1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện

27 297 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện
Tác giả Lê Mỹ Hạnh
Người hướng dẫn ThS. Vũ Cương
Trường học Kinh tế Quốc dân
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 713,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm vừa qua, sự bất ổn của tình hình thế giới đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nước ta. Để chống chọi với lạm phát và vực dậy nền kinh tế, Chính phủ đã thông qua gói kích cầu có trị giá hơn một ngàn tỷ USD. Và một trong những biện pháp mũi nhọn nằm trong gói kích cầu đó là việc kích thích đầu tư, nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Những năm vừa qua, sự bất ổn của tình hình thế giới đã tác động không nhỏ đến

sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nước ta Để chống chọi với lạm phát và vực dậynền kinh tế, Chính phủ đã thông qua gói kích cầu có trị giá hơn một ngàn tỷ USD Vàmột trong những biện pháp mũi nhọn nằm trong gói kích cầu đó là việc kích thíchđầu tư, nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.Nền kinh tế ngày càng phát triển, kéo theo sự phát triển của nhóm ngành dịch vụ

và đặc biệt là dịch vụ bảo hiểm Bảo hiểm với những đặc trưng riêng có, nó cũng làmột trong những ngành dịch vụ có nhu cầu đầu tư cao Không những vậy, hiện naytrong các doanh nghiệp bảo hiểm đang tồn tại một vấn đề, đó là: dưới áp lực cạnhtranh ngày càng cao, phí bảo hiểm giảm trong khi chi phí bồi thường lại có xu hướngtăng, dẫn đến rất ít doanh nghiệp có lời từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đồng thờihoạt động đầu tư lại trở thành nguồn thu đang dần tăng lên trong hầu hết các doanhnghiệp bảo hiểm

Tuy nhiên, danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay còn hạnchế, chỉ tập trung vào một vài sản phẩm tài chính nhất định Trong danh mục đầu tưcủa các doanh nghiệp bảo hiểm hầu hết là những danh mục đầu tư luôn đem lại thunhập ổn định, an toàn trong giai đoạn nền kinh tế bất ổn Nhưng khi nền kinh tế phụchồi, thị trường tài chính được cải thiện, nếu cơ cấu đầu tư như vậy vẫn được duy trì

sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn do tỷ suất lợi nhuận đem lại tương đối thấp Nhưvậy, vấn đề đặt ra ở đây với các doanh nghiệp Bảo hiểm đó là: Cần có một danh mụcđầu tư hợp lý để vừa bảo toàn được nguồn vốn, không vỡ quỹ, lại vừa tăng được lợinhuận cho công ty, sử dụng tối đa hiệu quả của nguồn vốn

Qua thời gian thực tập ở Phòng Đầu tư của Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện,

em càng nhận thức được rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề đầu tư vốn một cách hợp

lý Chính vì vậy, em đã chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp là : “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện ”

Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, chuyên đề tốt nghiệp của em gồm có 3 phần:

Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư trong các công ty Bảo hiểm Chương II: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư tại công ty Bảo hiểm Bưu Điện

Trang 2

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại công ty Bảo hiểm Bưu điện

Trong thời gian thực tập và viết chuyên đề tốt nghiệp, em rất cảm ơn sự hướngdẫn của thầy giáo Ths.Vũ Cương cùng với sự giúp đỡ tận tình của các anh chị trongPhòng Đầu tư của Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện Do hạn chế về mặt nhậnthức cũng như nguồn tài liệu nên chắc hẳn bài viết của em không tránh khỏi nhữngsai sót Em rất mong nhận được sự đóng góp từ phía các thầy cô, các anh chị cũngnhư các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2010

Sinh viên thực hiện

Lê Mỹ Hạnh

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ

TRONG CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM

I Những vấn đề cơ bản về Bảo hiểm:

1 Một số lý luận về bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm

1.1 Bản chất và khái niệm của Bảo hiểm

1.1.1 Bản chất của Bảo hiểm

Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định cuộc sống và sản xuất chonhững người tham gia, đồng thời kiến tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế và xã hộicủa đất nước Chính vì vậy, bản chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sảnphẩm quốc nội giữa những người tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu về tàichính phát sinh khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Tuynhiên, phân phối trong bảo hiểm chủ yếu là phân phối không đều và phần lớn khôngmang tính bồi hoàn trực tiếp Không những vậy, bản chất của bảo hiểm còn được thểhiện ở các khía cạnh cụ thể như sau:

- Rủi ro và sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc của bảo hiểm Có nhiều cách tiếp cậnvới khái niệm rủi ro, song theo nghĩa thông dụng nhất thì rủi ro là biến cố gây thiệthại và không mong đợi Để đối phó với rủi ro, con người luôn tìm cách phòng vệ Đóchính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự ra đời của bảo hiểm

- Cơ chế chuyển giao rủi ro trong bảo hiểm được thực hiện giữa bên tham gia bảohiểm và bên bảo hiểm thông qua các cam kết bảo hiểm Theo cơ chế này, bên thamgia phải nộp phí bảo hiểm và bên bảo hiểm cam kết bồi thường hay chi trả tiền bảohiểm khi đối tượng bảo hiểm hay người được bảo hiểm gặp phải rủi ro hay sự kiệnbảo hiểm

1.1.2 Khái niệm Bảo hiểm

Mặc dù ra đời từ rất sớm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thốngnhất về bảo hiểm Có thể là do người ta đã đưa ra khái niệm bảo hiểm ở nhiều góc độkhác nhau

- Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tàichính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi

Trang 4

- Dưới góc độ pháp lý, giáo sư Hemard đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một nghiệp

vụ qua đó một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền cho chínhmình hoặc cho người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả mộtkhoản tiền bồi thường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu tráchnhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo luật Thống kê

- Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, các tập đoàn bảo hiểm thươngmại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này mộtngười, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảohiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vibảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm

Có thể nói, các khái niệm trên ít nhiều đã lột tả được bản chất của bảo hiểm trêncác khía cạnh về rủi ro, sự chuyển giao rủi ro giữa người được bảo hiểm và ngườithông qua phí bảo hiểm và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểmgặp phải rủi ro tổn thất Cũng trên cơ sở các khía cạnh đó, khái niệm về bảo hiểm cóthể được hiểu như sau: “Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đómột cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảohiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểmcho mình hay cho người thứ ba Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một tổchức đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bùtrừ chúng theo quy luật thống kê”1

1.2 Doanh nghiệp bảo hiểm và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm

1.2.1 Doanh nghiệp bảo hiểm:

Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt độngtheo quy định của Luật Bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan đểkinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

1.2.2 Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm

- Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Là doanh nghiệp kinh doanh các loại nghiệp vụbảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết

Bảo hiểm nhân thọ bao gồm: bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗnhợp, bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm trả tiền định kỳ

1 Nguồn: Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm của PGS.TS Nguyễn Văn Định

Trang 5

- Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: Là doanh nghiệp kinh doanh các loại nghiệp

vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ khác không thuộc bảo hiểmnhân thọ

2 Các hoạt động chủ yếu của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ

2.1 Kinh doanh Bảo hiểm gốc

Các loại hình kinh doanh Bảo hiểm gốc

- Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người;

- Bảo hiểm tài sản và thiệt hại;

- Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đườngsắt và đường không;

- Bảo hiểm trách nhiệm chung;

- Bảo hiểm xe cơ giới;

- Bảo hiểm cháy, nổ;

- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;

- Bảo hiểm vệ tinh;

- Bảo hiểm tàu

2.2 Kinh doanh tái Bảo hiểm

Tái bảo hiểm là sự phân chia rủi ro mà nhà bảo hiểm phải gánh chịu cho nhữngnhà bảo hiểm khác Hay có thể nói, tái bảo hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro màngười bảo hiểm phải gánh chịu

Có thể nói, sự ra đời của tái bảo hiểm là sự cần thiết khách quan, trước hết nhằmbảo vệ nhà bảo hiểm trước những rủi ro mà họ có thể gặp phải, đe dọa khả năngthanh toán của nhà bảo hiểm Và thông qua đó bảo vệ quyền lợi của người được bảohiểm

Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường kinh doanh cả bảo hiểm gốc và cả táibảo hiểm Nhưng cũng có những công ty chuyên làm về tái bảo hiểm, được gọi lànhững công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp

Trang 6

động bảo hiểm xã hội thì bảo hiểm chỉ đơn thuần là hoạt động san sẻ rủi ro, là hoạtđộng xã hội, không mang tính lợi nhuận Nhưng khi xuất hiện khái niệm kinh doanhbảo hiểm thì mọi chuyện đã khác Bảo hiểm bây giờ mang thêm nhiều lợi ích cho xãhội cũng như cho người kinh doanh bảo hiểm Và điểm mấu chốt tạo ra sự khác nhaugiữa Kinh doanh bảo hiểm và Bảo hiểm xã hội đó chính là có hoạt động đầu tư đứngsau hoạt động kinh doanh bảo hiểm.

Các hình thức đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

- Mua trái phiếu chính phủ;

- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp;

- Kinh doanh bất động sản;

- Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;

- Cho vay theo quy định của Luật tổ chức tín dụng;

- Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng

Ngoài các hoạt động trên, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) còn có thể có các hoạtđộng khác theo quy định của pháp luật

II Nguồn vốn cho hoạt động đầu tư của các công ty Bảo hiểm

1.Nguồn vốn đầu tư

Trong bất cứ hoạt động đầu tư nào thì nguồn vốn đầu tư cũng là vấn đề được đặtlên hàng đầu, bởi vì chỉ khi có được nguồn vốn thì hoạt động đầu tư mới được tiếnhành Với vai trò quyết định quy mô của hoạt động đầu tư, nguồn vốn này được cấuthành từ nhiều bộ phận Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, nguồn vốn đầu tư cũngđược huy động từ nhiều nguồn, mang đặc trưng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm

1.1 Vốn điều lệ

Vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm là số vốn do các thành viên, cổ đông góphoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ của doanhnghiệp

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốnđiều lệ đã góp không được thấp hơn mức vốn pháp định và phải được thường xuyên

bổ sung tương xứng với nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động kinh doanh củadoanhnghiệp

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, DNBH sẽ thu tiền phí của khách hàngtrước, và có thể khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra thì số tiền bồi thường được lấy từcác khoản phí trên Như vậy, nguồn vốn điều lệ sẽ là nguồn vốn nhàn rỗi và có thể

Trang 7

đem đi đầu tư Trong thực tế, Pháp luật Việt Nam quy định vốn pháp định cho cácDNBH là tương đối lớn.

Doanh nghiệp Bảo hiểm phải ký quỹ một phần vốn điều lệ theo quy định củaPháp luật, phần còn lại được đem đi đầu tư sinh lời

Phần vốn đầu tư này chiếm tỷ trọng chưa phải lớn nhất nhưng khá quan trọng vì

nó là vốn tự có của DN nên ít chịu sự kiểm soát của pháp luật, tạo điều kiện choDNBH đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao

1.2 Quỹ dự trữ bắt buộc và quỹ dự trữ tự nguyện

DNBH cũng chính là một trung gian tài chính, với chức năng quan trọng là lưuchuyển vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu vốn, bằng cách thu phí BH của người thamgia BH và đầu tư nguồn phí đó một cách hiệu quả Nhưng trong quá trình hoạt độngkinh doanh, cũng như tất cả các trung gian tài chính khác, bản thân doanh nghiệpcũng có thể gặp những rủi ro, làm giảm nguồn phí ban đầu, ảnh hưởng đến khả năngthanh toán của doanh nghiệp và suy cho cùng là ảnh hưởng đến quyền lợi của ngườitham gia bảo hiểm Chính vì vậy, để đảm bảo khả năng thanh toán đồng thời quản lýcác doanh nghiệp bảo hiểm, Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm trích lậpcác quỹ dự trữ bắt buộc Mức tối đa của quỹ dự trữ bắt buộc là 10% vốn điều lệ củaDNBH

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, DNBH phải luôn duy trì được khả năngthanh toán của mình Có nhiều doanh nghiệp, ngoài quỹ dự trữ bắt buộc của theo yêucầu của pháp luật, họ còn tự lập các quỹ dự trữ và được gọi là quỹ dự trữ tự nguyện,

để nhằm tăng khả năng thanh toán của DN Nguồn hình thành quỹ dự trữ tự nguyệnđược lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối và phải được ghi trong điều lệ hoạtđộng của doanh nghiệp

Các quỹ dự trữ bắt buộc và quỹ dự trữ tự nguyện là một nguồn vốn đầu tư chiếm

tỷ trọng nhỏ, nhưng cũng góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho DNBH

1.3 Các khoản lãi năm trước chưa sử dụng

Cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của DNBH được phân phối cho các cổđông dưới hình thức cổ tức, trích lập các quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, quỹphúc lợi,…Phần còn lại chưa sử dụng sẽ bổ sung vào nguồn vốn đầu tư của doanhnghiệp để thực hiện quá trình quay vòng vốn

Trang 8

1.4 Nguồn vốn nhàn rỗi từ quỹ dự phòng nghiệp vụ (DPNV)

Quỹ dự phòng nghiệp vụ là một đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm.DNBH phải lập ra các quỹ dự phòng để chi trả , bồi thường cho khách hàng khi có sựkiện BH xảy ra Nói một cách cụ thể hơn, DPNV là khoản dự trữ liên quan đến từngnghiệp vụ BH, được trích lập và hạch toán vào chi phí kinh doanh nhằm mục đíchthanh toán các trách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từ hợp đồng bảohiểm đã được ký kết

Các quỹ dự phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

Trong tất cả các nguồn đầu tư trên thì nguồn vốn đầu tư từ dự phòng nghiệp vụluôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn đầu tư của DNBH và cũng chính vìvậy, việc đầu tư bằng nguồn vốn này chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật

III Hoạt động đầu tư trong công ty Bảo hiểm

Trang 9

1.Khái niệm và vai trò của hoạt động đầu tư

1.1 Khái niệm hoạt động đầu tư

Trước khi đi vào tìm hiểu hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm, chúng

ta cần phải biết, hoạt động đầu tư nói chung là gì Có thể hiểu, đầu tư nói chung là sự

hi sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kếtquả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả

đó

Tóm lại, mục tiêu của hoạt động đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so vớinhững hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi quyết định tiến hànhđầu tư Nguồn lực phải hi sinh đó có thể là tiền, là các tài sản, là tài nguyên thiênnhiên, là sức lao động, là trí tuệ, Còn những kết quả tăng thêm, có thể là các tài sảntài chính ( tiền vốn), tài sản vật chất ( nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học,…)

và cũng có thể là nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất cao hơntrong nền sản xuất xã hội

Từ khái niệm đầu tư nói chung ở trên, chúng ta có thể áp dụng vào để hiểu đượchoạt động đầu tư của DNBH Có thể nói, đó là việc DNBH sử dụng các nguồn lực tàichính hiện có trong doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động nhằm đem lại nguồn lợinhuận trong tương lai cho doanh nghiệp Như vậy, mục tiêu mà DNBH tiến hành đầu

tư làm nhằm thu được hiệu quả về mặt tài chính cho doanh nghiệp, thông qua đó giántiếp mang lại lợi ích cho xã hội

1.2 Vai trò của hoạt động đầu tư

1.2.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Hoạt động đầu tư được coi là “sân sau’’ của mỗi một doanh nghiệp bảo hiểm.Doanh nghiệp bảo hiểm không những chỉ có nhiệm vụ đơn thuần là thu chi quản lýtốt quỹ tài chính của mình, mà còn có nhiệm vụ quan trọng hơn đó là phải phát triểnquỹ bảo hiểm Hoạt động đầu tư là nhân tố quyết định sống còn cho sự lớn mạnh củaquỹ bảo hiểm Nhưng nói một cách cụ thể thì nhìn chung đối với các doanh nghiệpbảo hiểm, hoạt động đầu tư có những vai trò cơ bản sau:

- Hoạt động đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của công ty bảohiểm Trong thời gian hiện nay, các công ty bảo hiểm thực hiện việc giảm phí, tăngphạm vi bảo hiểm để nâng cao thị phần, điều đó làm giảm thu nhập của doanh nghiệp

từ việc kinh doanh bảo hiểm Chính khi đó, hoạt động đầu tư sẽ là hoạt động manglại doanh thu chủ yếu cho doanh nghiệp bảo hiểm Và chỉ doanh nghiệp nào hoạt

Trang 10

động đầu tư vững chắc, phát triển thì mới có đủ tiềm lực để cạnh tranh trong hoàncảnh này

- Hoạt động đầu tư gián tiếp chi phối chiến lược thiết kế và bán sản phẩm củadoanh nghiệp bảo hiểm thông qua việc định giá các sản phẩm bảo hiểm, mở rộngphạm vi trách nhiệm hay tăng quyền lợi của khách hàng

- Hoạt động đầu tư giúp doanh nghiệp bảo hiểm bù đắp sự mất giá của đồng tiền,bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm trước rủi ro lạm phát

- Hoạt động đầu tư đóng góp lớn vào sự tăng trưởng thu nhập và lợi nhuận củadoanh nghiệp bảo hiểm, tạo điều kiện tăng vốn, mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng

cổ tức cổ đông, tăng quỹ khen thưởng phúc lợi và thu nhập cho người lao động

- Riêng đối với DNBH nhân thọ, hoạt động đầu tư còn giúp các doanh nghiệpthực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với người tham gia bảo hiểm Bởi vì bảohiểm nhân thọ không chỉ có tính rủi ro mà còn có tính tiết kiệm Do đó việc đầu tư cóhiệu quả tiền phí bảo hiểm không chỉ đơn thuần là phát triển quỹ tài chính mà còn làtrách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm để đảm bảo trả lãi cho khách hàng như đãcam kết

- Ngoài ra hoạt động đầu tư còn có một số ý nghĩa quan trọng khác đối với doanhnghiệp bảo hiểm như: tạo hình ảnh của công ty, khuếch trương hình ảnh thươnghiệu…

1.2.2 Đối với xã hội

Vai trò hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm đối với xã hội được thể hiện

rõ nét nhất thông qua việc huy động vốn cho nền kinh tế quốc dân Bảo hiểm thựcchất là một dịch vụ tài chính, và các doanh nghiệp bảo hiểm thực chất là các tổ chứctrung gian tài chính Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, cácDNBH có một nguồn vốn nhàn rỗi lớn từ phí thu được của khách hàng bảo hiểm Vàcũng như các trung gian tài chính khác như ngân hàng thương mại, công ty chứngkhoán…doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi này đầu tư vào nền kinh

tế một cách hiệu quả thông qua hàng loạt các hình thức khác nhau: mua cổ phiếu, tráiphiếu, công trái, đầu tư phát triển kinh tế xã hội…

Ngoài ra, hoạt động đầu tư còn có tác động không nhỏ đến sự phát triển của cácngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động,góp phần ổn định xã hội, tăng thu cho ngân sách nhà nước, tăng tích lũy cho nền kinh

tế quốc dân

Trang 11

2 Tổ chức hoạt động đầu tư và hình thức đầu tư trong công ty bảo hiểm

2.1 Tổ chức hoạt động đầu tư

Tổ chức hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm là việc doanh nghiệp lựachọn mô hình, cách thức quản lý hoạt động đầu tư để phù hợp với quy mô của doanhnghiệp và nghiệp vụ mà doanh nghiệp thực hiện Tổ chức hoạt động đầu tư của cácDNBH phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó có ba nhân tố chủ yếu là: Quy mô củaDNBH, tính chất nghiệp vụ bảo hiểm ( BH nhân thọ hay phi nhân thọ) và quy địnhcủa Pháp luật nơi DNBH hoạt động

Thực tế hiện nay trên thế giới phổ biến các hình thức tổ chức hoạt động đầu tưnhư sau:

Mô hình thứ nhất: DNBH trực tiếp thực hiện hoạt động đầu tư Như vậy, phòngđầu tư sẽ trực thuộc DNBH Mô hình này thường áp dụng đối với những doanhnghiệp có quy mô vừa và nhỏ, hoặc doanh nghiệp bảo hiểm mới thành lập Do đóhoạt động đầu tư còn hạn chế, chưa phát triển Theo mô hình này, phòng đầu tư đượcđặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một phó giám đốc doanh nghiệp phụ trách về đầu tư.Phòng này có trách nhiệm thực hiện chương trình đầu tư của DNBH mà Hội đồngquản trị đề ra Ngoài việc thông qua các tiêu chuẩn đầu tư của doanh nghiệp để trìnhtrước Ban tài chính của doanh nghiệp để phê chuẩn, phòng đầu tư còn là nơi lưu giữcác loại cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ đầu tư khác của DNBH Đồng thời phòngđầu tư cũng được giao trách nhiệm thu lãi cổ tức từ các khoản đầu tư, được trực tiếptham gia vào việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và các khoản thế chấp…Bên cạnh đó, phòng đầu tư còn hoạt động với tư cách cố vấn cho Tổng giám đốc vàHội đồng quản trị khi có hoạt động sát nhập hoặc mua lại một công ty khác Nhìnchung, hoạt động đầu tư trong DNBH đòi hỏi cán bộ chuyên môn làm trong lĩnh vựcnày phải có những kỹ năng và kiến thức rộng về các loại hình đầu tư mà doanhnghiệp được phép

Mô hình này có ưu điểm là: Do Phòng Đầu tư nằm ngay trong DNBH nên DNBH

có thể quản lý chặt chẽ các hoạt động đầu tư Song hạn chế của nó là hoạt động đầu

tư sẽ không được chuyên trách, các chuyên viên Phòng đầu tư ngoài việc thực hiệnđầu tư còn phải phụ trách thêm về quản lý cổ đông, do vậy hoạt động đầu tư sẽ khôngđạt hiệu quả cao

Mô hình thứ hai: Thành lập một tổ chức đầu tư độc lập dưới hình thức công tyđầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổ phần chi

Trang 12

phối Đây là mô hình được áp dụng khá phổ biến ở các doanh nghiệp bảo hiểm lớntrên thế giới, bởi vì mô hình này phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn vàphát triển Nó giúp các doanh nghiệp bảo hiểm tập trung được các nguồn lực củamình , nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động đầu tư Các quỹ này có thể chỉtập trung vào một khu vực địa lý hay nhóm ngành nghề nhất định hoặc có phạm vihoạt động rộng và có lĩnh vực đầu tư tổng hợp.

Mô hình này có ưu điểm là: hoạt động đầu tư được tách bạch hẳn ra khỏi công tybảo hiểm, việc đầu tư được thực hiện một cách chuyên trách sẽ đem lại hiệu quả caohơn hẳn Tuy nhiên việc quản lý đầu tư từ công ty mẹ (DNBH) đối với các tổ chứcđầu tư này sẽ rất khó khăn

2.2 Các hình thức đầu tư

DNBH khi tiến hành hoạt động đầu tư luôn luôn phải tuân thủ các nguyên tắcchung của mình Danh mục đầu tư của doanh nghiệp phải đa dạng hóa, đảm bảo đượcyêu cầu an toàn cũng như khả năng thanh toán thường xuyên, đồng thời mang lại lợinhuận tối đa cho doanh nghiệp Thông thường, trên thị trường DNBH thường ápdụng các hình thức đầu tư sau

2.2.1.Tiền gửi, mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh

Đây là các hình thức đầu tư hiện nay đang chiếm nhiều nguồn vốn nhất trong cáccông ty bảo hiểm, do chúng có tính an toàn cao

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm thì không hạn chế các doanh nghiệp bảo hiểmmua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh và gửi tiền tại các tổchức tín dụng

2.2.2 Đầu tư chứng khoán

Đầu tư chứng khoán là một công cụ đầu tư được các doanh nghiệp bảo hiểm sửdụng rộng rãi nhất Thu nhập từ các khoản đầu tư chứng khoán bao gồm lãi cổ phần

và lãi vốn đem lại cho DNBH là rất lớn Ngoài ra, đầu tư vào chứng khoán có tínhthanh khoản cao, vì DNBH có thể nhanh chóng bán các loại chứng khoán trên thịtrường để đáp ứng nhu cầu chi trả tiền mặt của doanh nghiệp

Chứng khoán mà doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư chủ yếu gồm có: cổ phiếu và tráiphiếu

a Cổ phiếu

Trang 13

Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ nợ xácnhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Khi DNBH đầu tư vào

cổ phiếu, họ được hưởng các quyền đối với công ty với tư cách là người sở hữu, vớimức độ tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ

Theo tính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông thì có hai loại

cổ phiếu cơ bản là: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

- Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường có ba quyền: Quyền hưởng cổ tức, quyềnđặt mua cổ phiếu mới và quyền bỏ phiếu Lãi cổ tức của cổ phần được chi trả vàocuối năm Tùy theo tình hình hoạt động kinh doanh của công ty phát hành cổ phiếu

mà thu nhập cổ tức là cao hay thấp, và cũng có thể là không có So với việc đầu tưvào cổ phiếu ưu đãi, đầu tư vào cổ phiếu thường rủi ro là cao hơn, đồng thời có tỷsuất lợi nhuận cao hơn

- Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có quyền hưởng cổ tức, nhưng tỷ lệ cổ tứcnày đã được ấn định từ trước Trong điều kiện bình thường cổ đông ưu đãi sẽ nhậnđược cổ tức theo tỷ lệ ấn định Còn trong trường hợp công ty không có đủ lợi nhuận

để trả theo tỷ lệ đó, nó sẽ trả theo khả năng có thể Một khi cổ đông ưu đãi chưa đượctrả cổ tức thì cổ đông thường cũng chưa được trả Tuy nhiên, người nắm giữ cổ phiếu

ưu đãi không được quyền bỏ phiếu như người nắm giữ cổ phiếu thường

Khi đầu tư vào cổ phiếu, ngoài phần lãi thu được từ thu nhập cổ tức, DNBHcòn có thể thu được phần lãi vốn Đó là thu nhận mà DNBH có được do có sự chênhlệch giữa giá thị trường hiện tại và giá mua vào của cổ phiếu Các DNBH khi đầu tưvào cổ phiếu cần nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng để quyết định khi nào bán, khi nàomua để thu được lợi nhuận cao nhất

b Trái phiếu

Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉhoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu đốivới người sở hữu trái phiếu Có thể nói, trái phiếu là một công cụ nợ do Chính phủhoặc các doanh nghiệp phát hành

- Trái phiếu chính phủ: Là loại chứng khoán có thể được coi có rủi ro thanhtoán bằng không vì nó có đảm bảo khả năng thanh toán lớn nhất là thuế và quyền lựcphát hành Trái phiếu chính phủ là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằmmục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích hoặc làmcông cụ điều tiết tiền tệ Trái phiếu chính phủ thường do Bộ tài chính hoặc Kho bạc

Ngày đăng: 17/07/2013, 22:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Cơ cấu bộ máy quản lý công ty - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tại Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện
Hình 1 Cơ cấu bộ máy quản lý công ty (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w