1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

" Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm - Cơ hội cho những nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bước vào nền kinh tế tri thức"

92 343 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quỹ đầu Tư Vốn Mạo Hiểm - Cơ Hội Cho Những Nhà Doanh Nghiệp Trẻ Việt Nam Trong Quá Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Và Bước Vào Nền Kinh Tế Tri Thức
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 410,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa học công nghệ kỹ thuật cao, tốc độ khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, nền kinh tế thế giới đang dần chuyển hướng nhắm tới nền kinh tế tri thức. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang chuẩn bị những hành trang để hội nhập với nền kinh tế thế giới. Với xuất phát điểm của chúng ta là một nước đang phát triển, lạc hậu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, quả thật chúng ta gặp khó khăn rất nhiều trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới. Để có thể thực hiện chiến lược đi tắt đón đầu trong thời đại ngày nay, chúng ta chỉ còn một con đường vận dụng tri thức, sử dụng vốn quí nhất của con người vào trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất, sáng tạo khoa học công nghệ kỹ thuật. Nếu không phát huy sức mạnh của tri thức thì chúng ta sẽ mãi đi theo đuôi các nước phát triển là bãi rác công nghiệp cho thế giới và nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành hiện thực. Có thể thấy rằng việc phát triển khoa học công nghệ kỹ thuật là con đường ngắn nhất để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, là cơ hội cho các doanh nghiệp trẻ Việt Nam cọ xát, thử sức trong môi trường cạnh tranh kinh tế quốc tế. Nhưng đối với các dự án thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ thì thường đòi hỏi vốn lớn và rủi ro laị cao, các chủ đầu tư phải đủ tiềm lực tài chính và đủ năng lực để có thể tài trợ cho các dự án thuộc loại này. Với hệ thống cơ chế tài chính như ở nước ta hiện nay thì khó lòng có thể thực hiện được những dự án có tiềm lực lớn. Các ngân hàng và các tổ chức tài chính hiện có ở Việt Nam thường không đầu tư vào những dự án có độ rủi ro lớn, và chức năng của các ngân hàng cũng chưa thể hiện đúng với chức năng của nhà đầu tư. Đây thực sự là khó khăn lớn nhất đối với đội ngũ các doanh nghiệp trẻ, họ có ý tưởng, có năng lực sáng tạo, có tiềm tàng phát triển nhưng họ thiếu vốn đầu tư, khả năng tài chính không cho phép họ thực hiện những dự án mạo hiểm, họ cần những tổ chức tài chính bảo trợ vốn, coi rủi ro là đầu tư lớn nhất cho lợi nhuận , lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn. Hơn nữa trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì các doanh nghiệp trẻ Việt Nam phải có những bước đột phá lớn về sản phẩm, thương hiệu của mình trên thương trường quốc tế, muốn vậy thì cần phải có những dự án mạo hiểm nhưng mang lại sự phát triển nhảy vọt, và điều kiện tiên quyết là khả năng tài chính phải được đảm bảo. Do đó thiết nghĩ cần phải có một mô hình tài chính phù hợp có thể đáp ứng yêu cầu vay vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ kỹ thuật cao, các doanh nghiệp trẻ có tiềm năng phát triển mạnh. Quỹ đầu tư mạo hiểm là một loại hình tài trợ tài chính tối ưu nhất cho doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Vì mục đích của quỹ đầu tư mạo hiểm là đầu tư vào những doanh nghiêp mới khởi sự và những doanh nghiệp đang ở thời kỳ tăng trưởng mạnh cần vốn lớn. Quỹ đầu tư mạo hiểm chấp nhận rủi ro lớn để kỳ vọng vào mức lợi nhuận trong tương lai cao hơn mức bình quân. Nếu không có quỹ đầu tư mạo hiểm thì nhiều dự án có giá trị cao, có tiềm năng lớn bị xếp xó hoặc cả đời dự án sẽ mãi ở trên bàn giấy, không thể thực hiện được. Với những bức xúc trong thị trường tài chính của Việt Nam và sự thích hợp của quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: " Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm - Cơ hội cho những nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bước vào nền kinh tế tri thức"

Trang 1

Lời nói Đầu

Toàn thế giới đang bớc vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoahọc công nghệ kỹ thuật cao, tốc độ khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão, nềnkinh tế thế giới đang dần chuyển hớng nhắm tới nền kinh tế tri thức Trong bối cảnh

đó, Việt Nam đang chuẩn bị những hành trang để hội nhập với nền kinh tế thế giới.Với xuất phát điểm của chúng ta là một nớc đang phát triển, lạc hậu trong lĩnh vựckhoa học kỹ thuật, đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, quảthật chúng ta gặp khó khăn rất nhiều trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới

Để có thể thực hiện chiến lợc đi tắt đón đầu trong thời đại ngày nay, chúng ta chỉcòn một con đờng vận dụng tri thức, sử dụng vốn quí nhất của con ngời vào tronglĩnh vực kinh doanh sản xuất, sáng tạo khoa học công nghệ kỹ thuật Nếu khôngphát huy sức mạnh của tri thức thì chúng ta sẽ mãi đi theo đuôi các nớc phát triển làbãi rác công nghiệp cho thế giới và nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam chỉ là mộtgiấc mơ không bao giờ thành hiện thực

Có thể thấy rằng việc phát triển khoa học công nghệ kỹ thuật là con đờngngắn nhất để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, làcơ hội cho các doanh nghiệp trẻ Việt Nam cọ xát, thử sức trong môi trờng cạnhtranh kinh tế quốc tế Nhng đối với các dự án thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ thìthờng đòi hỏi vốn lớn và rủi ro laị cao, các chủ đầu t phải đủ tiềm lực tài chính và

đủ năng lực để có thể tài trợ cho các dự án thuộc loại này Với hệ thống cơ chế tàichính nh ở nớc ta hiện nay thì khó lòng có thể thực hiện đợc những dự án có tiềmlực lớn Các ngân hàng và các tổ chức tài chính hiện có ở Việt Nam thờng không

đầu t vào những dự án có độ rủi ro lớn, và chức năng của các ngân hàng cũng chathể hiện đúng với chức năng của nhà đầu t Đây thực sự là khó khăn lớn nhất đối với

đội ngũ các doanh nghiệp trẻ, họ có ý tởng, có năng lực sáng tạo, có tiềm tàng pháttriển nhng họ thiếu vốn đầu t, khả năng tài chính không cho phép họ thực hiệnnhững dự án mạo hiểm, họ cần những tổ chức tài chính bảo trợ vốn, coi rủi ro là đầu

t lớn nhất cho lợi nhuận , lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn Hơn nữa trong xuhớng hội nhập kinh tế quốc tế thì các doanh nghiệp trẻ Việt Nam phải có những bớc

đột phá lớn về sản phẩm, thơng hiệu của mình trên thơng trờng quốc tế, muốn vậythì cần phải có những dự án mạo hiểm nhng mang lại sự phát triển nhảy vọt, và điềukiện tiên quyết là khả năng tài chính phải đợc đảm bảo Do đó thiết nghĩ cần phải

có một mô hình tài chính phù hợp có thể đáp ứng yêu cầu vay vốn của các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ kỹ thuật cao, các doanhnghiệp trẻ có tiềm năng phát triển mạnh Quỹ đầu t mạo hiểm là một loại hình tàitrợ tài chính tối u nhất cho doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Vìmục đích của quỹ đầu t mạo hiểm là đầu t vào những doanh nghiêp mới khởi sự vànhững doanh nghiệp đang ở thời kỳ tăng trởng mạnh cần vốn lớn Quỹ đầu t mạohiểm chấp nhận rủi ro lớn để kỳ vọng vào mức lợi nhuận trong tơng lai cao hơn mứcbình quân Nếu không có quỹ đầu t mạo hiểm thì nhiều dự án có giá trị cao, có tiềmnăng lớn bị xếp xó hoặc cả đời dự án sẽ mãi ở trên bàn giấy, không thể thực hiện đ -ợc

Với những bức xúc trong thị trờng tài chính của Việt Nam và sự thích hợpcủa quỹ đầu t mạo hiểm ở Việt Nam nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

" Quỹ đầu t vốn mạo hiểm - Cơ hội cho những nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bớc vào nền kinh tế tri thức"

Thông qua những cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn của hoạt động đầu

t vốn mạo hiểm trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế tri thức đ ợc trìnhbày trong đề tài, tôi xin đợc nhấn mạnh về ba vấn đề trọng tâm :

Trang 2

 Một là , Việt Nam cần phải hớng tới nền kinh tế tri thức, hội nhập vàonền kinh tế thế giới

 Hai là , những thách thức và cơ hội mà doanh nghiệp trẻ Việt Nam gặpphải trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

 Quỹ đầu t mạo hiểm - định chế tài chính tối u đối với các doanhnghiệp trẻ, phù hợp cho mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là có một cái nhìn đúng đắn vàtoàn diện hơn về các loại quỹ đầu t, đặc biệt là quỹ đầu t mạo hiểm, đồng thời thấy

đợc tầm quan trọng của các quỹ này trong quá trình Việt nam hội nhập vào nềnkinh tế thế giới và tiến lên nền kinh tế tri thức trong tơng lai

I- nền kinh tế tri thức - sự phát triển tất yếu của thời đại và yêu

cầu của hội nhập kinh tế quốc tế

1 Khái niệm nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế tri thức ( knowledge economy ), nền kinh tế dựa trên tri thức(knowledge based economy), nền kinh tế công nghệ cao (high-echnologyeconomy) đang là những thuật ngữ thời thợng hiện nay không chỉ ở những quốc

Trang 3

gia phát triển mà còn ở cả những quốc gia đang phát triển Vậy chúng ta phải hiểu

nh thế nào về những thuật ngữ này và thực chất "Nền kinh tế tri thức là gì?" Hiệnnay trên thế giới có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nền kinh tế tri thức nhng hầuhết đều dựa trên cách định nghĩa của OECD ( Office economic cooperation anddevelopment, tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển ) đợc đa ra trong báo cáo "Kinh

tế dựa trên tri thức " năm 1996 Theo định nghĩa này thì nền kinh tế tri thức là mộtnền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức Để màhiểu đợc định nghĩa mang tính khái quát cao đợc đa ra ở trên thì chúng ta phải xemxét nó dới các khía cạnh khác nhau và đối với mỗi một quốc gia thì lại hiểu địnhnghĩa trên theo cách riêng tuỳ thuộc vào đờng lối chính sách, cơ chế và xu hớngphát triển của quốc gia đó Nhng tựu chung lại chúng ta có thể hiểu định nghĩa nàytheo ba cách tiếp cận khác nhau, cách tiếp cận hẹp , cách tiếp cận rộng và cách tiếpcận bao trùm

Những ngời theo cách tiếp cận hẹp này hiểu tri thức với nghĩa hẹp tức là

đồng nghĩa với khoa học và công nghệ hoặc hẹp hơn nữa là đồng nghĩa với cuộccách mạng khoa học công nghệ hiện đại bao gồm bốn công nghệ trụ cột là: côngnghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghiệp không gian vũ trụ và công nghệvật liệu mới, theo cách tiếp cận này họ nhấn mạnh vào vai trò to lớn và độc nhấtcủa công nghệ thông tin

Ngợc lại với cách tiếp cận trên, thì cách tiếp cận rộng lại dựa trên cách hiểurộng về tri thức tức là mọi hiểu biết của con ngơì đối với bản thân và thế giới,OECD đã phân ra bốn loại tri thức quan trọng , đó là biết cái gì, biết tại sao, biết nhthế nào và biết ai Kinh tế tri thức không chỉ có nguyên nhân từ sự tiến bộ vợt bậccủa các công nghệ mới mà là kết quả của một tập hợp ba nhóm nguyên nhân trựctiếp tác động tơng tác và tự tăng cờng lẫn nhau bao gồm tiến bộ khoa học kỹ thuật,nền kinh tế toàn cầu hoá cạnh tranh quyết liệt và các biến đổi về van hoá chính trị ttởng cuả chủ nghĩa t bản hiện đại

Còn đối với cách tiếp cận bao trùm thì kinh tế tri thức thực chất là một loạimôi trờng kinh tế văn hoá xã hội mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợinhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trờng đó, tri thức tất yếu sẽtrở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế Dovậy, cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri thức không phải đơn thuần là pháttriển khoa học công nghệ mà là phát triển một nền văn hoá đổi mơí, sáng tạo để tạothuận lợi nhất cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi loại tri thức, mọi hiểubiết của nhân loại

Trang 4

Có lẽ là cách tiếp cận bao trùm đã phần nào bao gồm cả hai cách tiếp cậntrên nên nó đợc chấp nhận nhiều nhất và phổ biến nhất Và theo tôi chúng ta có thểhiểu nền kinh tế tri thức theo cách hiểu ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu nh sau: Nềnkinh tế tri thức là một nền kinh tế đợc dẫn dắt bởi tri thức, là một nền kinh tế màviệc sản sinh và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải.

2/ Nền kinh tế tri thức là sự phát triển tất yếu của thời đại , là yêu cầucủa hội nhập kinh tế quốc tế

Nền kinh tế thế giới chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống sang nềnkinh tế công nghiệp với sự mở màn thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp ở nớc Anh

từ năm 1700 đến năm 1820 với sự phát triển của công nghiệp vải sợi, sự phát minh

ra máy hơi nớc của James Watt thời kỳ 1776 - 1781 khởi điểm cho sự phát triểnmáy móc công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (`1820 - 1870),cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (1870-1913), đã có những thành tựu đợc

áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và đã mang lại kết quả to lớn làm tiền đề cho sựphát triển của khoa học công nghệ Và từ năm 1950 trở về đây với sự phát triển kinh

tế đặc biệt ở các nớc công nghiệp phát triển, sự phát triển của trí tuệ, của khoa họccông nghệ, của kiến thức tổ chức quản lý, nền kinh tế do giá trị của tri thức tạo rangày càng tăng Kinh tế thế giới đã chuyển từ thời kỳ nông nghiệp sang tiền côngnghiệp rồi sang công nghiệp và tất yếu bây giờ nó sẽ phát triển lên một hình thứccao hơn nữa, phải chăng đó chính là nền kinh tế dựa trên khoa học kỹ thuật côngnghệ cao

Thực ra vai trò của tri thức trong nền kinh tế không chỉ bây giờ mới đợcnhân loại nói tới mà nó đã đợc đề cập đến từ rất sớm Từ năm 1650, nhà tiên tri tàinăng của nớc Anh, William Patter, đã viết : " Của cải mang tính tợng trng sẽ thaythế cho của cải thật" và để chứng minh cho lời nói của ông thì năm 1690, chiếc máyhơi nớc đầu tiên trên thế giới đã ra đời ngay tại nớc Anh Tiếp theo, sau ông làFrancis Bacon, nhà t tởng lớn ngời Anh khẳng định: " Tri thức là sức mạnh ".Winston Churchill từng nói về việc thiết lập một quốc gia hùng mạnh bằng tri thức.Ngay tại nớc Mỹ năm 1970, các ông trùm kinh tế còn cho rằng công nghiệp nặngcần có xí nghiệp và điều đó sẽ mãi không thể thay đổi Nhng chỉ ít năm sau chính

họ đã phải thừa nhận: " Tri thức mới là chìa khoá để mở cổng để bá quyền kinh tế "

Và Alvin Toffler, học giả ngời Mỹ, một trong những nhà tơng lai học nổi tiếng củathế giới ở thế kỷ XX Năm 1970, ông cho ra mắt bạn đọc cuốn " Cú sốc tơng lai "

Trang 5

(Future shock), Trong cuốn này ông trình bày về quá trình biến đổi của công nghiệp

đối với các tổ chức và con ngơì, dự báo hiệu quả của cuộc cách mạng sinh hoá, củacải cách giáo dục, khả năng kiềm chế và sự biến đổi sao cho có lợi Đến năm 1980,

ông lại cho ra đời cuốn " Làn sóng thứ ba " (The third Wave), lần này ông phân tíchcác hớng biến đổi mang tính chất khoa học kỹ thuật, ông nhấn mạnh vai trò củakhoa học kỹ thuật, cho rằng máy móc hiện đại sẽ thay thế cho sức lực của con ngời

Và 10 năm sau, năm 1990, trong cuốn " Thăng trầm quyền lực " (Power shift ) haycòn gọi là "Tơng lai thế giới " ông khẳng định vai trò then chốt của tri thức là tạo ra

sự biến đổi toàn diện kinh tế thế giới Theo ông, bạo lực chỉ là dạng phẩm chất thấp,của cải thuộc bậc trung còn tri thức mới là phẩm chất cao nhất, nó chuyển hoá liêntục tránh đựoc lãng phí sức lực và tiền của Có thể nói những dự báo của ông đã và

đang nhanh chóng trở thành hiện thực, sách của ông trở thành sách bán chạy nhất

"Best sell"

Thế kỷ XX là thế kỷ khoa học công nghệ tiến nhanh cha từng thấy, giá trịsản xuất vật chất tăng hàng chục lần so với thế kỷ trớc Năm 1903, việc giải phóngnăng lợng hạt nhân của ông bà Mari Quyri đã tạo bớc nhảy vọt trong việc tìm ramột năng lợng mới cho loài ngời, xuất hiện điện tử, tàu phá băng nguyên tử Cuộccách mạng sinh học tạo ra những giống mới dẫn tới bớc phát triển mới trong nôngnghiệp, thụ tinh trong ống nghiệm, năm 1967 ghép đợc tim con ngời Cuối thế kỷ

XX đã giải mã đợc gien của loài ngời , thực hiện sinh sản vô tính , chế tạo ra cácthần dợc Cuộc cách mạng về vật liệu mới, nổi bật là vật liệu compozit đang đợc sửdụng rộng rãi trong các ngành chế tạo máy, các ngành kỹ thuật cao Cuộc cáchmạng về công nghệ vũ trụ với nhiều thành tựu to lớn: Phóng vệ tinh nhân tạo năm

1957 , phóng tên lửa thăm dò mặt trăng năm 1959, đa con ngời lên mặt trăng năm

1969 và khám phá sao hoả

Đặc biệt là cuộc cách mạng thông tin Năm 1832 máy điện tín ra đời mà cha

đẻ là Samuel Morse Năm 1836 đờng dây điện báo xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ.Năm 1960, các xí nghiệp ở Mỹ đều trang bị máy điện toán Điện thoại ra đời năm

1901, truyền ảnh từ xa ra đời năm 1905, truyền hình từ xa ra đời năm 1914, vôtuyến truyền hình ra đời năm 1926, đến năm 1951 có vô tuyến truyền hình màu,máy tính ra đời năm 1949, nay là máy tính nối mạng và sự phát triển cực nhanh củaInternet.Trong vài thập kỷ gần đây, máy vi tính và mạng Internet là công cụ khôngthể thiếu đợc trong các công ty, nhà máy Sự ra đơì của Internet đã gắn liền cả thếgiới với nhau, buôn bán xuyên quốc gia đã trở nên dễ dàng hơn và thuận tiện hơn.Thơng mại điện tử là một hình thức buôn bán phổ biến ở trên thế giới Máy rút tiền

tự động, các cửa hàng bán đồ tự động và thanh toán bàng thẻ tín dụng điện tử khôngcòn xa lạ đối với con ngời Ngày nay, công nghệ không dây đã phát triển lên tới

Trang 6

đỉnh cao thể hiện ở sự bùng nổ sử dụng máy điện thoại di động, các đời điện thoại

di động không ngừng đợc nâng cấp và cải tiến Công nghệ sinh học cũng đang trên

đà phát triển với sự ra đời của cừu Dolly, theo thống kê đã có đúa trẻ thứ 1000 đợcsinh ra trong ống nghiệm, việc cấy ghép gen đã có thể thực hiện đợc Qua đó có thểthấy khoa học kỹ thuật công nghệ đã phát triển không ngừng và đạt đựơc nhiềuthành tựu đáng kể Đó chính là tri thức , là công nghệ tri thức Hơn nữa, con ngờivới t chất năng động, sáng tạo, luôn luôn muốn tìm tòi, khám phá ra những cái mới

và không bao giờ tự hài lòng với những gì mình đang có Yêu cầu của con ngờingày càng trở nên đa dạng, phong phú, phức tạp, muốn đáp ứng đợc thì càng phảinâng cao sự tích luỹ tri thức trong sản phẩm, phải tạo ra đợc những sản phẩm cótính năng đa dạng, chất lợng tốt, giá rẻ và chứa hàm lợng tri thức cao

Từ giữa thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX , có thể nói đây là thời kỳ phát triển

có tính chất bớc ngoặt của yếu tố tri thức với t cách là một yếu tố của lực lợng sảnxuất và nó đợc bắt đầu ở nớc Mỹ - một quốc gia đứng vị trí thứ nhất trong nền kinh

tế toàn cầu Trớc đây con ngời khai thác tài nguyên thiên nhiên, lấy đó làm nguồnlực để phát triển kinh tế nhng tài nguyên cũng chỉ có giới hạn , khai thác mãi thìcũng phải cạn kiệt do đó con ngời cần phải phát triển khoa học kỹ thuật để tạo ranhững vật liệu cần thiết cho sản xuất mà không phải lấy từ thiên nhiên Tới đây thìkhoa học kỹ thuật đã trở thành nhân tố quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế.Nhờ có khoa học kỹ thuật mà vòng đời của sản phẩm đợc rút ngắn, hàm lợng chấtxám và vốn chứa đựng trong tri thức tăng cao

Xu hớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽcùng với sự bùng nổ về khoa học công nghệ thông tin Nhờ có công nghệ thông tin

mà quá trình giao thơng giữa các quốc gia trở nên dễ dàng hơn nhiều, ngành côngnghệ khoa học kỹ thuật của nhiều quốc gia nh Mỹ, Anh , Pháp, Đức đang ở đỉnhcao, do đó muốn đạt tới yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế thì các quốc gia khác phảibắt kịp tốc độ phát triển các ngành khoa học công nghệ vì giờ đây nó chính lànguồn gốc của sự giàu có và hùng mạnh của mỗi quốc gia và cũng chỉ có con đờng

đó mới giúp cho các nớc nhỏ , các nớc đang phát triển mới có điều kiện hội nhậpvào nền kinh tế quốc tế Có thể nói tốc độ phát triển công nghệ thông tin là chìakhoá cho sự thành công Trớc đây, giá trị đồng nghĩa với khối lợng, số lợng nhnggiờ đây giá trị có nghĩa là chất lợng, một con chíp bé tẹo có thể cấy ghép vào mạchmáu con ngời lại có giá trị gấp mấy chục lần một chiếc máy vi tính chứa đựng vô sốnhững vi mạch điện tử Càng nhỏ càng đắt tiền, đó là khẩu hiệu thời đại công nghệ

kỹ thuật, một chiếc điện thoại di động bé bằng nửa lòng bàn tay lại có giá trị gấpnhiều lần so với một chiếc di động to bằng cục gạch Câu hỏi cần đặt ra ở đây là tạisao những sản phẩm tốn nhiều vật chất hơn lại có giá trị ít hơn nhiều so với những

Trang 7

sản phẩm mà sử dụng rất ít t liệu sản xuất, tại sao những sản phẩm đời sau lại sửdụng ít t liệu sản xuất hơn những sản phẩm đời trớc Câu trả lời duy nhất cho vấn đềnày là yêu cầu của con ngời ngày càng cao, xu hớng tiêu dùng những sản phẩmchứa nhiều hàm lợng giá trị tri thức càng đợc a chuộng Giá trị của sản phẩm đợc

đánh giá dựa theo hàm lợng tri thức chứa đựng trong nó, theo công năng , tiện ích

và u điểm của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại Chỉ có những thành tựu củakhoa học công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật cao mới có thể tạo ra đợc nhữngsản phẩm u việt nh vậy, đây cũng là câu trả lời cho sự phát triển nhảy vọt của NhậtBản - một đất nớc không đợc u đãi về tài nguyên thiên nhiên, nhng nó trở thành c-ờng quốc đứng thứ ba trên thế giới là dựa vào tri thức dựa vào những thành tựu khoahọc công nghệ Nhật Bản đã có những chiến lợc phát triển khoa học công nghệ rấthợp lý và hiệu quả Cũng giống nh Nhật Bản, Hàn Quốc trong vài thập kỷ gần đây

đã vơn lên thành một trong những nớc có nền công nghệ thông tin phát triển vàobậc nhất trên thế giới Vậy, để hội nhập kinh tế quốc tế, hoà mình vào dòng chảychung của toàn cầu thì các nớc đang phát triển mà điển hình là Việt Nam chúng tacàng cần phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa khoa học công nghệ thông tin Khi hộinhập vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới có nghĩa là cùng chung một sânchơi, mạnh đợc yếu thua, đây là một thách thức to lớn đối với các nớc đang pháttriển vì phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh quốc tế có trình độ khoa học côngnghệ vợt trội nhng đồng thời cũng là cơ hội, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triểncủa những nớc này Do đó muốn trụ vững đợc trên thơng trờng quốc tế thì sản phẩmcủa các doanh nghiệp mới tham gia thị trờng quốc tế ít ra cũng phải ngang tầm vớicác sản phẩm khác trên thị trờng Mặt khác khi hội nhập kinh tế quốc tế , các nớc

đang phát triển nh Việt Nam có thể xâm nhập vào thị trờng các nớc khác nhng cũng

đồng nghĩa với việc thị trờng trong nớc bị chia sẻ, nếu không giữ vững và củng cố

đợc thị phần trong nớc thì chúng ta đã bị thua ngay trên sân nhà , chơi trên sân nhàcòn thua thì nói gì đến việc chơi trên sân bạn , điều này có nghĩa là khả năng cạnhtranh của chúng ta quá hạn chế Để cải thiện tình trạng này không còn cách nàokhác là phải phát triển khoa học công nghệ, sử dụng khoa học công nghệ một cáchhợp lý và có hiệu quả, phải đầu t chất xám trong sản phẩm, sản phẩm đợc sản xuất

ra phải chứa đựng hàm lợng tri thức cao, phải có khả năng cạnh tranh Vì vậy, vớiyêu cầu hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá thì Việt Nam nói riêng và các nớc

đang phát triển nói chung phải đánh giá đợc tầm quan trọng của tri thức trong việcsản xuất, ứng dụng triệt để các thành tựu khoa học công nghệ sẵn có, không ngừngnghiên cứu, sáng tạo các công nghệ mới, hiện đại đáp ứng đợc nhu cầu ngày càngcao của nhân loại

Trang 8

Tri thức còn đợc vận dụng vào trong quản lý, tổ chức, tri thức trở thànhnguồn lực căn bản của kinh tế quốc gia Tri thức quyết định tăng trởng kinh tế vànhất là trong giai đoạn hiện nay , nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới đangcạn kiệt dần thì vai trò của tri thức càng đợc nhấn mạnh Trong nền kinh tế tri thứcnguồn tài nguyên trí lực và khoa học kỹ thuật công nghệ trở thành lực lợng sản xuấttrực tiếp , lực lợng có vai trò quan trọng hàng đầu Vậy, sự xuất hiện nền kinh tế trithức là một quá trình , một thực tế tất yếu chứ không phải là ngẫu nhiên Kinh tế trithức là sự phát triển tất yếu của thời đại.

II- Quá trình hình thành quỹ đầu t mạo hiểm

1/ Quỹ đầu t - quỹ đầu t mạo hiểm

Nền kinh tế muốn tăng trởng nhanh, nhất thiết phải có nhiều vốn đầu t Vấn

đề đặt ra là làm thế nào để các tổ chức, cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà doanhnghiệp có ý tởng kinh doanh, có các dự án kinh doanh nhng thiếu vốn đầu t gặpnhau đợc, cùng hợp tác với nhau, cùng nhau tìm kiếm các cơ hội kinh doanh có lợinhất Để làm "cầu nối " giữa bên cần vốn với bên có vốn nhàn rỗi, nhiều loại hình

định chế tài chính trung gian đã ra đời Một trong những định chế tài chính trunggian có ảnh hởng nhiều đến các hoạt động đầu t trong nền kinh tế, đó là " quỹ đầu t-

Đầu t trực tiếp là việc các quỹ đầu t dùng vốn của mình để thâm nhập trựctiếp vào các công ty, các dự án bằng cách góp cổ phần, mua cổ phiếu phát hành lần

đầu với t cách là cổ đông sáng lập nh các sáng lập viên khác

Đầu t gián tiếp là việc quỹ đầu t tự dùng vốn của mình tham gia vào thị ờng chứng khoán với t cách của một nhà kinh doanh chứng khoán, mua đi bán lạicác chứng khoán, nhằm hởng chênh lệch giá hay cổ tức từ các công ty hoặc lợi tứctrái phiếu Tuy nhiên quỹ đầu t không phải là thành viên của thị trờng chứng khoán

Trang 9

tr-tập trung Các quỹ đầu t có thể dùng vốn của mình cho các chủ doanh nghiệp vay

để đầu t vào các dự án theo những thoả thuận nhất định Nguồn vốn hình thành quỹ

đầu t rất phong phú và đa dạng Các tập đoàn t bản, các công ty, dân chúng có vốnnhàn rỗi dù nhiều hay ít đều có thể trở thành các chủ sở hữu của quỹ đầu t bằngviệc mua các chứng chỉ quỹ đầu t do quỹ đầu t phát hành

Hiện nay có rất nhiều loại hình quỹ đầu t nh : quỹ đầu t chứng khoán, quỹ

đầu t hỗn hợp, quỹ hỗ trợ đầu t, quỹ đầu t mạo hiểm Nhng trong đề tà này tôi chỉxin nghiên cứu về quỹ đầu t mạo hiểm Vậy để hiểu rõ từng khía cạnh của quỹ đầu

t mạo hiểm thì trớc tiên chúng ta phải hiểu quỹ đầu t mạo hiểm là gì và bản chất của

Để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, nhiều nớc đã áp dụng hìnhthức huy động vốn đầu t mạo hiểm để cung cấp cho các dự án, chơng trình Điểnhình trong hoạt động này là ngời Mỹ, họ đã phát triển mạnh hình thức vốn mạohiểm (Venture capital), đáp ứng một cách nhanh chóng và hiệu quả cho các dự áncủa mình Hiện nay tại Mỹ đã hình thành một thị trờng vốn mạo hiểm khổng lồ, cókhả năng tài trợ cho nhiều dự án, đặc biệt là những nghiên cứu công nghệ cao Vậyvốn mạo hiểm là gì và vai trò của chúng nh thế nào trong hệ thống tài chính của cácquốc gia trên thế giới hiện nay?

Theo một nghiên cứu gần đây của “Chơng trình dự án phát triển sông MêKông” (năm 1998) thì có hai định nghĩa về vốn mạo hiểm, một theo nghĩa rộng và

một theo nghĩa hẹp." Theo nghĩa rộng thì vốn mạo hiểm là nguồn tài chính cung cấp cho các công ty t nhân dới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu t gần giống nh vốn cổ phần có thời hạn trung bình (3 - 5 năm)" Số cổ phần giành đợc

trong các công ty nhận đợc vốn đầu t loại này có thể chiếm tỷ phần ít ỏi hoặc chiếm

đa số áp đảo Nh chúng ta đã biết, đầu t là hoạt động bỏ vốn ra tập trung vào mộtmục đích nào đó nhằm mu cầu một khoản thu về lớn hơn trong tơng lai, nhng khácvới đầu t thông thờng, mục tiêu của đầu t mạo hiểm là kiếm đợc khoản thu nhậpvốn cao hơn mức trung bình Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi khoản đầu

t đó đợc bán cho một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc bán cho công chúng (báncho công chúng là hiện tợng phổ biến xảy ra ở các nớc châu á Bên cạnh việc cungcấp vốn, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn t vấn ở tầm chiến lợc, cho cáccông ty nhận vốn đầu t khi họ bớc sang giai đoạn tăng trởng kế tiếp và thậm chíchuẩn bị sẵn sàng để công ty đợc chuyển giao cho các cổ đông khác

Định nghĩa hẹp, xác định vốn mạo hiểm là các khoản đầu t vốn cổ phần tnhân trung hạn vào các công ty nhận vốn cha trởng thành Nói cách khác, công ty

Trang 10

nhận vốn đầu t đang trong giai đoạn đầu (manh nha) của quá trình phát triển sảnphẩm, phát triển năng lực sản xuất hoặc bắt đầu mở rộng cung cấp hàng hoá, dịch

vụ Trong giai đoạn đầu phát triển, các công ty hiện nay ngày càng phát triểnnhanh, có xu hớng rút ngắn lịch sử phát triển và có quy mô nhỏ hơn so với đa số cáckhoản đầu t đợc nêu trong định nghĩa rộng, rủi ro cũng có xu hớng cao hơn Vì thế ,các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập vốn tiềmnăng cao hơn Sự khác biệt giữa hai định nghĩa trên ở một góc độ nào đó là mức độtrởng thành của các công ty nhận vốn đầu t

Chúng ta cũng có thể hiểu quỹ đầu t mạo hiểm duới góc độ khác và theo tôicách định nghĩa này dễ hiểu và thể hiện rõ chức năng của quỹ đầu t mạo hiểm hơn

cả Quỹ đầu t mạo hiểm là hình thức huy động vốn để đầu t tiền và kỹ năng vào các công ty mới khởi sự có tiềm năng phát triển cao hoặc các công ty đang ở giai đoạn tăng trởng cao (Thông thờng các công ty này là những công ty cha đợc niêm yết và

cổ phiếu cha đợc mua bán trên các sàn giao dịch chứng khoán) Theo định nghĩanày thì ngoài việc đầu t tiền, công ty quản lý quỹ còn đầu t kỹ năng quản lý vào cáccông ty thuộc danh mục để đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động các công ty này

2/ Lịch sử ra đời của quỹ đầu t mạo hiểm

Quỹ vốn mạo hiểm đầu tiên đợc thành lập năm 1946 ở Mỹ tại thành phốBoston, có tên gọi là công ty Nghiên cứu và Phát triển Mỹ (ARD Coporation) đã đ-

ợc hình thành dới hình thức một quỹ hỗ tơng dạng đóng (closed end) Sự ra đời củaquỹ này gắn liền với sự phát triển của thung lũng Silicon Quỹ này đợc hình thành

để kiếm các dự án đầu t có nhiều tiềm năng đem lại thu nhập cao Công ty DigitalEquipment Inc đã mang lại hơn 50% lợi nhuận của quỹ này Nhiều quỹ vốn mạohiểm đã ra đời tiếp sau đó Cũng vào khoảng thời gian này, các tổ chức của chínhphủ bảo trợ cho các doanh nghiệp nhỏ đợc thành lập nh SBA và SBIC nhng quy môvốn đầu t cho từng doanh nghiệp vẫn còn nhỏ

Tuy nhiên, đã có những thay đổi quan trọng trong lãnh vực này vào nhữngnăm 1970 khi có một đạo luật về giảm thuế đánh trên lợi nhuận do tăng vốn (capitalgain tax) đợc ban hành Một yếu tố thứ hai đã tác động đến sự phát triển các quỹvốn mạo hiểm khi vào năm 1979 sau khi Bộ Lao động Hoa kỳ điều chỉnh lại cácquy định liên quan đến việc đầu t của các quỹ hu trí, đã thúc đẩy những khoản vốn

từ quỹ hu trí đầu t cho các doang nghiệp mới cần vốn mạo hiểm để đòi lại cáckhoản lơị nhuận cao trong danh mục đầu t đa dạng hoá

Trang 11

Cũng vào thời kỳ này và những năm đầu thập niên 1980 và 1990 đã có sựtăng vọt về các khoản vốn đầu t mạo hiểm song hành với các cuộc phát hành lần

đầu ra công chúng, cùng với các diễn biến tăng giá cổ phiếu ngoạn mục trên thị ờng cổ phiếu Trong khoảng thời gian này, dù có tốc độ tăng trởng rất nhanh, khốilợng vốn mạo hiểm chỉ đạt 10 đến 15 tỷ USD trong những năm 1980 Sau đó vào

tr-những năm 1990, tr-những thiên thần đầu t (thiên thần đầu t là thuật ngữ chỉ các nhà

đầu t vốn mạo hiểm cho những dự án ngay từ khi thai nghén hoặc mới hình thành,

đặc biệt là các dự án đi liền với các phát minh, sáng chế còn quá mới mẻ với cácnhà tài chính chuyên nghiệp vì cha đủ thông tin cần thiết về các phát minh nhữngkhoản đầu t này rất khó thẩm định về hiệu quả kinh tế và khó gọi vốn trong nhữngthời kỳ mới hình thành) đã bỏ ra khoảng 30 tỷ USD cho các dự án vốn mạo hiểm.Theo một nghiên cứu của Wetzel hàng năm có khoàng 50 tỷ USD đợc các quỹ vốnmạo hiểm đầu t cho các dự án trên toàn cầu Tại vơng quốc Anh các quỹ vốn mạohiểm với vốn trên 5 tỷ USD đã tập hợp thành Hiệp hội các quỹ vốn mạo hiểm AnhQuốc (British venture capital association)

Riêng chính phủ Hoa Kỳ đã đầu t khoảng 63 tỷ USD cho các dự án mạohiểm, nhng tập trung chủ yếu vào các trờng đại học Đối với các ngành công nghiệpnhỏ, vốn mạo hiểm đã đóng vai trò tác động quan trọng Trong khoảng 10 năm kếtthúc vào năm 1988, trên 305 cuộc phát hành lần đầu ra công chúng (IPO), là củacông ty có vốn mạo hiểm, điều này có nghĩa là các công ty đó đợc các quỹ vốn mạohiểm cấp vốn trong thời kỳ đầu và vẫn tiếp tục đầu t vào các doanh nghiệp pháthành này trong các giai đoạn phát triển tiếp theo Quỹ đầu t mạo hiểm đã đợc hìnhthành phát triển mạnh mẽ, đang trở thành một nghành công nghiệp tại Mỹ, Anh và

Đức Còn tại Châu á, quỹ đầu t mạo hiểm cũng đã xuất hiện lần đầu tiên ởSingapore Năm 1985 với sự hoạt động rất tích cực của Uỷ ban phát triển kinh tếnhằm thức đẩy sự vận động của hoạt động tài chính hỗ trợ cho nguồn vốn đầu t rủi

ro Tại Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan, hình thức đầu t này cũng đã xuất hiện từrất sớm Năm 1690, tại Hàn quốc, các nhà đầu t đã liên kết với nhau và thành lập ra

13 câu lạc bộ các nhà đầu t, họ chọn lựa những doanh nghiệp đợc đánh giá là cótiềm năng phát triển nhất trong số các doanh nghiệp mới đợc thành lập để đầu t vốnliếng và kinh nghiệm hoạt động của mình Năm 1996, Fuji Bank của Nhật đã thiếtlập ra bộ phận đợc gọi là "Phòng tín dụng cho các doanh nghiệp mới ", chức năngcủa ban này là hỗ trợ thực hiện gia tăng đầu t cho các hãng kinh doanh mới thànhlập, tìm kiếm những hãng có tiềm năng phát triển cao và giúp đỡ họ trong việc mởrộng sản xuất kinh doanh

Trang 12

Lịch sử phát triển của quỹ đầu t mạo hiểm khá là lâu dài và hoạt động vớiphạm vi tơng đối rộng, từ Mỹ, Anh và ở cả Châu á nh Nhật, Singapore, HànQuốc Hoạt động của các quỹ này đã mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh

tế của các nớc phát triển và kinh tế thế giới Do đó, quỹ đầu t mạo hiểm không phải

là xa lạ đối với nhân loại mà mặt khác nó còn là hình thức đầu t rất hiệu quả

3/ Tổ chức, quy trình hình thành và quy trình đầu t quỹ vốn mạohiểm

3.1> Tổ chức của các công ty vốn mạo hiểm

Sự thành công của các quỹ vốn mạo hiểm lệ thuộc vào khả năng giải đáptính phức tạp của các dự án mới Các nhà quản trị vốn mạo hiểm, bên cạnh khảnăng phát hiện ra những dự án tiềm năng có mức tăng trởng cao, phải có năng lực tổchức quản trị các đầu t này một cách hiệu quả Thông thờng việc theo dõi các dự án

nh vậy rất tốn kém trong chi phí quản trị tổng hợp các danh mục đầu t của quỹ vốnmạo hiểm Ngoài ra, nhà quản trị phải có năng lực đàm phán hợp đồng để phát triển

mở rộng, tái bố trí nhân sự phù hợp cho từng giai đoạn phát triển nhằm đạt đợc mục

đích cuối cùng của nhiệm vụ là đạt mức tăng trởng cao trong toàn quý Khác vớiquỹ đóng thông thờng, loại quỹ vốn mạo hiểm hạn chế thời gian và bắt buộc thànhviên tổng quát phải liên tục tìm kiếm các đầu t tốt để gia tăng giá trị và hoàn thànhchỉ tiêu đề ra Khác với quỹ đóng, dòng vốn chạy vào quỹ vốn mạo hiểm là thuộcnhu cầu thị trờng, cho phép quỹ phát triển mở rộng khi có thời cơ đầu t tuỳ theo đềnghị của thành viên tổng quát

Do những yêu cầu đối với thành viên của quỹ vốn đầu t mạo hiểm nh trênnên các nhà quản trị đã chọn lọc ra mô hình thành viên hợp danh trách nhiệm hữuhạn cho cac quỹ vốn mạo hiểm Hình thức sở hữu này giảm thiểu các vấn đề nảysinh trong quá trình đầu t vào dự án mới bởi vì với hình thức này, các nhà đầu t cóthể tham gia nhiều quỹ với những mục tiêu đa dạng Trong khi đó, thành viên tổngquát đợc thoải mái quyết định đầu t vào các dự án sẽ mang lại giá trị cao cho quỹ.Sau cùng cơ cấu của quỹ cho phép sử dụng hiệu quả tính thanh khoản mà chỉ có cácnhà đầu t định chế lớn mới có Nó cho phép nhà quản lý quỹ yên tâm vì không cónhững biến động dòng vốn vào và dòng vốn chảy ra Các nhà quản lý quỹ có thểcam kết tham gia vào các dự án tốt và ngợc lại đôi khi phải ngồi chờ vì không có dự

Trang 13

án tốt để đầu t Dạng thức ban đầu này vẫn còn những hạn chế khiến cho các nhà tàichính lựa chọn một mô hình hoàn thiện hơn cho các quỹ vốn mạo hiểm nh sau:

Theo mô hình Venture Capital Limited Partnership, Hợp danh trách nhiệmhữu hạn vốn mạo hiểm chỉ có hai loại thành viên là: Thành viên tổng quát và thànhviên trách nhiệm hữu hạn

 Thành viên tổng quát ( General Partnes)

 Các thành viên tổng quát là ngời lập ra quỹ vốn mạo hiểm bằng cách gọi vốn từthành viên hợp danh trách nhiệm hữu hạn Các thành viên tổng quát có trách nhiệm

tổ chức đầu t vốn gọi đợc Sau khi có nguồn vốn, các thành viên tổng quát tìm kiếmsàng lọc các cơ hội đầu t, và khi gặp đợc cơ hội tốt, các cổ đông này đàm phán tổchức đầu t

 Việc tham gia đầu t vốn vào một dự án cũng có nghĩa là các thành viên tổngquát phải tốn thì giờ và công sức để theo dõi, giám sát và t vấn cho các dự án đầu tmới Quan điểm về cách tổ chức đầu t và tham gia giám sát có khác nhau tùy từngnhóm quỹ vốn mạo hiểm

 Sau cùng thành viên tổng quát phải tổ chức thu hoạch thành quả đầu t bằng cách

tổ chức phát hành ra công chúng hay tổ chức bán dự án, doanh nghiệp cho mộtcông ty đầu t, đồng thời điều động nhân lực quản trị qua các dự án đầu t mới vì các

dự án cũ đã đợc phát hành ra công chúng và thông thờng có lực lợng quản lý mới

 Các thành viên tổng quát phải báo cáo thờng xuyên việc đầu t sử dụng vốn, đặcbiệt là mức lợi nhuận Họ nhận đợc trị giá 2% đến 3% trị giá quỹ vốn đã thực góp

để sử dụng vào chi phí điều hành quỹ Ngoài ra, theo thông lệ các nhà quản lý quỹ(cổ đông tổng quát) đợc hởng từ 20% đến 30% lợi nhuận tăng trởng trên số vốn đã

đợc đầu t

 Phần lớn các thành viên tổng quát thờng tụ tập dới dạng hợp danh TNHH haymột công ty TNHH để có thể liên tục điều hành, đàm phán, ký kết và thực hiện cácnhiệm vụ đầu t cho dù có thể có một thành viên muốn ra đi khỏi quỹ vốn

Trang 14

Sơ đồ 1:Cơ cấu và qui trình hình thành của tổ chức quỹ vốn mạo hiểm

 Thành viên trách nhiệm hữu hạn (Limited Partners)Thành viên trách nhiệm hữu hạn của các quỹ vốn mạo hiểm thờng là:

Thành lập công

ty quản trị

TNHH

Đóng góp công sức và quản lý quỹ vốn

Phí quản lý 3% mỗi năm

2-Chia 20-30% lợi nhuận (do tăng vốn)

Quỹ vốn mạo hiểm

Đóng góp vào

quỹ vốn Chia 70%-80% lợinhuận (do tăng

vốn)

Cung cấp vốn công sức (quản trị)

Thu nhập tài chính

Thành viên trách nhiệm hữu hạn

Trang 15

Lý do chính của sự tham gia của các loại thành viên này là:

 Sự đầu t lâu dài và ổn định Phần lớn các nhà đầu t loại trên đây có thể tham gia

ổn định trong một dự án gọi vốn dài hạn

 Sự phân bổ lợi nhuận tỉ lệ theo vốn góp Các định chế đầu t không phải thúcbách lắm trong việc đòi hỏi lợi nhuận phân chia vào đúng ngày

 Các nhà đầu t vào quỹ vốn mạo hiểm thờng đòi hỏi có thời gian để cân nhắc tínhtoán, trớc khi phát hành lần đầu ra công chúng và họ có thể đợc vào hay ra quỹtheo thời điểm tự tính toán

Một quan tâm lớn đối với các thành viên tổng quát là tìm đợc cổ đông có thểtham gia lâu dài vào quỹ Các định chế nói trên thờng có khả năng đáp ứng yêu cầu

đó

Quan tâm lớn thứ hai là khả năng góp vốn đúng thời điểm gọi vốn (capitalcall)

Việc góp vốn đúng thời điểm cho phép các nhà quản trị chớp đợc thời cơ

đầu t vào các dự án tốt Ngợc lại, đôi khi sự góp vốn trễ có thể hủy hoại uy tín vàquá trình đầu t của một nhóm thành viên quỹ vốn mạo hiểm

Trang 16

3.2> Qui trình hình thành một quỹ vốn đầu t mạo hiểm.

Có thể nói xây dựng đợc một quỹ vốn mạo hiểm là một quá trình tốn kémnhiều mặt Các thành viên tổng quát thờng phải mất nhiều thì giờ, công sức và chiphí để tiếp thị, thuyết phục các nhà đầu t tiềm năng tham gia vào quỹ, cũng nh xâydựng niềm tin vào lợi nhuận của những đầu t và quyền đợc quản lý quỹ

Quá trình hình thành một quỹ vốn đầu t mạo hiểm thờng trải qua các giai

đoạn nh sau:

 Các thành viên tổng quát cảm nhận và phát hiện các cơ hội đầu t có tiềm năngphát triển tốt đẹp, có mức tăng trởng nhanh và triển vọng lợi nhuận cao Thôngthờng thì các thành viên tổng quát phải bỏ ra nhiều công sức, thời gian, chi phí,

để xây dựng hồ sơ dự án, chuẩn bị nền tảng cho triển khai dự án và phát hiện cácnguồn vốn tơng lai khả thi

 Các thành viên tự thẩm định dự án để lựa chọn sản phẩm, thị trờng, các chiến lợcphát triển cũng nh lựa chọn hình thức tổ chức doanh nghiệp phù hợp và cách tổchức tiếp nhận các nguồn tài chính để đi đến quyết định thực hiện

 Xây dựng mô hình tổ chức và tính pháp lý của quỹ vốn, ví dụ công ty đầu t hayquỹ hỗ tơng hay quỹ đầu t dạng đóng mở

Sau bớc này các thành viên xem xét và ra quyết định về mức vốn, số lần gọi vốn(tranches), mô hình chi tiết thể thức đầu t, cơ cấu thành phần quỹ vốn, HĐ quản trị,HĐ điều hành Vì phần lớn các thành viên là những định chế tài chính đầu t nên họtrở thành những ngời tham gia xem xét thận trọng (nh qui trình Due diligenee) cácchi tiết thành lập để góp phần bảo đảm cho thành công của quỹ

 Các thành viên ra quyết định về các chiến lợc thực hiện và chiến lợc chiếm lĩnhthị trờng

 Lập LCKTKT hay dự án khả thi sau cùng của từng dự án trong quỹ

 Tổ chức huy động vốn, ấn định ngày đóng quỹ Hợp đồng với các đối tác cungcấp vốn

 Triển khai công việc đầu t theo kế hoạch và chiến lợc đề ra

 Hội đồng điều hành và các thành viên tổng quát theo dõi việc triển khai, quản lýkinh doanh, giám sát các dự án, góp ý t vấn và kiểm tra định kỳ Thu nhận cácbáo cáo hoạt động và báo cáo kiểm toán

 Tiếp tục công việc điều hành cho đến khi thu hoạch

Tất cả các chi tiết trên đều đợc đa vào hợp đồng thành lập quỹ vốn mạo hiểm

Trang 17

3.3> Qui trình đầu t vốn mạo hiểm.

3.3.1 Giai đoạn hình thành

Thông thờng, một quỹ hình thành phải mất một số thời gian nhiều tháng.Trong thời gian này, các thành viên tổng quát nghiên cứu và tìm kiếm dự án đầu t

và tìm các nguồn cấp vốn cho quỹ Cũng trong giai đoạn này, thành viên tổng quát

lo tiến hành các thủ tục cam kết đầu t và cam kết đóng vốn, tiến hành các thủ tụcchuẩn bị về pháp lý cho quỹ đầu t

Qui trình đầu t một quỹ vốn mạo hiểm

Phát triển khái niệm quỹ

Chọn lọc

dự án đầu

t

Thẩm định vàtiến hành cácthẩm tra D.D

Thơng thuyếtcác thơng vụ vàcác giai đoạn

Tiếp tục cáclần gọi vốn vốn vào dự án Đầu t nguồn

Củng cố các cam kết

đầu t Xúc tác cho thỏa thuận vận hành

Đóng quỹ gọi vốn lần đầu

Giám sát và tạo giá trị

Thu hoạch đầu t

Trang 18

3.3.2 Giai đoạn gọi vốn

Thời kỳ đóng quỹ, gọi vốn, đặc biệt là ngày đóng quỹ có thể đợc coi là ngàysinh nhật đầu tiên của quỹ vốn mạo hiểm Việc đóng đầy đủ vốn theo đăng ký cóthể kéo dài hai, ba năm, vì vậy có thể xây dựng một thời biểu nhiều ngày đóng quỹ(fund closing date) Vào ngày đóng quỹ đầu tiên, một số các nhà đầu t có mặt và đ-

ợc những quyền lợi ngang nhau căn cứ tỉ lệ góp vốn Quyền lợi đó tiếp tục đ ợc duytrì trong quá trình đóng vốn trừ khi từng thành viên quyết định thay đổi vị trí và bán

đi cổ phần của mình Một lịch trình nhiều lần đóng quỹ cho phép nhà đầu t thấy đợc

số tiền đóng vốn đợc đầu t nh thế nào vào các danh mục đầu t và giá trị thị trờngcủa của từng danh mục ở từng thời kỳ

3.3.3 Giai đoạn đầu t

Thời kỳ đầu t vào các danh mục và dự án, các thành viên tổng quát chọn lọc,thẩm định dự án, thơng thuyết mua cổ phần hay tham gia vốn vào các dự án Quitrình này xảy ra liên tục trong hai đến ba năm Để đầu t hết vốn, các nhà quản lýquỹ phải làm việc với hiệu năng rất cao cũng nh với chất lợng kỹ thuật đầu t cao để

đảm bảo lợi nhuận nh cam kết ban đầu Trong quá trình này tiếp tục có những đợtgọi vốn thêm (tranches) để đáp ứng nhu cầu đầu t

3.3.4 Giai đoạn tăng cao giá trị.

Sau khi đã thực hiện đầu t vào các danh mục, các thành viên tổng quát tiếp tụcxây dựng bộ máy quản trị quỹ và đặt thêm quan hệ với các tổ chức tài chính, kinhdoanh để thao tác tăng thêm giá trị vốn quỹ Phần lớn quỹ vốn mạo hiểm muốn thuhoạch lợi nhuận sau năm năm đầu t Vì vậy thời gian hoạt động tích cực của mộtquỹ là bốn hay năm năm

Do các dự án đợc quỹ đầu t mạo hiểm tài trợ thờng là các dự án có độ rủi rocao nên các nhà đầu t vốn mạo hiểm hiếm khi đầu t vào các công ty trẻ toàn bộ lợng

Trang 19

vốn đợc dự kiến, họ sẽ cung cấp vốn theo nhiều giai đoạn Trong từng giai đoạn họcân nhắc lợng vốn đầu t sao cho vừa đủ để cuối giai đoạn đầu t, doanh nghiệp đủsức phát triển đến điểm tăng trởng tiêp theo trong chuỗi tăng trởng dự kiến củadoanh nghiệp

Sau mỗi giai đoạn, nhà đầu t vốn mạo hiểm sẽ tính toán tỉ lệ hoàn vốn đầu t,mức sinh lời, triển vọng kinh doanh Nếu khả năng tồn tại và phát triển của doanhnghiệp không khả thi nhà đầu t sẽ từ chối bổ sung quỹ

Là các nhà đầu t dài hạn, phần lớn các nhà đầu t vốn mạo hiểm không dự kiếnlãi phát sinh trong vòng 3-7 năm đầu tiên của quá trình tài trợ Vốn đầu t ban đầuchỉ là sự bắt đầu mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu t vốn mạo hiểm và doanh nghiệpmới Sau giai đoạn đầu nếu doanh nghiệp tiếp tục phát triển, nhà đầu t sẽ bổ sungvốn cho từng giai đoạn tiếp theo của quá trình kinh doanh nh: thử nghiệm thị trờng,sản xuất thí điểm, marketing thị trờng, nghiên cứu và điều chỉnh các sai sót kỹ thuậtcủa sản phẩm làm tiền đề cho sản xuất qui mô và xuất khẩu chiếm lĩnh thị trờng

Rõ ràng, việc cân nhắc thời điểm và lợng vốn cung cấp cho từng giai đoạn đòi hỏicác nhà đầu t vốn mạo hiểm phải có trình độ và nhạy bén

3.3.5 Giai đoạn thoát t.

Sau đó, là cơ hội thoát khỏi dự án đầu t ( exit) bằng cách phát hành lần đầu racông chúng (IPO) hay bán lại toàn bộ cho một tổ chức hoặc cá nhân muốn muatoàn bộ dự án Việc thu hoạch của nhà đầu t cá thể thể hiện bằng tiền mặt hoặc làcác cổ phiếu khả mãi trên thị trờng vốn

Thời gian thu hoạch thờng kéo dài 2, 3 năm Thời gian từ khi chuẩn bị,góp vốn, đầu t và thu hoạch của mỗi quỹ có thể khác nhau vì thời gian của các dự

án trong danh mục đầu t có thể biến thiên khác nhau Tuy nhiên mục tiêu đầu t vàthu hoạch vẫn gói gọn trong 7 đến 10 năm là tối đa

Cơ cấu ngành đầu t của quỹ vốn

mạo hiểm

Trang 20

Dịch vụ kinh doanh 5%

1 Vai trò của quỹ vốn mạo hiểm

Đã gần 50 năm nay các nhà đầu t mạo hiểm đã góp phần vào sự phát triểncủa các ngành công nghiệp kỹ thuật cao của Mỹ Rất nhiều công ty thành đạt nhấtcủa Mỹ đã lớn mạnh bằng sự trợ giúp của các quỹ đầu t mạo hiểm nh: Intel, Apple,Microsoft, Fedex, Sun Microsystem, Netscape Vai trò của quỹ đầu t mạo hiểm đ-

ợc thể hiện nh thế nào

Trang 21

Khác với ngân hàng đầu t hoặc quỹ tơng hỗ chỉ giữ mối quan hệ giao dịchvới doanh nghiệp nhận đầu t, các công ty vốn mạo hiểm luôn luôn đóng vai tròquyết định đối với doanh nghiệp nhận đầu t, nếu không đồng vốn bỏ ra sẽ khó manglại hiệu quả mong đợi Đó là vì cấp vốn cho doanh nghiệp với điều kiện thông thờngkhông yêu cầu hoàn vốn và trả lãi mà chỉ đòi hỏi nắm một số cổ phần, có khi cònyêu cầu nắm quyền quyết định tổ chức và chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp.

Có công ty còn đòi kiểm soát tới 60% vốn cổ phần (tất nhiên số cổ phần này chỉ cógiá trị khi đầu t thành công còn khi thất bại thì họ chẳng còn gì) Mục đích và vaitrò của quỹ đầu t mạo hiểm là làm sao cho doanh nghiệp sớm đợc niêm yết trên thịtrờng chứng khoán và khi doanh nghiệp đã có tên trên thị trờng chứng khoán rồi thìnhiệm vụ tiếp theo của quỹ là đẩy giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp lên tới mức caonhất có thể Chính vì vậy, các quỹ mạo hiểm thờng tham gia quản lý, điều hành cáccông ty thuộc danh mục đầu t Các quỹ còn có vai trò t vấn cho các doanh nghiệptrong việc sử dụng tài sản để đạt khả năng sinh lời lớn nhất Đây cũng chính là điểmkhác biệt của quỹ đầu t mạo hiểm so với các quỹ đàu t khác nh quỹ đầu t chứngkhoán Quỹ đầu t chứng khoán đợc tổ chức để thu hút sự tham gia rộng rãi của côngchúng đầu t trên thị trờng, các quỹ này thờng đầu t vào tài sản có mức độ rủi ro vừaphải

Song song với quá trình tài trợ vốn mạo hiểm, nhà đầu t còn cung cấp các kỹnăng quản lý cho các doanh nghiệp trẻ Phần lớn các doanh nghiệp thành công ởthung lũng Silicon không phải là doanh nghiệp do các thành viên sáng lập điềuhành mà do các nhà quản lý xuất sắc có kinh nghiệm đợc các nhà đầu t vốn mạohiểm bổ nhiệm Hơn nữa, các nhà đầu t vốn mạo hiểm quản lý và hạn chế rủi ro củabạn bằng cách đa dạng hoá đầu t vào nhiều doanh nghiệp có mức rủi ro khác nhau,

do đó các nhà đầu t vốn mạo hiểm bù các khoản lỗ đầu t khi tài trợ cho một sốdoanh nghiệp bằng một vài dự án đầu t có tỉ lệ hoàn vốn rất cao, lợi tức vốn lớn

Nếu đứng trên một khía cạnh khác thì quỹ đầu t mạo hiểm còn là cơ hội đểcác tài năng phát huy tính sáng tạo vì cac quỹ này chủ yếu đầu t vào các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin Mục đích của quỹ cũng làtriển khai đầu t nhằm tài trợ cho các nhà nghiên cứu, cá nhân, hoặc nhóm doanhnghiệp hoặc doanh nghiệp có ý tởng sáng tạo xuất sắc về các lĩnhvực công nghệcao, có khả năng triển khai đợc các sản phẩm có tính độc đáo và hữu dụng Đứngtrên góc độ này thì quỹ đầu t mạo hiểm vừa mang tính chất sản xuất kinh doanh vừamang tính chất nghiên cứu do đó nó đánh giá cao các dự án có tính sáng tạo, có tínhkhả thi Với vai trò này, quỹ đầu t mạo hiểm không phải chỉ là quỹ đầu t thông th-ờng đi tìm kiếm lợi nhuận mà nó còn là tổ chức đi tìm kiếm và phát huy tài năng,

Trang 22

chất xám, nó là cơ hội cho những ai muốn thủ sức mình trên thơng trờng, nó gópphần nuôi dỡng và khuyến khích các tài năng trẻ phát huy tính sáng tạo, tận dụngnguồn tri thức vốn có để phục vụ cho công cuộc phát triển đất nớc cả về chất và l-ợng.

2 Quỹ đầu t mạo hiểm - Hành trang bớc vào nền kinh tế tri thức

2.1> Quỹ vốn đầu t mạo hiểm - nguồn vốn tối u đối với các doanh nghiệp khởi sự

Một doanh nghiệp khi bắt đầu đặt chân vào thị trờng tức là đã bắt đầu mộtcuộc chiến thực sự Trong cuộc chiến sinh tồn này, nếu doanh nghiệp chiến thắngthì doanh nghiệp mới có cơ hội tồn tại và phát triển, còn nếu doanh nghiệp thất bạithì coi nh là doanh nghiệp đã bị xoá sổ khỏi thị trờng, và đó là một cái kết khôngmong đợi đối với tất cả doanh nghiệp Khi đã nhảy vào môi trờng kinh doanh cónghĩa là doanh nghiệp phải đối phó với rủi ro, rủi ro luôn gắn liền với lợi nhuận.Rủi ro doanh nghiệp phải gánh chịu chính là những bất ổn, những sự cố không tốtxảy ra làm ảnh hởng đến doanh lợi của doanh nghiệp, ảnh hởng đến sự tồn tại củadoanh nghiệp, rủi ro này có thể xuất phát từ môi trờng bên ngoài hay cũng có thể cónguồn gốc từ trong nội bộ của doanh nghiệp Và trong chu kỳ sống của mình,doanh nghiệp luôn phải đối phó với hai loại rủi ro chính là rủi ro kinh doanh và rủi

ro tài chính

Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro tiềm ẩn ở trong bản thân doanh nghiệp Rủi

ro kinh doanh đợc định nghĩa nh là sự không chắc chắn ở hiện tại về mức doanh lợi

đạt đợc trong tơng lai Nguyên nhân gây ra rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp cóthể là:

 Sự không chắc chắn về mức cầu ở tơng lai đối với sản phẩm do doanh nghiệp sảnxuất ra

 Sự thay đổi trong giá bán

 Sự thay đổi trong cấu trúc chi phí

 Sự cạnh tranh

 Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật

 Sự thay đổi về tỷ giá hối đoái

Trang 23

 Những thay đổi trong chính sách điều hành kinh tế của chính phủ

Nh vậy chúng ta có thể thấy rủi ro kinh doanh đối với doanh nghiệp là vô

số, doanh nghiệp không thể nào triệt tiêu đợc mà chỉ có thể tác động để làm giảmbớt rủi ro kinh doanh ở mức tối thiểu

Bên cạnh rủi ro kinh doanh, doanh nghiệp còn phải đối mặt với rủi ro tàichính Rủi ro tài chính là loại rủi ro gắn liền với quyết định tài trợ, gắn liền với nghệthuật tạo dựng cấu trúc vốn cho doanh nghiệp Rủi ro tài chính xuất phát từ cấu trúcvốn có sử dụng nợ vay bởi vì nợ vay dẫn đến những khoản chi trả cố định đó là chiphí trả lãi vay Mức độ rủi ro tài chính cao hay thấp diễn ra cùng với mức sử dụng

nợ của doanh nghiệp Vì thế việc tác động để triệt tiêu loại rủi ro này sẽ đợc thựchiện thông qua việc tài trợ không sử dụng nợ trong cấu trúc vốn

Một doanh nghiệp muốn hoạt động tốt thì phải đảm bảo sự ổn định trong rủi

ro tổng thể Nếu doanh nghiệp đang phải đối phó với rủi ro kinh doanh ở mức độcao thì chắc chắn nhu cầu về rủi ro tài chính phải ở mức độ thấp và ng ợc lại, đây là

xu hớng chung có tính qui luật cho tất cả mọi doanh nghiệp mà muốn hoạt độngkinh doanh tốt Điều quan trọng hơn nữa là doanh nghiệp phải tự xác định xemmình đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống để có thể đa ra chiến lợc kinh doanhsao cho có hiệu quả nhất Không chỉ đối với các chủ doanh nghiệp mà các chủ đầu

t cũng cần phải xem xét những rủi ro mình phải đối mặt để từ đó có thể đ a ra chiếnlợc tài trợ thích hợp, do đó việc xác định doanh nghiệp đang ở trong giai đoạn nàocủa chu kỳ sống là hết sức quan trọng bởi vì trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sống,mức độ rủi ro của doanh nghiệp là khác nhau do dòng tiền của mỗi giai đoạn phátsinh với các mức độ khác nhau Có thể nói trong bốn giai đoạn chu kỳ sống củadoanh nghiệp: khởi sự; tăng trởng; bão hoà và suy thoái, thì giai đoạn khởi sự là giai

đoạn có mức độ rủi ro kinh doanh là cao nhất Vậy tại sao rủi ro kinh doanh tronggiai đoạn này lại cao nhất ? Có một số nguyên nhân cơ bản sau:

 Doanh nghiệp thiếu vốn trong đầu t

 Thiếu khả năng, kinh nghiệm về trình độ quản lý Thiếu những chuẩn bị để đơng

đầu với những đòi hỏi cao về quản trị

 Thiếu sót và kinh nghiệm không đồng đều trong việc nghiên cứu thị trờng

 Sản phẩm của doanh nghiệp chỉ mới xuất hiện trên thị trờng, khả năng sản xuất

có hiệu quả không? , có đợc khách hàng tơng lai chấp nhập không

 Hoạt động marketing trong giai đoạn này rất kém

 Nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp trong giai đoạn này là rất lớn, từ chi tiêu pháttriển sản phẩm thay thế, chuyển ý tởng thành hiện thực cho đến chi phí thành lập

Trang 24

doanh nghiệp và đặc biệt là chi phí nghiên cứu thị trờng trong khi doanh nghiệpcha có khoản thu nào đáng kể Do đó dòng tiền thu vào từ doanh thu không chỉthấp mà còn diễn ra rất chậm nên dòng tiền của doanh nghiệp sẽ bị âm trongnhiều năm liền.

Qua những phân tích trên chúng ta thấy mức độ rủi ro kinh doanh của doanhnghiệp trong giai đoạn này rất cao, thậm chí cao nhất trong tất cả các giai đoạn pháttriển trong chu kỳ sống của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không có nguồn tàichính đủ mạnh để tài trợ, ổn định lâu dài thì doanh nghiệp sẽ phải đối phó với rủi rokinh doanh cực lớn đó là không thể phát triển thậm chí là phá sản

Và theo qui luật tất yếu của mọi doanh nghiệp thì mức độ rủi ro kinh doanhcao thì mức độ rủi ro tài chính cần đợc giữ ở mức càng thấp càng tốt Nh vậy, chiếnlợc tài trợ thích hợp nhất trong giai đoạn này là không nên tài trợ bằng nợ Bởi vì

đối với hầu hết các công ty mới khởi sự NPV của dự án thờng là dơng Đây chính làkết quả của sự thành công luôn xác định ở tơng lai của việc triển khai thành công và

đa sản phẩm ra thị trờng Thế nhng do khả năng này xảy ra trong tơng lai còn hiệntại các tài sản làm cơ sở cho doanh nghiệp thế chấp là vô hình, đợc rải đều ở nhiềuthời kỳ khác nhau, khó có thể xác lập rõ Rủi ro tài chính gia tăng tơng ứng với tỉ lệtài trợ nợ mà doanh nghiệp sử dụng Với bất cứ mức độ tồn đọng nào dù chỉ là rấtthấp cũng sẽ đa doanh nghiệp đến tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Bêncạnh đó xác xuất để xuất hiện tình trạng lu lợng tiền tệ âm trớc khi sản phẩm thànhcông là rất lớn Chỉ cần doanh nghiệp huy động một tỉ lệ tài trợ bằng nợ vay dù rấtthấp cũng dẫn đến rủi ro rất cao do khả năng phá sản hoàn toàn vì lẽ đơn giản công

ty không có lu lợng tiền tệ để thanh toán các khoản nợ đến hạn, từ đó gây nên khókhăn tài chính cho doanh nghiệp Tóm lại, doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự thì

có mức độ rủi ro kinh doanh là rất cao và khả năng để hạn chế nó là rất thấp do đódoanh nghiệp cần phải sử dụng nguồn tài trợ vốn thích hợp để hạn chế rủi ro tàichính tránh việc tạo ra rủi ro tổng thể vợt quá mức chịu đựng của doanh nghiệp.Vậy trong giai đoạn này nên chọn nguồn tài trợ nào? Doanh nghiệp nên chọn cấutrúc tài chính nh thế nào cho hợp lý? Và nhà đầu t nào dám chấp nhận rủi ro cao đểtài trợ cho doanh nghiệp Bất cứ cấu trúc tài chính nào thì thành phần của nó cũnggồm hai nguồn cơ bản là nợ và vốn cổ phần Theo khảo cứu thì doanh nghiệp mớikhởi sự có các lý do sau đây để không sử dụng nợ trong cấu trúc tài chính của mình

 Thứ nhất : Khi vay nợ để tài trợ trong cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải thế chấptài sản Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp mới khởi sự vì trong giai đoạnnày tài sản của doanh nghiệp còn rất ít cha đủ để đáp ứng nhu cầu vay của doanhnghiệp

Trang 25

 Thứ hai: Nếu ngân hàng cho doanh nghiệp vay mà không đặt nặng vấn đề tài sảnthế chấp thì doanh nghiệp phải trả cho ngân hàng một lãi suất rất cao, điều này

là đơng nhiên vì rủi ro của việc thu hồi nợ không đợc rất cao và rủi ro này sẽ đợctính vào lãi suất cho vay của ngân hàng Tuy nhiên cơ chế lãi suất trần sẽ khôngcho phép làm điều này (Lãi suất trần thờng áp dụng đối với những nớc đang pháttriển, trong đó có Việt Nam)

 Thứ ba: cho dù ngân hàng cho doanh nghiệp vay, cho dù lãi suất trần cho phépthì doanh nghiệp cũng không nên vay nợ bởi vì lúc này nếu vay nợ doanh nghiệp

sẽ phải gánh chịu rủi ro tài chính rất cao

Nh vậy, trong giai đoạn khởi sự với mức độ rủi ro trong kinh doanh là rấtcao thì tài trợ bằng vốn cổ phần xem nh là thích hợp nhất Thế nhng, ngay cả đầu tbằng vốn cổ phần cũng khó mà huy động dợc do doanh nghiệp khởi sự thờng không

đủ các tiêu chuẩn cần thiết của Uỷ ban chứng khoán trong việc phát hành chứngkhoán ra công chúng Mặt khác, với mức độ rủi ro tổng thể cao của doanh nghiệp sẽchỉ hấp dẫn đợc các nhà đầu t mạo hiểm - những nhà đầu t sẵn sàng chấp nhận mộtrủi ro cao để kỳ vọng một mức lợi nhuận cao tơng ứng Trên lý thuyết các nhà đầu

t rất quan tâm đến việc họ sẽ nhận cổ tức hay đạt đợc thu nhập qua chênh lệch dochuyển nhợng vốn Tuy nhiên chính sách cổ tức đề nghị cho một công ty mới khởi

sự thờng là tỉ lệ chi trả cổ tức bằng không Thêm vào đó, dòng tiền của một doanhnghiệp mới thành lập thờng là âm ở mức cao và cần các nguồn tiền mới cho các cơhội đầu t có sẵn của công ty Nếu tài trợ bằng nợ vay không thích hợp, thì phải bằngvốn cổ phần tức là nếu các nhà đầu t đòi hỏi cổ tức, họ cũng phải đầu t thêm tiềnvào doanh nghiệp để chi trả cho cổ tức này Trong một thị trờng hoàn hảo điều này

có thể chấp nhận đợc, thế nhng do trong thực tế chi phí giao dịch đi với việc huy

động vốn cổ phần mới rất tốn kém cho các doanh nghiệp rủi ro cao mới khởi sự.Các chi phí này không những cao mà còn khá cố định nghĩa là chỉ cần một huy

động nhỏ về vốn cổ phần cũng sẽ phát sinh một khoản chi phí rất tốn kém Các chiphí này bao gồm các chi phí về pháp lý và chi phí chuyên môn phải trả Vì vậy việctrả cổ tức và huy động vốn cổ phần mới thay thế cho nguồn tiền chi trả cổ tức này làkhông hợp lý

Tóm lại, trong giai đoạn khởi sự với các đặc điểm về rủi ro đã trình bày, khảnăng tài trợ bằng vốn vay lẫn vốn cổ phần đều không khả thi Vậy cấu trúc vốntrong giai đoạn này nên đợc tài trợ bằng gì? Qua nghiên cứu cho thấy: tài trợ bằngphát hành trái phiếu, bằng tín dụng thuê mua, hay thu hút vốn của các nhà đầu tkhông chấp nhận rủi ro cao đều không thực hiện đợc mà chỉ có nguồn vốn mạohiểm từ các quỹ đầu t mạo hiểm là thích hợp nhất bởi vì theo định nghĩa của quỹ

Trang 26

đầu t maọ hiểm đã nêu trên: Quỹ đầu t mạo hiểm là một định chế tài chính trunggian chuyên đầu t vào các doanh nghiệp mới khởi sự nhằm mong đợi một sự giatăng thu nhập cao hơn mức bình quân để bù đắp cho rủi ro của khoản đầu t có mức

độ cao hơn mức bình quân Chỉ có các nhà đầu t này mới sẵn sàng chấp nhận rủi rocao đầu t vào các doanh nghiệp mới khởi sự dới nhiều hình thức đầu t đa dạng Đ-

ơng nhiên các nhà đầu t mạo hiểm này sẽ yêu cầu một tỉ suất sinh lợi cao để bù đắpcho rủi ro cao mà họ phải gánh chịu, tỉ suất lợi nhuận cao ở đây chỉ thể hiện bằngphần chênh lệch do chuyển nhợng vốn

Chỉ có thông qua quỹ đầu t mạo hiểm chiến lợc tài trợ của doanh nghiệptrong giai đoạn này mới đạt đến hiệu quả cao nhất, đó là sự gia tăng của giá trịdoanh nghiệp Có thể nói, Quỹ đầu t mạo hiểm là nguồn tài trợ tối u cho các doanhnghiệp mới khởi sự

2.2> Quỹ đầu t mạo hiểm - nguồn lực thúc đẩy khoa học công nghệ tiên tiến phát triển

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trờng đang diễn ra các cuộc cạnh tranh quyếtliệt, ngày càng có nhiều công ty mới, doanh nghiệp mới tham gia vào đấu trờngkinh doanh với những phơng thức làm ăn mới, đa ra những sản phẩm mới có tínhnăng u việt hơn Để sống sót trên thị trờng, mỗi doanh nghiệp càng phải tự đổi mớimình, tự nâng cấp mình bằng cách vận dụng triệt để tính năng của tri thức vào tronghoạt động sản xuất kinh doanh Nh đã phân tích ở trên, khái niệm tri thức gắn liềnvới khái niệm công nghệ cao (high-tech), công nghệ cao càng phát triển thì hàm l-ợng tri thức trong sản phẩm càng lớn trong khi hàm lợng vật chất vẫn nh cũ hoặc íthơn thì giá trị sử dụng của sản phẩm cao hơn nhiều Điều này có thể thấy đợc qua 2

đĩa phần mền windows 95 và windows 2000, hai đĩa này có trọng lợng nh nhau

nh-ng đĩa windows 2000 chứa đựnh-ng hàm lợnh-ng tri thức lớn hơn nhiều so với windows 95

và do đó nó có giá trị sử dụng cao hơn nhiều Và nh một điều hiển nhiên khi có sảnphẩm mới ra đời có giá trị sử dụng cao hơn thì sản phẩm đó đã đợc thị trờng chấpnhận và điều đó cũng có nghĩa là sản phẩm cũ đã bị đào thải Doanh nghiệp nàonắm bắt nhanh nhạy đợc thị trờng thì doanh nghiệp đó mới có cơ hội sống sót Thếgiới đang ngày một thay đổi với tốc độ chóng mặt, nếu nh trớc đây bạn phải ra chợmua từng món hàng thì giờ đây bạn chỉ cần ngồi ở nhà bấm máy tính hoặc gọi điệnthoại là bạn sẽ có ngay thứ mình cần với giá cả không đắt hơn là bạn tự đi muangoài chợ Điều này có đợc là nhờ sự phát triển vợt bậc của công nghệ thông tin

điển hình là mạng Internet Qua những ví dụ trên chúng ta có thể thấy công nghệ

Trang 27

cao là yêú tố sống còn của doanh nghiệp Hơn nữa để có thể đạt đợc mức thu lợicao, doanh nghiệp chỉ có con đờng duy nhất mà cũng là con đờng ngắn nhất đó làphải săn lùng, tìm kiếm và sáng tạo ra các giải pháp công nghệ mới Điều này cũngkhiến phần lớn các khoản đầu t mạo hiểm đều nhắm vào các dự án công nghệ Tại

Mỹ, 94% các công ty nhận đợc các nguồn tài trợ mạo hiểm là các công ty hoạt

động trong lĩnh vực công nghệ

Nhng khi đã có những phát minh, ý tởng mới, doanh nghiệp muốn biến nóthành hiện thực thì phải có vốn Thông thờng, đầu t vào công nghệ cao thì cần vốnlớn nhng độ rủi ro lại cao vì các phát minh sáng chế trong lĩnh vực này thờng cótính đột phá cao, lơị ích lớn, mục tiêu đạt đợc rất cao xa, hơn nữa phần lớn mới chỉ

là ý tởng bột phát chứ cha có thiết kế, tính toán hay thí nghiệm kỹ lỡng Và trênthực tế thì hầu hết các ý tởng này do những ngời cha đủ uy tín về khoa học kỹ thuật

đề xuất, thậm chí có những ngời không có trình độ chuyên môn và điều mấu chốtnhất là họ không có tiền để biến ý tởng của họ thành hiện thực Đây chính là thời

điểm để các nhà đầu t mạo hiểm vào cuộc bởi vì chỉ có họ mới có đủ khả năng và

đủ can đảm để chấp nhận rủi ro cũng nh đủ niềm tin để tin rằng những ý tởng này

sẽ mang lại cho họ mức lợi nhuận lợi nhuận to lớn, gấp trăm nghìn lần so với lợngvốn họ bỏ ra Kiểu đầu t này là “đợc ăn cả ngã về không”, chính vì thế mà nhữngnhà đầu t truyền thống rất ngại khi gặp phải những dự án kiểu nh vậy Bởi vì, họ sợgặp phải rủi ro, mà rủi ro đối với các dự án công nghệ cao này là rất lớn nhng có

điều là họ đã không nghĩ tới mức lợi nhuận to lớn nếu họ thành công, mức lợinhuận cho một dự án này có thể bằng mấy lần mức lợi nhuận mà họ đầu t vào cáclĩnh vực khác Rủi ro càng lớn lợi nhuận càng cao Bạn chấp nhận rủi ro trong hiệntại để kỳ vọng vào thành công rực rõ trong tơng lai, đó là con đờng đầy gai góc nh-

ng rất thú vị Mạo hiểm ở đây không phải là liều lĩnh, nếu bây giờ bạn không mạohiểm thì chắc chắn trong tơng lai bạn sẽ không đạt đợc những thành công rực rỡ.Nếu nh trớc đây Bill Gates và P Allen đang ở tuổi 20 không bỏ dở học đại học đểlập ra công ty máy tính phần mềm Microsoft thì giờ đây Bill Gates có thể là ngờigiàu nhất thế giới không, và công ty Microsoft có là một tập đoàn về lĩnh vực côngnghệ thông tin hàng đầu trên thế giới nh hiện nay không? Và nếu không cóMicrosoft thì có hệ điều hành Windows95, 98, 2000 mà cả thế giới đang sử dụngkhông? Đây chỉ là một ví dụ điển hình về sự thành công của các doanh nghiệp khitham gia vào lĩnh vực khoa học công nghệ thông tin Còn rất nhiều những công ty

đứng đầu thế giới về doanh thu cũng nh lợi nhuận đang kinh doanh trong lĩnh vựccông nghệ thông tin Điển hình là nớc Mỹ, bạn đã bao giờ đặt ra câu hỏi là tại saonớc Mỹ lại là một siêu cờng quốc kinh tế, tại sao nớc Mỹ lại là nớc đứng đầu thếgiới về khoa học công nghệ thông tin, tại sao nớc Mỹ lại là nơi qui tụ các nhà bác

Trang 28

học lừng danh trên thế giới Có rất nhiều câu trả lời cho những câu hỏi trên nhngxem xét theo khía cạnh đầu t thì chúng ta có thể thấy rằng việc đầu t vào phát triểnkhoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triểnrực rỡ nh ngày nay, và hình thức chủ yếu đầu t vào khoa học kỹ thuật công nghệ caochính là các quỹ đầu t mạo hiểm, các quỹ này đóng vai trò then chốt, là động lực đểkhoa học công nghệ cao phát triển với tốc độ nh vũ bão ngày nay Giờ đây không ai

có thể phủ nhận tầm quan trọng của công nghệ thông tin đối với nhân loại, côngnghệ khoa học kỹ thuật cao là động lực để phát triển kinh tế, xã hội Phơng tiện,công cụ tài trợ cho các phát minh khoa học công nghệ mới chính là các quỹ đầu tmạo hiểm Vai trò của quỹ đầu t mạo hiểm là không thể thiếu trong hoạt động thúc

đẩy khoa học công nghệ cao phát triển, quỹ đầu t mạo hiểm là nguồn vốn tối u đốivới các dự án trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật Việc tìm kiếm các giải pháp côngnghệ, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Internet làm cho các công ty liên quan

đến lĩnh vực công nghệ có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các nhà đầu t mạo hiểm

Hiện có rất nhiều quỹ đầu t mạo hiểm đã bỏ rơi các khu vực truyền thống đểtập trung vào các công ty Internet Số liệu thống kê cho thấy, đầu t vào ngành côngnghiệp Internet đã tăng từ 3,4 tỷ $ (năm 1998) lên 19,9 tỷ $ (năm 1999) , chiếm tỷtrọng 54 % toàn bộ các nguồn đầu t mạo hiẻm

Nhiều quỹ đầu t mạo hiểm hàng đầu đã thu đợc mức lợi nhuận trên 100%nhờ đầu t vào ngành công nghiệp Internet Hơn nữa, tiền của nhà đầu t không bịgăm lại một chỗ, bởi các công ty Internet nhanh chóng phát hành cổ phiếu ra côngchúng Trung bình các công ty làm dịch vụ Internet chỉ cần không tới 2 năm để trởthành công ty đại chúng so với khoảng thời gian 3-5 năm của các công ty thông th-ờng Tuy nhiên không phải công ty nào đợc tài trợ cũng thành công về mặt tàichính Ước tính cứ 10 dự án đầu t, thì chỉ có 1 hoặc 2 dự án mang lại lợi nhuận

Thị trờng vốn mạo hiểm hiện nay là nguồn chủ yếu cung cấp vốn cho pháttriển công nghệ cao, bổ sung, thậm chí thay thế cho nguồn kinh phí của chính phủcác nớc phát triển Nó chính là “bà đỡ”, cái nôi của công nghệ cao, nếu không cóvốn đầu t mạo hiểm thì rất nhiều phát minh có giá trị bị xếp xó và nh vậy thì khoahọc công nghệ mới làm sao phát triển vợt bậc

3/ Quỹ đầu t vốn mạo hiểm và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 29

Hội nhập và cạnh tranh là hai mặt của một tiến trình toàn cầu hoá kinh tếquốc tế, hội nhập và cạnh tranh luôn diễn ra song song, có hội nhập tất yếu phải cócạnh tranh, cạnh tranh trong môi trờng hội nhập không chỉ bó hẹp trong phạm vimột quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triểnkhi hội nhập kinh tế quốc tế thì mỗi doanh nghiệp phải tự khẳng định đợc năng lựccạnh tranh của mình, năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp thể hiện ở tốc độtiêu thụ sản phẩm và mức độ chiếm lĩnh thị phần Để có tốc độ tiêu thụ sản phẩmnhanh thì sản phẩm phải có các u diểm vợt trội so với các sản phẩm cùng loại, phải

đáp ứng đợc yêu cầu của khách hàng và mặt khác khi tốc độ tiêu thụ sản phẩmnhanh thì khả năng quay vòng vốn nhanh, khả năng quay vòng vốn nhanh dẫn tớichủ động trong di chuyển luồng vốn, vốn đợc sử dụng có hiệu quả, do đó điều kiện

để nghiên cứu sáng tạo ra sản phẩm mới rất cao, và doanh nghiệp luôn luôn theo kịpthời đại, đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng Để thị phần chiếm lĩnh rộng rãi thìtrình độ marketing, quảng cáo, xúc tiến bán hàng phải cao và doanh nghiệp phải cónhững chiến lợc kinh doanh phù hợp Và một điều kiện tiên quyết để đáp ứng cácyêu cầu trên đó là khả năng tài chính của doanh nghiệp phải đảm bảo, doanh nghiệpphải chủ động trong việc di chuyển luồng vốn Đây thực sự là khó khăn đối với cácdoanh nghiệp mới khởi sự và những doanh nghiệp đang trong thời kỳ phát triển, đầu

t vào nghiên cứu những sản phẩm mới

Hơn nữa thị trờng luôn luôn phát triển và thay đổi nhanh chóng, đặc biệt làtrong thời kỳ hội nhập Các qui luật và đòi hỏi của thị trờng cũng biến động thờngxuyên ngoài ý muốn của bản thân các doanh nghiệp, thị trờng ngày nay thể hiệntính ngắn hạn nhiều hơn và khốc liệt hơn trong tất cả mọi lĩnh vực, ngành nghề kinh

Theo kết quả điều tra năm 1999 đánh giá nhóm các nhân tố cơ cấu tính cạnhtranh quốc gia nh sau:

Trang 30

động tốt, phát triển mạnh thì quốc gia đó cũng sẽ phát triển Và sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó.Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể đợc định nghĩa là năng lực tồn tại vàvơn lên trên thị trờng cạnh tranh , duy trì đợc lợi nhuận và thị phần trên thị trờngtrong nớc và quốc tế về một hay nhiều sản phẩm , dịch vụ của doanh nghiệp Yếu tốquyết định là tỷ lệ lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm

Các yếu tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

 Chiến lợc đầu t và kinh doanh : Phân tích thị trờng, lợi thế so sánh củadoanh nghiệp Phân tích nhu cầu của thị trờng, phân tích các đối thủcạnh tranh, xác định thị phần cho doanh nghiệp

 Trình độ khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Thực hiệnthơng mại điện tử Thực hiện phân tích thông tin từ Internet, giao dịchqua Internet, mở trang chủ , đặt quan hệ với ngân hàng

 Đầu t cho khoa học công nghệ , kiểu dáng thơng hiệu trong nớc và nớcngoài

 Đào tạo nguồn nhân lực

 Tổ chức quản lý

 Liên doanh , liên kết

Trang 31

Trong hoạt động của doanh nghiệp, trình độ công nghệ quyết định cấp độcủa sản phẩm, chất lợng và năng suất lao động Khả năng thay đổi hoặc tiếp cận vớicông nghệ mới, chi phí nghiên cứu và phát triển quyết định tới trình độ của côngnghệ Về năng lực cạnh tranh của sản phẩm đợc đánh giá thông qua chất lợng sảnphẩm, bao bì , mẫu mã, tính độc đáo hay sự khác biệt sản phẩm.

Vậy, chúng ta có thể thấy dù là xét về năng lực cạnh tranh của một quốc giahay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì yếu tố quyết định là khả năng tàichính và trình độ khoa học công nghệ Hai yếu tố này lại liên quan tới nhau, khảnăng tài chính tốt hay nói cách khác là nguốn vốn đợc đảm bảo tất yếu dẫn đếntrình độ công nghệ cao, mặt khác khi trình độ công nghệ cao mang lại chi phí sảnxuất thấp , tốc độ tiêu thụ sản phẩm nhanh, khả năng quay vòng vốn cao, và tất yếunguồn tài chính của doanh nghiệp đợc bảo đảm Nhng vấn đề đặt ra là đối với cácdoanh nghiệp mới khởi sự thì không thể có một nguồn tài chính dồi dào để đầu tnghiên cứu, áp dụng các công nghệ mới bởi vì việc ứng dụng các thành tựu côngnghệ mới này có thể thành công hoặc thất bại, thậm chí có trờng hợp thất bại ngaytrong quá trình nghiên cứu, và trong trờng hợp đó thì vốn đầu t bỏ vào nghiên cứumất không, và đối với những doanh nghiệp hạn chế về vốn thì khả năng nghiên cứulại hầu nh không có Ngay cả khi công trình nghiên cứu có thành công nhng toàn bộnguồn vốn của doanh nghiệp dồn vào việc nghiên cứu công nghệ mới thì doanhnghiệp sẽ không còn tiền để quảng cáo, marketing sản phẩm, dẫn tới sản phẩmkhông tiếp cận tới thị trờng và ngời tiêu dùng, kết cục là doanh nghiệp không thểtrụ vững trên thơng trờng Hoàn cảnh này thờng thấy đối với các doanh nghiệp mớikhởi sự, các doanh nghiệp trẻ

Hơn nữa trong một môi trờng cạnh tranh khốc liệt khi gia nhập vào nền kinh

tế quốc tế thì việc cá lớn nuốt cá bé là không thể tránh khỏi, các công ty xuyênquốc gia, đa quốc gia sẵn sàng tiêu diệt đối thủ khi đối thủ mới chập chững bớc vàothị trờng Vì vậy, yếu tố cần thiết nhất và quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp

và đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ đó chính là tài chính phải đợc đảm bảo, sau đó

là trình độ quản lý doanh nghiệp hoạt động tốt bởi vì đối với các doanh nghiệp trẻcha có kinh nghiệm va chạm trên thơng trờng quốc tế Với tất cả các lý do đó có thểthấy rằng quỹ vốn đầu t mạo hiểm là giải pháp tối u tháo gỡ đợc các khó khăn củadoanh nghiệp trẻ nhất là trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế

Trang 32

Chơng II

Điều kiện và khả năng phát triển quỹ dầu t mạo hiểm tại Việt Nam

I - Hoạt động của các quỹ đầu t mạo hiểm trên thế giới

Quỹ đầu t mạo hiểm là hình thức đầu t phổ biến và mang lại hiệu quả cao

đối với các dự án trong lĩnh vực khoa học công nghệ, chính vì vậy loại hình đầu tnày đã phát triển rất mạnh tại các nớc phát triển đặc biệt là nớc Mỹ Đầu t mạohiểm xuất hiện đầu tiên tại nớc Mỹ và giờ đây tại Mỹ đã có hàng trăm nghìn nhà

đầu t mạo hiểm đầu t vào lĩnh vực khoa học công nghệ cao Các quỹ đầu t mạohiểm ra đời và đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển hùng mạnh của kinh tế Mỹ.Nhiều quỹ đầu t mạo hiểm đã phát hành cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán và nêu

ra yêu cầu khá cao đối với các nhà đầu t tham gia, thí dụ phải có tài sản ít nhất 1triệu $, thu nhập hàng năm là 200 nghìn $ và vốn góp bị giam trong quỹ ít nhất vàinăm Gần đây, do mạng Internet cực kỳ phát triển nên đã hình thành cả một thị tr-ờng vốn mạo hiểm, bất cứ ai cũng có thể dễ dàng thông qua mạng để góp vốn vàocác quỹ đầu t mạo hiểm, kiểu đầu t này đã thu hút đợc nhiều ngời tham gia Đầunăm 2000, công ty vốn mạo hiểm vật chất Advisers huy động một quỹ công cộngthu hút 330 triệu $ từ hàng nghìn nhà đầu t t nhân, ai muốn mua cổ phần của họ chỉcần kích đúp chuột máy tính vào địa chỉ trên mạng của nhà môi giới điện tử làxong, phi vụ hoàn tất Tổng số vốn đầu t mạo hiểm ở Mỹ năm 1995 là khoảng 6,2

tỷ $, năm 1998 là 12,5 tỷ $ Năm 1999, các nhà đầu t mạo hiểm đã cung cấp 45 tỷ $cho các công ty mới thành lập Và theo thống kê con số này trong quý 1 và 2 năm

2000 lên tới 17,8 tỷ $ và 17,2 tỷ $ điều đó có nghĩa là bình quân mỗi tuần hơn 1 tỷ

$ đợc rót vào các dự án mạo hiểm và trong số đó có tới 86% dành cho các công ty

Trang 33

làm về mạng Internet Nguồn vốn mạo hiểm khổng lồ và gia tăng liên tục tạo ra khảnăng đầu t cực lớn cho phát triển công nghệ cao và đây cũng là nguồn tài chính dồidào tạo nên đất dụng võ cho một số ý tởng khoa học công nghệ, là một u thế nổi bậtcủa nớc mỹ so với các nớc khác Có thể nói tốc độ tăng trởng của nền kinh tế Mỹphần lớn là phụ thuộc vào tốc độ tăng trởng của khoa học công nghệ và do đó quỹ

đầu t mạo hiểm là tiền đề cho sự tăng trởng của kinh tế Mỹ

Và với mỗi công ty mạo hiểm thì có cách làm ăn riêng phù hợp với chiến

l-ợc cũng nh lợi ích của các thành viên trong quỹ Ta hãy xem xét một số công tyquản lý quỹ đầu t mạo hiểm đợc coi là thành đạt nhất ở Mỹ và trên thế giới KPCB

là công ty vốn mạo hiểm đầu tiên trên thế giới, rất nổi tiếng ở thung lũng Silicon, đãtừng đầu t cho các hãng Intel, Amazon, Apple và những hãng này giờ đây đều đạt

đợc những thành công to lớn trên thơng trờng và trở thành những đại gia lớn Thếnhng các bạn có biết là KPCB có bao nhiêu nhân viên không? Chỉ có 25 nhân viên

đó là câu trả lời cho các bạn 25 nhân viên bao gồm 9 cổ đông, 4-5 ngời giúp việc,mấy th ký Mỗi dự án đầu t thờng do một cổ đông phụ trách chính nhng cả 9 cổ

đông đều đồng ý thì dự án mới đợc thực thi Và chúng ta xem xét việc đầu t vàocông ty Amazon bắt đầu nh thế nào Một hôm, ngới sáng lập công ty Amazon đếngặp KPCB và nói họ có ý tởng tổ chức bán sách trên mạng Ngời của KPCB ghi lại

địa chỉ trang web của Amazon rồi hẹn một tuần sau gặp lại Sau đó mấy cổ đôngcủa KPCB cùng nhau đặt mua trên mạng một số sách Sách đợc nhanh chóng gửi

đến, thế là hai bên ký ngay hợp đồng trong lần gặp thứ hai Bản báo cáo giám định

dự án chỉ dài có hai trang song kết quả là lợi nhuận thu đợc cực lớn

Trong thực tế, cái thiếu nhất của các doanh nghiệp không phải là vốn mà làngời lãnh đạo có năng lực Nghe nói có tới 150 công ty lớn ở Mỹ hiện vẫn cha tìm

đợc giám đốc đạt yêu cầu Bởi vậy, các công ty vốn mạo hiểm không chỉ cấp vốn

mà còn quan trọng hơn, họ còn giúp đối tác tổ chức hoặc hoàn thiện ban lãnh đạo,tức là họ có thể kiêm luôn các chức vị giám đốc điều hành và các phó giám đốc phụtrách tài vụ, tiêu thụ và kỹ thuật Các công ty công nghệ cao mới thành lập thông th-ờng chỉ có một vài ngời, đa số là các chuyên gia kỹ thuật, rất ít hiểu biết về cáchquản lý doanh nghiệp Nhng các công ty vốn mạo hiểm thì giàu kinh nghiệm về mặtnày, vì họ tiếp xúc nhiều nơi và đã tham gia nhiều vụ đầu t, quen thuộc nhiều ngời,biết ngời biết của và quan trọng nhất là có thể biết ai có thể cộng tác đợc với ai.Công ty vốn mạo hiểm nào mạnh về mặt này thì sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng

tổ chức tốt công việc, sớm đợc niêm yết trên thị trờng chứng khoán để trở thànhcông ty công cộng, khi đó cổ phiếu của công ty sẽ có giá rất cao mang lại siêu lợinhuận Song việc tổ chức ban lãnh dậo công ty đôi khi đem lại nhiều rắc rối, vì cótrờng hợp phải gạt bỏ chính ngời sáng lập công ty Jobs và Wozniak đồng sáng lập

Trang 34

công ty Apple nhng khi KPCB đầu t vào đây họ đã gạt Jobs ra khỏi Apple Đángbuồn nhất là trờng hợp KPCB đầu t vào công ty Cisco, họ đã cử cổ đông lớn nhấtcủa mình đến làm tổng giám đốc và sa thải chính hai vợ chồng ngời sáng lập Ciscovới lý do bà này có tác phong nghệ sĩ, quản lý công ty đã chẳng ra sao mà cònkhông hoà hợp với nhân viên còn ông chồng là kỹ s, không biết gì về quản lý doanhnghiệp

Một trong những công ty vốn mạo hiểm lâu đời nhất là Allied Capital nóirằng trong 40 năm qua, lợi tức trung bình hàng năm của mỗi cổ phần của họ là 19%hiện nay là 10,2% Thông thờng lợi nhuận thu đợc lớn nhất không phải do chínhphát minh công nghệ cao đem lại mà là do cổ phiếu của doanh nghiệp nhận tài trợlên giá sau khi trở thành công ty công cộng đợc niêm yết trên thị trờng chứngkhoán Thí dụ công ty Benchmarch Capital bỏ vốn ban đầu là 6,5 triệu $ vào công

ty Bay Inc (kinh doanh trong lĩnh vực thơng mại điện tử), nay vốn đã tăng hơn 500lần lên tới 3,4 tỷ $ Hãng Institutional Venture Partners cho biết trong vài năm nay

tỷ suất lợi nhuận trung bình của họ là 75% - 90% Ông Gwathmey rót 100 nghìn $vào một công ty lắp đặt đơng cáp dới đáy biển, nay cổ phần của ông đã có giá trên

10 triệu $ Đạo diễn điện ảnh nổi tiếng Spielberg đầu t 5,5 triệu $ vào hãng CitySearch làm hớng dẫn du lịch trên mạng, nay ông đã có 18 triệu $ Nhờ đầu t mạohiểm cầu thủ bóng bầu dục R.Lott và H.Barton gây đợc số vốn 30 triệu $ Năm

1998, Arnault đầu t 300 triệu $ vào 25 công ty mạng, đến giữa năm 1999 ông thu

tr-Đối với nớc Mỹ, một nền kinh tế hùng mạnh nhất trên thế giới, thì quỹ đầu

t mạo hiểm là một nguồn hỗ trợ tài chính không thể thiếu trong việc phát triển kinh

tế nói chung và khoa học công nghệ cao nói riêng Vậy còn ở những nớc khác thìsao, tại Anh, Đức và các nớc phát triển khác ở Châu Âu có thị trờng IPO tơng đối

Trang 35

phát triển, thì hình thức đầu t mạo hiểm không xa lạ gì, nó đã đợc hình thành từ rấtlâu và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài chính Nhà đầu t mạohiểm tại Đức thờng là các ngân hàng lớn, họ bổ nhiệm chủ ngân hàng điều hành vàquản lý luôn các hoạt động của doanh nghiệp vốn mạo hiểm ở châu Âu đầu t mạohiểm vào các nghành công nghiệp đạt mức kỷ lục: hơn 6 tỷ$ trong năm 1998, tăng46% so với năm 1997, tổng cộng có 5514 dự án đầu t vào 4636 công ty trong năm1998.

Nhìn tổng quát trên thế giới, tại các nớc cách xa chúng ta về địa lý thì quỹ

đầu t mạo hiểm đã thể hiện rõ vai trò không thể thiếu của nó trong thời đại ngàynay, loại hình này đã đợc Chính phủ các nớc khuyến khích mở rộng và hỗ trợ, đợcthị trờng vốn chấp nhận Ngay cả những nớc ở gần kề ngay chúng ta nh Đài Loan,Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan loại hình đầu t mạo hiểm cũng đãxuất hiện khá lâu dới nhiều tên gọi khác nhau và hoạt động của nó cũng đã thu đợcnhững thành công đáng kể Khoảng năm 1997, khi Fuji Bank (Nhật) thiết lập ra bộphận đợc gọi là " Phòng tín dụng cho các doanh nghiệp mới ", hệ thống ngân hàngbảo thủ ở Nhật thật sự khó hiểu về hành động này Tuy nhiên, hiện nay hầu nh tấtcả các ngân hàng lớn ở Nhật đều đa vào danh mục hoạt động của chúng hoạt độngnày, tức là, tìm kiếm những hãng có tiềm năng phát triển cao và giúp đỡ họ trongviệc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Tại đất nớc Singapore, một trongnhững con rồng Châu á, Chính phủ đã sớm có đợc những tín hiệu về tiềm năngphát triển của loại thị trờng vốn mạo hiểm này Họ đã và đang nỗ lực thiết lập mộttrung tâm để cho nguồn vốn đầu t mạo hiểm đợc luân chuyển trong khu vực Khởi

đầu từ năm 1985, với sự hoạt động rất tích cực của Uỷ ban phát triển kinh tế nhằmthúc đẩy sự vận động của lĩnh vực tài chính này Đến nay ớc tính có tới 82 quỹ đầu

t mạo hiểm ở Singapore với tổng số vốn lên tới 8,8 tỷ $ Singapore, trong đó 17%giành cho 40 công ty của Singapore Trong số 40 công ty này thì có tới 34 công tyhoạt động trong lĩnh vực công nghệ, 16 công ty là những công ty mới thành lập còn

ở Đài Loan hiện nay những công ty đầu t t nhân có vai trò đặc biệt quan trọng đốivới sự phát triển của những công ty mới đợc thành lập Một đặc điểm đáng chú ý lànhững công ty đầu t t nhân này chiếm tới 90% tổng vốn đầu t vào lĩnh vực côngnghệ ở nớc này Chính phủ úc đã thiết lập Chơng trình các công ty quản lý quỹ và

đầu t (MIC) năm 1989, quỹ cải tổ các doanh nghiệp nhỏ (SBIF) năm 1997 với 4-6quỹ thành viên có tổn số vốn là 195 triệu $ Và một đất nớc ngay cận kề chúng ta,trong mấy năm gần đây đã có tốc độ phát triển kinh tế đáng khâm phục, và trong t -

ơng lai không xa sẽ là một cờng quốc kinh tế hùng mạnh trên thế giới đó là TrungQuốc, láng giềng của chúng ta Chỉ trong vòng 10 năm Trung Quốc đã cho ra đờihàng trăm quỹ đầu t mạo hiểm để hỗ trợ phát triển công nghệ thông tin

Trang 36

Xem xét qua hoạt động của các quỹ đầu t mạo hiểm tại một số nớc chúng ta

có thể thấy rằng sự tồn tại và phát triển của quỹ đầu t mạo hiểm là một tất yếukhách quan của lịch sử Và nhất là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển nh vũbão ngày nay, thì quỹ đầu t mạo hiểm là nguồn vốn tài trợ tối u Sự thành công củaloại hình quỹ đầu t mạo hiểm đã đợc các nớc chứng minh bằng thực tế hoạt độngcủa nó

II- Hoạt động của các quỹ đầu t mạo hiểm tại Việt Nam từ 1991

cho tới nay.

1- Quá trình hoạt động của quỹ đầu t mạo hiểm tại Việt Nam và những vấn đề còn tồn tại

ở Việt Nam, vào những năm đầu của thập kỷ 90, khi nền kinh tế đổi mới đã

có những thành quả nhất định về tăng trởng, phát triển của các doanh nghiệp, pháttriển của khu vực tài chính và nhất là định hớng phát triển công ty cổ phần và thị tr-ờng chứng khoán, một số nhà đầu t tài chính nớc ngoài đã có những nghiên cứunhằm đa loại hình quỹ đầu t mạo hiểm vào Việt Nam

Năm 1994, trớc sự sốt sắng của Chính phủ Việt Nam trong việc thành lậpthị trờng chứng khoán, các quỹ đầu t nớc ngoài đã đợc nhanh chóng thành lập nhằmchớp cơ hội tại một thị trờng mới mẻ Gần 400 triệu$ đã đợc 6 quỹ đầu t nớc ngoài

đa vào thị trờng Việt Nam:

 Laza Vietnam Fund (Pháp)

 Beta Vietnam Fund (Anh)

 Vietnam Frontier (Mỹ - Pháp)

 Templeton Vietnam Oppoturnities Fund (Mỹ)

 Vietnam Fund Limited (Singapore)

 Vietnam Enterprise Fund (do công ty Dragon Capital Mgt quản lý)

6 quỹ này thâm nhập vào thị trờng vốn Việt nam với tham vọng trở thànhnhững ngời kiến tạo thị trờng tài chính trực tiếp tại Việt Nam Họ đã không lờng hết

đợc mọi khó khăn của vấn đề Mọi nỗ lực của chính phủ Việt Nam chỉ dừng ở việcthành lập uỷ ban chứng khoán Nhà Nớc vào năm 1997 và phải 3 năm sau đó(20/7/2000) trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên mới đi vào hoạt động tạithành phố Hồ Chí Minh Trong một thời gian dài phải hoạt động dới những điềukiện pháp lý thiếu đồng bộ và ngặt nghèo cộng thêm với môi trờng tài chính chaphát triển, hầu hết 6 quỹ đầu t này đều không đạt đợc mục đích ban đầu, một số đãphải bỏ cuộc Quỹ đầu t mạo hiểm bắt đầu hoạt động tại Việt Nam vào năm 1991

Trang 37

Từ năm 1991 đến năm 1995 đã tăng lên 8 quỹ Từ năm 1996 đến 1998 giảm xuốngcòn 5 quỹ và từ năm 2000 cho tới nay chỉ còn 4 quỹ hoạt động bảng số liệu sau đâymô tả tình hình số lợng quỹ đầu t mạo hiểm hoạt động tại Việt Nam.

Bảng 1: Quỹ đầu t mạo hiểm ở Việt Nam.

Frontier Fund Mgt

Indochina Asset Mgt

Guernsey

Đảo Cayman

Guernsey

Irish Stock Exchange

Nguồn: SG Country Funds, tháng 8/2000

Trên đây mới chỉ là sơ lợc chung, khái quát nhất về tình hình hoạt động củacác quỹ đầu t mạo hiểm tại Việt Nam, chúng ta sẽ đi sâu vào từng vấn đề trên nhiềukhía cạnh khác nhau để có cái nhìn tổng thể và kỹ càng hơn về hoạt động của cácquỹ đầu t mạo hiểm tại Việt Nam trong giai đoạn qua

1.1/ Đặc điểm của quỹ đầu t mạo hiểm hoạt động tại Việt Nam.

Trang 38

 Các quỹ đều thành lập và huy động vốn ở nớc ngoài Cổ phiếu của hầu hết cácquỹ đợc niêm yết ở thị trờng chứng khoán nớc ngoài.

 Do tính chất rủi ro cao nên đối tợng huy động vốn của các quỹ không phải từcông chúng mà là từ các tổ chức tài chính và đầu t Hành vi này xuất phát từ một

số điều khoản luật của một số nớc không khuyến khích huy động vốn từ các nhà

đầu t cá nhân, công chúng để đầu t vào các tài sản có tính rủi ro cao

 Các quỹ đều đợc thành lập riêng để đầu t vào Việt Nam, mang tính chất địa

ph-ơng rõ rệt và hoạt động đầu t phải tuân thủ pháp luật Việt Nam

 Lĩnh vực hoạt động của các quỹ tơng đối đa dạng, từ hoạt động sản xuất, thơngmại đến dịch vụ, tài chính đợc coi là có tiềm năng phát triển cao trong giai

đoạn đầu t

 Mục tiêu đầu t là kích thích tăng trởng để thu hồi vốn sau một giai đoạn nhất

định (đầu t có thời hạn), đầu t vào các doanh nghiệp mới khởi sự có tiềm năngtăng trởng trong tơng lai hoặc các doanh nghiệp đang trong giai đoạn tăng trởng

có nhu cầu về vốn Các doanh nghiệp mà quỹ đầu t vào thờng là các doanhnghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, doanh nghiệp t nhân hoặc doanh nghiệp cổ phầnhoá Các doanh nghiệp này có tiềm năng đợc niêm yết trên thị trờng chứngkhoán Việt Nam khi thị trờng mở ra

 Các nhà quản lý không chỉ quản lý các danh mục đầu t chứng khoán đơn thuần

mà còn tham gia trực tiếp vào một số hoạt động của các công ty thuộc danh mụcnhằm cải thiện và bảo đảm hiệu quả của vốn đầu t, sự tăng trởng của công tythuộc danh mục

Từ khi quỹ đầu t mạo hiểm đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, số vốn huy

động cao nhất là 303 triệu $ (The Guide to Venture Capital in Asia,1998) Số tiềnnày đợc đầu t vào 56 công ty thuộc danh mục đầu t vào cuối năm 1996 Tới năm

1998, số công ty thuộc danh mục chỉ còn lại 51 và đến năm 2000 chỉ còn lại 4 quỹhoạt động với số công ty thuộc danh mục đầu t là 46 công ty Về cơ cấu vốn huy

động, tới 82% đợc huy động từ ngoài Châu á và 18% phần còn lại đợc huy động từcác nớc Châu á không có phần nào của vốn đầu t của các quỹ đợc huy động từ ViệtNam

1.2/ Thực trạng hoạt động của các quỹ đầu t mạo hiểm tại Việt Nam:

1.2.1. Danh mục đầu t

 Đầu t chủ yếu vào các công ty có vốn đầu t nớc ngoài Chỉ có 2 trên 4quỹ đang hoạt động có công ty t nhân và công ty cổ phần Việt Nam trong

Trang 39

danh mục đầu t của mình Điều đó chứng tỏ đầu t vào các doanh nghiệp ViệtNam cha phải là hấp dẫn đối với các nhà đầu t.

 Quy mô của danh mục đầu t không tăng lên mà ngợc lại có xu hớnggiảm đi Theo kết quả trả lời phỏng vấn của một số nhà quản lý các quỹ thìhầu hết các quỹ không có kế hoạch mở rộng danh mục đầu t trong nhữngnăm tới

 Mặc dù các khoản đầu t đợc thực hiện khi thị trờng chứng khoán ViệtNam cha chính thức hoạt động, một số đầu t trong danh mục đã đợc niêmyết trên các thị trờng chứng khoán nớc ngoài Đó là trờng hợp niêm yết củacác công ty nớc ngoài điều này cũng cho thấy một thực tế là một tỷ lệ đáng

kể của vốn đầu t của các dự án của vốn nớc ngoài là vốn huy động từ các loạiquỹ đầu t trên thị trờng nớc ngoài

 Với các khoản đầu t vào công ty Việt Nam, có hai hình thức phổ biến

là mua cổ phần (đối với các công ty cổ phần hoá hoặc cổ phần thành lâp từ

đầu) và nợ có khả năng chuyển đổi (đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn

và công ty t nhân) Khi thị trờng chứng khoán cha hoạt động, rất khó choquỹ tìm kiếm các cơ hội đầu t

 Các khoản đầu t trong danh mục kể cả vào chứng khoán niêm yết haycha niêm yết đều đợc coi là rủi ro cao do đặc điểm của thị trờng đầu t và môitrờng hoạt động

1.2.2. Tham gia quản lý công ty thuộc danh mục

Việc lựa chọn các công ty thuộc danh mục đầu t và thực hiện đầu t công ty

đầu tiên là bớc đầu tiên quan trọng nhng không phải là bớc quan trọng duy nhất củanghiệp vụ đầu t của quỹ Sau khi thực hiện đầu t, công ty quản lý quỹ còn phải trựctiếp tham gia các hoạt động quản lý công ty thuộc danh mục thông qua t cách thànhviên của hội đồng quản trị hay ban giám đốc

Tham gia quản lý công ty là một đặc trng quan trọng của quỹ đầu t mạohiểm Hành vi này nhằm làm giảm rủi ro của khoản đầu t, và cải thiện cơ hội thànhcông Đồng thời nó góp phần cải thiện luồng thông tin cho các quyết định của công

ty quản lý quỹ trong việc thay đổi danh mục đầu t, bảo vệ quyền lợi của cổ đông Vì

lý do đó, các quỹ đầu t mạo hiểm quan tâm đến việc đầu t vào vốn chủ sở hữu, nắmgiữ một phần quyền sở hữu đối với công ty Tuy nhiên, trong những năm đầu 1990,luật còn hạn chế sự tham gia của bên nớc ngoài vào vốn cổ phần của các công ty cổphần hoá và công ty t nhân trong nớc, nên các danh mục đầu t chủ yếu của các quỹ

Trang 40

là vào các công ty có vốn nớc ngoài Hoạt động đầu t vào các công ty t nhân đợcbiến tớng dới dạng nợ có khả năng chuyển đổi, để chờ khi công ty đợc cổ phần hoáhoặc đợc phép theo luật thì thực hiện chuyển đổi thành vốn cổ phần.

ở Việt Nam, các hoạt động làm tăng giá trị mà các công ty tham, gia quản

lý quỹ cung cấp cho công ty thuộc danh mục đầu t bao gồm :

đã qua giai đoạn khởi đầu, hoạt động của doanh nghiệp đã đi vào ổn định, giá trịcủa doanh nghiệp đã đợc tăng lên nhiều, doanh nghiệp đã đủ khả năng đứng vữngtrên thị trờng thì cũng là lúc các nhà đầu t mạo hiểm rút vốn ra khỏi doanh nghiệp

để quay vòng vốn đầu t sang các danh mục khác có triển vọng hơn, nhiều khi doanhnghiệp đợc tài trợ vốn có tơng lai không sáng sủa thì nhà đầu t cũng phải kịp thờirút vốn ra khỏi doanh nghiệp đê tránh tình trạng thiệt hại nặng nề hơn nếu vẫn tiếptục duy trì hoạt động của doanh nghiệp Chiến lợc rút vốn đợc hoạch định từ trớckhi đầu t và là yếu tố quan trọng và là yếu tố để lựa chọn danh mục Nói chung,cách rút vốn chính và tích cực đối với các khoản đầu t là qua niêm yết trên thị trờngchứng khoán Tuy nhiên, các nhà quản lý quỹ chỉ ra rằng trong điều kiên Việt Nam,một số khoản đầu t có thể dợc bán trực tiếp mà không cần đợi đến lúc công ty thuộcdanh mục đợc niêm yết

1.2.4/ Nhận xét về chiến lợc thu hồi vốn

Các quỹ đều mệt mỏi chờ đợi sự ra đời của thị trờng chứng khoán và tìnhtrạng niêm yết của các công ty thuộc danh mục Sự chậm ra đời của thị trờng chứng

Ngày đăng: 08/08/2013, 14:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1:Cơ cấu và qui trình hình thành của tổ chức quỹ vốn mạo hiểm -     " Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm - Cơ hội cho những nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bước vào nền kinh tế tri thức"
Sơ đồ 1 Cơ cấu và qui trình hình thành của tổ chức quỹ vốn mạo hiểm (Trang 16)
Bảng 1: Quỹ đầu t mạo hiểm ở Việt Nam. -     " Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm - Cơ hội cho những nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bước vào nền kinh tế tri thức"
Bảng 1 Quỹ đầu t mạo hiểm ở Việt Nam (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w