trong phạm vi một quốc gia, tăng NSLĐ quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của đất

n-ớc và đợc xem nh một chỉ số quan trọng nhất để đánh giá tiêu chuẩn sống Tăng NSLĐ quốc gia cũng là chỉ số dùng để so sánh giữa các quốc gia So sánh mức năng suất giữa các quốc gia cho thấy nớc nào có sức mạnh kinh tế trên thế giới

Vì vậy, việc tăng năng suất xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với mọi đất nớc nhằm củng cố vị trí của nớc mình trên trờng quốc tế

Trong phạm vi một tổ chức, một đơn vị, trớc hết tăng NSLĐ làm cho giá thành sản phẩm giảm vì tiết kiệm đợc chi phí tiền lơng trong một đơn vị sản phẩm

Trang 4

Tăng NSLĐ cho phép giảm đợc số ngời làm việc, do đó cũng dẫn đến tiết kiệm đợc quỹ lơng; đồng thời lại tăng tiền lơng cho từng công nhân do hoàn thành vợt mức sản l-ợng

NSLĐ cao và tăng nhanh sẽ tạo điều kiện tăng quy mô và tốc độ của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, cho phép giải quyết các vấn đề tích luỹ và tiêu dùng

Tăng NSLĐ làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế

Đối với Việt Nam, vấn đề tăng NSLĐ càng có ý nghĩa quan trọng vì lẽ, NSLĐ còn quá thấp do cha khai thác hết tiềm năng đã là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thu nhập quốc dân tính trên đầu ngời hàng năm quá thấp (so với các nớc trên thế giới) Muốn tăng trởng, phát triển kinh tế và cải thiện mức sống, Việt Nam phải tìm mọi cách để tăng NSLĐ Đó là biện pháp nhằm biến Việt Nam thành nớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh

Cỏc nhõn tố tỏc động đếnnăng suất lao động được chia thành 3 nhúm chớnh:

- Nhõn tố kỹ thuật cụng nghệ như trỡnh độ phỏt triển kỹ thuật cụng nghệ sản xuất…

- Nhõn tố tổ chức sản xuất lao động như cơ cấu, chất lượng nguồn nhõn lực, bố trớ tổ chức lao động, cỏc vấn đề liờn quan đến con người lao động…

- Nhõn tố điều kiện tự nhiờn

5 THỰC TRẠNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Năng suất lao động toàn nền kinh tế

Hiện nay cú thể tớnh năng suất lao động theo 3 chỉ tiờu: hiện vật, giỏ trị và thời gian lao động nhưng ở Việt Nam, năng suất lao động được tớnh toỏn theo chỉ tiờu giỏ trị tổng sản lượng

Từ số liệu thống kờ về tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giỏ thực tế và lao động làm việc cú trong Niờn giỏm Thống kờ của Tổng cục Thống kờ, tớnh được mức năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2007

Năng suất lao động Triệu/người/năm 7,58 19,62 22,46 29

Trang 5

Qua bảng số liệu cho thấy năng suất lao động của Việt Nam đang ngày càng tăng lên qua các năm, cụ thể là năng suất lao động năm 2007 đã gấp 4 lần so với năng suất lao động năm 2001 đạt 29 triệu đồng/người/năm Điều đó có thể giải thích là do trình độ

kỹ thuật, công nghệ của ta còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo, công tác quản lý còn một số hạn chế, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Những năm gần đây, Việt Nam đã chú ý đầu tư vào vốn, kỹ thuật để phát triển sản xuất thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nên đã góp phần nâng cao năng suất lao động có thể thấy rõ nhất qua tốc độ tăng năng suất lao động Trong khi tốc độ tăng năng suất lao động năm 2001 và năm 2005 không cao, chỉ đạt dưới 5,6% nhưng tốc độ tăng năng suất lao động tăng mạnh trong 2 năm 2006 và năm 2007, tương ứng là 14,46% và 29%

Năng suất lao động của Việt Nam đang từng bước được nâng cao, tuy nhiên qui đổi sang đôla Mỹ và so sánh với các nước khác thì năng suất lao động của Việt Nam còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực Năm 2007, năng suất lao động của Việt Nam chỉ đạt xấp xỉ 1.700USD/lao động/năm, bằng khoảng 50% của những nước thuộc nhóm trung bình trong khu vực như Indonesia, Philippin Nếu so sành với các nước ngoài khu vực ví dụ như là Mỹ- là nước có năng suất cao nhất năm 2007 (63885USD) (nguồn ILO)- thì năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 2,66%

2.2 Năng suất lao động Việt Nam chia theo các ngành kinh tế.

Xem xét năng suất lao động của nền kinh tế trên góc độ phân chia theo các nhóm ngành kinh tế: nông-lâm-ngư nghiệp; công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ thì theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động xã hội (tính băng GDP theo giá thực tế chia cho một lao động làm việc) năm 2006 của Việt Nam là 22,46 triệu đồng/người (trong đó nông, lâm nghiệp 7,09 triệu; thủy sản 24,59 triệu; công nghiệp 58,25 triệu; xây dựng 26,45 triệu; thương nghiệp 25,29 triệu; khách sạn, nhà hàng 45,78 triệu; vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc 36,15 triệu; văn hóa, y tế, giáo dục 27,37 triệu, các ngành dịch vụ khác 57,55 triệu) Như vậy, dễ dàng thấy rằng năng suất lao động của nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp là thấp nhất, chỉ bằng một phần

ba mức năng suất lao động chung của cả nước, chỉ bằng một phần tám mức năng suất lao động của nhóm ngành cao nhất là ngành công nghiệp

Nguyên nhân chủ yếu làm cho năng suất lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp thấp là

do số lao động chiếm tỷ trọng lớn nhất (52,1%), thời gian chưa sử dụng còn nhiều tới 20%, ngành công nghiệp có năng suất lao động cao nhất, nhưng số lượng lao động chiếm tỷ trọng thấp (13,5%), tốc độ tăng chậm, tính gia công và khai thác nguyên nhiên vật liệu còn cao, giá trị tăng thêm thấp, tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ thấp còn lớn (57%), tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ cao chỉ đạt khoảng 20,5%, thấp so với các chỉ số tương ứng 40-50% của các nước trong khu vực

Trang 6

Năng suất lao động của các ngành dịch vụ tuy cao hơn mức chung, nhưng vẫn thấp hơn nhóm ngành công nghiệp là do số lượng nhóm này tập trung chủ yếu vào ngành thương nghiệp, mà ngành thương nghiệp của ta hiện buôn bán nhỏ còn chiếm tỷ trọng lớn và tính đại lý của thương mại còn lớn; tập trung vào ngành giáo dục, y tế, văn hóa,

… là những ngành có giá trị gia tăng thấp Đồng thời nhiều hoạt động dịch vụ vẫn còn mang tính kiêm nghiệm ngoài giờ của các cơ quan, đơn vị, hộ gia đình, lúc nông nhàn

ở nông thôn nên tính chuyện thấp

Tuy nhiên khi xét về tốc độ tăng năng suất lao động thì có thể thấy: năng suất lao động trong ngành nông – lâm nghiệp tăng đều hơn (từ 3,15% đến 4,21%) và bình quân 5 năm (2001 – 2005) đạt 3,81% Năng suất lao động của công nghiệp trong 3 năm đầu (2001 – 2003) tăng không đáng kể, đến năm 2004 có tốc độ tăng tương đương tốc độ tăng năng suất lao động của ngành nông – lâm nghiệp (4,05%) và đến năm 2005 đạt khá cao (6,54%), mức tăng binh quân 5 năm đạt 2,75%, thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân 5 năm của ngành nông – lâm nghiệp là -1.06% Năng suất lao động của các ngành kinh tế khác trong 2 năm 2001 và 2002 giảm chút

ít, 3 năm tiếp theo có tăng nhưng chậm và bình quân 5 năm năng suất lao động của các ngành này gần như không tăng

2.3 Năng suất lao động của Việt Nam chia theo các khu vực kinh tế.

Xem xét kinh tế nhà nước trên khía cạnh khu vực kinh tế thì trong 3 khu vực, kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn có mức năng suất lao động cao nhất Năm 2007, năng suất lao động theo giá thực tế của khu vực kinh tế này đạt 131,25 triệu đồng Khu vực kinh tế nhà nước có mức năng suất đứng vi trí thứ hai, đạt 104,86 triệu đồng Thấp nhất là năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước, đạt 13,58 triệu đồng Như vậy, năng suất lao động của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao gấp 9,6 lần khu vực ngoài nhà nước trong khi khu vực nhà nước gấp 7,72 lần Thực tế trên là

do khu vực có vốn đầu tư nước ngoài bên cạnh nguồn vốn từ nước ngoài đầu tư còn được tiếp cận với các kỹ thuật công nghệ sản xuất hiện đại cũng như phương pháp quản lý tiên tiến, hiệu quả do đó năng suất lao động ở khu vực này luôn lớn nhất là hợp lý Trong khi đó khu vực tư nhân của nước ta mới chỉ được hình thành và phát triển từ khi nhà nước đổi mới đến nay nhưng do qui mô chưa lớn, còn nhiều hạn chế

về vốn, tài sản… nên khả năng tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ hiện đại còn gặp nhiều khó khăn, nên đây là khu vực có năng suất thấp

Năng suất lao động và tốc độ tăng năng suất lao động theo khu vực kinh tế

Đơn vị: triệu/người/năm và %

Trang 7

Năng suất lao động Tốcđộ

tăng

Năng suất lao động Tốcđộ

tăng

Năng suất lao động Tốcđộ

tăng

Kinh tế nhà

nước 79,7863227 6,87 92,2455492 15,61 104,864389 13,67

Kinh tế ngoài

nhà nước

10,247648 9

5,17 11,6813638 13,99 13,5843829 16,29

Khu vực có

vốn đầu tư

nước ngoài

118,4375 5,63 124,123031 4,80 131,254871 5,75

Nguồn: Niên giám Thống kê 2005, 2006, 2007 – Tổng cục thống kê

Quan sát số liệu về tốc độ tăng năng suất lao động của 3 khu vực có thể thấy tuy năng suất lao động ở 3 khu vực đều tăng qua các năm nhưng tốc độ tăng lại khác nhau Khu vực kinh tế ngoài nhà nước tuy có năng suất lao động thấp nhất nhưng lại

có tốc độ tăng năng suất lao động cao nhất đạt 16,29% năm 2007 Hoàn toàn ngược lại, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng năng suất lao động thấp nhất chỉ đạt 5,75% Tốc độ này ở khu vực kinh tế nhà nước là 13,67%

2.4 Năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam.

Theo số liệu của tổng cục thống kê cho thấy, năng suất lao động bình quân của các doanh nghiệp tăng 8,7% /năm Nếu loại trừ tác động của yếu tố giá thì tăng trưởng năng suất bình quân của các doanh nghiệp đạt 8,4% /năm, cao hơn nhiều so với tăng trưởng năng suất lao động toàn bộ nền kinh tế (khoảng 6% /năm)

Năng suất bình quân của các doanh nghiệp, 2001 - 2005

Năng suất lao

Nguồn: Tạp chí cộng sản số 18 (138) năm 2007

Trang 8

Trong các loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp liên doanh có năng suất cao nhất – năm 2005 đạt 1357,2 triệu đồng/lao động với mức tăng năng suất 10%/năm, tiếp đó

là các doanh nghiệp nhà nước TW – đạt 473,2 triệu đồng/lao động với mức tăng 14,2%/năm, công ty cổ phần có vốn nhà nước đạt 380 triệu đồng/lao động với mức tăng 18%/năm, doanh nghiệp tư nhân đạt 360.9 triệu đồng/lao động với mức tăng 3,7%/năm

Trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã tích cực đổi mới tổ chức quản lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và sản xuất, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao trình độ quản lý và trình độ tay nghề của người lao động cho nên đã đạt được sự tăng trưởng mạnh về năng suất lao động Tuy nhiên, cần phải nói rằng, nhìn chung năng suất lao động của các doanh nghiệp ở Việt Nam còn rất thấp Năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn 2-5 lần so với các nước ASEAN Trong khi đó, chi phí về lao động trên giá trị mới của Việt Nam còn rất cao, bằng 47,38%, tương đương với Nhật Bản và Mỹ Chẳng hạn, trong lĩnh vực dệt thoi, một công nhân Việt Nam đứng 10 máy, hiệu suất là 80%, trong khi một công nhân Đài Loan đứng 30-40 máy, hiệu suất 90% Năng suất lao động trong ngành dệt thoi của Việt Nam chỉ bằng 90% của Trung Quốc, 85% của Thái Lan

Tóm lại, năng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân của nước ta đạt được

còn rất thấp so với các nước trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc

tế công bố mới đây, năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần Trong đó, đặc biệt khu vực kinh tế ngoài nhà nước (xét theo hình thức sở hữu) và ngành nông – lâm nghiệp (xét theo ngành kinh tế) có mức năng suất lao động rất thấp nhưng lại có lao động chiếm tỷ lệ rất cao Điều đó đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến mức năng suất lao động bình quân chung toàn nền kinh tế quốc dân, làm giảm sức cạnh tranh của các ngành kinh tế trong nước

so với nước ngoài cũng như làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

II NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG THẤP

Mức lương thấp không kích thích người lao động hứng thú làm việc.

Các doanh nghiệp cần lao động được đào tạo rành nghề có chuyên môn kỹ thuật nhưng người việt nam đáp ứng không được hoặc thiếu lao động có chuyên môn nên sẽ nhận các nhân viên không có tay nghề, thiếu trình độ chuyên môn như vậy năng suất lao động thấp cho nên các doanh nghiệp không thể chi trả tiền lương cao dẫn đến người lao động không hài lòng vì tiền lương nên không làm việc hết mình

Thể lực yếu:

Trang 9

Theo đánh giá thì việt nam là nước tiêu thụ rượu, bia cao việc sử dụng nhiều rượu bia làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động, thể lực không có cũng làm ảnh hưởng đến năng suất lao động

Thói quen, ý thức của lao động việt nam kém:

Người lao động thường xuyên đi làm trễ về sớm, lạm dụng thời gian làm việc để làm việc cá nhân, tập trung noic chuyện tính du di trong công việc luôn châm chước cho nhau đặt tình cảm vào công việc nên họ không tuân thủ nghiêm ngạt kỷ luật

Nạn COCC (con ông cháu cha) những người có quen biết được nhận vào làm việc và cất nhắc vào những vị trí cao trong khi người đó không có năng lực nên làm việc không có kết quả tốt đồng thời cũng làm cho các nhân viên có năng lực cảm thấy bất mãn không nổ lực hết mình trong công việc

Doanh nghiệp chỉ tập trung đào tạo kỹ năng cho nhân viên chưa quan tâm đến việc nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của họ, chưa khuyến khích nhân viên phát huy sự sáng tạo

Đa số người lao động làm việc mà họ không thấy vui:

Những nguyên nhân dẫn đến người lao động làm việc mà không thấy vui hay là vừa làm việc vừa "chán đời" đó là: Công việc không phù hợp với chuyên môn, kỹ năng và đặc biệt là lòng đam mê của họ, nhiều khi họ làm công việc mà họ không yêu thích; môi trường làm việc thiếu thân thiện, chuyên nghiệp và hợp tác, thiếu tôn trọng, không ghi nhận thành tích và đặc biệt là họ không nhìn thấy con đường phát triển ở phía trước, …

do vậy đa số người lao động làm việc đều không vui, mà không vui thì không bao giờ làm việc với năng suất cao và chất lượng tốt được.họ chỉ làm việc để nhận lương chứ không cống hiến hết sức cho doanh nghiệp

Đa số các cơ quan, doanh nghiệp chưa chú trọng đến công tác nghiên cứu để cải tiến

bộ máy quản lý, quy trình, máy móc thiết bị:

Các cơ quan, doanh nghiệp đang áp dụng và khai thác nguồn lực hiện có và ngày một xuống cấp do trãi qua quá trình hoạt động và vận hành Nó đã đi sâu vào thói quen của nhân viên và lối mòn trong quản lý Những con số khiêm tốn đo lường về năng suất và chất lượng đã quá quen thuộc và không thể thay đổi trong tâm thức của tập thể lao động Cùng với thời gian thì tất cả đều đi xuống, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Phần lớn các cơ quan, doanh nghiệp chưa nghiên cứu và áp dụng các phương pháp quản trị hiệu quả:

Hiện nay phần lớn các Cơ quan, doanh nghiệp áp dụng phương pháp quản trị theo “cảm

Trang 10

lý chưa xây dựng được một hệ thống quản trị phù hợp, không cho nhân viên nhìn thấy được con đường nào mà họ phải đi, công việc gì mà họ phải làm, họ làm như thế nào là đạt, … đặc biệt khi họ làm đạt thì họ sẽ được gì ?

Nhiều cơ quan, doanh nghiệp chưa chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển nhân viên:

Việc thiếu đầu tư cho công tác đào tạo đã rơi vào tình trạng Người lao động làm việc ở vị trí đó mà không biết rõ về yêu cầu công việc, tiêu chuẩn cần đạt, từ đó cứ làm đến đâu hay đến đó, Người lao động làm việc mà thiếu sự chủ động và sáng tạo trong công việc, chưa hiểu nghề và thiếu gắn bó

III BIỆN PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

Trình độ kỹ thuật, công nghê còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo, công tác quản lý còn 1 số hạn chế, sản xuất còn phụ thuật nhiều vào thiên nhiên, đăc biệt là sản xuất nông nghiệp là những nguyên nhân dẫn đên năng suất lao động ở Việt Nam còn thấp Sau đây là một số đề nghị nhằm nâng cao năng suất lao động:

* Nhà nước cần phải hoàn thiện các chính sách để nhằm chuyển dịch các cơ cấu lao động giữa các ngành kinh tế nhằm tăng tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ lệ lao động trong các ngành nông lâm nghiệp Cụ thể như đào tạo nghề cho người lao động trong các ngành nông nghiệp để dần chuyển họ sang các ngành công nghiệp

* Chính phủ cần hoàn thiện nhanh chóng khung pháp luật để tạo điều kiện phát triển thị trường công nghệ hoạt động phù hợp với thông lệ quốc tế, xây dựng và ban hành một số văn bản pháp quy về sở hữu trí tuệ như sở hữu công nghiệp, quyến tác giả, hợp đồng chuyển giáo công nghệ Thúc đẩy cung cầu đối với sản phẩm công nghệ, thúc đẩy việc hình thành các tổ chức nghiên cứu và phát triển công nghệ thuộc mọi thành phần kinh tê, xây dựng trung tâm hay ngân hàng công nghệ quốc gia, hình thành các

tổ chức tư vấn công nghệ, định kỳ tổ chức các hội chợ, hội thảo về công nghệ nhằm phổ biến rộng rãi các thông tin và kiến thức về sở hữu trí tuệ, thông tin về công nghệ mới

* Phải có sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo Bởi vì tất cả chủ lao động đều cho rằng sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề không đáp ứng được yêu cầu của họ họ chủ yếu được đào tạo lý thuyết chứ không áp dụng vào thực tế được

* Cần có kỷ luật trong lao động Việt Nam, bởi vì kỷ luật cua lao động Việt nam còn kém so với nhiều quốc gia trong khu vực

Ngày đăng: 15/06/2015, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w