Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đì
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI: “Tìm hiểu về việc xác định tài sản chung của vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.”
Nhóm học phần Giảng viên HD Sinh viên thực hiện
Mã số sinh viên
: 010400500415 : Ngô Thùy Dung : Trịnh Thị Dung : 21H4020037
TP Hồ Chí Minh, Ngày 26 tháng 12 năm 2020
Trang 21 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bài tiểu luận 4
CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 5
1.1 Những khái niệm cơ bản 5
1.2 Xác định tài sản chung 6
1.3 Quyền vợ chồng đối với tài sản chung 7
1.4 Nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung 8
CHƯƠNG 2: PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 9
2.1 Ly hôn và chế độ tài sản luật định 9
2.2 Ly hôn và chế độ tài sản thỏa thuận 11
2.3 Vợ, chồng chết và chế độ tài sản luật định 12
2.4 Vợ, chồng chết và chế độ tài sản thỏa thuận 14
2.5 Vợ, chồng bị tòa án tuyên bố là đã chết và chế độ tài sản luật định 14
2.6 Vợ, chồng bị tòa án tuyên bố là đã chết và chế độ tài sản thỏa thuận 15
KẾT LUẬN 16
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Những yếu tố chính làm nên hạnh phúc ở đời là có việc gì đó để làm, có ai đó để yêu và có điều gì đó để hi vọng” ( C.Fericberg ) Tình yêu làm người ta buồn chán, mất ăn mất ngủ vì tình yêu rồi người ta lại hân hoan sung sướng vì tình yêu và để giấc mộng vàng thành hiện thực người ta kết hôn và sống với nhau dưới một mái nhà, đó được gọi là gia đình Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thế xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng luôn
là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất, tinh thần cho gia đình Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình Khi hôn nhân chấm dứt cũng là lúc phần tài sản này được phân chia
Quan điểm cá nhân tôi cho rằng, vấn đề chia tài sản chung giữa vợ và chồng là một vấn đề khá phức tạp trong khoa học pháp lý, cũng như thực tiễn áp dụng luật
Dưới góc độ khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu và xây dựng luật luôn phải đi tìm giải pháp để cân bằng về lợi ích, đảm báo tính hài hòa về mặt tình cảm giữa vợ chồng
và các thành viên khác có liên quan khi quan hệ hôn nhân chấm dứt
Dưới góc độ thực tiễn áp dụng luật, những quy định không rõ ràng không phù hợp của các văn bản luật sẽ làm khó người áp dụng pháp luật
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời đã có những quy định mới về quan hệ tài sản vợ chồng, đó là chế độ tài sản thỏa thuận Điều này đã tạo ra những thay đổi lớn về cách phân chia tài sản chung giữa vợ, chồng khi chấm dứt quan hệ hôn nhân như trước
Trang 4Chính vì điều đó tôi chọn đề tài “Tìm hiểu về việc xác định tài sản chung của
vợ chồng và phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.” Làm đề tài kết thúc bộ
môn Pháp luật đại cương.
2 Tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu chế độ tài sản chung của vợ chồng và việc phân chia tài sản khi ly hôn là đề tài nghiên cứu khoa học đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh và địa phương khác nhau như:
- Nguyễn Thị Kim Dung (2014), “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
trong pháp luật Việt Nam” luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội”.
- Lê Thị Hà (2016), “Hiệu lực của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo
pháp luật Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội”.
- Trương Thị Lan (2016) “Chế độ tài sản pháp định theo Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2014”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội”.
- Lê Đình Nghị, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2014 ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã
hội
- Đào Thanh Huyền (2017), “Giải quyết tranh chấp tài sản vợ chồng trong các vụ
án ly hôn, từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương”, Luận án tiến sĩ, Học
viện khoa học xã hội”
Ngoài những tác giả trên, còn nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu về “Chế độ tài sản của vợ chồng” dưới nhiều góc độ khoa học và nghiên cứu ở nhiều địa phương khác nhau Có thể thấy, các công trình nghiên cứu trên của các tác giả về cơ bản đã tiếp cận chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng dưới nhiều góc độ lý luận khoa học và thực tiễn, nghiên cứu thực trạng
ở nhiều địa phương là khác nhau Mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận vấn đề ở các khía cạnh khác nhau, nghiên cứu về lý luận, thực tiễn, phân tích đánh giá thực trạng và có những kiến nghị, giải pháp khác nhau phù hợp với từng thời điểm và từng địa phương
Hiện nay tình hình nghiên cứu chế định tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình là rất cần thiết, góp phần đánh giá được hiệu quả và tầm quan trọng của pháp Luật
Trang 5Hôn nhân và Gia đình 2014 trong thực tiễn áp dụng, ngoài ra, nghiên cứu còn làm rõ những vấn đề tồn tại bất cập hiện nay về chế độ tài sản của vợ chồng Từ đó đánh giá thực trạng, nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả
áp dụng pháp luật
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chế độ Hôn nhân và Gia đình trên tinh thần của Hiến pháp 2013
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Được sử dụng để nghiên cứu trong các phần của Luận văn, phương pháp này cho phép nghiên cứu rõ các vấn đề lý luận của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng nhằm tham khảo và so sánh các điểm giống
và khác nhau từ đó tìm ra những ưu điểm và hạn chế
- Phương pháp thống kê và phân tích số liệu thống kê: dựa trên số liệu thống kê của Tòa án nhân nhân Tối cao qua các báo cáo trong công tác xét xử và giải quyết các
vụ việc và vụ án lên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng
- Phương pháp tư vấn chuyên gia: trao đổi và lấy ý kiến tư vấn sau đó chọn lọc và nghiên cứu
- Phương pháp tham khảo các tài liệu như: sách, báo, bài viết, tạp chí, tra cứu internet
- Phương pháp đưa ra kết luận
4 Nội dung nghiên cứu
Luận văn là cơ sở nghiên cứu khoa học và pháp lý để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn chế độ tài sản của vợ chồng hiện nay Phân tích và làm rõ các khái niệm, nội dung
cơ bản, các đặc điểm, ý nghĩa các quy định pháp luật, quá trình hình thành và phát triển, các yếu tố tác động đến quy định pháp luật và thực hiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng hiện nay Phân tích và làm rõ các quy định pháp luật trong Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định về chế độ tài sản của vợ chồng hiện nay để làm cơ sở đánh giá hiệu
Trang 6quả của Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghiên cứu tình hình thực tiễn hiện nay của chế định tài sản vợ chồng để chỉ ra thực trạng, tìm ra nguyên nhân của những khó khăn vướng mắc, từ đó kiến nghị những giải pháp tích cực nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bài tiểu luận
Luận văn có ý nghĩa to lớn góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận khoa học về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định luật Hôn nhân và Gia đình Từ đó, có cơ sở khoa học
để đi sâu nghiên cứu các nội dung của vấn đề, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật - Luận văn cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thực tiễn áp dụng pháp luật - Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu chuyên sâu chế độ tài sản của
vợ chồng, dùng làm tài liệu để giảng dạy và cơ sở để kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật
6 Kết cấu của tiểu luận
Cấu trúc của Luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn được thiết kế thành hai chương như sau:
Chương 1:Xác định tài sản chung của vợ chồng
Chương 2: Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi li hôn
Trang 7CHƯƠNG 1:
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm tài sản
Tài sản đóng vai trò quan trọng trong mọi mối quan hệ xã hội nói chung và quan
hệ pháp luật nói riêng, là trung tâm trong mọi quan hệ pháp luật dân sự Vì vậy, trong xã hội tài sản được xem là một dạng vật chất có giá trị và có tầm ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các mối quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật Theo từ điển Luật học “Tài sản là của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất và tiêu dùng”.Theo BLDS 2015 thì tài sản được quy định như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá trị và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai”.Từ những khái niệm trên thì ta có thể thấy khái niệm tài sản nói chung là ám chỉ vật chất có giá trị đối với con người, đối với hoạt động sản xuất, đối với sự phát triển của xã hội Khái niệm tài sản là một khái niệm đa dạng và phức tạp về loại tài sản, giá trị tài sản, hình thức của tài sản Vì vậy, khái niệm tài sản cần phải được nghiên cứu và làm rõ trước khi đưa ra khái niệm về tài sản chung của vợ chồng
1.1.2 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản
chung của vợ chồng bao gồm:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
Trang 81.2 Xác định tài sản chung
Căn cứ để xác lập tài sản chung của vợ chồng trước hết là phải dựa trên thời kì hôn nhân của vợ chồng :“ Thời kì hôn nhân là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại Thời kì hôn nhân bắt đầu từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên chết hoặc ly hôn” Luật quy định những tài sản được vợ chồng tạo ra “trong thời kì hôn nhân” mới được coi là tài sản chung của vợ chồng
Theo đó việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh của tài sản Cụ thể tài sản của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kì hôn nhân Đây là tài sản chủ yếu quan trọng đối với khối tài sản được gọi là tài sản chung của vợ chồng, bởi bản chất của cuộc sống chung vợ chồng là cùng nhau gánh vác mọi công việc gia đình, tạo ra tài sản để đáp ứng mọi nhu cầu tinh thần, vật chất của gia đình mình Do tính chất của cuộc sống chung vợ chồng, tài sản chung vợ chồng không nhất thiết phải là tài sản do hai
vợ chồng cùng tạo ra trong thời kì hôn nhân, mà chỉ cần vợ hoặc chồng tạo ra trong thời
kì hôn nhân cũng sẽ là tài sản chung của vợ chồng Tài sản do vợ, chồng tạo ra có thể là
tự tay vợ hoặc chồng tạo ra phục vụ cho nhu cầu gia đình Hiểu theo nghĩa rộng tài sản do
vợ chồng tạo ra không chỉ là những tài sản do chính tay vợ hoặc chồng tạo ra mà còn là tài sản vợ chồng bỏ tiền vàng, công sức để tạo ra Trong cuộc sống vợ, chồng có thể tham gia lao động sản xuất kinh doanh để tạo ra tài sản, nhưng đó phải là lao động hợp pháp Việc các bên thu nhập cao hay thấp không phải là căn cứ để luật phân định công sức đóng góp của các bên vợ chồng Như vậy dù vợ chồng ở nhiều ngành nghề khác nhau, mức thu nhập khác nhau, song mọi thu nhập từ lao động nghề nghiệp, sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật đều là tài sản chung
Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân có thể là: tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng sổ xố hoặc tài sản mà vợ, chồng có được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự
Các tài sản mà vợ, chồng được tặng cho, choc hung hoặc thừa kế chung là tài sản chung của vợ chồng Đây là loại tài sản chung của vợ chồng có nguồn gốc đặc biệt là “tặng cho” Tài sản này thường không nhiều tuy vậy nó mang lại ý nghĩa xã hội sâu sắc,
Trang 9thể hiện sự đùm bọc, che chở yêu thương giữa người thân, bạn bè Ngoài ra vợ chồng còn được nhận di sản thừa kế theo di chúc vợ chồng có quyền lợi ngang nhau trong việc hưởng phần di sản bằng nhau khi kế thừa theo pháp luật
Tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc những tài sản mà vợ chồng được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào tài khối tài sản chung
Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ chồng có sau khi kết hôn Quyền sử dụng đất là một loại tài sản mang nét đặc thù riêng Thông thường quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn hoặc đem lại thu nhập chính cho vợ chồng Vì vậy, để tránh những vướng mắc khi giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, Luật hôn nhân và gia đình đã khẳng định quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có dược sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trước khi kết hôn do được thừa kế riêng, tặng cho riêng đương nhiên là tài sản chung trừ khi vợ chồng
có thỏa thuận khác
Như vậy, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu hợp nhất Theo đó, vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người
1.3 Quyền vợ chồng đối với tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”
“Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Quyền bình đẳng của vợ
chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận Trong trường hợp vợ, chồng ủy quyền cho nhau thì người được ủy quyền có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản trong phạm vi được ủy quyền”
Trang 101.4 Nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng có thể hiểu là nghĩa vụ phát sinh khi một hoặc cả hai bên vợ chồng thực hiện hành vi vì lời ích gia đình hoặc nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận vợ chồng Nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng, các thành viên khác của gia đình, bảo đảm nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng, nghĩa
vụ nuôi dưỡng, giáo dục con cái, vợ chồng cần phải tạo lập khối tài sản chung Nhưng nhiều khi tài sản chung của vợ chồng không đủ đáp ứng nhu cầu của gia đình vợ chồng phải vay mượn tài sản của người khác Đó chính là các khoản nợ mà vợ chồng có nghĩa
vụ phải thanh toán, trả cho chủ nợ Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ chồng phải cùng chịu trách nhiệm với giao dịch mà vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập” Như vậy, nếu một bên vợ, chồng vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì món nợ đó được đảm bảo thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng Cả vợ và chồng đều phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đó cho chủ nợ Ngoài ra theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định còn về nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung như sau: “Giấy đăng kí quyền sở hữu tài sản chung phải đăng kí tên của hai vợ chồng, giao dịch liên quan đến bất động sản , động sản phải đăng kí quyền sỡ hữu, tài sản là nguồn thu nhập chính của gia đình phải có sự thỏa thuận giữa vợ chồng Vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó”