Một số quy định của Bộ luật hình sự hiện hành tỏ ra không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay cũng như chưađáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội ph
Trang 2Nhận xét của giáo viên
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU
LÍ DO CHON ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng phát triển thì càng có nhiều điều phức tạp xảy ra xung quanhchúng ta, làm ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của nhiều người Mộttrong nhiều điều phức tạp đó là chiếm đoạt tài sản của người khác - là một vi phạmpháp luật hình sự trong lĩnh vực liên quan đến quyền sở hữu Trước khi thực hiện
đề tài này, kiến thức về luật của chúng em còn rất mơ hồ, chưa hiểu về nhữngnguyên tắc, về những điều lệ của luật do nhà nước Việt Nam ban hành Khi đượcgiảng viên giao cho đề tài này, chúng em nhận thấy đây là một đề tài hay vì nó gầngũi với cuộc sống hàng ngày của chúng ta Vậy nên chúng em quyết tâm thực hiệnthành công đề tài nay, nhằm năng cao kiến thức pháp luật cho bản thân cũng nhưcho tất cả các bạn chưa hiểu rỏ về luật
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Hoàn thành nhiệm vụ do giảng viên đề ra
Nhóm có tinh thần tập thể trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về các điều luật liênquan đến quyền sở hữu
Giúp cho các thành viên trong nhóm, các bạn trong lớp có được kiến thức,hiểuđược luật, chấp hành luật khi nghe nhóm trình bày đề tài này
Giúp cho các bạn sinh viên trường ĐHCN và các trường khác hiểu rõ quyền sở hữu
là gì? Để khi ra trường có nhận thức đúng, biết và áp dụng luật vào công việc củamình
Cho mọi người biết rằng:” Luật là rất quan trọng và cần thiết” trong đời sống Vì
Trang 4II PHẦN NỘI DUNG
2.2 LÍ LUẬN
2.2.1 KHÁI NIỆM VI PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng nguy hiểm, tác động tiêu cực và làm mất tính ổnđịnh xã hội Tính nguy hiểm thể hiện ở chỗ nó xâm hại tới lợi ích hợp pháp chính đángcủa cá nhân, tổ chức, xã hội…
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi cho chủ thể có năng lực trách nhiệmpháp lí thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
Vi phạm pháp luật hình sự mang tính nguy hiểm cho xã hội ở mức cao nhất, xâm phạmnhững quan hệ xã hội quan trọng nhất trong hệ thống các quan hệ xã hội được pháp luật
bảo vệ.
2.2.2 QUYỀN SỞ HỮU
2.2.2.1 Khái niệm quyền sở hữu
Để tìm hiểu về quyền sở hữu, trước hết phải hiểu được khái niệm về sở hữu Như chúng
ta đã biết, điều kiện cần thiết cho con người tồn tại và phát triển là quá trình sản xuấtcủa cải vật chất Trong quá trình sản xuất của cải vật chất thì con người đã tham gia vàoquan hệ xã hội – quan hệ sản xuất, đồng thời con người cũng chiếm hữu của cải, vậtchất đó để phục vụ cho cuộc sống của mình và phục vụ cho quá trình sản xuất Từ đóxuất hiện sở hữu
sở hữu là quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu, sử dụng của cải vật chấttrong xã hội Sở hữu xuất hiện trong quá trình lao động sản xuất của con người, nó luôntồn tại trong bất kỳ chế độ xã hội nào, song ở các chế độ xã hội khác nhau thì sở hữumang đặc điểm và nội dung khác nhau
Trang 5 Trong xã hội có giai cấp, để bảo vệ và củng cố quyền chiếm hữu của cải vật chất trong
xã hội, giai cấp thống trị thông qua nhà nước, ban hành các quy phạm pháp luật đểđiều chỉnh chế độ sở hữu Vì thế, nói đến quyền sở hữu tức là nói đến hệ thống quyphạm pháp luật do nhà nước ban hành để ghi nhận và bảo vệ quan hệ sỡ hữu nhằm
phục vụ lợi ích giai cấp thống trị.
Luật pháp là ý chí của giai cấp thống trị được đưa lên thành luật, cho nên giai cấpthống trị muốn biến ý chí của mình về việc chiếm hữu vật chất nói chung và tư liệu sảnxuất nói riêng thành quy định bắt buộc đối với toàn dân bằng cách đưa ý chí đó thànhcác quy phạm pháp luật Thông qua việc ban hành các quy phạm pháp luật, giai cấothống trị đã hợp pháp hóa quan hệ sở hữu trong xã hội Các quy phạm pháp luật chonhà nước ban hành không chỉ ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy quan hệ sở hữu phát triển
mà còn ghi nhận quyền hạn của chủ sở hữu đối với tài sản của họ
Quyền sở hữu
Về mặt khách quan, là hệ thống các quy phạm pháp luật do nha nước ban hành,nhằm ghi nhận, củng cố và bảo vệ quan hệ sở hữu trong một xã hội
Về mặt chủ quan, quyền sở hữu là quyền hạn được quy định theo pháp luật của chủ
sở hữu về việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với một tài sản nhất định
Quyền sở hữu là một phạm trù mang tính chất lịch sử và tính chất giai cấp nhất định
Vì quyền sở hữu chỉ xuất hiện khi nhà nước ra đời, khi giai cấp thống trị thấy cấp báchphải đưa ý chí của mình về quan hệ sở hữu thành pháp luật để bảo vệ chế độ kinh tế vàduy trì nền thống trị của mình
Người có quyền sở hữu đối với một tài sản gọi là chủ sở hữu của tài sản đó Chủ sởhữu là người làm chủ đối với tài sản, có mọi quyền hạn liên quan đến tài sản đó Chủ
sở hữu có thể là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác Chủ sở hữu đối với một tàisản có thể là một người hoặc hai người trở lên Nếu có hai chủ sở hữu trở lên đối vớimột tài sản thì gọi là cộng hữu hay sở hữu chung
2.2.2.2 Nội dung của quyền sở hữu
Trang 6 Nội dung quyền sở hữu là toàn bộ quyền hạn của chủ sở hữu đối với tài sản được phápluật quy định Nội dung quyền sở hữu bao gồm:
+ quyền chiếm hữu
+ quyền sử dụng
+ quyền định đoạt
Quyền chiếm hữu : là quyền nắm giữ, quản lý tài sản ( Điều 182 Bộ luật dân sự năm
2005 ) Chủ sở hữu là người thực hiện quyền chiếm hữu, tức là tự mình nắm giữ, quản
lí tài sản thuộc sở hữu của mình Khi được sự đồng ý của chủ sở hữ, người khác cũng
có thể thực hiện quyền chiếm hữu tài sản
Quyền chiếm hữu bao gồm:
pháp luật, chẳng hạn như mua tài sản, hưởng thừa kế, …
của pháp luật, như trộm, cướp, lừa gạt chiếm đoạt tài sản,…
luật, nhưng người chiếm hữu không biết và không bao giời biết được việc chiếm hữu
là trái pháp luật ( điếu 189 bộ luật dân sự năm 2005) Ví dụ : việc mua một chiếc xeđạp do người ăn trộm bán,
có căn cứ pháp luật và người chiếm hữu biết hoặc cần phải biết việc chiếm hữu củamình là trái pháp luật VD : trộm cắp,…
Quyền sử dụng : là quyền khai thác công dụng của tài sản, dùng tài sản vào mục đích đã
định và hưởng hoa lợi, lợi tức và kết quả do tài sản mang lại VD : chủ xe máy dùng xe
đó đi làm việc, nhà máy dùng máy móc để sản xuất ra sản phẩm,… Chủ sở hữu là người
có quyền sử dụng và trực tiếp thực hiện quyền sử dụng Người không phải là chủ sở hữu
Trang 7cũng có thể có quyền sử dụng khi chủ sở hữu đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật.
Sử dụng tài sản cũng có thể chia ra sử dụng hợp pháp và sử dụng bất hợp pháp
Quyền định đoạt : là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người khác hoặc từ
bỏ quyền sở hữu tài sản đó (điều 195 Bộ luật Dân sự năm 2005) Như vậy, quyền địnhđoạt chính là quyền quyết định số phận của tài sản về mặt pháp lý cũng như trong thực
tế Về nguyên tắc, quyền định đoạt thuộc về chủ sở hữu, việc thực hiện quyền định đoạt
sẽ dẫn đến sự thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp lý
Quyền định đoạt là quyền quan trọng nhất trong nội dung quyền sỡ hữu vì nó quyết định
số phận pháp lý và số phận thực tế của tài sản
2.2.2.3 Các hình thức sở hữu
Quyền sở hữu cá nhân
Quyền sở hữu tập thể
Quyền sở hữu chung
Quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu trí tuệ
Sở hữu của Tổ chức chính trị Tổ chức chính trị xã hội
Sở Hữu của Tổ chức Chính trị Xã hội - Nghề nghiệp, Tổ chức Xã hội, Tổ chức Xãhội - Nghề nghiệp
Quyền sở hữu cá nhân: tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu
đối với các tư liệu tiêu dùng và sinh hoạt của công nhân Đặc điểm của quyền sở hữu cánhân được quyết định bởi tính chất của sở hữu cá nhân là chỉ được sử dụng để đáp ứng nhucầu sinh hoạt, tiêu dùng chứ , không dùng để kinh doanh
Quyền sở hữu t p thể: ập thể: Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế
Trang 8doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, dân chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi.
Quyền sở hữu chung:
Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản
Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất
Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung.
Quyền sở hữu công nghi p ệp : là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa
lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh khônglành mạnh
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí,nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơquan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật sở hữu trí tuệ hoặccông nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lậptrên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;
Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợppháp tên thương mại đó;
Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có đượcmột cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranhtrong kinh doanh.
Trang 9Sở hữu trí tuệ: là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền
tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối
với giống cây trồng
Sở Hữu của Tổ chức Chính trị, Tổ chức Chính trị - Xã hội : Sở hữu của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là sở hữu của tổ chức đó nhằm thực hiện mục đíchchung quy định trong điều lệ
Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp: Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chungcủa các thành viên được quy định trong điều lệ.
2.2.2.4 Nội dung sửa dổi của văn bản pháp luật
2.2.2.4.1 Sự cần thiết của việc sửa đổi
Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng
12 năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000 là công cụ sắc bén của Nhànước, của nhân dân, đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ nhữngthành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia vàtrật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống vàphòng ngừa tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Kể từ năm 2000 đến nay, Bộ luật hình sự năm 1999 đã góp phần quan trọng vào việcgiữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, qua gần 10 năm thi hành, Bộ luật hình sự năm 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập,hạn chế, đòi hỏi phải sớm khắc phục Một số quy định của Bộ luật hình sự hiện hành tỏ
ra không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay cũng như chưađáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện mới nhất là cácquy định về mức định lượng tối thiểu về giá trị tài sản hoặc giá trị thiệt hại để truy cứu
Trang 10trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản và một số tội phạm khác có liênquan đến tài sản,
Từ những lý do nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự là một đòi hỏi kháchquan và cấp thiết trong điều kiện phát triển về kinh tế và xã hội hiện nay của nước tanhằm góp phần khắc phục một bước những bất cập, hạn chế nói trên
Để đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranhphòng, chống tội phạm, đồng thời, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, ngày 19 tháng 6năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XII đã thông qua Nghị quyết số33/2009/QH12 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự và thi hànhLuật sửa đổi Ngày 29 tháng 6 năm 2009 Chủ tịch nước ký Lệnh công bố Luật này(Lệnh số 13/2009/L- CTN) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự là một bước kế thừa và phát triểnmới nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan và hết sức bức xúc của công tác đấu tranhphòng, chống tội phạm trong tình hình mới
2.2.2.4.1 Nội dung sủa đổi
2.2.2.4.1.1
Bộ luật hình sự hiện hành có 23 điều luật với 76 khoản quy định các mức định lượng vềtrị giá tiền, tài sản hoặc trị giá mức thiệt hại được tính bằng tiền (23 khoản quy định vềđịnh lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự và 53 khoản quy định về địnhlượng ở các khung tăng nặng) Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luậthình sự lần này chỉ điều chỉnh nâng mức định lượng tối thiểu về trị giá tiền, tài sản hoặctrị giá mức thiệt hại được tính bằng tiền để truy cứu trách nhiệm hình sự trong cấu thành
cơ bản của một số tội phạm mà Bộ luật hình sự hiện hành quy định quá thấp (500.000đồng đối với các tội chiếm đoạt tài sản và một số tội phạm khác có liên quan đến tàisản; 1.000.000 đồng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) Cụ thể là điềuchỉnh nâng mức định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tạikhoản 1 của 13 điều luật về các tội chiếm đoạt tài sản và một số tội phạm khác có liênquan đến tài sản, đồng thời, cùng với việc sửa đổi, bổ sung tội trốn thuế (Điều 161),Luật cũng điều chỉnh nâng mức định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sựquy định tại khoản 1 của điều này Như vậy, trong lần sửa đổi, bổ sung này
Trang 11có 14/23 điều luật được điều chỉnh nâng mức định lượng tối thiểu để truy cứu tráchnhiệm hình sự.
Chẳng hạn tội trộm cắp tài sản điều 138 bộ luật hình sự đã được sửa đổi bổ sung nộidung giá trị tài sản bị trộm cắp từ 500.000đ lên 2000.000đ tức là trộm cắp tài sản có giátrị từ 2000.000đ trờ lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng nếu giá trị tài sản dưới2000.000đ mà gây hậu quả nghiêm trọng cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài ra luật mới còn nâng mức định lượng lên 4 -10-100 triệu tương ứng cho các loạitội lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tái sản, trốn thuế (theocác điều 140,141,161 bộ luật hình sự)
2.2.2.4.1.2 Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện một trong các hành vi sau đây, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác:
Hành vi quy định tại khoản 1 các điều 137, 138, 139, 278 và 280 của Bộ luật hình sự màtài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng;
Hành vi quy định tại khoản 1 các điều 279, 283, 289, 290 và 291 của Bộ luật hình sự
mà tài sản phạm tội có giá trị dưới hai triệu đồng;
Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 140 mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới bốn triệuđồng;
Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự mà tài sản bị chiếm giữ tráiphép có giá trị dưới mười triệu đồng;
Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 143 mà thiệt hại có giá trị dưới hai triệu đồng;
Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 161 mà số tiền trốn thuế dưới một trăm triệu đồng;
Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 248 mà số tiền hoặc hiện vật đánh bạc có giá trị dướihai triệu đồng;" ( Khoản 1 Điều 1 của Nghị quyết số 33/2009/QH12 của Quốc hội vềviệc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự)
2.2.2.4.1.2 Phi hình sự hoá đối với một số hành vi phạm tội:
a) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã thu hẹp phạm vi xử lý vềhình sự đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Đối với lĩnh vực này chủyếu áp dụng các biện pháp pháp luật dân sự và hành chính để giải quyết Cụ thể:
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự quy định chỉ xử lý về hình sựđối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với quy mô thương mại
Trang 12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự quy định chỉ xử lý về hình sự đốivới hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến hai đối tượng sở hữucông nghiệp là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý Luật đã phi hình sự hoá hành vi xâm phạmquyền sở hữu công nghiệp đối với các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng côngnghiệp hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác Hơn nữa, luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật hình sự đã điều chỉnh nâng mức phạt tiền đối với tội phạm này
Sửa đổi, bổ sung tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 174) để tạo cơ sởpháp lý cho việc xử lý hình sự ngay đối với những trường hợp mặc dù người vi phạmchưa bị xử lý kỷ luật nhưng hành vi vi phạm đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, đồng thời,quy định hình phạt nghiêm khắc hơn so với quy định hiện hành
b) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã bổ sung tội xâm phạm quyềntác giả, quyền liên quan (Điều 170a) để thay thế Điều 131 của Bộ luật hình sự hiện hànhquy định về tội xâm phạm quyền tác giả
Tương tự như tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Bộ luật hình sự xác định đối với lĩnh vực quyền tác giả và các quyền liên quanthì chủ yếu áp dụng các biện pháp pháp luật dân sự và hành chính để giải quyết Do đó,Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự quy định chỉ xử lý về hình sự đốivới hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan với quy mô thương mại và giớihạn trong hai nhóm hành vi:
Thứ nhất, sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình
Thứ hai, phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bảnghi hình
Như vậy, so với quy định tại Điều 131 của Bộ luật hình sự hiện hành thì điều luật mớinày (Điều 170a) đã thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyềntác giả và các quyền liên quan Điều này cũng phù hợp với yêu cầu của các điều ướcquốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là các hiệp định của Tổ chức Thương mại thếgiới (WTO) và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Tội sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiệnhành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b)
Xét về thực chất thì việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặcthiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cũng là hành vi chiếm đoạt tài sản nhưngvới phương thức thủ đoạn phạm tội mới, tinh xảo hơn liên quan trực tiếp đến việc sử
Trang 13dụng kỹ thuật công nghệ cao Tuy nhiên, có một vấn đề gây tranh cãi là theo quy địnhtại Chương XIV- Các tội xâm phạm sở hữu thì có 07 hình thức chiếm đoạt tài sản(cướp, cướp giật, cưỡng đoạt, trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm, công nhiên chiếmđoạt) Vậy việc sử dụng kỹ thuật công nghệ chiếm đoạt tài sản của người khác như rúttiền của người khác từ máy ATM sẽ thuộc hình thức chiếm đoạt nào trong số nêu trên.Điều này rất quan trọng liên quan đến việc định tội danh.
Trước đây ở các nước cũng đã từng gây ra nhiều sự tranh luận trong việc định tội đốivới hành vi này và để chấm dứt sự tranh luận kéo dài không cần thiết, các nước đi trước
đã lựa chọn giải pháp quy định tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc thiếtbị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác thành một tội danh độc lậpkhông phụ thuộc vào các hình thức chiếm đoạt tiền, tài sản cụ thể Vì vậy, Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã bổ sung tội sử dụng mạng máy tính, mạngviễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là một tộiphạm độc lập nhằm phục vụ kịp thời cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm
Cùng với việc thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Quốchội cũng đã thông qua Nghị quyết về việc thi hành Luật này (Nghị quyết số33/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009) Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Bộ luật hình sự được công bố, không xử lý về hình sự đối với người thực hiệnmột trong 07 nhóm hành vi sau đây, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác:
Các hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 các điều 137, 138, 139, 278 và 280của Bộ luật hình sự mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng
Hành vi quy định tại khoản 1 các điều 279, 283, 289, 290 và 291 của Bộ luật hình sự màtài sản phạm tội có giá trị dưới hai triệu đồng
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 140 của Bộluật hình sự mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới bốn triệu đồng
Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự
mà tài sản bị chiếm giữ trái phép có giá trị dưới mười triệu đồng
Hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộluật hình sự mà thiệt hại có giá trị dưới hai triệu đồng;
Hành vi trốn thuế quy định tại khoản 1 Điều 161 của Bộ luật hình sự mà số tiền trốnthuế dưới một trăm triệu đồng
Trang 142.3.1 Thực trạng và ví dụ
2.3.1.1 Thực trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trítuệ trở nên đặc biệt quan trọng và trở thành mối quan tâm hàng đầu trong quan hệ kinh
tế quốc tế Từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO), vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống sản xuất, buôn bán hànggiả ngày càng được quan tâm hơn Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, tình trạng xâmphạm sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay vẫn khá phổ biến và ngày càng phức tạp, đòihỏi phải tiếp tục có những giải pháp mạnh mẽ và có hiệu quả hơn
Theo một khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm Mỹ, có thể xem vi phạm bảnquyền ở Việt Nam là cao nhất thế giới Trong lĩnh vực điện ảnh, tỷ lệ đó là 100%, viphạm về ứng dụng phần mềm là 95%, những vi phạm về quyền sở hữu công nghiệpkhác đang có xu hướng gia tăng Đây cũng là vấn đề nổi cộm trong quan hệ giữa ViệtNam với nhiều nước Còn ông Nguyễn Thanh Hồng, chuyên viên phụ trách giải quyếtkhiếu nại của Cục SHTT khẳng định, hết 90% pin các loại đang lưu hành trên thịtrường, từ pin tiểu đến pin đại, hay pin cao cấp, đều là hàng giả
Ông Nguyễn Đức Thịnh - Cục trưởng Cục Quản lý thị trường cho biết: “Tuy đã camkết nhưng thực tế Việt Nam khó thực hiện hiệu quả” Ông Đinh Việt Hùng, Cục phóCục SHTT, cũng băn khoăn: “số đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ngày càng tăng vàviệc giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm quyền sở hữu công nghiệp ngày càng kiênquyết nhưng tiêu chí “hiệu quả” của công việc này vẫn chưa nhiều” Đi tìm nguyênnhân của những tồn tại trên, ông Đỗ Khắc Chiến, Cục phó Cục Bản quyền, cho biết:
“Luật của các nước rất rõ ràng, còn của ta thì tuy có rất nhiều quy định nhưng là quyđịnh chung chung Tìm hiểu một vấn đề, có khi phải dẫn ra hàng trăm văn bản, cái nàychồng chéo cái kia và không theo thông lệ quốc tế Đó là chưa kể vấn đề mấu chốt:con người vận dụng những văn bản đó như thế nào Trong khi nhân sự thì không đượcđào tạo bài bản, văn bản thì chồng chéo và bất cập, làm sao để hội nhập?” Dẫn chứng
về văn bản bất cập, ông Nguyễn Quốc Khánh, Giám đốc Công ty TNHH Cao su nhựaLúa Vàng, nêu: “Quy định của Nhà nước về cường lực đối với vỏ xe 1.900 là hoàn
Trang 15toàn vô lý Nếu chúng tôi làm đúng tiêu chuẩn này thì người tiêu dùng (NTD) sẽ bị hấtlên phía trước và văng ra ngoài mỗi khi thắng xe Tương tự, độ kháng mài mòn của vỏ
xe được quy định là 650 Chúng tôi áp dụng công nghệ của Nhật thì chỉ là 180 Sảnphẩm của Lúa Vàng gửi sang Singapore để đăng ký chất lượng sản phẩm thì lúc nàocũng đạt tiêu chuẩn, được NTD trong và ngoài nước ưa chuộng Nhưng gửi sản phẩmlên Trung tâm 3 của Việt Nam thì lúc nào cũng không đạt”
Một nhãn hiệu bắt đầu nổi tiếng, có giá trị thì ngay lập tức sẽ bị cạnh tranh bằng nhữnghành vi không lành mạnh, bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ về thương hiệu, nhãnmác, kiểu dáng sản phẩm Điều này ngày càng trở nên phổ biến trong hội nhập quốc tếnhưng xử lý thế nào hiện là vấn đề rất nan giải
Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hànggiả và xâm phạm sở hữu trí tuệ của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-2007), lực lượngcảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát hiện 1092 vụ sản xuất,buôn bán hàng giả Ngoài ra mỗi năm, các cơ quan chức năng đã phát hiện hàng ngàn
vụ sản xuất, buôn bán hàng giả và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Trong năm 2006,thanh tra chuyên ngành văn hoá – thông tin tiến hành kiểm tra 20.414 cơ sở kinhdoanh dịch vụ văn hoá, phát hiện 5.647 cơ sở vi phạm; đã cảnh cáo 519 cơ sở; đình chỉhoạt động của 289 cơ sở; tạm giữ giấy phép kinh doanh của 160 cơ sở; chuyển xử lýhình sự 09 trường hợp; xử phạt hành chính 10.891.780.000 đồng Thanh tra chuyênngành khoa học và công nghệ tiến hành thanh tra, kiểm tra 1.536 cơ sở về chấp hànhcác quy định sở hữu công nghiệp, xâm phạm quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp
và cạnh tranh không lành mạnh đã phát hiện 107 cơ sở sai phạm, buộc tiêu huỷ và loạibỏ các yếu tố vi phạm khỏi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và phạt tiền 224.900.000đồng Thanh tra Bộ Văn hoá – Thông tin tiến hành kiểm tra và phát hiện nhiều cơ sởkinh doanh máy tính lắp đặt, xây dựng các trang Web, cung cấp cho khách hàng cácphần mềm Windows, Micrrosoft office, Vietkey… vi phạm pháp luật về bản quyền.Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay được thực hiện bằng nhiềuphương thức, thủ đoạn mới như áp dụng công nghệ cao, sử dụng các thiết bị hiện đại
để sản xuất hàng hoá làm cho người tiêu dùng và cơ quan quản lý thị trường khó pháthiện thật /giả Các hành vi vi phạm này ngày càng nguy hiểm hơn ở tính chất vi phạm,
Trang 16có tổ chức chặt chẽ không những trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam mà còn mở rộngđối với tổ chức và cá nhân nước ngoài Ví dụ như, hàng năm sản lượng nước mắm PhúQuốc chỉ đạt tối đa 15 triệu lít, nhưng có tới hàng trăm triệu lít nước mắm mang tênPhú Quốc tung ra thị trường.Hoặc Công ty Unilever Việt Nam có thời điểm bị thiệt hại
do hàng nhái, hàng giả và buôn lậu lên tới hàng chục triệu USD, trong đó đã xác địnhđược 90% hàng giả theo các nhãn hàng của Unilever là có xuất xứ từ nước ngoài.Nhóm tội phạm thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ có đặc điểm rất phức tạp vì chủ thể củatội phạm hầu hết là những người có điều kiện kinh tế, trình độ chuyên môn, kỹ thuật,tay nghề cao, am hiểu những lĩnh vực mình đang quản lý, một số người còn có chức
vụ, quyền hạn nhất định Bên cạnh đó, sự bùng nổ của khoa học, công nghệ đã tạonhiều thiết bị, công cụ, phương tiện phạm tội ngày càng tinh vi nên rất khó phát hiện.Các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ đã gây ra hoặc đe dọa đến thiệt hại nền kinh tế của cảnước cũng như từng lĩnh vực, từng ngành, ảnh hưởng đến tài sản, sức khoẻ và tínhmạng con người, tác động đến với cả cộng đồng, triệt tiêu sức sáng tạo và khiến giớiđầu tư e ngại
Tuy nhiên, việc xử lý tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn gặp nhiều khó khăn vàbất cập Các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ xảy ra ngày một gia tăng nhiều hơn nhưngkhó bị phát hiện và khi bị phát hiện thì thường chỉ bị xử lý bằng các biện pháp dân sựhoặc hành chính Điều này cho thấy, công tác đấu tranh phòng chống tội xâm phạm sởhữu trí tuệ hiện còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo quyền sở hữu trítuệ một cách hiệu quả trước các hành vi xâm phạm ngày một gia tăng và phức tạp,cũng như trước các yêu cầu cấp thiết khi Việt Nam tham gia vào các điều ước quốc tế
về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập thương mại quốc tế của mình.Nguyên nhân Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng vi phạm sở hữu trítuệ ngày một gia tăng Thứ nhất, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm sởhữu trí tuệ luôn tạo ra “siêu lợi nhuận” nên rất có sức hút, lôi kéo được nhiều đốitượng tham gia, kể cả những người lao động thuần túy, trên nhiều địa bàn và nhiềulĩnh vực khác nhau
Thứ hai, trong quá trình hội nhập, ngoài những tác động tích cực góp phần làm nênnhững kết quả đáng kể trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, còn phát