1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM

30 484 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Vốn Mạo Hiểm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 281 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn khởi đầu của chu kỳ kinh doanh tiêu biểu rõ ràng mức độ cao nhất của rủi ro kinh doanh

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Giai đoạn khởi đầu của chu kỳ kinh doanh tiêu biểu rõ ràng mức độ cao nhất của rủi ro kinh doanh Mức độ rủi ro kinh doanh cao có nghĩa là rủi ro tài chính đi kèm nên được giữ càng thấp càng tốt trong suốt giai đoạn này Do đó, khi xét ở góc độ tài chính, cấu trúc vốn của công ty loại này thường có xu hướng không tài trợ bằng nợ bởi lẽ rủi ro kinh doanh được xác định là khá cao nên đã không cho phép công ty gia tăng thêm rủi ro tài chính nếu muốn giữ mức độ rủi ro của công ty ở một mức độ hợp lý Vì vậy, tài trợ bằng vốn cổ phần là thích hợp nhất nhưng phát hành chứng khoán thì không thể thực hiện được do các nhà đầu tư thông thường sẽ không chấp nhận đầu tư vào cổ phần của các công ty này Như vậy, công ty sẽ nhận được nguồn vốn từ đâu cho hoạt động kinh doanh của mình? Và vốn đầu tư mạo hiểm chính

là lời giải cho bài toán nhu cầu tài chính của cácdoanh nghiệp, chỉ có các nhà đầu tư vốn mạo hiểm mới dám chấp nhận đầu tư vào mà thôi

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM

Từ trước đến nay các doanh nghiệp vẫn huy động các nguồn tài chính cần thiết cho hoạt động kinh doanh thông qua việc phát hành cổ phiếu, vay vốn ngân hàng… Những hình thức huy động vốn truyền thống đó cũng đã phát huy vai trò nhất định

Tuy nhiên, trong nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như hiện nay, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cũng năng động và đa dạng hơn Do vậy, các doanh nghiệp cần những phương thức huy động vốn mới nhanh chóng và hiệu quả hơn Và vốn mạo hiểm ra đời từ đó

Mô hình đầu tư mạo hiểm bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 tại Mỹ dành cho các doanh nghiệp công nghệ cao của tư nhân Người Mỹ đã phát triển mạnh mẽ hình thức vốn mạo hiểm, đáp ứng một cách nhanh chóng và hiệu quả cho các dự án công nghệ cao của mình Hiện nay, tại

Mỹ đã hình thành một thị trường vốn mạo hiểm khổng lồ, với hàng chục nghìn nhà đầu tư mạo hiểm thường góp vốn vào các công ty hay quỹ đầu tư mạo hiểm, có khả năng tài trợ cho nhiều dự án, đặc biệt là những dự án nghiên cứu và phát triển công nghệ cao Quỹ đầu tư mạo hiểm đã tạo được dấu ấn của mình trên nền kinh tế Mỹ và thế giới

Sau đó, mô hình đầu tư mạo hiểm đã lan dần ra châu Á và Việt Nam Từ năm 1991, có một số quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động ở nước ta nhưng chỉ đến khi tập đoàn IDG chính thức vào cuộc 2004, thị trường này mới trở nên sôi động

1 Khái niệm:

Vốn mạo hiểm: là khoản đầu tư do những tổ chức chuyên môn hoá rót vốn vào những doanh nghiệp mới thành lập, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, có tốc độ tăng trưởng cao, rủi ro cao và thường sử dụng các công nghệ mới, hiện đại… đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phát triển sản phẩm hoặc tăng trưởng

Vốn mạo hiểm được cung cấp dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó điển hình nổi bật

là việc tài trợ vốn thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm Về bản chất, đó là một quỹ đầu tư nhưng mục tiêu hoạt động của họ là nhắm vào những dự án có độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm những khoản lợi nhuận cao hơn mức thông thường

Tham gia vào quá trình này có 3 đối tượng chủ yếu:

- Nhà đầu tư: người bỏ vốn nhưng không trực tiếp quyết định đầu tư

Trang 3

- Nhà tư bản mạo hiểm- người đứng ra huy động vốn, quản lý nó và trực tiếp quyết định nên đầu tư vào đâu nhằm mục đích sinh lợi tối đa.

- Các đối tượng nhận đầu tư: những công ty trẻ, những dự án về sản phẩm dịch vụ công nghệ mới đầy tiềm năng …

2 Đặc điểm:

- Vốn đầu tư mạo hiểm là một trong 4 loại vốn đầu tư trực tiếp được dùng để đầu tư vào

các công ty có sản phẩm hoặc nguồn thu nhập tiềm năng, nhưng chưa hoặc đang triển khai và thường các công ty này là những DN vừa và nhỏ

- Thông thường, một nhà tư bản mạo hiểm không gắn bó với các đối tượng nhận đầu tư

lâu dài, thường từ 3 đến 5 năm Việc thu hồi vốn đầu tư của hoạt động này cũng có những đặc trưng như là thoát vốn bằng phương thức phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO), bán thương mại hoặc trong trường hợp không khả quan thì phương án mua lại được áp dụng

Qua đó, có thể thấy rằng môi trường hoạt động của vốn mạo hiểm không thể không có mặt của thị trường chứng khoán Do đó, thị trường chứng khoán luôn có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của vốn đầu tư mạo hiểm

- Các quỹ đầu tư tham gia vào việc kiểm soát và điều hành công ty Họ tư vấn ở cấp chiến

lược, hướng dẫn, hỗ trợ các công ty trong quản lý, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường Vì vậy họ có thể gặp rủi ro, bị mất khoản đầu tư nếu công ty bị phá sản Tuy nhiên, điều này ít xảy ra và họ thường đạt tỷ suất lợi nhuận từ 35- 50%

- Do tính chất "mạo hiểm" trong hoạt động đầu tư, các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư mạo

hiểm thường tiến hành rất kỹ các việc sàng lọc hay thẩm định đầu tư nhằm tìm ra các công ty tiềm năng để đầu tư Việc thẩm định đầu tư này được tiến hành trên tất cả các mảng của hoạt động kinh doanh, từ việc xem xét đội ngũ lãnh đạo, công nghệ cho đến mô hình kinh doanh

3. Các giai đoạn thực hiện đầu tư mạo hiểm:

Bước 1: Xem xét và thẩm định các dự án đầu tư Các quỹ đầu tư sẽ tiến hành nhiệm vụ

xem xét và thẩm định dự án đầu tư rất kỹ trước khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp Đó là thẩm định tỉ lệ rủi ro, vốn rút để tái đầu tư, mức độ lợi nhuận… Trên thực tế ở Việt Nam, các quỹ đầu tư mạo hiểm chấp nhận tỉ lệ rủi ro thấp nên thường tìm đến với các doanh nghiệp đã

có tên tuổi và uy tín trên thị trường

Bước 2: Thực hiện đầu tư, rót vốn Sau khi ký hợp đồng hợp tác, các quỹ đầu tư mạo hiểm

tiến hành đầu tư, rót vốn vào doanh nghiệp Quá trình rót vốn chia làm 5 giai đoạn, 3 giai đoạn đầu có mức độ rủi ro cao hơn 2 giai đoạn sau Không chỉ rót vốn, quỹ còn hỗ trợ, tư vấn cho

Trang 4

doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh như xây dựng năng lực, mở thị trường, tạo thương hiệu…

 5 giai đoạn rót vốn:

- Tài trợ vốn mồi/ươm tạo: giúp doanh nghiệp để phát triển ý tưởng sáng tạo

- Tài trợ khởi động: giúp phát triển sản phẩm và hoạt động tiếp thị khởi đầu

- Tài trợ giai đoạn đầu: giúp doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và tung ra thị trường

- Tài trợ mở rộng sản xuất: giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, thị trường, nâng cấp sản phẩm, xây dựng cơ cấu sở hữu hợp lý…

- Tài trợ tăng tốc: giúp doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường, tăng tốc hoạt động kinh doanh, tạo sản phẩm mới…

Bước 3: Kết thúc đầu tư, hay thu hồi vốn Các khoản đầu tư được thu hồi qua 4 kênh chính

là: Chứng khoán bán cho công chúng lần đầu, bán cổ phần cho nhà đầu tư khác, bán lại cổ phần cho doanh nghiệp và bán doanh nghiệp cho doanh nghiệp khác

4 Các điều kiện để nhận được tài trợ từ vốn đầu tư mạo hiểm:

Trang 5

Thông thường các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm thường xét những quy tắc cơ bản để đánh giá mức độ hấp dẫn của một dự án đầu tư Khi đánh giá công ty và xét duyệt bản

kế hoạch kinh doanh, những khía cạnh cơ bản sau đây sẽ được các chuyên gia quản lý quỹ đầu

tư mạo hiểm tập trung xem xét:

1 Đội ngũ

lãnh đạo

Là những người nắm tỷ lệ sở hữu lớn, có tâm huyết với sự phát triển của công

ty Họ phải là những người có năng lực , kinh nghiệm, được chứng minh thông qua những thành tích trong việc điều hành công việc kinh doanh của công ty

Tất cả các yếu tố trên đều quan trọng, nhưng đối với các chuyên gia quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm thì yếu tố đội ngũ lãnh đạo và nguồn nhân lực trong công ty vẫn là yếu tố quan trọng nhất

5 Những ưu thế của vốn mạo hiểm so với các nguồn vốn khác:

Trang 6

- Các doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự chỉ mới có ý tưởng là “tài sản” chính yếu

cũng có thể nhận được tài trợ vốn mạo hiểm mà không phải đáp ứng các yêu cầu về tài sản đảm bảo cũng như các quy định trong thẩm định khác

- Các công ty được đầu tư không cần một khoản đặt cọc hay ký quỹ nào Việc rót vốn

của các quỹ đầu tư mạo hiểm dựa vào sự tin tưởng vào việc tạo dựng thành công doanh nghiệp của người sáng lập và đội ngũ giám đốc công ty

- Công ty còn nhận được sự tư vấn ở cấp chiến lược hướng dẫn họ bước sang giai đoạn

tăng trưởng kế tiếp Đây là một lợi thế rất lớn bởi lẽ những công ty này vốn còn rất “trẻ” trong công tác quản lý điều hành

- Các nhà đầu tư và các doanh nhân khởi nghiệp thống nhất với nhau về mục tiêu vì hình

thức đầu tư mạo hiểm là nắm giữ cổ phần, tham gia chia sẻ thành công nếu công ty phát đạt, song cũng gánh chịu rủi ro nếu thất bại

Trang 7

CHƯƠNG II : VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM

1 Vài nét về các Công ty quản lý quỹ và các Quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài chủ yếu tại Việt Nam :

Theo thống kê của Công ty quản lý quỹ chứng khoán VN (VFM), hiện có gần 30 quỹ đầu

tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam với tổng vốn rót vào nội địa khoảng 2 tỷ USD.Hiện nay, hàng loạt quỹ đầu tư nước ngoài đang đổ vốn vào thị trường chứng khoán Việt Nam Nhiều công ty quản lý quỹ đầu tư tập chung chính vào thị trường Việt Nam như Vina Capital, Mekong Capital, Dragon Capital, IDG…

 Một số công ty Quản lý quỹ chủ yếu :

 Dragon Capital :

Dragon Capital là điển hình về sự kiên trì “bám trụ” ở VN Đây là công ty quản lý quỹ thành lập ở Anh năm 1994 Năm 1997-1998, khi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra, nhiều quỹ đầu tư đã ra đi Nhưng Dragon Capital thì ở lại, và đã thành công Dragon Capital lập Quỹ Vietnam Enterprise Investment Limited (VEIL) năm 1995 Đây là quỹ đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với tổng tài sản hiện nay ước tính khoảng 1 tỷ USD Năm 2003, Dragon Capital liên doanh với Sacombank để thành lập VietFund Mangagement (VFM), công

ty quản lý quỹ đầu tiên tại Việt Nam Hiện VFM đang quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1)

Cuối năm 2004, Dragon Capital lại thành lập quỹ thứ hai tại Việt Nam là Vietnam Growth Fund Limited (VGF) hiện có tổng vốn 500 triệu USD Sang năm 2005, Dragon lập thêm quỹ Vietnam Dragon Fund Limited (VDF) có tài sản hiện tại là 340 triệu USD Quỹ đầu tư mới nhất của hãng này là Vietnam Resource Investment (Holdings) Limited (VRI), từ 2007 Đây là quỹ đầu tiên đầu tư vào các công ty kinh doanh về tài nguyên thiên nhiên

 VinaCapital :

Công ty Quản lý Quỹ VinaCapital bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ tháng 11/2003 với việc ra đời quỹ đầu tư tư nhân Vietnam Opportunity Fund (VOF) VOF là quỹ do một số tổ chức tài chính lớn thành lập để đầu tư vào Việt Nam

Từ giữa năm 2006, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital khai trương Quỹ bất động sản VinaLand, nhưng số tiền mà các nhà đầu tư nước ngoài góp vào quỹ đã lên tới 65 triệu đô la

Mỹ, vượt mức dự kiến 15 triệu đô la Mỹ Ngoài VinaLand, VinaCapital đang nỗ lực giải ngân nốt số tiền còn lại chừng 50 triệu đô la Mỹ trong tổng số 171 triệu đô la Mỹ của Quỹ Vietnam Opportunities Fund (VOF) với hướng đầu tư chính của VOF tiếp tục là cổ phiếu trên thị trường OTC và địa ốc

Trang 8

Ngay từ đầu năm 2007, VinaCapital đã lên kế hoạch thành lập mới một quỹ đầu tư bất động sản với tổng vốn đầu tư lên tới 200 triệu USD.

Ngày 5/7/2007, Vina Captial đã chính thức đưa Quỹ Cơ sở hạ tầng Việt Nam (Vietnam Infrastructure Limited–VIL) lên niêm yết trên sàn chứng khoán thứ cấp London (Alternative Investment Market – AIM) Đây là quỹ đầu tiên giao dịch trên thị trường AIM tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng cơ sở then chốt của Việt Nam, bao gồm: năng lượng, vận tải, nước và viễn thông Sự kiện này đã nâng số quỹ đầu tư mà Vina Capital mở tại Việt Nam lên thành bốn quỹ với tổng số vốn đầu tư gián tiếp đã thu hút vào Việt Nam lên tới 1,8 tỷ USD

VinaCapital cũng đang đẩy mạnh đầu tư vào các công ty công nghệ Công ty quản lý quỹ này đã liên doanh với Tập đoàn Draper Fisher Jurveton (DFJ) - tập đoàn đầu tư mạo hiểm với tổng vốn đầu tư trên 3,5 tỷ USD để lập quỹ đầu tư DFJ VinaCapital với tổng số vốn đầu tư ban đầu là 50 triệu USD

AA, Công ty tin học Lạc Việt, Công ty nhựa Tân Đại Hưng, Công ty gỗ Đức Thành

Ngày 5/6/2006, công ty đã chính thức khai trương quỹ đầu tư cổ phần thứ 2 (Mekong Enterprise Fund II) tại TP.HCM Quỹ có tổng vốn 50 triệu USD, tập trung đầu tư vào các công

ty tư nhân Việt Nam phục vụ cho thị trường trong nước, hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, phân phối và quảng bá thương hiệu (vốn đầu tư trung bình cho mỗi dự án là 3 triệu USD)

Cũng từ giữa năm 2006, Công ty đã đẩy mạnh đầu tư gần hết số vốn 18,5 triệu đô la Mỹ của Mekong Enterprise Fund vào các doanh nghiệp cổ phần

Tháng 06/2007 thành lập Vietnam Azalea Fund Limited (VAF) là quỹ đầu tư với trị giá

100 triệu đô-la Mỹ tập trung thực hiện các khoản đầu tư thiểu số vào các phân khúc trước niêm yết và đã niêm yết của thị trường đầu tư cổ phần tư nhân Quỹ nhắm đến các công ty sẽ

Trang 9

dẫn đầu Việt Nam trong tương lai, bao gồm các công ty tư nhân và công ty nhà nước cổ phần hóa

Quỹ VAF khác với những quỹ đầu tư khác tại Việt Nam trên những phương diện sau:

+ Quỹ đầu tư vào các công ty hàng đầu tại Việt Nam với tiềm năng sẽ trở thành blue-chip trong những lĩnh vực tạo giá trị được kiểm chứng vào thời điểm Quỹ bán ra khoản đầu tư.+ Quỹ cam kết đóng góp giá trị gia tăng cho những công ty mà Quỹ đầu tư, bao gồm tư vấn Quản trị Doanh nghiệp, tư vấn truyền thông quan hệ với các nhà đầu tư, hỗ trợ giai đoạn chuẩn bị IPO, giới thiệu cơ hội kinh doanh, mua bán sáp nhập, và hỗ trợ tư vấn chiến lược cần thiết khác;

+ Quỹ chỉ tập trung đầu tư vào những công ty có đội ngũ quản lý mạnh và cam kết liên tục củng cố đội ngũ quản lý của họ;

+ Quỹ có hệ thống tiêu chí nghiêm ngặt cho việc lựa chọn các khoản đầu tư Quỹ chỉ đầu

tư vào những công ty xuất sắc mà ở đó sự kết hợp của các bên có khả năng trở thành những khoản đầu tư thành công;

+ Quỹ đầu tư với giá giảm mạnh so với bội số dự kiến vào thời điểm Quỹ bán ra khoản đầu tư

 Indochina Capital:

Indochina Capital đã hoạt động ở Việt Nam 15 năm

Trong 15 năm qua, công ty đã tiến hành đầu tư 1 tỷ USD vào các dự án địa ốc, trong đó tiêu biểu là các dự án như Khách sạn Furama (Đà Nẵng), Saigon Center (Tp.HCM), 63 Lý Thái Tổ (Hà Nội) và nhiều dự án địa ốc khác do công ty đầu tư chính; và góp vốn chung với một công ty khác đầu tư dự án khu du lịch Nam Hải (Đà Nẵng)

Ngoài lĩnh vực bất động sản, công ty còn đầu tư vào thị trường chứng khoán kể từ khi thị trường chứng khoán bắt đầu mở cửa cho đến nay và tổng cộng công ty đã đầu tư khoảng 50

Trang 10

triệu USD vào thị trường chứng khoán Hiện công ty đang quản lý số vốn khá lớn của các tổ chức tài chính và các cá nhân nhà đầu tư nước ngoài.

Năm 2006, Indochina Capital cũng đã thành lập hai quỹ, một địa ốc với 42 triệu đô la Mỹ

và một quỹ chứng khoán với 50 triệu đô la Mỹ

Để phục vụ cho mục tiêu lâu dài trên thị trường Việt Nam, Indochina Capital đã thành lập Quỹ Indochina Capital Holding Limited và thực hiện đợt phát hành và niêm yết trên thị trường chứng khoán London với quy mô ban đầu là 500 triệu USD (3/2007) Sự kiện này ngay lập tức đã thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài và trong đợt phát hành lần đầu Indochina Capital Vietnam Holding Limited dự định thu hút khoảng 300-350 triệu USD nhưng đã nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà đầu tư và đạt được con số 500 triệu USD

 Một số quỹ đầu tư mạo hiểm chủ yếu:

 Vietnam Enterprise Investment Fund (VEIL) :

VEIL là quỹ đầu tư nước ngoài duy nhất có thời gian hoạt động lâu nhất tại Việt Nam Quỹ được thành lập vào tháng 7-1995 với tổng số vốn huy động ban đầu là 35 triệu USD, và trong hơn 10 năm hoạt động đó VEIL đã vượt qua khủng hoảng kinh tế khu vực và nâng số vốn huy động lên đến hơn 109 triệu USD Hiện nay, VEIL là quỹ đứng thứ hai tại Việt Nam

về mặt quy mô vốn huy động nhưng lại đứng đầu về lượng vốn hóa thị trường

Nguồn vốn đầu tư của VEIL được huy động từ các nhà đầu tư có tổ chức nước ngoài chủ yếu từ Anh, Mỹ và Canada Bên cạnh đó, VEIL có một phần vay từ tổ chức tài chính quốc tế IFC trực thuộc Ngân hàng Thế giới WorldBank VEIL là quỹ đóng và được niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) NCB ở Ailen

Quỹ VEIL được thành lập bởi Công ty quản lý quỹ Dragon Capital với mục tiêu đầu tư vào các công ty tư nhân, doanh nghiệp nhà nước đang cổ phần hóa, công ty cổ phần niêm yết

Trang 11

hoặc chưa niêm yết và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài mà nguồn doanh thu chủ yếu từ Việt Nam

VEIL ưu tiên đầu tư vào 5 ngành chính là tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng, bưu chính - viễn thông, du lịch, khai thác khoáng sản và hàng tiêu dùng VEIL tập trung đầu tư vào doanh nghiệp có quy mô vốn từ 2 - 3 triệu USD trở lên và đặc biệt không đầu tư vào các công ty được quản lý bởi gia đình

Trong năm 2005, VEIL được xem là quỹ có kết quả hoạt động tốt nhất tại Việt Nam khi giá trị tài sản ròng trên một cổ phiếu quỹ tăng 37,1% so với các năm trước và giá của một đơn

vị quỹ VEIL được giao dịch cao hơn gần 11% giá trị tài sản ròng

 Vietnam Growth Fund (VGF) :

Quỹ VGF cũng được quản lý bởi Dragon Capital và thành lập vào tháng 10-2004 với số vốn huy động ban đầu là 60 triệu USD Cũng như VEIL, VGF là quỹ đóng và được niêm yết ở TTCK NCB ở Ailen VGF có tốc độ tăng vốn khá nhanh so với VEIL, chỉ sau hơn một năm hoạt động quy mô vốn của quỹ đã tăng 66,7% đạt 100 triệu USD

Mục tiêu đầu tư của VGF là nhằm vào những công ty có tốc độ tăng trưởng nhanh và thuộc những ngành đầu tư như VEIL VGF đặc biệt không đầu tư vào thị trường bất động sản Giá trị tài sản ròng trên một cổ phiếu quỹ và giá giao dịch của VGF vào cuối năm 2006 tăng 15% và 17,6% so với năm trước

 Vietnam Dragon Fund (VDF) :

Dragon Capital cho biết mới vừa thành lập Quỹ VDF vào đầu năm 2006 với số vốn đầu tư ban đầu là 35 triệu USD Quỹ VDF được huy động vốn bởi các nhà đầu tư Nhật Bản Đây cũng là một quỹ đóng và được niêm yết ở TTCK NCB Mục tiêu đầu tư của VDF tương tự như VEIL là ưu tiên đầu tư vào 5 ngành chính là tài chính - ngân hàng, cơ sở hạ tầng, bưu chính - viễn thông, du lịch, khai thác khoáng sản và hàng tiêu dùng

Trong 9 tháng đầu năm 2006, VDF đã thực hiện 30 khoảng đầu tư vào các công ty niêm yết và không niêm yết hoạt động chủ yếu ở Việt Nam Tổng giá trị tài sản ròng tính đến cuối tháng 9-2006 đạt hơn 169 triệu USD tăng gần 22,5% so với tháng 12-2005

 Vietnam Opportunity Fund (VOF):

VOF của Vinacapital bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ tháng 9-2003, đến tháng 9-2006

có quy mô tổng vốn huy động 171 triệu USD được tập trung đầu tư vào những ngành có tốc

độ tăng trưởng nhanh như dịch vụ tài chính, hàng tiêu dùng, bán lẻ, bất động sản, du lịch, cơ

sở hạ tầng và ngành công nghệ

Trang 12

Mới hoạt động hơn 3 năm, VOF đã đạt kết quả đầu tư tốt và tốc độ tăng vốn nhanh Giá trị chứng chỉ quỹ luôn được giao dịch cao hơn giá trị tài sản ròng trên một cổ phiếu quỹ khoảng

20 – 25% và thậm chí đạt đến đỉnh điểm 44,6%

Giá trị tài sản ròng trên một cổ phiếu quỹ vào đầu năm 2006 đạt 1,6 USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước Quy mô vốn của VOF vào cuối năm 2005 nhỏ hơn VEIL, nhưng gần đây VOF đã huy động thêm được hơn 76 triệu USD từ nhà đầu tư Millenium Parnerts của Mỹ

và vươn lên đứng đầu về vốn đầu tư tại Việt Nam

 PXP Vietnam Fund :

Thành lập sau VOF chừng 3 tháng, PXP Việt Nam chỉ tập trung đầu tư vào những công ty

đã niêm yết hoặc chuẩn bị niêm yết tại TTCK Việt Nam Quỹ PXP đầu tư dài hạn vào những công ty Việt Nam hoặc có vốn đầu tư nước ngoài nhưng lượng vốn hóa ở mỗi công ty phải đạt tối thiểu 5 triệu USD hay có chỉ số giá trên thu nhập (P/E) của công ty đó phải tương đương với P/E thị trường

Nhờ vào sự tăng trưởng mạnh của TTCK Việt Nam nên PXP đã cải thiện nhanh kết quả đầu tư, sau 2 năm hoạt động giá trị tài sản ròng trên một đơn vị quỹ đạt 3,2 USD, tăng 33,3%

so với năm trước Với việc đầu tư vào Công ty Dược phẩm Imexpharm, trong cùng thời gian này PXP đã nâng tổng số công ty đã đầu tư lên 23 đơn vị và đạt 93% tổng lượng vốn huy động

Tất cả 10 công ty chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng tài sản ròng của PXP là những doanh nghiệp đã niêm yết trên TTCK và có kết quả kinh doanh tốt trong năm vừa qua Ngoài việc thành lập quỹ mới VEEF vào cuối tháng 11-2005, PXP tăng quy mô quỹ từ 25,8 triệu USD lên khoảng 40 triệu vào quý 2-2006 bằng cách phát hành thêm hơn 2 triệu cổ phiếu

 Vietnam Emerging Equity Fund (VEEF) :

Bên cạnh PXP Việt Nam, PXP Asset Management đã mở thêm quỹ đầu tư mới Vietnam Emerging Equity Fund (VEEF) vào thị trường Việt Nam với quỹ mô vốn khoảng 15,9 triệu USD từ tháng 11-2005 và được niêm yết tại TTCK Ai-len (NCB) VEEF cũng tập trung đầu

tư vào những công ty niêm yết hoặc chuẩn bị niêm yết trên TTCK Việt Nam Đến giữa quý

3-2006, VEEF đầu tư vào 28 công ty Việt Nam, giá trị tài sản ròng đạt 52,5 USD, tăng 36% so với lúc mới thành lập

 Mekong Enterprise Fund (MEF) :

Trong số 7 quỹ tư nhân và quỹ không niêm yết của nước ngoài đầu tư tại Việt Nam, MEF

ra đời từ tháng 4-2002 với quy mô vốn 18,5 triệu USD và do Công ty Mekong Capital quản lý Đối tượng đầu tư của MEF là những công ty gia đình vừa và nhỏ, có kết quả kinh doanh tốt,

Trang 13

đặc biệt năng động trong kinh doanh và có khuynh hướng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán

MEF không quan tâm đến những công ty có quy mô lớn và thường cung cấp dịch vụ hỗ trợ sau đầu tư để giúp các công ty đó cải thiện hoạt động quản lý doanh nghiệp và có thể phát triển vượt bậc trong tương lai Với tốc độ đầu tư khoảng 3 - 4 công ty mỗi năm, đến nay MEF

đã đầu tư 10 doanh nghiệp với tổng vốn khoảng 13 – 14 triệu USD

MEF đã đầu tư gần hết lượng vốn huy động, vì vậy Mekong Capital mở thêm quỹ mới vào năm 2006 với quy mô vốn khoảng 40 triệu USD và cùng chiến lược đầu tư như MEF

 IDG Ventures Vietnam (IDG) :

IDG Ventures Vietnam (IDGVV) là quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên của Mỹ tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao được thành lập vào tháng 3-2004 Quỹ này ưu tiên đầu tiên vào các doanh nghiệp trẻ kinh doanh các ngành công nghệ cao tại Việt Nam

Với quy mô 100 triệu USD, IDGVV đầu tư vào những doanh nghiệp có tiềm năng phát triển cao thuộc các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, internet, truyền thông và công nghệ sinh học Đến nay, IDGVV đã đầu tư 5 triệu USD vào 4 doanh nghiệp PeaceSoft, Isphere, VinaGame và VietnamWorks.com

Trong thời gian 7 năm (2003-2010), IDG dự kiến dành khoảng 100 triệu USD đầu tư CNTT tại Việt Nam, riêng đầu tư mạo hiểm chiếm tới 80 triệu USD

Cho đến nay, IDG có 16 dự án đầu tư vào các công ty của Việt Nam với tổng số vốn trên

25 triệu USD Theo kế hoạch, từ nay tới cuối năm, IDG sẽ đầu tư vào hai công ty nữa với số vốn từ 10 đến 12 triệu USD

Theo IDG Ventures, yếu tố chính để họ quyết định đầu tư vào các công ty được lựa chọn

là yếu tố con người, lãnh đạo Trung bình 1 tháng IDG nhận được hơn 100 dự án mời gọi đầu

tư của các công ty Việt Nam Lĩnh vực mà IDG quan tâm nhất vẫn là công nghệ cao và media

2 Một số chứng cứ thực nghiệm:

IDG Ventures Vietnam (IDG) :

 Ngay khi mới thành lập, Quỹ IDGVV đã chọn đầu tư đầu tiên vào hai công ty Việt Nam là Công ty Giải pháp Phần mềm Hoà Bình (Peacesoft) và Công ty phần mềm iSphere, đều là các

DN trẻ của Hà Nội

- Lý do chọn Peacesoft và ISphere là :

Trang 14

+ PeaceSoft có một cổng thông tin đa dạng với website www.chodientu.com  PeaceSoft sẽ là công ty hàng đầu về phát triển thị trường thương mại điện tử tại VN

+ Còn ISphere là công ty có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển các ứng dụng DN

và ứng dụng trên nền tảng website

- Hình thức đầu tư:

+ Đối với PeaceSoft, nguồn vốn đầu tư của IDG sẽ được sử dụng để tiếp tục phát triển các dòng sản phẩm truyền thống của công ty, mở rộng thị trường, và phát triển một dự án về Thương mại điện tử có tên gọi CHỢĐIỆNTỬ.COM

+ Số tiền đầu tư sẽ được tính theo hình thức góp vốn mua cổ phiếu Sau 3-5 năm (thời gian dự kiến hoàn vốn), cổ phiếu sẽ được rao bán trên thị trường chứng khoán (IPO)

+ Ông Nguyễn Bảo Hoàng, Tổng giám đốc IDG Ventures sẽ tham gia điều hành trong Ban Giám đốc của công ty cả hai này  những kinh nghiệm của ông Hoàng sẽ giúp PeaceSoft

và Isphere giải quyết nhiều bài toán khó về nhân sự, phương pháp tiếp cận và phát triển thị trường… theo phương pháp tiên tiến và chuyên nghiệp

+ Tiền đầu tư của IDG sẽ được sử dụng để tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng thương hiệu, nghiên cứu và phát triển các lĩnh vực kinh doanh mới, các dịch vụ và sản phẩm, đồng thời hỗ trợ và mở rộng thị trường của iSphere ở VN và Hàn Quốc

 Tháng 12-2006, IDG Ventures Viet Nam đầu tư vào Công ty Dream Viet của một doanh nhân trẻ nguyễn Minh Hiếu IDG đánh giá trang web www.AHA.vn là “cổng thông tin điện

tử hàng đầu cung cấp thông tin trực tuyến và so sánh giá cả các sản phẩm tiêu dùng cho người tiêu dùng Việt Nam”

- Lý do chọn đầu tư vào Công ty Dream Viet :

+ Dream Viet sẽ giải quyết một lĩnh vực còn chưa được chú trọng trong thương mại điện tử tại Việt Nam như: thông tin mua sắm hàng tiêu dùng trực tuyến và so sánh giá trực tuyến Với tỉ lệ tăng trưởng tiêu dùng hằng năm tại khu vực thành thị lên đến 25%, người tiêu

Trang 15

dùng Việt Nam rất cần có thông tin mới nhất và chính xác nhất về những mặt hàng điện tử mới xuất hiện trên thị trường

+ AHA.vn đưa ra dịch vụ so sánh giá về sản phẩm từ nhiều nhà cung cấp khác nhau, qua đó tạo ra sự thay đổi cần thiết đối với thị trường tiêu dùng truyền thống tại Việt Nam vốn rất thiếu thông tin rõ ràng giữa người mua và người bán

+ Cổng thông tin này còn giúp cho người tiêu dùng có thêm kiến thức tham khảo trước khi mua sản phẩm, cũng như giúp ích các nhà cung cấp hàng hóa có được khả năng tiếp cận người tiêu dùng rộng rãi hơn nhiều so với các công cụ truyền thông truyền thống

+ Sự ra đời của AHA còn giúp cho người tiêu dùng thay đổi thói quen mua sắm và khảo sát thông tin truyền thống và chuyển sang một hình thức mua sắm và khảo sát thông tin hiện đại và tiện ích của thời đại công nghệ mới

+ Nguồn thu của trang web www.AHA.vn là từ các thao tác truy cập (click) của người mua hàng tới website của nhà bán lẻ theo hình thức Pay-per-click, tương tự như dịch vụ quảng cáo AdSense của Google Hiện trung bình có trên 5.000 người (IP)/ngày, mỗi tháng có khoảng 200.000 lượt người truy cập AHA

+ Theo bình chọn của mạng http://www.thuonghieuviet.com/, AHA thuộc top 20 website thương mại được người tiêu dùng ưa thích nhất Việt Nam

 Ngày 7/11/2007, Công ty cổ phần Tài Việt (Vietstock), đã công bố tiếp nhận khoản đầu tư

từ Quỹ IDG Ventures Vietnam

- Lý do chọn đầu tư vào Công ty cổ phần Tài Việt (Vietstock):

+ Trang web www.vietstock.com.vn của công ty Vietstock chuyên cung cấp các thông tin về tài chính và doanh nghiệp, các bản báo cáo hàng năm, phân tích thị trường và các thông tin chứng khoán, tin kinh tế vĩ mô, vi mô phục vụ cho đầu tư chứng khoán Ngoài ra, trang web còn có chuyên mục đào tạo, kiến thức chứng khoán, trao đổi các kinh nghiệm đầu tư chứng khoán và văn bản pháp luật về chứng khoán

Ngày đăng: 08/04/2013, 16:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w