Nhận thức được điều đó và thông qua thực tế công tác và kiến thức học tập tại trường ĐHKT, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
ỨNG DUY ĐÔNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài Chính và Ngân Hàng
Mã số : 60 34 20
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG ĐỨC SƠN
Hà Nội - 2014
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục bảng ii
Danh mục hình vẽ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Cơ sở lý luận về kiểm toán nội bộ 5
1.1.1 Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ 5
1.1.2 Nội dung kiểm toán nội bộ 8
1.2 Hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 11
1.2.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 11
1.2.2 Hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 14
CHƯƠNG 2 : HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG VPBANK 21
2.1 Khái quát chung về VPBank và quy trình cấp tín dụng tại VPBank 21
2.1.1 Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức của VPBank 21
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank 26
2.1.3 Quy trình tín dụng tại VPBank 27
2.2 Tổ chức kiểm toán nội bộ tại VPBank 29
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Phòng Kiểm toán nội bộ -VPBank 29
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Kiểm toán nội bộ - VPBank 31
2.2.3 Thực trạng kiểm toán hoạt động tín dụng tại VPBank 32
2.3 Đánh giá hiệu quả kiểm toán hoạt động tín dụng tại VPBank 48
2.3.1 Đánh giá hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank 48
2.3.2 Những kết quả đạt được 50
2.3.3 Những hạn chế và nguyên nhân 52
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI VPBANK 56
Trang 33.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả kiểm toán hoạt động tín dụng tại
VPBank 56
3.1.1 Định hướng phát triển của VPBank 56
3.1.2 Phương hướng nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank 57
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank 59
3.2.1 Chuyển đổi từ kiểm toán tuân thủ sang kiểm toán định hướng rủi ro 59 3.2.2 Hoàn thiện qui trình kiểm toán nội bộ 64
3.2.3 Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán nội bộ 73
3.3 Một số kiến nghị 74
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 81
Trang 4i
Danh mục các chữ viết tắt
1 BCTC Báo cáo tài chính
2 HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
3 KTNB Kiểm toán nội bộ
4 KTVNB Kiểm toán viên nội bộ
5 NHNN Ngân hàng nhà nước Việt Nam
6 NHTM Ngân hàng thương mại
Trang 5ii
Danh mục bảng
1 Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của VPBank 26
2 Bảng 2.2 Cơ cấu dư nợ của chi nhánh X trong giai đoạn kiểm toán 35
3 Bảng 2.3 Cơ cấu sản phẩm vay của chi nhánh X 36
6 Bảng 2.6 Bảng tổng hợp các vi phạm tại chi nhánh X 47
7 Bảng 2.7 Bảng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả KTNB hoạt động tín dụng 48
8 Bảng 3.1 Hồ sơ và thủ tục kiểm toán dựa trên định hướng rủi ro 62
Trang 6iii
Danh mục hình vẽ
2 Hình 2.2 Mô hình tổ chức Phòng KTNB – VPBank trước 2009 29
3 Hình 2.3 Mô hình tổ chức Phòng KTNB – VPBank hiện nay 30
4 Hình 2.4 Phần mềm hệ thống T24 của VPBank 34
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế mỗi quốc gia, với tư cách là một định chế tài chính trung gian, hệ thống ngân hàng sẽ thực hiện việc lưu chuyển tiền trong nền kinh tế linh hoạt và hiệu quả hơn thông qua việc huy động, phân phối nguồn vốn trong xã hội, đặc biệt là trong điều kiện thì trường tài chính chưa phát triển hoàn thiện như ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại mang tính đặc thù và tiềm ẩn nhiều rủi ro Vì vậy đòi hỏi phải có những cơ chế kiểm tra giám sát nhằm đảm bảo các ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnh Một trong những cơ chế giám sát đó là bộ phận kiểm toán nội bộ trong mỗi ngân hàng Đây là cơ quan có chức năng giám sát, tư vấn, báo cáo những vấn đề rủi ro cao trong các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Hiện nay hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu nhập chủ yếu của đa số các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt là đối với ngân hàng vừa và nhỏ như Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) Trong quá trình hoạt động, VPBank đã có giai đoạn bị rơi vào trạng thái bị kiểm soát đặc biệt do thiếu những cơ chế giám sát, kiểm tra đối với những khoản vay sai đối tượng,
sơ hở về thủ tục pháp lý không thể thu hồi Vì vậy, việc hoàn thiện bộ máy KTNB và nâng cao hiệu quả kiểm toán tín dụng có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển của VPBank trong tương lai Nhận thức được điều đó và thông qua thực tế công tác và kiến thức học tập tại trường ĐHKT, tác giả đã lựa
chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng”
Trang 8ro cần dựa trên mục tiêu của tổ chức, và những rủi ro có thể ảnh hưởng tới mục tiêu đó để tập trung nguồn lực để kiểm soát, quản lý những rủi ro đó
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về KTNB bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ năm 1997 Tác giả Nguyễn Quang Quynh (1998) có đề tài nghiên cứu về “ Xây dựng hệ thống kiểm tra kiểm soát trong quản lý vĩ mô và
vi mô ở Việt Nam” đã phân tích thực trạng chung của hệ thống kiểm soát và chỉ ra rằng KTNB là một yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác về KTNB trong giới hạn của các tổ chức lớn hoặc đơn vị cụ thể Đề tài luận án “ Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong các tập đoàn kinh tế Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hồng Thúy (2010), trong đó đề cập đến những đặc trưng cơ bản của các tập đoàn kinh tế, đánh giá thực trạng tổ chức KTNB trong các tập đoàn kinh
tế Việt Nam, từ đó tác giả đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức KTNB trong các tập đoàn kinh tế theo hướng thay đổi phương thức kiểm toán và hoàn thiện cơ cấu tổ chức Tác giả Lê Thị Thu Hà (2011) với luận án “ Tổ chức kiểm toán nội bộ trong các công ty tài chính” Thông qua nghiên cứu
Trang 93
những đặc trưng cơ bản ảnh hưởng đến công tác kiểm toán của công ty tài chính, phân tích đánh giá công tác tổ chức KTNB tại các công ty tài chính, tác giả đã đưa ra một số giải pháp về phương pháp, kỹ thuật kiểm toán cũng như hoàn hiện bộ máy KTNB, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KTVNB trong các công ty tài chính
Trong giới hạn nghiên cứu về KTNB trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng có đề tài nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Minh (2007) về ” giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại ngân hàng công thương Việt Nam” Đề tài nghiên cứu phân tích thực trạng của HTKSNB, KTNB tại ngân hàng công thương Việt Nam, đánh giá những kết quả đạt được và những mặt hạn chế, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của công tác KTNB đối với hoạt động tín dụng tại ngân hàng công thương Việt Nam
Như vậy, chưa có công trình nghiên cứu mang tính khái quát về thực tiễn công tác KTNB nói chung và KTNB hoạt động tín dụng nói riêng tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng Vì lý do nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu vào những rủi ro trong hoạt động tín dụng và hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài luận văn nhằm hệ thống lại những lý luận
cơ bản về KTNB, rủi ro tín dụng và KTNB hoạt động tín dụng Từ đó áp dụng vào thực tiễn để phân tích hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng VPBank, đánh giá những kết quả đạt được và những những mặt còn tồn tại để có thể đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả KTNB hoạt động tín dụng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank trong giai đoạn từ năm 2010 – 2013 Phạm vi nghiên cứu tập
Trang 104
trung chủ yếu vào kiểm toán hoạt động tín dụng tại các chi nhánh, đơn vị kinh doanh của VPBank
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập tài liệu thứ cấp về các công trình nghiên cứu liên quan đến kiểm toán nội bộ và KTNB đối với hoạt động tín dụng trong các tổ chức tín dụng Từ đó phân tích và và làm rõ một số khái niệm, lý luận liên quan đến đề tài trong các công trình nghiên cứu này
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: phân tích, đánh giá theo chiều dọc
và theo chiều ngang các thông tin thứ cấp trong tình huống công việc thực tế nghiên cứu
6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Thông qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề tài đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán hoạt động tín dụng tại VPBank, từ đó góp phần tăng cường chất lượng công tác quản trị
và kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương như sau
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
Chương 2: Hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank
Trang 115
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Cơ sở lý luận về kiểm toán nội bộ
1.1.1 Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
1.1.1.1.Khái niệm kiểm toán nội bộ
KTNB ra đời nhằm thỏa mãn các yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức chính phủ và cả các tổ chức phi lợi nhuận Trong thời kỳ đầu trọng tâm công việc KTNB ra đời nhằm thỏa mãn các yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức; nhiệm vụ chính của KTVNB là những vấn
đề về tài chính kế toán Ủy ban chứng khoán của nhiều nước đòi hỏi các nhà quản lý của các công ty cổ phần có yết giá ở thị trường chứng khoán phải có trách nhiệm cao hơn về độ tin cậy của các báo cáo tài chính được công bố, nên đã dẫn đến sự mở rộng vai trò trách nhiệm của KTNB Từ đó công việc của họ bao gồm cả việc phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát, cũng như kiểm tra các thông tin kế toán giữa kỳ và những thông tin không được xem xét bởi các kiểm toán viên độc lập khi thực hiện kiểm toán hàng năm Dần dần vai trò của KTNB được mở rộng nhằm hoàn thiện các chính sách và thủ tục kiểm soát đối với toàn bộ họat động của đơn vị, độ tin cậy của các báo cáo hoạt động được chú trọng Cho đến nay KTNB có nhiều cách hiểu khác nhau
Trong các chuẩn mực hành nghề KTNB, ban hành tháng 5 năm 1978 của Viện KTNB Hoa Kỳ (IIA) có định nghĩa sau đây: “KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét đánh giá các hoạt động của tổ chức, với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó”
Tháng 6 năm 1999, cũng chính Viện KTNB Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh hơn về KTNB thì “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá
Trang 126
và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đưa ra một phương pháp tiếp cận mang tính chuẩn mực để đánh giá và nâng cao tính hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị.”
Như vậy, quan điểm của IIA về kiểm toán nội bộ có thể hiểu như sau Thứ nhất, KTNB là hoạt động với hai chức năng đánh giá và tư vấn Vì vậy, KTVNB không chỉ có năng lực chuyên môn về kiểm toán mà cần có sự am hiểu sâu sắc về hoạt động của hệ thống để đưa ra những ý kiến tư vấn hiệu quả
Thứ hai, mặc dù là hoạt động nội kiểm nhưng KTNB vẫn phải đảm bảo tính độc lập trọng hoạt động
Thứ ba, mục tiêu cuối cùng của KTNB là nhằm cải tiến và làm gia tăng giá trị hoạt động của tổ chức
Thứ tư, phương pháp thực hiện của KTNB là đánh giá hoạt động và kiến nghị nhằm cải thiện hiệu lực của hoạt động quản trị và kiểm soát rủi ro
Theo thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì kiểm toán nội bộ được định nghĩa là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật
Về cơ bản thì định nghĩa trên cũng có nhiều điểm tương đồng với khái niệm của IAA về mục tiêu, chức năng và phương pháp KTNB
Trang 137
Tóm lại, về bản chất có thể hiểu KTNB là một bộ phận chuyên trách, hoạt động độc lập, khách quan được thành lập trong nội bộ một tổ chức, nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn đối với những hoạt động hiện tại của tổ chức từ
đó nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro cũng như giá trị nội tại của tổ chức đó Cũng theo như quyết định số 44/2011/TT-NHNN, thì KTNB tại các TCTD có một số chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc như sau:
1.1.1.2 Chức năng của kiểm toán nội bộ
Chức năng kiểm tra: là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét, đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của việc thực hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính
Chức năng đánh giá: Thông qua kiểm tra, KTNB thực hiện đánh giá tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin, tài liệu được kiểm tra Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, KTNB xác nhận thực trạng của thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thông tin đó
Chức năng tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh giá, KTNB đề xuất và tư vấn giải pháp để khắc phục sai sót, cải tiến và hoàn thiện HTKSNB, giúp ngân hàng đạt được mục tiêu của mình
1.1.1.3 Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ
Thứ nhất, thẩm tra tính phù hợp, tính hiệu lực và hiệu quả của HTKSNB Từ đó để khẳng định rằng HTKSNB vận hành chính xác và có hiệu quả, đáp ứng mọi mục tiêu đã đề ra khi xây dựng hệ thống
Thứ hai, kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh
tế, số liệu tài chính được kiểm tra
Thứ ba, kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc
Trang 148
Thứ tư, kiểm tra và phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của tổ chức
Thứ năm là nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện
hệ thống quản lý và điều hành của tổ chức góp phần ngăn chặn và xử lý các rủi ro
1.1.1.4 Nguyên tắc của kiểm toán nội bộ
Tính độc lập: bộ phận KTNB độc lập với các đơn vị, các bộ phận điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng; hoạt động KTNB độc lập với các hoạt động điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng
Tính khách quan: bộ phận KTNB, KTVNB phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến khi thực hiện nhiệm vụ KTNB
Tính chuyên nghiệp: KTVNB phải là người có kiến thức, trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm các cương vị, các công việc chuyên môn khác của tổ chức tín dụng
1.1.2 Nội dung kiểm toán nội bộ
Theo tác giả Victor Z Brink, nội dung và phạm vi công KTNB bao gồm 6 điểm chính như sau:
Thứ nhất, KTNB cần xem xét, đánh giá tính đầy đủ và hiệu quả của HTKSNB của tổ chức và chất lượng thực thi trách nhiệm được giao Việc thẩm tra tính đầy đủ là để xác định một cách chắc chắn liệu hệ thống được thực thiết lập có đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu một cách có hiệu quả và tiết kiệm hay không, mục đích của việc đánh giá tính hiệu quả là để đảm bảo
hệ thống đang hoạt động như mong muốn; còn mục đích của việc đánh giá chất lượng là để xác định một cách chắc chắn rằng mục tiêu của tổ chức đã và đang được thực hiện
Trang 159
Thứ hai, KTNB phải thẩm tra tính xác thực của các thông tin tài chính, thông tin nghiệp vụ và các phương tiện đã sử dụng để xác định, định lượng và phân loại các thông tin đó Như vậy, KTVNB cần kiểm tra để xác nhận thông tin trên sổ sách, BCTC là chính xác, tin cậy đồng thời đánh giá việc kiểm soát
sổ sách ghi chép và thông tin báo cáo có đầy đủ và hiệu quả không
Thứ ba, KTVNB cần kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, thủ tục, pháp luật và các quy định có ảnh hưởng quan trọng tới các nghiệp vụ của tổ chức Nội dung công việc này bao gồm việc bảo vệ cho tổ chức trước những chi phí phát sinh do việc không tuân thủ các quy định gây ra và tìm kiếm những biện pháp cải tiến hệ thống kiểm soát để nâng cao mức độ tuân thủ
Thứ tư, KTVNB cần kiểm tra các biện pháp bảo vệ tài sản của tổ chức trước các hành vi trộm cắp, hỏa hoạn, sử dụng sai hoặc bất hợp pháp cũng như thẩm tra sự tồn tại của những tài sản đó KTVNB cần dựa trên mức độ rủi
ro và tổn thất của tổ chức đối với từng loại tài sản khác nhau để có đánh giá thính hợp
Thứ năm, KTVNB phải đánh giá tính tiết kiệm và tính hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng Thông thường, KTVNB cần đánh giá xem cơ sở vật chất có được tận dụng tối đa không, năng suất công việc, mức độ tốn kém của các thủ tục và tình trạng thừa hoặc thiếu nhân sự tại đơn vị
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy, nội dung của KTNB được thể hiện thông qua một số loại hình kiểm toán dựa trên một số tiêu chí Nếu dựa trên đối tượng của kiểm toán, KTNB thường được chia làm kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán liên kết
Thứ nhất là kiểm toán tài chính: Là việc kiểm tra xác nhận tính trung
thực và tính hợp lý của các BCTC, báo cáo kế toán quản trị đồng thời xem xét
Trang 1610
sự phù hợp của các loại báo cáo đó với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và yêu cầu quản lý
Thứ hai là kiểm toán hoạt động Nội dung của kiểm toán hoạt động là
việc huy động, sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và tiết kiệm không, kiểm toán hiệu quả các giai đoạn sản xuất kinh doanh, kiểm soát tính hiệu quả và tiết kiệm của việc thực hiện các chính sách nhân sự
Thứ ba là kiểm toán liên kết giữa kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt
động.Trên cơ sở đánh giá độ tin cậy của thông tin, chất lượng của HTKSNB, KTNB tiến hành đánh giá hiệu quả của hoạt động, của công tác kiểm soát cũng như của hệ thống thông tin quản lý
Nếu dựa theo mục tiêu kiểm toán thì nội dung kiểm toán có thể bao gồm kiểm toán thông tin: hướng đến độ tin cậy của thông tin; kiểm toán tuân thủ: xác định mức độ tuân thủ các quy định, chính sách của pháp luật của nhà quản lý; kiểm toán hiệu quả - hiệu năng: liên quan đến việc đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu hoạt động với nguồn lực sử dụng để tạo ra chúng
Theo xu hướng phát triển của kiểm toán, nghiên cứu của tác giả cũng cho rằng kiểm toán hoạt động và kiểm toán liên kết sẽ được quan tâm và chú trọng nhiều hơn Nội dung của KTNB không chỉ thực hiện với các hoạt động tài chính mà cả đối với các hoạt động phi tài chính
Tóm lại, về có thể thấy nội dung của công tác KTNB có thể khái quát trong 5 điểm chính như sau:
- Kiểm tra tính đầy đủ, hiệu quả, chất lượng của HTKSNB của tổ chức
- Kiểm tra tính xác thực, độ tin cậy của các thông tin liên quan đến hoạt động của tổ chức
Trang 1711
- Kiểm tra mức độ tuân thủ pháp luật và quy định nội bộ của tổ chức Kiến nghị các biện pháp sửa chữa, khắc phục sai sót, xử lý các sai phạm, đề xuất biện pháp hoàn thiện HTKSNB, quản lý rủi ro của tổ chức
- Kiểm tra đánh giá tính hiệu lực của công tác quản lý rủi ro, các biện pháp đảm bảo an toàn tài sản
- Kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong việc thực hiện các mục tiêu
1.2 Hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.2.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
Tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Hoạt động tín dụng có vai trò quan trọng trọng hệ thống tài chính của nền kinh tế Hiện nay đây vẫn là kênh dẫn vốn chủ yếu cho nền kinh tế, sự tăng trưởng của nền kinh tế thương chịu tác động lớn của quy mô tăng trưởng tín dụng Đối với các ngân hàng thương mại thì hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong lợi nhuận của các ngân hàng
Tuy nhiên hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro dẫn đến khả năng tổn thất đối với ngân hàng trong hoạt động cho vay Theo định nghĩa của
ủy ban Basel thì rủi ro tín dụng hiểu một cách đơn giản là khả năng mà người vay ngân hàng hoặc đối tác không thể thực hiện được nghĩa trả nợ theo đúng cam kết trước đó”
Trang 1812
Trong khi theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động của ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Uni Credit thì định nghĩa rủi ro tín dụng là nguy cơ tổn thất do bên vay không thực hiện được nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc do sự suy giảm chất lượng tín dụng của bên vay Uni Credit cũng phân loại rủi ro tín dụng thành 3 loại bao gồm
- Rủi ro cố hữu: nguy cơ tổn thất khi ngân hàng đánh giá rằng bên vay không có khả năng thanh toán một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ tín dụng trong khoảng thời gian từ 90 ngày trở lên
- Rủi ro tập trung: nguy cơ liên quan đến việc khoản vay tập trung quá lớn vào một hoặc một nhóm khách hàng có thể gây ra các tổn thất đủ lớn đe dọa đến hoạt động cốt lõi của ngân hàng
- Rủi ro quốc gia: nguy cơ tổn thất khi một quốc gia đóng băng các hoạt động thanh toán ngoại hối hoặc quốc gia đó không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể hiểu là khả năng hoặc nguy cơ tổn thất đối với bên cho vay trong trường hợp bên vay không thể thực hiện được nghĩa
vụ như cam kết
Trên thực tế có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong hoạt động tín dụng, có thể kể tới số nguyên nhân như sau:
1.2.1.1 Rủi ro do yếu tố khách quan
- Những rủi ro từ môi trường thiên nhiên như thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn,… ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại về tài sản cho
Trang 19- Rui ro do tác động của tình hình an ninh, chính trị trong nước và trên thế giới Kinh tế không ổn định, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá biến động bất thường, … Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố kinh tế trong và ngoài nước Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người đi vay và sự thành bại của họ trong kinh doanh Trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, khả năng trả nợ của doanh nghiệp được đảm bảo khi họ kinh doanh
có lãi Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng thì sức mua giảm sút, tình hình kinh doanh khó khăn khiến doanh nghiệp không trả được nợ đầy đủ và đúng hạn
1.2.1.2 Rủi ro do yếu tố chủ quan quan
Rủi ro do nguyên nhân từ phía khách hàng
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, chủ định lừa đảo ngân hàng để được vay vốn Họ cố tình cung cấp thông tin, phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp cầm cố giả mạo hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng một bộ hồ sơ
Trang 2014
- Năng lực quản lý yếu kém của người vay trong việc sử dụng vốn vay đầu
tư vào các phương án kinh doanh, cũng như thiếu khả năng thích ứng với những thay đổi bất lợi từ môi trường sẽ khiến cho việc sử dụng vốn không hiệu quả, dẫn đến việc trả nợ gặp khó khăn
Rủi ro do nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Rủi ro kiểm soát nội bộ: chính sách tín dụng của ngân hàng không hợp lý, thiếu chặt chẽ, quy định lỏng lẻo Quy chế cho vay thiếu chặt chẽ hoặc quá dễ dàng sẽ tạo ra những kẽ hở cho khách hàng lợi dụng để vay vốn vì mục đích không phù hợp, hoặc khiến cho cán bộ tín dụng mắc sai lầm, thậm chí lợi dụng quy chế để móc ngoặc với khách hàng, gây tổn thương cho ngân hàng
- Rủi ro đạo đức và trình độ nghiệp vụ yếu kém của nhân viên ngân hàng: cán bộ làm công tác tín dụng yếu kém về trình độ nghiệp vụ hoặc vi phạm đạo đức kinh doanh Năng lực cán bộ kém dẫn đến những sai lầm trong khâu đánh giá khách hàng dẫn tới rủi ro trong khả năng trả nợ của khách hàng, ngược lại hành vi cố tình làm trái các quy định của pháp luật, của ngân hàng vì những động cơ cá nhân cũng có thể gây ra tổn thất lớn đối với ngân hàng
1.2.2 Hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Khái niệm hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng
Hiệu quả được định nghĩa là kết quả tối đa đạt được với đầu vào cố định hoặc đầu vào tối thiểu để đạt được kết quả đề ra Ngoài ra, hiệu quả là còn được định nghĩa là mức độ hoàn hoàn thành mục tiêu đã được thiết lập
Trang 2115
Trong nghiên cứu về “Thực hành đo lường hiệu quả kiểm toán nội bộ” của Viện kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ, định nghĩa chung về hiệu quả là mức độ hoàn thành những mục tiêu đã được đề ra
Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới
Như vây, từ định nghĩa về hiệu quả nói chung có thể định nghĩa tương tự đối với hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng là mức độ hoàn thành được các mục tiêu về tín dụng đã được đề ra đối với công tác kiểm toán nội bộ
1.2.2.2 Mục tiêu của kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng
KTNB hoạt động tín dụng là một nội dung quan trọng trong KTNB, vì vậy cũng cần đảm bảo một số mục tiêu chính như sau:
- Đánh giá tính nghiêm túc, đúng đắn trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghiệp vụ tín dụng bao gồm các chính sách, quy trình, sản phẩm vay
- Xác định tính chính xác, phù hợp của các khoản vay: dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu, mức lãi suất áp dụng, giá trị tài sản bảo đảm, trích lập dự phòng
- Phát hiện những sơ hở, gian lận trong hoạt động tín dụng, những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng, hoặc những nguy cơ từ gian lận kể trên
- Đưa ra những kiến nghị và đề xuất nhằm cải thiện những lỗ hổng trong chính sách, quy trình tín dụng, khắc phục những sai phạm đã được phát hiện nhằm ngăn chặn rủi ro xảy ra đối với ngân hàng
1.2.2.3 Tiêu chí đo lường hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng
Các hoạt động kinh doanh thông thường có thể dễ dàng đo lường doanh thu và chi phí để có thể đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ là hoạt động có thể đo lường được chi phí (ngân sách, thời gian, nhân lực) nhưng lại khó khăn trong việc tính toán lợi ích đem lại cho tổ
Trang 22- Tỷ lệ phần trăm hoàn thành kế hoạch kiểm toán
- Tỷ lệ các khuyến nghị được chấp nhận và thực hiện
- Đánh giá của hội đồng quản trị, ủy ban ban kiểm toán, các nhà quản lý
- Đánh giá dựa trên các khảo sát đối tượng được kiểm toán
- Thời gian một cuộc kiểm toán từ khi bắt đầu tới khi có dự thảo báo cáo
Trong nghiên cứu về “Đo lường giá trị của kiểm toán nội bộ” của Feng Chen và Wan-Ying Lin, tác giả đã đưa ra một số tiêu chí cơ bản như sau
Jiin-để đo lường hiệu quả kiểm toán nội bộ của tổ chức
- Số cuộc kiểm toán dự kiến thực hiện trong năm
- Số cuộc kiểm toán đã hoàn thành
- Tính kịp thời của thông tin phản ánh
- Số lượng nhân viên sử dụng trực tiếp và gián tiếp
- Số cuộc kiểm toán thực hiện của một kiểm toán viên
- Thời gian và ngân sách
- Tổng thời gian của cuộc kiểm toán: tính từ khi họp triển khai đến khi
kết thúc thực địa và từ khi kết thúc thực địa đến khi phát hành báo cáo
- Số lượng báo cáo kiểm toán phát hành so với kế hoạch kiểm toán nội bộ
- Mức độ hài lòng của khách hàng
Trang 2317
- Mức độ hài lòng của nhân viên
- Số lượng các phát hiện kiểm toán có ý nghĩa
- Tỷ lệ phần trăm các khuyến nghị được thực hiện
- Số lượng phát hiện lặp lại
- Số lượng phát hiện có kế hoạch khắc phục
- Số lượng ý kiến kiểm toán không đạt yêu cầu
Tóm lại, có rất nhiều chỉ tiêu có thể sử dụng để đánh giá hiệu quả kiểm toán nội bộ tại một tổ chức bao gồm cả chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng Do vậy để đánh giá hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng có thể sử dụng các tiêu chí định tính và định lượng như sau:
- Số cuộc kiểm toán theo kế hoạch hàng năm: tiêu chí này cho phép đo
lường tần suất thực hiện các hoạt động kiểm toán nói chung và kiểm toán hoạt động tín dụng nói riêng Thông thường được thiết lập từ đầu năm trong kế hoạch năm của kiểm toán nội bộ trước khi trình ban kiểm soát phê duyệt căn
cứ vào hồ sơ rủi ro của ngân hàng
- Số cuộc kiểm toán đã hoàn thành: thể hiện số đợt kiểm toán thực tế
thực hiện trong một giai đoạn, có thể được đo dựa trên số lượng báo cáo kiểm toán phát hành trong năm
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch: dựa trên số cuộc kiểm toán đã thực hiện
thực tế và kế hoạch đầu năm cho phép đánh giá mức độ hoàn thành công việc của kiểm toán nội bộ
- Số lượng khuyến nghị về hoạt động tín dụng có ý nghĩa và được thực
hiện: các phát hiện và kiến nghị liên quan đến quy trình, chính sách hoạt động tín dụng được ban kiểm soát, các cấp quản lý chấp nhận và được thực hiện để hoàn thiện môi trường kiểm soát hoạt động tín dụng
Trang 2418
- Số lượng vi phạm phát hiện trong hoạt động tín dụng: các sai sót, vi
phạm các quy định trong hoạt động tín dụng được kiểm toán viên phát hiện và
có biện pháp ngăn chặn hoặc khắc phục thiệt hại được nêu trong các báo cáo kiểm toán
- Đánh giá của BKS về kiểm toán nội bộ: thể hiện mức độ hài lòng của
cấp quản lý đối với công tác kiểm toán nội bộ trong việc thực hiện các mục tiêu đã đặt ra
- Đánh giá của các đơn vị được kiểm toán về kiểm toán nội bộ: thể
hiện mức độ thỏa mãn những mong muốn của đối tượng được kiểm toán trong việc cải thiện quy trình, chính sách tín dụng cũng như ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tin dụng tại đơn vị đó
- Thời gian thực hiện kiểm toán từ khi bắt đầu họp triển khai công việc đến khi phát hành báo cáo chính thức: chỉ tiêu này cho phép đo lường mức độ hiệu quả trong việc thực hiện công việc Thời gian thực hiện kiểm toán ngắn giúp tiết kiệm chi phí hoạt động trong khi vẫn đảm bảo được mục tiêu đề ra,
từ đó nâng cao hiệu quả kiểm toán
1.2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng
Trong chuyên đê nghiên cứu “Bàn về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại”, tác giả Nguyễn Lê Thanh có
đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng KTNB bao gồm
Các nhân tố chủ quan
Thứ nhất, quan điểm của các nhà lãnh đạo ngân hàng về vai trò của
KTNB Nếu nhà lãnh đạo thiếu quan tâm coi trọng đối với hoạt động KTNB, đầu tư không đúng mức cho hoạt động này cũng như có những cơ chế thực sự độc lập đối với hoạt động ngân hàng thì hiệu quả kiểm toán sẽ không cao
Trang 2519
Ngược lại, nếu được quan tâm đúng mức thì KTNB sẽ phát huy được vai trò tích cực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Thứ hai, mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng Khi quy mô
ngân hàng càng lớn, hoạt động càng đa dạng với nhiều sản phẩm và hình thức cấp tín dụng khác nhau thì khối lượng công việc của KTNB càng tăng lên, đòi
hỏi sự thay đổi và nâng cao hiệu quả trong công tác KTNB
Thứ ba, đội ngũ cán bộ KTNB Ảnh hưởng bởi đội ngũ cán bộ làm
công tác KTNB thể hiện về số lượng, chất lượng và mức độ đảm bảo các nguyên tắc làm nền tảng cho hoạt động của KTNB, bao gồm: tính liên tục, tính độc lập và tính chuyên nghiệp Số lượng cán bộ KTNB nếu quá ít không đảm bảo kiểm tra được toàn bộ các đơn vị trong NHTM, hoặc nếu kiểm tra chất lượng không được đảm bảo Ngược lại, nếu số lượng cán bộ KTNB quá nhiều thì chi phí lớn (gồm cả chi phí tiền lương, thưởng, phụ cấp và chi phí đào tạo), công tác kiểm toán thậm chí bị chồng chéo Do đó cần thiết NHTM phải có số lượng cán bộ KTNB phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của ngân hàng Hoạt động KTNB đòi hỏi cán bộ thực hiện phải có một trình
độ tương xứng, phải am hiểu về các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các sản phẩm dịch vụ mới cũng như sử dụng thành thạo hệ thống ngân hàng hiện đại để phục vụ yêu cầu công việc
Thứ tƣ, phương pháp kiểm toán Cần thiết áp dụng kết hợp cả hai
phương pháp kiểm toán: tuân thủ và định hướng rủi ro đảm bảo giảm thiểu được thời gian thực hiện kiểm toán và kết quả thu được, mức độ phát hiện sai phạm cao hơn Phương pháp kiểm toán phải được áp dụng một cách có hệ thống, cho toàn ngân hàng và cho từng hoạt động nghiệp vụ
Thứ năm, quy trình KTNB Quy trình cần thiết được xây dựng, cập
nhật thường xuyên, có tính hệ thống và phải được áp dụng thống nhất đối với
Trang 2620
tất cả các đơn vị trong ngân hàng để KTNB thực hiện được đúng mục tiêu đề
ra của hoạt động
Thứ sáu, công nghệ thông tin Để tiết kiệm thời gian, chi phí, số lượng
nhân viên KTNB, đòi hỏi có phần mềm kiểm toán riêng Hệ thống này nếu có
sẽ hỗ trợ và nâng cao chất lượng KTNB, giúp tổng hợp toàn hệ thống, kết xuất dữ liệu, xử lý và phân tích dữ liệu trên máy,…
Nhân tố khách quan
Để hoạt động KTNB có hiệu quả, nhân tố khách quan ảnh hưởng lớn nhất là hệ thống văn bản pháp lý quy định và hướng dẫn đối với công tác KTNB, từ xây dựng mô hình tổ chức; tuyển chọn nhân sự; thiết kế quy trình kiểm toán đối với từng hoạt động nghiệp vụ; yêu cầu đối với KTVNB; hướng dẫn thiết kế và áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động KTNB;… của Nhà nước và của ngành, cũng như của bản thân từng NHTM
Trang 27Theo Giấy phép số 0042/NH-GP, VPBANK được thực hiện các nghiệp
vụ phù hợp với chức năng hoạt động của ngân hàng thương mại, bao gồm một
số chức năng chính sau:
1) Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức kinh tế
và dân cư
2) Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
3) Kinh doanh ngoại hối
4) Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác
5) Cung cấp các dịch vụ giao dịch giữa các khách hàng và các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định của NHNN Việt Nam
Sau 20 năm hoạt động, vượt qua giai đoạn khủng hoảng kéo dài (1997 - 2004) và chính thức thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt vào năm 2005, VPBank đã tích cực vươn lên khẳng định mình, bước đầu đạt được những thành công trong việc xây dựng thương hiệu và duy trì tốc độ phát triển nhanh Năm 2010 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ của VPBank với việc thay đổi thương hiệu từ Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thành Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (giữ nguyên tên viết tắt
Trang 2822
tiếng Anh là VPBank), cùng với đó là sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức cũng như quy mô hoạt động, với mục tiêu gia nhập nhóm những ngân hàng hàng đầu Việt Nam
Vốn điều lệ của VPBank khi mới thành lập là 20 tỷ đồng và đã được tăng lên nhiều lần nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển theo thời gian Tháng 8/2006, vốn điều lệ đạt 500 tỷ đồng Tháng 9/2006, sau khi VPBank nhận được sự chấp thuận của NHNN về việc bán 10% cổ phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là ngân hàng OCBC ngân hàng bán lẻ lớn nhất Singapore, vốn điều lệ đã được nâng lên thành 750 tỷ đồng Con số này đạt mức 1.000 tỷ đồng vào cuối năm 2006; 1.500 tỷ đồng vào tháng 7/2007 và 2000 tỷ đồng tại thời điểm 31/12/2007 Trong năm 2008, Hội đồng Quản trị của VPBank đã hoàn tất việc bán thêm cổ phần cho OCBC, nâng tỷ lệ sở hữu của OCBC tại VPBank lên 15% và theo đó vốn điều lệ đã tăng từ 2000 tỷ đồng lên 2.117,4
tỷ đồng Trong năm 2010 và 2011, VPBank liên tục tăng vốn, tới thời điểm 31/12/2012, vốn điều lệ của VPBank đã đạt 5050 tỷ đồng
Hiện nay, VPBank có hơn 200 chi nhánh và phòng giao dịch hoạt động tại 40 tỉnh thành trên cả nước với số lượng nhân viên toàn hệ thống là 4500 người, trong đó cán bộ quản lý là 555 người Đội ngũ nhân viên của VPBank phần lớn là những người trẻ (hơn 70% cán bộ nhân viên có độ tuổi dưới 30 tuổi), nhiệt tình và ham học hỏi, mong muốn gắn kết và phát triển cùng VPBank
Cơ cấu tổ chức của VPBank bao gồm:
- Hội đồng quản trị: gồm 4 thành viên do Đại hội cổ đông bầu ra Chức
năng của Hội đồng quản trị là xem xét và điều chỉnh các kế hoạch kinh doanh mang tính chiến lược trung và dài hạn, đảm bảo cho định hướng kinh doanh của VPBank luôn phù hợp với diễn biến của thị trường Hội đồng quản trị đặt
Trang 2923
ra các quy định, các chính sách về quản lý rủi ro, thường xuyên giám sát hoạt động kinh doanh, hoạt động kiểm soát nội bộ và hoạt động quản lý rủi ro của ngân hàng
- Ban kiểm soát: Gồm 3 thành viên do Đại hội cổ đông bầu ra; có nhiệm
vụ kiểm tra thường xuyên các hoạt động tài chính, giám sát việc thực hiện chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ của ngân hàng
- Ban điều hành: gồm Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc thực
thi nhiệm vụ điều hành toàn bộ hoạt động của VPBank, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về hoạt động của ngân hàng
- Bộ máy hoạt động của ngân hàng: Chia thành 13 khối chức năng và
3 trung tâm gồm: khối quản trị rủi ro, khối tài chính, khối quản trị nguồn nhân lực, trung tâm chiến lược và dự án, khối đầu tư và nguồn vốn, khối ngân hàng bán buôn, khối khách hàng doanh nghiệp lớn, khối khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, khối khách hàng cá nhân, khối tín dụng tiêu dùng, khối bán hàng
và kênh phân phối, khối tín dụng, khối vận hành, khối công nghệ thông tin, trung tâm truyên thông và thương hiệu, trung tâm pháp chế Mỗi khối hoặc trung tâm có người đứng đầu là Giám đốc khối hoặc giám đốc trung tâm, phụ trách điều hành các công việc trong khối và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của tổng giám đốc Các khối có sự trao đổi thông tin thường xuyên qua các cuộc họp ban điều hành và họp giao ban trong từng khu vực
- Hội đồng quản lý tài sản Nợ - Có (ALCO) gồm các thành viên là
lãnh đạo của VPBank, do Chủ tịch Hội đồng Quản trị đứng đầu; có nhiệm vụ quản
lý bảng cân đối kế toán phù hợp với chính sách phát triển của ngân hàng
- Hội đồng tín dụng: Có thành phần giống như Uỷ ban Quản lý Tài sản
Nợ - Có Nhiệm vụ của Uỷ ban này là phê duyệt các định hướng và cơ cấu dư nợ của toàn hệ thống VPBank theo mặt hàng, lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn kinh doanh, quyết định chính sách tín dụng khách hàng dựa trên nguyên tắc rủi ro,
Trang 3024
thông qua chính sách về lãi cho vay và các loại phí, quyết định các chính sách dự phòng rủi ro tín dụng và phê duyệt các khoản đầu tư tín dụng Uỷ ban làm việc thông qua các cuộc họp do Chủ tịch Uỷ ban triệu tập hoặc thông qua việc lấy ý kiến của các thành viên Các quyết định của Uỷ ban có hiệu lực khi có ý kiến của
ít nhất 2/3 số thành viên và số thành viên đồng ý chiếm 51% trở lên, trong đó phải
có ý kiến đồng ý của Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban
Ngoài ra, VPBank còn sở hữu 2 công ty con là Công ty chứng khoán VPBS, công ty quản lý tài sản AMC do VPBank sở hữu 100% vốn
Trang 3125
Hình 2.1 Mô hình tổ chức bộ máy VPBank
Nguồn: Báo cáo thường niên của VPBank
Trang 3226
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng VPBank
Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế khó khăn đã tác động nhiều đến tình hình kinh doanh của ngân hàng Đặc biệt là trong giai đoạn 2011-2013 với những biến động lớn về lạm phát, lãi suất, sự suy giảm của thị trường bất động sản cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty,
cá nhân đều giảm sút Điều đó đặt ra những thách thức, khó khăn không nhỏ đối với hoạt động ngân hàng nói chung và VPBank nói riêng Tuy nhiên, với những nỗ lực trong quá trình chuyển đổi, thúc đẩy hoạt động bán hàng, VPBank đã đạt được một số kết quả kinh doanh tương đối khả quan, thể hiện qua một số chỉ tiêu chính như sau:
Bảng 2.1 - Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh chính
(Nguồn: báo cáo kiểm toán hợp nhất 2010-2013)
Qua bảng số liệu tổng hợp trên cho thấy sự tăng trưởng không ngừng của VPBank thể hiện:
Về quy mô đến 31/12/2013 tổng tài sản là 121,264 tỷ đồng tăng 18 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng 18.2% so với 31/12/2012, gấp 2 lần so với cuối năm 2010 Điều đó cho thấy tốc độ tăng trưởng và phát triển mạnh
mẽ của VPBank trong những năm gần đây
Trang 3327
Kết thúc năm 2013 tổng dư nợ cho vay đạt 52 nghìn tỷ đồng tăng 42%
so với cuối năm 2012 Trong đó tỷ lệ nợ xấu ở mức 2.81%, có tăng so với năm 2012 nhưng vẫn ở mức thấp hơn so với tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng Mặc dù tình hình kinh kế gặp nhiều khó khăn tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân nhưng việc duy trì tỷ lệ
nợ xấu thấp đồng thời vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng là một nỗ lực của ngân hàng trong việc đa dạng hóa sản phẩm, phương thức bán hàng
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM về tiền gửi từ khách hàng để đảm bảo nguồn vốn và thanh khoản, Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng vẫn giữ được mức vốn huy động ổn định và đạt mức tăng trưởng khá Trong cả giai đoạn, số dư huy động luôn có mức tăng trưởng cao, tính đến thời điểm 31/12/2013 tổng nguồn vốn huy động đạt 104 nghìn tỷ đồng tăng 14.8% so với năm trước Để đạt được kết quả trên, VPBank đã chú trọng thực hiện đẩy mạnh công tác huy động khai thác nguồn vốn, nghiên cứu đưa ra các danh mục sản phẩm, gói sản phẩm đa dạng với nhiều tiện ích phù hợp với nhu cầu của khách hàng cùng với chính sách lãi suất linh hoạt, đảm bảo tính cạnh tranh
Về lợi nhuận trước thuế đến 31/12/2013 là 1,354 tỷ đồng cao nhất qua các năm Mặc dù có thời điểm lợi nhuận trước thuế của VPBank đạt mức trên
1000 tỷ đồng tuy nhiên do tình hình tín dụng khó khăn, lãi suất cho vay giảm nên cũng ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng Chỉ số an toàn vốn (CAR) luôn nằm ở mức cao trên 12% chứng tỏ sự ổn định và hoạt động an toàn của ngân hàng
2.1.3 Quy trình tín dụng tại VPBank
Cùng với quy chế cho vay, chính sách tín dụng thì quy trình tín dụng là một cơ sở pháp lý quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 3428
VPBank đã ban hành quy trình tín dụng đã tương đối chi tiết, cụ thể trách nhiệm của từng cá nhân tại các bước và liên tục được cập nhật, thay đổi cho phù hợp với tình hình hoạt động thực tế Hiện tại, về cơ bản quy trình gồm một số bước như sau:
- Tìm kiếm, tiếp xúc khách hàng và hướng dẫn lập hồ sơ: nhân viên tín dụng là đầu mối tiếp xúc và tìm hiểu nhu cầu cấp tín dụng của khách hàng, cung cấp các biểu mẫu và danh mục hồ sơ khách hàng cần cung cấp
- Tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp tín dụng: nhân viên tín dụng thực hiện kiểm tra, đối chiếu hồ sơ và làm biên bản bàn giao với khách hàng
- Thẩm định khách hàng và phương án cấp tín dụng Nhân viên tín dụng tiến hành thẩm định khách hàng (năng lực, tình hình tài chính, địa chỉ hoạt động …), phương án vay (mục đích, nguồn trả nợ…) và lập tờ trình thẩm định tín dụng Nhân viên thẩm định tài sản tiến hành thẩm định và định giá TSBĐ (nếu có)
- Phê duyệt cấp tín dụng, thông báo cấp tín dụng: sau khi lãnh đạo trực tiếp ký kiểm soát, nhân viên tín dụng chuyển tờ trình lên cấp phê duyệt có thẩm quyền như Ban tín dụng (từ 3-5 người tại chi nhánh), chuyên gia phê duyệt hoặc Hội đồng tín dụng (từ 3-5 người tại hội sở) Sau khi được phê duyệt, nhân viên tín dụng soạn thông báo gửi kết quả tới khách hàng
- Hoàn thiện hồ sơ cấp tín dụng và giải ngân Sau khi khách hàng đồng
ý với các điều kiện phê duyệt thì nhân viên tín dụng chuyển toàn bộ hồ sơ cho nhân viên hỗ trợ tín dụng để kiểm tra hồ sơ, soạn thảo các văn bản pháp lý và hoàn thiện thủ tục bảo đàm trước khi giải ngân cho khách hàng
- Quản lý sau khi cấp tín dụng: nhân viên tín dụng cần thực hiện kiểm tra thực tế khách hàng định kỳ theo đúng quy định của VPBank và đôn đốc khách hàng trả nợ trong trường hợp chậm trả
- Thanh lý và lưu trữ hồ sơ tín dụng tín dụng
Trang 3529
Như vậy với quy trình hiện tại, cơ bản các chốt kiểm soát của HTKSNB đã được thiết lập với sự tham gia của nhiều bộ phận trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng Trong đó nhân viên tín dụng đóng vai trò chủ yếu trong việc tìm kiếm, thẩm định khách hàng, tuy nhiên việc thẩm định tài sản cũng như hoàn thiện hồ sơ lại được thực hiện bởi nhân viên thẩm định tài sản và nhân viên hỗ trợ tín dụng, điều này đảm bảo sự độc lập, khách quan trong việc thực hiện quy trình cấp tín dụng Ngoài ra, mỗi nhân viên tại các bộ phận đều có một cấp kiểm soát nhằm đảm bảo kiểm tra, giám sát công việc của cấp dưới Do đó, từng thành viên tham gia vào quy trình cho vay đều phải thực hiện đúng trình tự, nhiệm vụ của mình và có sự kiểm tra giám sát lẫn
nhau trong việc thực hiện công việc
2.2 Tổ chức kiểm toán nội bộ tại VPBank
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Phòng Kiểm toán nội bộ -VPBank
2.2.1.1 Giai đoạn mới thành lập cho đến trước năm 2009
Bộ phận kiểm toán nội bộ tại VPBank được thành lập từ 24/12/1997 với tên gọi ban đầu là Phòng Kiểm tra kiểm toán nội bộ, trực thuộc Ban tổng giám đốc Vai trò chủ yếu của phòng là thực hiện chức năng kiểm soát sau, kiểm tra tính tuân thủ trong các hoạt động của ngân hàng
Tổ KTKTNB Nhân viên KTKTNB Nhân viên KTKTNB
KTKTNB
Trang 3630
TRƯỞNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ
Phòng kiểm
toán theo đợt
phía Bắc
Phòng kiểm toán theo đợt phía Nam
Phòng kiểm toán các đơn
vị chức năng
và công ty con
Phòng kiểm toán ngân hàng bán buôn
Từ ngày 12/01/2007, Phòng Kiểm tra kiểm toán nội bộ đổi tên thành Phòng Kiểm toán nội bộ, trực thuộc Ban Kiểm soát (do Đại hội đồng cổ đông bầu ra) Tổ chức nhân sự tại các chi nhánh vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên toàn bộ nhân viên trực thuộc Phòng KTNB hội sở (các chế độ lương, thưởng tính theo Hội sở)
Mô hình này tuy đảm bảo việc kiểm tra kịp thời và thường xuyên hoạt động của các đơn vị nhưng qua thực tế hoạt động đã bộc lộ một số nhược điểm Thứ nhất, tính độc lập của các KTVNB tại chi nhánh bị ảnh hưởng do làm việc trong môi trường gần gũi nên khó chỉ ra những sai phạm tại đơn vị, các vấn đề được báo cáo thường chậm trễ khi sự việc đã trở lên nghiêm trong, xảy ra hậu quả Thứ hai, các KTVNB làm việc độc lập dẫn tới thiếu cơ chế phối hợp, kiểm tra cũng như trao đổi nghiệp vụ giữa phòng kiểm toán nội bộ
và KTVNB tại đơn vị
2.2.1.2 Giai đoạn năm 2009-2013
Từ tháng 01/2009, Phòng KTNB rút bớt các KTVNB tại chi nhánh, tổ chức tập trung thành hai khu vực là miền Bắc (phụ trách kiểm toán các đơn vị
từ Đà Nẵng trở ra) và Miền Nam (phụ trách kiểm toán các đơn vị từ Bình Định trở vào) với đầu mối quản lý thống nhất tại hội sở chính Tuy nhiên vẫn
có sự kết hợp nhân sự giữa hai khu vực khi thực hiện kiểm toán
Hình 2.3 Mô hình tổ chức Phòng KTNB – VPBank hiện nay
Nguồn: Quy chế tổ chức và hoạt động của khối kiểm toán nội bộ
Trang 3731
Trong quá trình hoạt động, để phù hợp với sự phát triển cả về quy mô lẫn phương thức hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn chuyển đổi mô hình hoạt động, Phòng KTNB đã bổ sung nhân sự và cơ cấu lại tổ chức thành một khối độc lập gồm 4 phòng chức năng theo hướng chuyên môn hóa, nâng cao chất lượng kiểm toán toàn diện tất cả các lĩnh vực của ngân hàng
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Kiểm toán nội bộ - VPBank
Theo quy chế kiểm toán nội bộ ban hành theo quyết định số 55/2009/QĐ-HĐQT, chức năng nhiệm của bộ phận KTNB tại VPBank được quy định cụ thể như sau:
- Lập kế hoạch kiểm toán hàng năm bao gồm: kế hoạch về hoạt động kiểm toán, kế hoạch về ngân sách, kế hoạch về tuyển dụng và đào tạo nhân sự
và đảm bảo thực hiện theo kế hoạch đã được phê duyệt, đảm bảo chất lượng, hiệu quả
- Kiểm tra, rà soát, đánh giá một cách độc lập, khách quan đối với các đơn vị, bộ phận, các hoạt động của VPBank (cơ chế, chính sách, thủ tục, quy trình) dựa trên mức độ rủi ro (cao, trung bình, thấp) và mức độ ảnh hưởng đến hoạt động của VPBank Đối với những vấn đề có thể có ảnh hưởng xấu đến hoạt động của VPBank, KTNB cần kịp thời thông báo về bản chất và ảnh hưởng của chứng và đưa ra những kiến nghị thiết thực nhằm ngăn ngừa, khắc phục vấn đề này
- Kiến nghị các biện pháp sửa chữa, khắc phục sai sót; kiến nghị xử lý những vi phạm; đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
- Đánh giá mức độ phù hợp của các hoạt động nhằm ngăn ngừa, khắc phục những điểm yếu đã được báo cáo; các hoạt động nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ; và theo dõi cho đến khi các vấn đề này được
xử lý thỏa đáng
Trang 3832
- Lập báo cáo kiểm toán; thông báo và đệ trình kịp thời các kết quả KTNB cho các bên hữu quan trong và ngoài tổ chức tin dụng theo đúng các chính sách, quy trình, quy định của VPBank và theo pháp luật
- Phát triển, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện phương pháp KTNB và phạm vị hoạt động của KTNB để có thể cập nhật, theo kịp sự phát triển của hoạt động ngân hàng
- Thực hiện quy trình đảm bảo chất lượng công tác KTNB
- Thiết lập hồ sơ về trình độ năng lực và các yêu cầu cần thiết đối với KTVNB để làm cơ sở tuyển dụng, đề bạt, luân chuyển cán bộ và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; Lập kế hoạch và tổ chức đào tạo một cách liên tục nhằm nâng cao và đảm bảo năng lực chuyên môn cho nhân viên kiểm toán nội bộ
- Duy trì việc tham vấn, trao đổi thường xuyên với các tổ chức kiểm toán độc lập, thanh tra NHNN nhằm đảm bảo hợp tác có hiệu quả; là đơn vị điều phối, phối hợp với các cơ quan bên ngoài đối với những công việc có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của KTNB
2.2.3 Thực trạng kiểm toán hoạt động tín dụng tại VPBank
Nghiên cứu tình huống kiểm toán hoạt động tín dụng tại chi nhánh X của ngân hàng VPBank năm 2013
Bước 1: Thu thập thông tin và lập kế hoạch chung
Thu thập thông tin và dữ liệu liên quan
- Thông tin chung về Chi nhánh X: chi nhánh được phép thực hiện các nghiệp vụ về huy động, cho vay và các dịch vụ ngân hàng khác Hiện tại chi nhánh có 7 phòng giao dịch và chi nhánh cấp 1 với tổng dư nợ cho vay là 776
tỷ đồng
- Thông tin liên quan đến thanh tra, kiểm tra đã được thực hiện đối với Chi nhánh X trong lần kiểm toán gần nhất: trong báo cáo kiểm toán năm 2012
Trang 3933
phát hiện một số vi phạm trong hoạt động tín dụng như: cho vay vượt thẩm quyền, thiếu chứng từ chứng minh mục đích vay, chưa nhập kho TSBĐ…
Lập kế hoạch kiểm toán chung
- Mục tiêu kiểm toán: kiểm toán toàn diện hoạt động tín dụng của Chi nhánh X; xem xét đánh giá chất lượng tín dụng thông qua kiểm tra số liệu về
nợ quá hạn tại chi nhánh; kiểm tra tài sản bảo đảm đặc biệt là đối với những TSBĐ đặc biệt như hàng hóa, máy móc; kiểm tra việc khắc phục những sai phạm trong các báo cáo trước đây
- Phạm vi kiểm toán: chọn mẫu các hoạt động tín dụng trong giai đoạn
từ 01/12/2012 đến 30/11/2013
- Số lượng nhân sự dự kiến là 7 thành viên phụ trách phân tích và kiểm tra các mảng nghiệp vụ khác nhau
Bước 2: Phân tích dữ liệu, chọn mẫu và lập chương trình chi tiết
Cơ sở dữ liệu phục vụ cho KTNB hoạt động tín dụng tại các đơn vị được khai thác trên phần mềm T24 bao gồm:
- Sao kê tín dụng phản ánh tổng hợp các chỉ tiêu liên quan đến các khoản vay như: tên khách hàng, số hợp đồng, loại tiền vay và giải ngân, mục đích vay, số tiền giải ngân ban đầu, ngày giải ngân, ngày đáo hạn, dư nợ trong hạn, dư nợ quá hạn, lãi quá hạn, nhóm nợ, lãi suất cho vay, kỳ hạn cho vay, mục đích vay
- Sao kê tài sản bảo đảm phản ánh các chỉ tiêu liên quan như: chủ sở hữu tài sản, loại tài sản, mô tả khái quát về tài sản, ngày ký hợp đồng thế chấp
và nhập kho tài sản bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm
Trang 4034
Hình 2.4 Phần mềm hệ thống T24 của VPBank
(Nguồn: Hướng dẫn sử dụng phần mềm T24) Phân tích cơ cấu nợ tổng thế dư nợ tại chi nhánh
Tại thời điểm 30/11/2013 dư nợ của chi nhánh X là 766 tỷ đồng, bao gồm 519 khách hàng cá nhân và tổ chức Như vậy dư nợ trung bình của mỗi khách hàng là khoảng 1.5 tỷ đồng