Đề tài: Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm quan điểm lý luận và thực tiễn
Trang 1Lời nói Đầu
Toàn thế giới đang bớc vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của khoa học công nghệ kỹ thuật cao, tốc độ khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão, nền kinh tế thế giới đang dần chuyển hớng nhắm tới nền kinh tế tri thức Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang chuẩn bị những hành trang để hội nhập với nền kinh tế thế giới Với xuất phát điểm của chúng ta là một nớc đang phát triển, lạc hậu trong lĩnh vực khoa học
kỹ thuật, đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, quả thật chúng
ta gặp khó khăn rất nhiều trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới Để có thể thực hiện chiến lợc đi tắt đón đầu trong thời đại ngày nay, chúng ta chỉ còn một con
đờng vận dụng tri thức, sử dụng vốn quí nhất của con ngời vào trong lĩnh vực kinh doanh sản xuất, sáng tạo khoa học công nghệ kỹ thuật Nếu không phát huy sức mạnh của tri thức thì chúng ta sẽ mãi đi theo đuôi các nớc phát triển là bãi rác công nghiệp cho thế giới và nền kinh tế tri thức đối với Việt Nam chỉ là một giấc mơ không bao giờ thành hiện thực
Có thể thấy rằng việc phát triển khoa học công nghệ kỹ thuật là con đờng ngắn nhất để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, là cơ hội cho các doanh nghiệp trẻ Việt Nam cọ xát, thử sức trong môi trờng cạnh tranh kinh tế quốc tế Nhng đối với các dự án thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ thì thờng
đòi hỏi vốn lớn và rủi ro laị cao, các chủ đầu t phải đủ tiềm lực tài chính và đủ năng lực để có thể tài trợ cho các dự án thuộc loại này Với hệ thống cơ chế tài chính nh ở nớc ta hiện nay thì khó lòng có thể thực hiện đợc những dự án có tiềm lực lớn Các ngân hàng và các tổ chức tài chính hiện có ở Việt Nam thờng không đầu t vào những
dự án có độ rủi ro lớn, và chức năng của các ngân hàng cũng cha thể hiện đúng với chức năng của nhà đầu t Đây thực sự là khó khăn lớn nhất đối với đội ngũ các doanh nghiệp trẻ, họ có ý tởng, có năng lực sáng tạo, có tiềm tàng phát triển nhng họ thiếu vốn đầu t, khả năng tài chính không cho phép họ thực hiện những dự án mạo hiểm, họ cần những tổ chức tài chính bảo trợ vốn, coi rủi ro là đầu t lớn nhất cho lợi nhuận , lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn Hơn nữa trong xu hớng hội nhập kinh tế quốc tế thì các doanh nghiệp trẻ Việt Nam phải có những bớc đột phá lớn về sản phẩm, thơng hiệu của mình trên thơng trờng quốc tế, muốn vậy thì cần phải có những dự án mạo hiểm nhng mang lại sự phát triển nhảy vọt, và điều kiện tiên quyết là khả năng tài chính phải đợc đảm bảo Do đó thiết nghĩ cần phải có một mô hình tài chính phù hợp
có thể đáp ứng yêu cầu vay vốn của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ kỹ thuật cao, các doanh nghiệp trẻ có tiềm năng phát triển mạnh Quỹ
đầu t mạo hiểm là một loại hình tài trợ tài chính tối u nhất cho doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Vì mục đích của quỹ đầu t mạo hiểm là đầu t vào những doanh nghiêp mới khởi sự và những doanh nghiệp đang ở thời kỳ tăng trởng mạnh cần vốn lớn Quỹ đầu t mạo hiểm chấp nhận rủi ro lớn để kỳ vọng vào mức lợi nhuận trong tơng lai cao hơn mức bình quân Nếu không có quỹ đầu t mạo hiểm thì
Trang 2nhiều dự án có giá trị cao, có tiềm năng lớn bị xếp xó hoặc cả đời dự án sẽ mãi ở trên bàn giấy, không thể thực hiện đợc.
Với những bức xúc trong thị trờng tài chính của Việt Nam và sự thích hợp của quỹ đầu t mạo hiểm ở Việt Nam nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
" Quỹ đầu t vốn mạo hiểm - Cơ hội cho những nhà doanh nghiệp trẻ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và b ớc vào nền kinh tế tri thức"
Thông qua những cơ sở lý luận và tình hình thực tiễn của hoạt động đầu t vốn mạo hiểm trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế tri thức đợc trình bày trong đề tài, tôi xin đợc nhấn mạnh về ba vấn đề trọng tâm :
Một là , Việt Nam cần phải hớng tới nền kinh tế tri thức, hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Hai là , những thách thức và cơ hội mà doanh nghiệp trẻ Việt Nam gặp phải trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Quỹ đầu t mạo hiểm - định chế tài chính tối u đối với các doanh nghiệp trẻ, phù hợp cho mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là có một cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn về các loại quỹ đầu t, đặc biệt là quỹ đầu t mạo hiểm, đồng thời thấy đ-
ợc tầm quan trọng của các quỹ này trong quá trình Việt nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và tiến lên nền kinh tế tri thức trong tơng lai
Trang 3
Chơng I
Quỹ Đầu t vốn mạo hiểm Quan điểm lý luận và thực tiễn
I- nền kinh tế tri thức - sự phát triển tất yếu của thời đại và yêu
cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
1 Khái niệm nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức ( knowledge economy ), nền kinh tế dựa trên tri thức (knowledge based economy), nền kinh tế công nghệ cao (high-echnology economy)
đang là những thuật ngữ thời thợng hiện nay không chỉ ở những quốc gia phát triển
mà còn ở cả những quốc gia đang phát triển Vậy chúng ta phải hiểu nh thế nào về những thuật ngữ này và thực chất "Nền kinh tế tri thức là gì?" Hiện nay trên thế giới
có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nền kinh tế tri thức nhng hầu hết đều dựa trên cách định nghĩa của OECD ( Office economic cooperation and development, tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển ) đợc đa ra trong báo cáo "Kinh tế dựa trên tri thức " năm
1996 Theo định nghĩa này thì nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế trực tiếp dựa vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức Để mà hiểu đợc định nghĩa mang tính khái quát cao đợc đa ra ở trên thì chúng ta phải xem xét nó dới các khía cạnh khác nhau và đối với mỗi một quốc gia thì lại hiểu định nghĩa trên theo cách riêng tuỳ thuộc vào đờng lối chính sách, cơ chế và xu hớng phát triển của quốc gia đó Nhng tựu chung lại chúng ta có thể hiểu định nghĩa này theo ba cách tiếp cận khác nhau, cách tiếp cận hẹp , cách tiếp cận rộng và cách tiếp cận bao trùm
Trang 4Những ngời theo cách tiếp cận hẹp này hiểu tri thức với nghĩa hẹp tức là đồng nghĩa với khoa học và công nghệ hoặc hẹp hơn nữa là đồng nghĩa với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại bao gồm bốn công nghệ trụ cột là: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghiệp không gian vũ trụ và công nghệ vật liệu mới, theo cách tiếp cận này họ nhấn mạnh vào vai trò to lớn và độc nhất của công nghệ thông tin
Ngợc lại với cách tiếp cận trên, thì cách tiếp cận rộng lại dựa trên cách hiểu rộng về tri thức tức là mọi hiểu biết của con ngơì đối với bản thân và thế giới, OECD
đã phân ra bốn loại tri thức quan trọng , đó là biết cái gì, biết tại sao, biết nh thế nào
và biết ai Kinh tế tri thức không chỉ có nguyên nhân từ sự tiến bộ vợt bậc của các công nghệ mới mà là kết quả của một tập hợp ba nhóm nguyên nhân trực tiếp tác
động tơng tác và tự tăng cờng lẫn nhau bao gồm tiến bộ khoa học kỹ thuật, nền kinh
tế toàn cầu hoá cạnh tranh quyết liệt và các biến đổi về van hoá chính trị t tởng cuả chủ nghĩa t bản hiện đại
Còn đối với cách tiếp cận bao trùm thì kinh tế tri thức thực chất là một loại môi trờng kinh tế văn hoá xã hội mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trờng đó, tri thức tất yếu sẽ trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế Do vậy, cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri thức không phải đơn thuần là phát triển khoa học công nghệ mà là phát triển một nền văn hoá đổi mơí, sáng tạo để tạo thuận lợi nhất cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi loại tri thức, mọi hiểu biết của nhân loại
Có lẽ là cách tiếp cận bao trùm đã phần nào bao gồm cả hai cách tiếp cận trên nên nó đợc chấp nhận nhiều nhất và phổ biến nhất Và theo tôi chúng ta có thể hiểu nền kinh tế tri thức theo cách hiểu ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu nh sau: Nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế đợc dẫn dắt bởi tri thức, là một nền kinh tế mà việc sản sinh và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải
Trang 52/ Nền kinh tế tri thức là sự phát triển tất yếu của thời đại , là yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.
Nền kinh tế thế giới chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống sang nền kinh
tế công nghiệp với sự mở màn thời kỳ tiền cách mạng công nghiệp ở nớc Anh từ năm
1700 đến năm 1820 với sự phát triển của công nghiệp vải sợi, sự phát minh ra máy hơi nớc của James Watt thời kỳ 1776 - 1781 khởi điểm cho sự phát triển máy móc công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (`1820 - 1870), cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (1870-1913), đã có những thành tựu đợc áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và đã mang lại kết quả to lớn làm tiền đề cho sự phát triển của khoa học công nghệ Và từ năm 1950 trở về đây với sự phát triển kinh tế đặc biệt ở các nớc công nghiệp phát triển, sự phát triển của trí tuệ, của khoa học công nghệ, của kiến thức tổ chức quản lý, nền kinh tế do giá trị của tri thức tạo ra ngày càng tăng Kinh tế thế giới đã chuyển từ thời kỳ nông nghiệp sang tiền công nghiệp rồi sang công nghiệp và tất yếu bây giờ nó sẽ phát triển lên một hình thức cao hơn nữa, phải chăng đó chính là nền kinh tế dựa trên khoa học kỹ thuật công nghệ cao
Thực ra vai trò của tri thức trong nền kinh tế không chỉ bây giờ mới đợc nhân loại nói tới mà nó đã đợc đề cập đến từ rất sớm Từ năm 1650, nhà tiên tri tài năng của nớc Anh, William Patter, đã viết : " Của cải mang tính tợng trng sẽ thay thế cho của cải thật" và để chứng minh cho lời nói của ông thì năm 1690, chiếc máy hơi nớc
đầu tiên trên thế giới đã ra đời ngay tại nớc Anh Tiếp theo, sau ông là Francis Bacon, nhà t tởng lớn ngời Anh khẳng định: " Tri thức là sức mạnh " Winston Churchill từng nói về việc thiết lập một quốc gia hùng mạnh bằng tri thức Ngay tại nớc Mỹ năm
1970, các ông trùm kinh tế còn cho rằng công nghiệp nặng cần có xí nghiệp và điều
đó sẽ mãi không thể thay đổi Nhng chỉ ít năm sau chính họ đã phải thừa nhận: " Tri thức mới là chìa khoá để mở cổng để bá quyền kinh tế " Và Alvin Toffler, học giả ngời Mỹ, một trong những nhà tơng lai học nổi tiếng của thế giới ở thế kỷ XX Năm
1970, ông cho ra mắt bạn đọc cuốn " Cú sốc tơng lai " (Future shock), Trong cuốn này ông trình bày về quá trình biến đổi của công nghiệp đối với các tổ chức và con ngơì, dự báo hiệu quả của cuộc cách mạng sinh hoá, của cải cách giáo dục, khả năng kiềm chế và sự biến đổi sao cho có lợi Đến năm 1980, ông lại cho ra đời cuốn " Làn
Trang 6sóng thứ ba " (The third Wave), lần này ông phân tích các hớng biến đổi mang tính chất khoa học kỹ thuật, ông nhấn mạnh vai trò của khoa học kỹ thuật, cho rằng máy móc hiện đại sẽ thay thế cho sức lực của con ngời Và 10 năm sau, năm 1990, trong cuốn " Thăng trầm quyền lực " (Power shift ) hay còn gọi là "Tơng lai thế giới " ông khẳng định vai trò then chốt của tri thức là tạo ra sự biến đổi toàn diện kinh tế thế giới Theo ông, bạo lực chỉ là dạng phẩm chất thấp, của cải thuộc bậc trung còn tri thức mới là phẩm chất cao nhất, nó chuyển hoá liên tục tránh đựoc lãng phí sức lực và tiền của Có thể nói những dự báo của ông đã và đang nhanh chóng trở thành hiện thực, sách của ông trở thành sách bán chạy nhất "Best sell"
Thế kỷ XX là thế kỷ khoa học công nghệ tiến nhanh cha từng thấy, giá trị sản xuất vật chất tăng hàng chục lần so với thế kỷ trớc Năm 1903, việc giải phóng năng lợng hạt nhân của ông bà Mari Quyri đã tạo bớc nhảy vọt trong việc tìm ra một năng lợng mới cho loài ngời, xuất hiện điện tử, tàu phá băng nguyên tử Cuộc cách mạng sinh học tạo ra những giống mới dẫn tới bớc phát triển mới trong nông nghiệp, thụ tinh trong ống nghiệm, năm 1967 ghép đợc tim con ngời Cuối thế kỷ XX đã giải mã
đợc gien của loài ngời , thực hiện sinh sản vô tính , chế tạo ra các thần dợc Cuộc cách mạng về vật liệu mới, nổi bật là vật liệu compozit đang đợc sử dụng rộng rãi trong các ngành chế tạo máy, các ngành kỹ thuật cao Cuộc cách mạng về công nghệ vũ trụ với nhiều thành tựu to lớn: Phóng vệ tinh nhân tạo năm 1957 , phóng tên lửa thăm dò mặt trăng năm 1959, đa con ngời lên mặt trăng năm 1969 và khám phá sao hoả
Đặc biệt là cuộc cách mạng thông tin Năm 1832 máy điện tín ra đời mà cha
đẻ là Samuel Morse Năm 1836 đờng dây điện báo xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ Năm
1960, các xí nghiệp ở Mỹ đều trang bị máy điện toán Điện thoại ra đời năm 1901, truyền ảnh từ xa ra đời năm 1905, truyền hình từ xa ra đời năm 1914, vô tuyến truyền hình ra đời năm 1926, đến năm 1951 có vô tuyến truyền hình màu, máy tính ra đời năm 1949, nay là máy tính nối mạng và sự phát triển cực nhanh của Internet.Trong vài thập kỷ gần đây, máy vi tính và mạng Internet là công cụ không thể thiếu đợc trong các công ty, nhà máy Sự ra đơì của Internet đã gắn liền cả thế giới với nhau, buôn bán xuyên quốc gia đã trở nên dễ dàng hơn và thuận tiện hơn Thơng mại điện
Trang 7tử là một hình thức buôn bán phổ biến ở trên thế giới Máy rút tiền tự động, các cửa hàng bán đồ tự động và thanh toán bàng thẻ tín dụng điện tử không còn xa lạ đối với con ngời Ngày nay, công nghệ không dây đã phát triển lên tới đỉnh cao thể hiện ở sự bùng nổ sử dụng máy điện thoại di động, các đời điện thoại di động không ngừng đợc nâng cấp và cải tiến Công nghệ sinh học cũng đang trên đà phát triển với sự ra đời của cừu Dolly, theo thống kê đã có đúa trẻ thứ 1000 đợc sinh ra trong ống nghiệm, việc cấy ghép gen đã có thể thực hiện đợc Qua đó có thể thấy khoa học kỹ thuật công nghệ đã phát triển không ngừng và đạt đựơc nhiều thành tựu đáng kể Đó chính
là tri thức , là công nghệ tri thức Hơn nữa, con ngời với t chất năng động, sáng tạo, luôn luôn muốn tìm tòi, khám phá ra những cái mới và không bao giờ tự hài lòng với những gì mình đang có Yêu cầu của con ngời ngày càng trở nên đa dạng, phong phú, phức tạp, muốn đáp ứng đợc thì càng phải nâng cao sự tích luỹ tri thức trong sản phẩm, phải tạo ra đợc những sản phẩm có tính năng đa dạng, chất lợng tốt, giá rẻ và chứa hàm lợng tri thức cao
Từ giữa thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX , có thể nói đây là thời kỳ phát triển
có tính chất bớc ngoặt của yếu tố tri thức với t cách là một yếu tố của lực lợng sản xuất và nó đợc bắt đầu ở nớc Mỹ - một quốc gia đứng vị trí thứ nhất trong nền kinh tế toàn cầu Trớc đây con ngời khai thác tài nguyên thiên nhiên, lấy đó làm nguồn lực
để phát triển kinh tế nhng tài nguyên cũng chỉ có giới hạn , khai thác mãi thì cũng phải cạn kiệt do đó con ngời cần phải phát triển khoa học kỹ thuật để tạo ra những vật liệu cần thiết cho sản xuất mà không phải lấy từ thiên nhiên Tới đây thì khoa học kỹ thuật đã trở thành nhân tố quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế Nhờ có khoa học kỹ thuật mà vòng đời của sản phẩm đợc rút ngắn, hàm lợng chất xám và vốn chứa
đựng trong tri thức tăng cao
Xu hớng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ về khoa học công nghệ thông tin Nhờ có công nghệ thông tin mà quá trình giao thơng giữa các quốc gia trở nên dễ dàng hơn nhiều, ngành công nghệ khoa học kỹ thuật của nhiều quốc gia nh Mỹ, Anh , Pháp, Đức đang ở đỉnh cao, do đó muốn đạt tới yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế thì các quốc gia khác phải bắt kịp tốc
độ phát triển các ngành khoa học công nghệ vì giờ đây nó chính là nguồn gốc của sự
Trang 8giàu có và hùng mạnh của mỗi quốc gia và cũng chỉ có con đờng đó mới giúp cho các nớc nhỏ , các nớc đang phát triển mới có điều kiện hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
Có thể nói tốc độ phát triển công nghệ thông tin là chìa khoá cho sự thành công Trớc
đây, giá trị đồng nghĩa với khối lợng, số lợng nhng giờ đây giá trị có nghĩa là chất ợng, một con chíp bé tẹo có thể cấy ghép vào mạch máu con ngời lại có giá trị gấp mấy chục lần một chiếc máy vi tính chứa đựng vô số những vi mạch điện tử Càng nhỏ càng đắt tiền, đó là khẩu hiệu thời đại công nghệ kỹ thuật, một chiếc điện thoại
l-di động bé bằng nửa lòng bàn tay lại có giá trị gấp nhiều lần so với một chiếc l-di động
to bằng cục gạch Câu hỏi cần đặt ra ở đây là tại sao những sản phẩm tốn nhiều vật chất hơn lại có giá trị ít hơn nhiều so với những sản phẩm mà sử dụng rất ít t liệu sản xuất, tại sao những sản phẩm đời sau lại sử dụng ít t liệu sản xuất hơn những sản phẩm đời trớc Câu trả lời duy nhất cho vấn đề này là yêu cầu của con ngời ngày càng cao, xu hớng tiêu dùng những sản phẩm chứa nhiều hàm lợng giá trị tri thức càng đợc
a chuộng Giá trị của sản phẩm đợc đánh giá dựa theo hàm lợng tri thức chứa đựng trong nó, theo công năng , tiện ích và u điểm của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại Chỉ có những thành tựu của khoa học công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật cao mới có thể tạo ra đợc những sản phẩm u việt nh vậy, đây cũng là câu trả lời cho
sự phát triển nhảy vọt của Nhật Bản - một đất nớc không đợc u đãi về tài nguyên thiên nhiên, nhng nó trở thành cờng quốc đứng thứ ba trên thế giới là dựa vào tri thức dựa vào những thành tựu khoa học công nghệ Nhật Bản đã có những chiến lợc phát triển khoa học công nghệ rất hợp lý và hiệu quả Cũng giống nh Nhật Bản, Hàn Quốc trong vài thập kỷ gần đây đã vơn lên thành một trong những nớc có nền công nghệ thông tin phát triển vào bậc nhất trên thế giới Vậy, để hội nhập kinh tế quốc tế, hoà mình vào dòng chảy chung của toàn cầu thì các nớc đang phát triển mà điển hình là Việt Nam chúng ta càng cần phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa khoa học công nghệ thông tin Khi hội nhập vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới có nghĩa là cùng chung một sân chơi, mạnh đợc yếu thua, đây là một thách thức to lớn đối với các nớc đang phát triển vì phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh quốc tế có trình
độ khoa học công nghệ vợt trội nhng đồng thời cũng là cơ hội, tạo ra động lực thúc
đẩy sự phát triển của những nớc này Do đó muốn trụ vững đợc trên thơng trờng quốc
tế thì sản phẩm của các doanh nghiệp mới tham gia thị trờng quốc tế ít ra cũng phải
Trang 9ngang tầm với các sản phẩm khác trên thị trờng Mặt khác khi hội nhập kinh tế quốc
tế , các nớc đang phát triển nh Việt Nam có thể xâm nhập vào thị trờng các nớc khác nhng cũng đồng nghĩa với việc thị trờng trong nớc bị chia sẻ, nếu không giữ vững và củng cố đợc thị phần trong nớc thì chúng ta đã bị thua ngay trên sân nhà , chơi trên sân nhà còn thua thì nói gì đến việc chơi trên sân bạn , điều này có nghĩa là khả năng cạnh tranh của chúng ta quá hạn chế Để cải thiện tình trạng này không còn cách nào khác là phải phát triển khoa học công nghệ, sử dụng khoa học công nghệ một cách hợp lý và có hiệu quả, phải đầu t chất xám trong sản phẩm, sản phẩm đợc sản xuất ra phải chứa đựng hàm lợng tri thức cao, phải có khả năng cạnh tranh Vì vậy, với yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá thì Việt Nam nói riêng và các nớc đang phát triển nói chung phải đánh giá đợc tầm quan trọng của tri thức trong việc sản xuất, ứng dụng triệt để các thành tựu khoa học công nghệ sẵn có, không ngừng nghiên cứu, sáng tạo các công nghệ mới, hiện đại đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng cao của nhân loại
Tri thức còn đợc vận dụng vào trong quản lý, tổ chức, tri thức trở thành nguồn lực căn bản của kinh tế quốc gia Tri thức quyết định tăng trởng kinh tế và nhất là trong giai đoạn hiện nay , nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới đang cạn kiệt dần thì vai trò của tri thức càng đợc nhấn mạnh Trong nền kinh tế tri thức nguồn tài nguyên trí lực và khoa học kỹ thuật công nghệ trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp , lực lợng có vai trò quan trọng hàng đầu Vậy, sự xuất hiện nền kinh tế tri thức là một quá trình , một thực tế tất yếu chứ không phải là ngẫu nhiên Kinh tế tri thức là sự phát triển tất yếu của thời đại
II- Quá trình hình thành quỹ đầu t mạo hiểm
1/ Quỹ đầu t - quỹ đầu t mạo hiểm
Trang 10Nền kinh tế muốn tăng trởng nhanh, nhất thiết phải có nhiều vốn đầu t Vấn
đề đặt ra là làm thế nào để các tổ chức, cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà doanh nghiệp có ý tởng kinh doanh, có các dự án kinh doanh nhng thiếu vốn đầu t gặp nhau
đợc, cùng hợp tác với nhau, cùng nhau tìm kiếm các cơ hội kinh doanh có lợi nhất
Để làm "cầu nối " giữa bên cần vốn với bên có vốn nhàn rỗi, nhiều loại hình định chế tài chính trung gian đã ra đời Một trong những định chế tài chính trung gian có ảnh hởng nhiều đến các hoạt động đầu t trong nền kinh tế, đó là " quỹ đầu t"
Quỹ đầu t là một tổ chức dạng doanh nghiệp đợc hình thành từ vốn góp của ngời đầu t bằng cách phát hành và bán chứng chỉ quỹ Là một dạng doanh nghiệp đặc biệt, quỹ đầu t không dùng vốn của mình để mua máy móc thiết bị, các yếu tố sản xuất để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, mà dùng vốn để đầu t trực tiếp
và đầu t gián tiếp
Đầu t trực tiếp là việc các quỹ đầu t dùng vốn của mình để thâm nhập trực tiếp vào các công ty, các dự án bằng cách góp cổ phần, mua cổ phiếu phát hành lần
đầu với t cách là cổ đông sáng lập nh các sáng lập viên khác
Đầu t gián tiếp là việc quỹ đầu t tự dùng vốn của mình tham gia vào thị trờng chứng khoán với t cách của một nhà kinh doanh chứng khoán, mua đi bán lại các chứng khoán, nhằm hởng chênh lệch giá hay cổ tức từ các công ty hoặc lợi tức trái phiếu Tuy nhiên quỹ đầu t không phải là thành viên của thị trờng chứng khoán tập trung Các quỹ đầu t có thể dùng vốn của mình cho các chủ doanh nghiệp vay để đầu
t vào các dự án theo những thoả thuận nhất định Nguồn vốn hình thành quỹ đầu t rất phong phú và đa dạng Các tập đoàn t bản, các công ty, dân chúng có vốn nhàn rỗi
dù nhiều hay ít đều có thể trở thành các chủ sở hữu của quỹ đầu t bằng việc mua các chứng chỉ quỹ đầu t do quỹ đầu t phát hành
Hiện nay có rất nhiều loại hình quỹ đầu t nh : quỹ đầu t chứng khoán, quỹ
đầu t hỗn hợp, quỹ hỗ trợ đầu t, quỹ đầu t mạo hiểm Nhng trong đề tà này tôi chỉ xin nghiên cứu về quỹ đầu t mạo hiểm Vậy để hiểu rõ từng khía cạnh của quỹ đầu t mạo hiểm thì trớc tiên chúng ta phải hiểu quỹ đầu t mạo hiểm là gì và bản chất của
nó
Trang 11Để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, nhiều nớc đã áp dụng hình thức huy động vốn đầu t mạo hiểm để cung cấp cho các dự án, chơng trình Điển hình trong hoạt động này là ngời Mỹ, họ đã phát triển mạnh hình thức vốn mạo hiểm (Venture capital), đáp ứng một cách nhanh chóng và hiệu quả cho các dự án của mình Hiện nay tại Mỹ đã hình thành một thị trờng vốn mạo hiểm khổng lồ, có khả năng tài trợ cho nhiều dự án, đặc biệt là những nghiên cứu công nghệ cao Vậy vốn mạo hiểm là gì và vai trò của chúng nh thế nào trong hệ thống tài chính của các quốc gia trên thế giới hiện nay?
Theo một nghiên cứu gần đây của “Chơng trình dự án phát triển sông Mê Kông” (năm 1998) thì có hai định nghĩa về vốn mạo hiểm, một theo nghĩa rộng và một theo nghĩa hẹp." Theo nghĩa rộng thì vốn mạo hiểm là nguồn tài chính cung cấp cho các công ty t nhân dới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu t gần giống nh vốn cổ phần có thời hạn trung bình (3 - 5 năm)" Số cổ phần giành đợc
trong các công ty nhận đợc vốn đầu t loại này có thể chiếm tỷ phần ít ỏi hoặc chiếm
đa số áp đảo Nh chúng ta đã biết, đầu t là hoạt động bỏ vốn ra tập trung vào một mục
đích nào đó nhằm mu cầu một khoản thu về lớn hơn trong tơng lai, nhng khác với đầu
t thông thờng, mục tiêu của đầu t mạo hiểm là kiếm đợc khoản thu nhập vốn cao hơn mức trung bình Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi khoản đầu t đó đợc bán cho một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc bán cho công chúng (bán cho công chúng
là hiện tợng phổ biến xảy ra ở các nớc châu á Bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn t vấn ở tầm chiến lợc, cho các công ty nhận vốn đầu t khi họ bớc sang giai đoạn tăng trởng kế tiếp và thậm chí chuẩn bị sẵn sàng
để công ty đợc chuyển giao cho các cổ đông khác
Định nghĩa hẹp, xác định vốn mạo hiểm là các khoản đầu t vốn cổ phần tnhân trung hạn vào các công ty nhận vốn cha trởng thành Nói cách khác, công ty nhận vốn đầu t đang trong giai đoạn đầu (manh nha) của quá trình phát triển sản phẩm, phát triển năng lực sản xuất hoặc bắt đầu mở rộng cung cấp hàng hoá, dịch vụ Trong giai đoạn đầu phát triển, các công ty hiện nay ngày càng phát triển nhanh, có
xu hớng rút ngắn lịch sử phát triển và có quy mô nhỏ hơn so với đa số các khoản đầu
Trang 12t đợc nêu trong định nghĩa rộng, rủi ro cũng có xu hớng cao hơn Vì thế , các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm sẽ tìm kiếm các khoản thu nhập vốn tiềm năng cao hơn Sự khác biệt giữa hai định nghĩa trên ở một góc độ nào đó là mức độ trởng thành của các công ty nhận vốn đầu t.
Chúng ta cũng có thể hiểu quỹ đầu t mạo hiểm duới góc độ khác và theo tôi cách định nghĩa này dễ hiểu và thể hiện rõ chức năng của quỹ đầu t mạo hiểm hơn cả
Quỹ đầu t mạo hiểm là hình thức huy động vốn để đầu t tiền và kỹ năng vào các công ty mới khởi sự có tiềm năng phát triển cao hoặc các công ty đang ở giai đoạn tăng trởng cao (Thông thờng các công ty này là những công ty cha đợc niêm yết và
cổ phiếu cha đợc mua bán trên các sàn giao dịch chứng khoán) Theo định nghĩa này thì ngoài việc đầu t tiền, công ty quản lý quỹ còn đầu t kỹ năng quản lý vào các công
ty thuộc danh mục để đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động các công ty này
2/ Lịch sử ra đời của quỹ đầu t mạo hiểm
Quỹ vốn mạo hiểm đầu tiên đợc thành lập năm 1946 ở Mỹ tại thành phố Boston, có tên gọi là công ty Nghiên cứu và Phát triển Mỹ (ARD Coporation) đã đợc hình thành dới hình thức một quỹ hỗ tơng dạng đóng (closed end) Sự ra đời của quỹ này gắn liền với sự phát triển của thung lũng Silicon Quỹ này đợc hình thành để kiếm các dự án đầu t có nhiều tiềm năng đem lại thu nhập cao Công ty Digital Equipment Inc đã mang lại hơn 50% lợi nhuận của quỹ này Nhiều quỹ vốn mạo hiểm đã ra đời tiếp sau đó Cũng vào khoảng thời gian này, các tổ chức của chính phủ bảo trợ cho các doanh nghiệp nhỏ đợc thành lập nh SBA và SBIC nhng quy mô vốn
đầu t cho từng doanh nghiệp vẫn còn nhỏ
Tuy nhiên, đã có những thay đổi quan trọng trong lãnh vực này vào những năm 1970 khi có một đạo luật về giảm thuế đánh trên lợi nhuận do tăng vốn (capital gain tax) đợc ban hành Một yếu tố thứ hai đã tác động đến sự phát triển các quỹ vốn mạo hiểm khi vào năm 1979 sau khi Bộ Lao động Hoa kỳ điều chỉnh lại các quy định liên quan đến việc đầu t của các quỹ hu trí, đã thúc đẩy những khoản vốn từ quỹ hu
Trang 13trí đầu t cho các doang nghiệp mới cần vốn mạo hiểm để đòi lại các khoản lơị nhuận cao trong danh mục đầu t đa dạng hoá.
Cũng vào thời kỳ này và những năm đầu thập niên 1980 và 1990 đã có sự tăng vọt về các khoản vốn đầu t mạo hiểm song hành với các cuộc phát hành lần đầu
ra công chúng, cùng với các diễn biến tăng giá cổ phiếu ngoạn mục trên thị trờng cổ phiếu Trong khoảng thời gian này, dù có tốc độ tăng trởng rất nhanh, khối lợng vốn mạo hiểm chỉ đạt 10 đến 15 tỷ USD trong những năm 1980 Sau đó vào những năm
1990, những thiên thần đầu t (thiên thần đầu t là thuật ngữ chỉ các nhà đầu t vốn mạo
hiểm cho những dự án ngay từ khi thai nghén hoặc mới hình thành, đặc biệt là các dự
án đi liền với các phát minh, sáng chế còn quá mới mẻ với các nhà tài chính chuyên nghiệp vì cha đủ thông tin cần thiết về các phát minh những khoản đầu t này rất khó thẩm định về hiệu quả kinh tế và khó gọi vốn trong những thời kỳ mới hình thành) đã bỏ ra khoảng 30 tỷ USD cho các dự án vốn mạo hiểm Theo một nghiên cứu của Wetzel hàng năm có khoàng 50 tỷ USD đợc các quỹ vốn mạo hiểm đầu t cho các dự án trên toàn cầu Tại vơng quốc Anh các quỹ vốn mạo hiểm với vốn trên 5 tỷ USD đã tập hợp thành Hiệp hội các quỹ vốn mạo hiểm Anh Quốc (British venture capital association)
Riêng chính phủ Hoa Kỳ đã đầu t khoảng 63 tỷ USD cho các dự án mạo hiểm, nhng tập trung chủ yếu vào các trờng đại học Đối với các ngành công nghiệp nhỏ, vốn mạo hiểm đã đóng vai trò tác động quan trọng Trong khoảng 10 năm kết thúc vào năm 1988, trên 305 cuộc phát hành lần đầu ra công chúng (IPO), là của công ty có vốn mạo hiểm, điều này có nghĩa là các công ty đó đợc các quỹ vốn mạo hiểm cấp vốn trong thời kỳ đầu và vẫn tiếp tục đầu t vào các doanh nghiệp phát hành này trong các giai đoạn phát triển tiếp theo Quỹ đầu t mạo hiểm đã đợc hình thành phát triển mạnh mẽ, đang trở thành một nghành công nghiệp tại Mỹ, Anh và
Đức Còn tại Châu á, quỹ đầu t mạo hiểm cũng đã xuất hiện lần đầu tiên ở Singapore Năm 1985 với sự hoạt động rất tích cực của Uỷ ban phát triển kinh tế nhằm thức đẩy sự vận động của hoạt động tài chính hỗ trợ cho nguồn vốn đầu t rủi ro Tại Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan, hình thức đầu t này cũng đã xuất hiện từ rất
Trang 14sớm Năm 1690, tại Hàn quốc, các nhà đầu t đã liên kết với nhau và thành lập ra 13 câu lạc bộ các nhà đầu t, họ chọn lựa những doanh nghiệp đợc đánh giá là có tiềm năng phát triển nhất trong số các doanh nghiệp mới đợc thành lập để đầu t vốn liếng
và kinh nghiệm hoạt động của mình Năm 1996, Fuji Bank của Nhật đã thiết lập ra bộ phận đợc gọi là "Phòng tín dụng cho các doanh nghiệp mới ", chức năng của ban này
là hỗ trợ thực hiện gia tăng đầu t cho các hãng kinh doanh mới thành lập, tìm kiếm những hãng có tiềm năng phát triển cao và giúp đỡ họ trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh
Lịch sử phát triển của quỹ đầu t mạo hiểm khá là lâu dài và hoạt động với phạm vi tơng đối rộng, từ Mỹ, Anh và ở cả Châu á nh Nhật, Singapore, Hàn Quốc Hoạt động của các quỹ này đã mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế của các nớc phát triển và kinh tế thế giới Do đó, quỹ đầu t mạo hiểm không phải là xa lạ
đối với nhân loại mà mặt khác nó còn là hình thức đầu t rất hiệu quả
3/ Tổ chức, quy trình hình thành và quy trình đầu t quỹ vốn mạo hiểm
3.1> Tổ chức của các công ty vốn mạo hiểm
Sự thành công của các quỹ vốn mạo hiểm lệ thuộc vào khả năng giải đáp tính phức tạp của các dự án mới Các nhà quản trị vốn mạo hiểm, bên cạnh khả năng phát hiện ra những dự án tiềm năng có mức tăng trởng cao, phải có năng lực tổ chức quản trị các đầu t này một cách hiệu quả Thông thờng việc theo dõi các dự án nh vậy rất tốn kém trong chi phí quản trị tổng hợp các danh mục đầu t của quỹ vốn mạo hiểm Ngoài ra, nhà quản trị phải có năng lực đàm phán hợp đồng để phát triển mở rộng, tái
bố trí nhân sự phù hợp cho từng giai đoạn phát triển nhằm đạt đợc mục đích cuối cùng của nhiệm vụ là đạt mức tăng trởng cao trong toàn quý Khác với quỹ đóng thông thờng, loại quỹ vốn mạo hiểm hạn chế thời gian và bắt buộc thành viên tổng quát phải liên tục tìm kiếm các đầu t tốt để gia tăng giá trị và hoàn thành chỉ tiêu đề
Trang 15ra Khác với quỹ đóng, dòng vốn chạy vào quỹ vốn mạo hiểm là thuộc nhu cầu thị ờng, cho phép quỹ phát triển mở rộng khi có thời cơ đầu t tuỳ theo đề nghị của thành viên tổng quát.
tr-Do những yêu cầu đối với thành viên của quỹ vốn đầu t mạo hiểm nh trên nên các nhà quản trị đã chọn lọc ra mô hình thành viên hợp danh trách nhiệm hữu hạn cho cac quỹ vốn mạo hiểm Hình thức sở hữu này giảm thiểu các vấn đề nảy sinh trong quá trình đầu t vào dự án mới bởi vì với hình thức này, các nhà đầu t có thể tham gia nhiều quỹ với những mục tiêu đa dạng Trong khi đó, thành viên tổng quát
đợc thoải mái quyết định đầu t vào các dự án sẽ mang lại giá trị cao cho quỹ Sau cùng cơ cấu của quỹ cho phép sử dụng hiệu quả tính thanh khoản mà chỉ có các nhà
đầu t định chế lớn mới có Nó cho phép nhà quản lý quỹ yên tâm vì không có những biến động dòng vốn vào và dòng vốn chảy ra Các nhà quản lý quỹ có thể cam kết tham gia vào các dự án tốt và ngợc lại đôi khi phải ngồi chờ vì không có dự án tốt để
đầu t Dạng thức ban đầu này vẫn còn những hạn chế khiến cho các nhà tài chính lựa chọn một mô hình hoàn thiện hơn cho các quỹ vốn mạo hiểm nh sau:
Theo mô hình Venture Capital Limited Partnership, Hợp danh trách nhiệm hữu hạn vốn mạo hiểm chỉ có hai loại thành viên là: Thành viên tổng quát và thành viên trách nhiệm hữu hạn
Thành viên tổng quát ( General Partnes)
• Các thành viên tổng quát là ngời lập ra quỹ vốn mạo hiểm bằng cách gọi vốn từ thành viên hợp danh trách nhiệm hữu hạn Các thành viên tổng quát có trách nhiệm tổ chức đầu t vốn gọi đợc Sau khi có nguồn vốn, các thành viên tổng quát tìm kiếm sàng lọc các cơ hội đầu t, và khi gặp đợc cơ hội tốt, các cổ đông này đàm phán tổ chức đầu t
• Việc tham gia đầu t vốn vào một dự án cũng có nghĩa là các thành viên tổng quát phải tốn thì giờ và công sức để theo dõi, giám sát và t vấn cho các dự án đầu t mới Quan điểm về cách tổ chức đầu t và tham gia giám sát có khác nhau tùy từng nhóm quỹ vốn mạo hiểm
Trang 16• Sau cùng thành viên tổng quát phải tổ chức thu hoạch thành quả đầu t bằng cách
tổ chức phát hành ra công chúng hay tổ chức bán dự án, doanh nghiệp cho một công
ty đầu t, đồng thời điều động nhân lực quản trị qua các dự án đầu t mới vì các dự án
cũ đã đợc phát hành ra công chúng và thông thờng có lực lợng quản lý mới
• Các thành viên tổng quát phải báo cáo thờng xuyên việc đầu t sử dụng vốn, đặc biệt là mức lợi nhuận Họ nhận đợc trị giá 2% đến 3% trị giá quỹ vốn đã thực góp để
sử dụng vào chi phí điều hành quỹ Ngoài ra, theo thông lệ các nhà quản lý quỹ (cổ
đông tổng quát) đợc hởng từ 20% đến 30% lợi nhuận tăng trởng trên số vốn đã đợc
đầu t
• Phần lớn các thành viên tổng quát thờng tụ tập dới dạng hợp danh TNHH hay một công ty TNHH để có thể liên tục điều hành, đàm phán, ký kết và thực hiện các nhiệm
vụ đầu t cho dù có thể có một thành viên muốn ra đi khỏi quỹ vốn
Sơ đồ 1:Cơ cấu và qui trình hình thành của tổ chức quỹ vốn mạo hiểm
Thành lập công
ty quản trị
Đóng góp công sức và quản lý Phí quản lý 2-3% mỗi năm Chia 20-30% lợi nhuận (do
Trang 17 Thµnh viªn tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n (Limited Partners)Thµnh viªn tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n cña c¸c quü vèn m¹o hiÓm thêng lµ:
Thu nhËp tµi chÝnh
Thµnh viªn tr¸ch nhiÖm h÷u h¹n
Trang 18Lý do chính của sự tham gia của các loại thành viên này là:
Sự đầu t lâu dài và ổn định Phần lớn các nhà đầu t loại trên đây có thể tham gia
ổn định trong một dự án gọi vốn dài hạn
Sự phân bổ lợi nhuận tỉ lệ theo vốn góp Các định chế đầu t không phải thúc bách lắm trong việc đòi hỏi lợi nhuận phân chia vào đúng ngày
Các nhà đầu t vào quỹ vốn mạo hiểm thờng đòi hỏi có thời gian để cân nhắc tính toán, trớc khi phát hành lần đầu ra công chúng và họ có thể đợc vào hay ra quỹ theo thời điểm tự tính toán
Một quan tâm lớn đối với các thành viên tổng quát là tìm đợc cổ đông có thể tham gia lâu dài vào quỹ Các định chế nói trên thờng có khả năng đáp ứng yêu cầu
đó
Quan tâm lớn thứ hai là khả năng góp vốn đúng thời điểm gọi vốn (capital call)
Trang 19Việc góp vốn đúng thời điểm cho phép các nhà quản trị chớp đợc thời cơ đầu
t vào các dự án tốt Ngợc lại, đôi khi sự góp vốn trễ có thể hủy hoại uy tín và quá trình đầu t của một nhóm thành viên quỹ vốn mạo hiểm
3.2> Qui trình hình thành một quỹ vốn đầu t mạo hiểm
Có thể nói xây dựng đợc một quỹ vốn mạo hiểm là một quá trình tốn kém nhiều mặt Các thành viên tổng quát thờng phải mất nhiều thì giờ, công sức và chi phí
để tiếp thị, thuyết phục các nhà đầu t tiềm năng tham gia vào quỹ, cũng nh xây dựng niềm tin vào lợi nhuận của những đầu t và quyền đợc quản lý quỹ
Quá trình hình thành một quỹ vốn đầu t mạo hiểm thờng trải qua các giai
đoạn nh sau:
Các thành viên tổng quát cảm nhận và phát hiện các cơ hội đầu t có tiềm năng phát triển tốt đẹp, có mức tăng trởng nhanh và triển vọng lợi nhuận cao Thông th-ờng thì các thành viên tổng quát phải bỏ ra nhiều công sức, thời gian, chi phí, để xây dựng hồ sơ dự án, chuẩn bị nền tảng cho triển khai dự án và phát hiện các nguồn vốn tơng lai khả thi
Các thành viên tự thẩm định dự án để lựa chọn sản phẩm, thị trờng, các chiến lợc phát triển cũng nh lựa chọn hình thức tổ chức doanh nghiệp phù hợp và cách tổ chức tiếp nhận các nguồn tài chính để đi đến quyết định thực hiện
Xây dựng mô hình tổ chức và tính pháp lý của quỹ vốn, ví dụ công ty đầu t hay quỹ hỗ tơng hay quỹ đầu t dạng đóng mở
Sau bớc này các thành viên xem xét và ra quyết định về mức vốn, số lần gọi vốn (tranches), mô hình chi tiết thể thức đầu t, cơ cấu thành phần quỹ vốn, HĐ quản trị, HĐ điều hành Vì phần lớn các thành viên là những định chế tài chính đầu t nên họ trở thành những ngời tham gia xem xét thận trọng (nh qui trình Due diligenee) các chi tiết thành lập để góp phần bảo đảm cho thành công của quỹ
Các thành viên ra quyết định về các chiến lợc thực hiện và chiến lợc chiếm lĩnh thị trờng
Trang 20 Lập LCKTKT hay dự án khả thi sau cùng của từng dự án trong quỹ.
Tổ chức huy động vốn, ấn định ngày đóng quỹ Hợp đồng với các đối tác cung cấp vốn
Triển khai công việc đầu t theo kế hoạch và chiến lợc đề ra
Hội đồng điều hành và các thành viên tổng quát theo dõi việc triển khai, quản lý kinh doanh, giám sát các dự án, góp ý t vấn và kiểm tra định kỳ Thu nhận các báo cáo hoạt động và báo cáo kiểm toán
Tiếp tục công việc điều hành cho đến khi thu hoạch
Tất cả các chi tiết trên đều đợc đa vào hợp đồng thành lập quỹ vốn mạo hiểm
3.3> Qui trình đầu t vốn mạo hiểm.
3.3.1 Giai đoạn hình thành
Thông thờng, một quỹ hình thành phải mất một số thời gian nhiều tháng Trong thời gian này, các thành viên tổng quát nghiên cứu và tìm kiếm dự án đầu t và tìm các nguồn cấp vốn cho quỹ Cũng trong giai đoạn này, thành viên tổng quát lo tiến hành các thủ tục cam kết đầu t và cam kết đóng vốn, tiến hành các thủ tục chuẩn bị về pháp
lý cho quỹ đầu t
Qui trình đầu t một quỹ vốn mạo hiểm
Phát triển khái niệm quỹ
Củng cố các cam kết
đầu t Xúc tác cho thỏa thuận vận hành
Trang 21Chọn lọc
dự án đầu
t
Thẩm định và tiến hành các thẩm tra D.D
Thơng thuyết các thơng vụ và các giai đoạn
Tiếp tục các lần gọi vốn vốn vào dự án Đầu t nguồn
3.3.2 Giai đoạn gọi vốn
Thời kỳ đóng quỹ, gọi vốn, đặc biệt là ngày đóng quỹ có thể đợc coi là ngày sinh nhật đầu tiên của quỹ vốn mạo hiểm Việc đóng đầy đủ vốn theo đăng ký có thể kéo dài hai, ba năm, vì vậy có thể xây dựng một thời biểu nhiều ngày đóng quỹ (fund closing date) Vào ngày đóng quỹ đầu tiên, một số các nhà đầu t có mặt và đợc những quyền lợi ngang nhau căn cứ tỉ lệ góp vốn Quyền lợi đó tiếp tục đợc duy trì trong quá trình đóng vốn trừ khi từng thành viên quyết định thay đổi vị trí và bán đi cổ
Đóng quỹ gọi vốn lần đầu
Giám sát và tạo giá trị
Trang 22phần của mình Một lịch trình nhiều lần đóng quỹ cho phép nhà đầu t thấy đợc số tiền
đóng vốn đợc đầu t nh thế nào vào các danh mục đầu t và giá trị thị trờng của của từng danh mục ở từng thời kỳ
3.3.3 Giai đoạn đầu t
Thời kỳ đầu t vào các danh mục và dự án, các thành viên tổng quát chọn lọc, thẩm định dự án, thơng thuyết mua cổ phần hay tham gia vốn vào các dự án Qui trình này xảy ra liên tục trong hai đến ba năm Để đầu t hết vốn, các nhà quản lý quỹ phải làm việc với hiệu năng rất cao cũng nh với chất lợng kỹ thuật đầu t cao để đảm bảo lợi nhuận nh cam kết ban đầu Trong quá trình này tiếp tục có những đợt gọi vốn thêm (tranches) để đáp ứng nhu cầu đầu t
3.3.4 Giai đoạn tăng cao giá trị.
Sau khi đã thực hiện đầu t vào các danh mục, các thành viên tổng quát tiếp tục xây dựng bộ máy quản trị quỹ và đặt thêm quan hệ với các tổ chức tài chính, kinh doanh để thao tác tăng thêm giá trị vốn quỹ Phần lớn quỹ vốn mạo hiểm muốn thu hoạch lợi nhuận sau năm năm đầu t Vì vậy thời gian hoạt động tích cực của một quỹ
Là các nhà đầu t dài hạn, phần lớn các nhà đầu t vốn mạo hiểm không dự kiến lãi phát sinh trong vòng 3-7 năm đầu tiên của quá trình tài trợ Vốn đầu t ban đầu chỉ
là sự bắt đầu mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu t vốn mạo hiểm và doanh nghiệp mới
Trang 23Sau giai đoạn đầu nếu doanh nghiệp tiếp tục phát triển, nhà đầu t sẽ bổ sung vốn cho từng giai đoạn tiếp theo của quá trình kinh doanh nh: thử nghiệm thị trờng, sản xuất thí điểm, marketing thị trờng, nghiên cứu và điều chỉnh các sai sót kỹ thuật của sản phẩm làm tiền đề cho sản xuất qui mô và xuất khẩu chiếm lĩnh thị trờng Rõ ràng, việc cân nhắc thời điểm và lợng vốn cung cấp cho từng giai đoạn đòi hỏi các nhà đầu
t vốn mạo hiểm phải có trình độ và nhạy bén
3.3.5 Giai đoạn thoát t.
Sau đó, là cơ hội thoát khỏi dự án đầu t ( exit) bằng cách phát hành lần đầu ra công chúng (IPO) hay bán lại toàn bộ cho một tổ chức hoặc cá nhân muốn mua toàn
bộ dự án Việc thu hoạch của nhà đầu t cá thể thể hiện bằng tiền mặt hoặc là các cổ phiếu khả mãi trên thị trờng vốn
Thời gian thu hoạch thờng kéo dài 2, 3 năm Thời gian từ khi chuẩn bị, góp vốn, đầu t và thu hoạch của mỗi quỹ có thể khác nhau vì thời gian của các dự án trong danh mục đầu t có thể biến thiên khác nhau Tuy nhiên mục tiêu đầu t và thu hoạch vẫn gói gọn trong 7 đến 10 năm là tối đa
Cơ cấu ngành đầu t của quỹ vốn mạo hiểm
Trang 241 Vai trò của quỹ vốn mạo hiểm
Đã gần 50 năm nay các nhà đầu t mạo hiểm đã góp phần vào sự phát triển của các ngành công nghiệp kỹ thuật cao của Mỹ Rất nhiều công ty thành đạt nhất của
Mỹ đã lớn mạnh bằng sự trợ giúp của các quỹ đầu t mạo hiểm nh: Intel, Apple, Microsoft, Fedex, Sun Microsystem, Netscape Vai trò của quỹ đầu t mạo hiểm đợc thể hiện nh thế nào
Khác với ngân hàng đầu t hoặc quỹ tơng hỗ chỉ giữ mối quan hệ giao dịch với doanh nghiệp nhận đầu t, các công ty vốn mạo hiểm luôn luôn đóng vai trò quyết
định đối với doanh nghiệp nhận đầu t, nếu không đồng vốn bỏ ra sẽ khó mang lại hiệu quả mong đợi Đó là vì cấp vốn cho doanh nghiệp với điều kiện thông thờng
Trang 25không yêu cầu hoàn vốn và trả lãi mà chỉ đòi hỏi nắm một số cổ phần, có khi còn yêu cầu nắm quyền quyết định tổ chức và chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp Có công ty còn đòi kiểm soát tới 60% vốn cổ phần (tất nhiên số cổ phần này chỉ có giá trị khi đầu t thành công còn khi thất bại thì họ chẳng còn gì) Mục đích và vai trò của quỹ đầu t mạo hiểm là làm sao cho doanh nghiệp sớm đợc niêm yết trên thị trờng chứng khoán và khi doanh nghiệp đã có tên trên thị trờng chứng khoán rồi thì nhiệm
vụ tiếp theo của quỹ là đẩy giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp lên tới mức cao nhất có thể Chính vì vậy, các quỹ mạo hiểm thờng tham gia quản lý, điều hành các công ty thuộc danh mục đầu t Các quỹ còn có vai trò t vấn cho các doanh nghiệp trong việc
sử dụng tài sản để đạt khả năng sinh lời lớn nhất Đây cũng chính là điểm khác biệt của quỹ đầu t mạo hiểm so với các quỹ đàu t khác nh quỹ đầu t chứng khoán Quỹ
đầu t chứng khoán đợc tổ chức để thu hút sự tham gia rộng rãi của công chúng đầu t trên thị trờng, các quỹ này thờng đầu t vào tài sản có mức độ rủi ro vừa phải
Song song với quá trình tài trợ vốn mạo hiểm, nhà đầu t còn cung cấp các kỹ năng quản lý cho các doanh nghiệp trẻ Phần lớn các doanh nghiệp thành công ở thung lũng Silicon không phải là doanh nghiệp do các thành viên sáng lập điều hành
mà do các nhà quản lý xuất sắc có kinh nghiệm đợc các nhà đầu t vốn mạo hiểm bổ nhiệm Hơn nữa, các nhà đầu t vốn mạo hiểm quản lý và hạn chế rủi ro của bạn bằng cách đa dạng hoá đầu t vào nhiều doanh nghiệp có mức rủi ro khác nhau, do đó các nhà đầu t vốn mạo hiểm bù các khoản lỗ đầu t khi tài trợ cho một số doanh nghiệp bằng một vài dự án đầu t có tỉ lệ hoàn vốn rất cao, lợi tức vốn lớn
Nếu đứng trên một khía cạnh khác thì quỹ đầu t mạo hiểm còn là cơ hội để các tài năng phát huy tính sáng tạo vì cac quỹ này chủ yếu đầu t vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin Mục đích của quỹ cũng là triển khai đầu t nhằm tài trợ cho các nhà nghiên cứu, cá nhân, hoặc nhóm doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có ý tởng sáng tạo xuất sắc về các lĩnhvực công nghệ cao, có khả năng triển khai đợc các sản phẩm có tính độc đáo và hữu dụng Đứng trên góc độ này thì quỹ đầu t mạo hiểm vừa mang tính chất sản xuất kinh doanh vừa mang tính chất nghiên cứu do đó nó đánh giá cao các dự án có tính sáng tạo, có tính khả thi Với vai trò này, quỹ đầu t mạo hiểm không phải chỉ là quỹ đầu t thông thờng đi tìm kiếm lợi
Trang 26nhuận mà nó còn là tổ chức đi tìm kiếm và phát huy tài năng, chất xám, nó là cơ hội cho những ai muốn thủ sức mình trên thơng trờng, nó góp phần nuôi dỡng và khuyến khích các tài năng trẻ phát huy tính sáng tạo, tận dụng nguồn tri thức vốn có để phục
vụ cho công cuộc phát triển đất nớc cả về chất và lợng
2 Quỹ đầu t mạo hiểm - Hành trang bớc vào nền kinh tế tri
đợi đối với tất cả doanh nghiệp Khi đã nhảy vào môi trờng kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp phải đối phó với rủi ro, rủi ro luôn gắn liền với lợi nhuận Rủi ro doanh nghiệp phải gánh chịu chính là những bất ổn, những sự cố không tốt xảy ra làm ảnh hởng đến doanh lợi của doanh nghiệp, ảnh hởng đến sự tồn tại của doanh nghiệp, rủi
ro này có thể xuất phát từ môi trờng bên ngoài hay cũng có thể có nguồn gốc từ trong nội bộ của doanh nghiệp Và trong chu kỳ sống của mình, doanh nghiệp luôn phải đối phó với hai loại rủi ro chính là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro tiềm ẩn ở trong bản thân doanh nghiệp Rủi ro kinh doanh đợc định nghĩa nh là sự không chắc chắn ở hiện tại về mức doanh lợi đạt
đợc trong tơng lai Nguyên nhân gây ra rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp có thể là:
Sự không chắc chắn về mức cầu ở tơng lai đối với sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra
Sự thay đổi trong giá bán
Trang 27 Sự thay đổi trong cấu trúc chi phí.
Sự cạnh tranh
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Sự thay đổi về tỷ giá hối đoái
Những thay đổi trong chính sách điều hành kinh tế của chính phủ
Nh vậy chúng ta có thể thấy rủi ro kinh doanh đối với doanh nghiệp là vô số, doanh nghiệp không thể nào triệt tiêu đợc mà chỉ có thể tác động để làm giảm bớt rủi
ro kinh doanh ở mức tối thiểu
Bên cạnh rủi ro kinh doanh, doanh nghiệp còn phải đối mặt với rủi ro tài chính Rủi ro tài chính là loại rủi ro gắn liền với quyết định tài trợ, gắn liền với nghệ thuật tạo dựng cấu trúc vốn cho doanh nghiệp Rủi ro tài chính xuất phát từ cấu trúc vốn có sử dụng nợ vay bởi vì nợ vay dẫn đến những khoản chi trả cố định đó là chi phí trả lãi vay Mức độ rủi ro tài chính cao hay thấp diễn ra cùng với mức sử dụng nợ của doanh nghiệp Vì thế việc tác động để triệt tiêu loại rủi ro này sẽ đợc thực hiện thông qua việc tài trợ không sử dụng nợ trong cấu trúc vốn
Một doanh nghiệp muốn hoạt động tốt thì phải đảm bảo sự ổn định trong rủi
ro tổng thể Nếu doanh nghiệp đang phải đối phó với rủi ro kinh doanh ở mức độ cao thì chắc chắn nhu cầu về rủi ro tài chính phải ở mức độ thấp và ngợc lại, đây là xu h-ớng chung có tính qui luật cho tất cả mọi doanh nghiệp mà muốn hoạt động kinh doanh tốt Điều quan trọng hơn nữa là doanh nghiệp phải tự xác định xem mình đang
ở giai đoạn nào của chu kỳ sống để có thể đa ra chiến lợc kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất Không chỉ đối với các chủ doanh nghiệp mà các chủ đầu t cũng cần phải xem xét những rủi ro mình phải đối mặt để từ đó có thể đa ra chiến lợc tài trợ thích hợp, do đó việc xác định doanh nghiệp đang ở trong giai đoạn nào của chu kỳ sống là hết sức quan trọng bởi vì trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sống, mức độ rủi ro của doanh nghiệp là khác nhau do dòng tiền của mỗi giai đoạn phát sinh với các mức độ khác nhau Có thể nói trong bốn giai đoạn chu kỳ sống của doanh nghiệp: khởi sự; tăng trởng; bão hoà và suy thoái, thì giai đoạn khởi sự là giai đoạn có mức độ rủi ro
Trang 28kinh doanh là cao nhất Vậy tại sao rủi ro kinh doanh trong giai đoạn này lại cao nhất
? Có một số nguyên nhân cơ bản sau:
Doanh nghiệp thiếu vốn trong đầu t
Thiếu khả năng, kinh nghiệm về trình độ quản lý Thiếu những chuẩn bị để đơng
đầu với những đòi hỏi cao về quản trị
Thiếu sót và kinh nghiệm không đồng đều trong việc nghiên cứu thị trờng
Sản phẩm của doanh nghiệp chỉ mới xuất hiện trên thị trờng, khả năng sản xuất có hiệu quả không? , có đợc khách hàng tơng lai chấp nhập không
Hoạt động marketing trong giai đoạn này rất kém
Nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp trong giai đoạn này là rất lớn, từ chi tiêu phát triển sản phẩm thay thế, chuyển ý tởng thành hiện thực cho đến chi phí thành lập doanh nghiệp và đặc biệt là chi phí nghiên cứu thị trờng trong khi doanh nghiệp cha có khoản thu nào đáng kể Do đó dòng tiền thu vào từ doanh thu không chỉ thấp mà còn diễn ra rất chậm nên dòng tiền của doanh nghiệp sẽ bị âm trong nhiều năm liền
Qua những phân tích trên chúng ta thấy mức độ rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn này rất cao, thậm chí cao nhất trong tất cả các giai đoạn phát triển trong chu kỳ sống của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp không có nguồn tài chính đủ mạnh để tài trợ, ổn định lâu dài thì doanh nghiệp sẽ phải đối phó với rủi ro kinh doanh cực lớn đó là không thể phát triển thậm chí là phá sản
Và theo qui luật tất yếu của mọi doanh nghiệp thì mức độ rủi ro kinh doanh cao thì mức độ rủi ro tài chính cần đợc giữ ở mức càng thấp càng tốt Nh vậy, chiến l-
ợc tài trợ thích hợp nhất trong giai đoạn này là không nên tài trợ bằng nợ Bởi vì đối với hầu hết các công ty mới khởi sự NPV của dự án thờng là dơng Đây chính là kết quả của sự thành công luôn xác định ở tơng lai của việc triển khai thành công và đa sản phẩm ra thị trờng Thế nhng do khả năng này xảy ra trong tơng lai còn hiện tại các tài sản làm cơ sở cho doanh nghiệp thế chấp là vô hình, đợc rải đều ở nhiều thời
kỳ khác nhau, khó có thể xác lập rõ Rủi ro tài chính gia tăng tơng ứng với tỉ lệ tài trợ nợ mà doanh nghiệp sử dụng Với bất cứ mức độ tồn đọng nào dù chỉ là rất thấp cũng sẽ đa doanh nghiệp đến tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Bên cạnh
Trang 29đó xác xuất để xuất hiện tình trạng lu lợng tiền tệ âm trớc khi sản phẩm thành công là rất lớn Chỉ cần doanh nghiệp huy động một tỉ lệ tài trợ bằng nợ vay dù rất thấp cũng dẫn đến rủi ro rất cao do khả năng phá sản hoàn toàn vì lẽ đơn giản công ty không có
lu lợng tiền tệ để thanh toán các khoản nợ đến hạn, từ đó gây nên khó khăn tài chính cho doanh nghiệp Tóm lại, doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự thì có mức độ rủi ro kinh doanh là rất cao và khả năng để hạn chế nó là rất thấp do đó doanh nghiệp cần phải sử dụng nguồn tài trợ vốn thích hợp để hạn chế rủi ro tài chính tránh việc tạo ra rủi ro tổng thể vợt quá mức chịu đựng của doanh nghiệp Vậy trong giai đoạn này nên chọn nguồn tài trợ nào? Doanh nghiệp nên chọn cấu trúc tài chính nh thế nào cho hợp lý? Và nhà đầu t nào dám chấp nhận rủi ro cao để tài trợ cho doanh nghiệp Bất cứ cấu trúc tài chính nào thì thành phần của nó cũng gồm hai nguồn cơ bản là nợ và vốn
cổ phần Theo khảo cứu thì doanh nghiệp mới khởi sự có các lý do sau đây để không
sử dụng nợ trong cấu trúc tài chính của mình
Thứ nhất : Khi vay nợ để tài trợ trong cấu trúc vốn, doanh nghiệp phải thế chấp tài sản Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp mới khởi sự vì trong giai đoạn này tài sản của doanh nghiệp còn rất ít cha đủ để đáp ứng nhu cầu vay của doanh nghiệp
Thứ hai: Nếu ngân hàng cho doanh nghiệp vay mà không đặt nặng vấn đề tài sản thế chấp thì doanh nghiệp phải trả cho ngân hàng một lãi suất rất cao, điều này là
đơng nhiên vì rủi ro của việc thu hồi nợ không đợc rất cao và rủi ro này sẽ đợc tính vào lãi suất cho vay của ngân hàng Tuy nhiên cơ chế lãi suất trần sẽ không cho phép làm điều này (Lãi suất trần thờng áp dụng đối với những nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam)
Thứ ba: cho dù ngân hàng cho doanh nghiệp vay, cho dù lãi suất trần cho phép thì doanh nghiệp cũng không nên vay nợ bởi vì lúc này nếu vay nợ doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu rủi ro tài chính rất cao
Nh vậy, trong giai đoạn khởi sự với mức độ rủi ro trong kinh doanh là rất cao thì tài trợ bằng vốn cổ phần xem nh là thích hợp nhất Thế nhng, ngay cả đầu t bằng vốn cổ phần cũng khó mà huy động dợc do doanh nghiệp khởi sự thờng không đủ các tiêu chuẩn cần thiết của Uỷ ban chứng khoán trong việc phát hành chứng khoán ra
Trang 30công chúng Mặt khác, với mức độ rủi ro tổng thể cao của doanh nghiệp sẽ chỉ hấp dẫn đợc các nhà đầu t mạo hiểm - những nhà đầu t sẵn sàng chấp nhận một rủi ro cao
để kỳ vọng một mức lợi nhuận cao tơng ứng Trên lý thuyết các nhà đầu t rất quan tâm đến việc họ sẽ nhận cổ tức hay đạt đợc thu nhập qua chênh lệch do chuyển nhợng vốn Tuy nhiên chính sách cổ tức đề nghị cho một công ty mới khởi sự thờng là tỉ lệ chi trả cổ tức bằng không Thêm vào đó, dòng tiền của một doanh nghiệp mới thành lập thờng là âm ở mức cao và cần các nguồn tiền mới cho các cơ hội đầu t có sẵn của công ty Nếu tài trợ bằng nợ vay không thích hợp, thì phải bằng vốn cổ phần tức là nếu các nhà đầu t đòi hỏi cổ tức, họ cũng phải đầu t thêm tiền vào doanh nghiệp để chi trả cho cổ tức này Trong một thị trờng hoàn hảo điều này có thể chấp nhận đợc, thế nhng do trong thực tế chi phí giao dịch đi với việc huy động vốn cổ phần mới rất tốn kém cho các doanh nghiệp rủi ro cao mới khởi sự Các chi phí này không những cao mà còn khá cố định nghĩa là chỉ cần một huy động nhỏ về vốn cổ phần cũng sẽ phát sinh một khoản chi phí rất tốn kém Các chi phí này bao gồm các chi phí về pháp
lý và chi phí chuyên môn phải trả Vì vậy việc trả cổ tức và huy động vốn cổ phần mới thay thế cho nguồn tiền chi trả cổ tức này là không hợp lý
Tóm lại, trong giai đoạn khởi sự với các đặc điểm về rủi ro đã trình bày, khả năng tài trợ bằng vốn vay lẫn vốn cổ phần đều không khả thi Vậy cấu trúc vốn trong giai đoạn này nên đợc tài trợ bằng gì? Qua nghiên cứu cho thấy: tài trợ bằng phát hành trái phiếu, bằng tín dụng thuê mua, hay thu hút vốn của các nhà đầu t không chấp nhận rủi ro cao đều không thực hiện đợc mà chỉ có nguồn vốn mạo hiểm từ các quỹ đầu t mạo hiểm là thích hợp nhất bởi vì theo định nghĩa của quỹ đầu t maọ hiểm
đã nêu trên: Quỹ đầu t mạo hiểm là một định chế tài chính trung gian chuyên đầu t vào các doanh nghiệp mới khởi sự nhằm mong đợi một sự gia tăng thu nhập cao hơn mức bình quân để bù đắp cho rủi ro của khoản đầu t có mức độ cao hơn mức bình quân Chỉ có các nhà đầu t này mới sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao đầu t vào các doanh nghiệp mới khởi sự dới nhiều hình thức đầu t đa dạng Đơng nhiên các nhà đầu t mạo hiểm này sẽ yêu cầu một tỉ suất sinh lợi cao để bù đắp cho rủi ro cao mà họ phải gánh chịu, tỉ suất lợi nhuận cao ở đây chỉ thể hiện bằng phần chênh lệch do chuyển nhợng vốn
Trang 31Chỉ có thông qua quỹ đầu t mạo hiểm chiến lợc tài trợ của doanh nghiệp trong giai đoạn này mới đạt đến hiệu quả cao nhất, đó là sự gia tăng của giá trị doanh nghiệp Có thể nói, Quỹ đầu t mạo hiểm là nguồn tài trợ tối u cho các doanh nghiệp mới khởi sự.
2.2> Quỹ đầu t mạo hiểm - nguồn lực thúc đẩy khoa học công nghệ tiên tiến phát triển
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trờng đang diễn ra các cuộc cạnh tranh quyết liệt, ngày càng có nhiều công ty mới, doanh nghiệp mới tham gia vào đấu trờng kinh doanh với những phơng thức làm ăn mới, đa ra những sản phẩm mới có tính năng u việt hơn Để sống sót trên thị trờng, mỗi doanh nghiệp càng phải tự đổi mới mình, tự nâng cấp mình bằng cách vận dụng triệt để tính năng của tri thức vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nh đã phân tích ở trên, khái niệm tri thức gắn liền với khái niệm công nghệ cao (high-tech), công nghệ cao càng phát triển thì hàm lợng tri thức trong sản phẩm càng lớn trong khi hàm lợng vật chất vẫn nh cũ hoặc ít hơn thì giá trị sử dụng của sản phẩm cao hơn nhiều Điều này có thể thấy đợc qua 2 đĩa phần mền windows 95 và windows 2000, hai đĩa này có trọng lợng nh nhau nhng đĩa windows
2000 chứa đựng hàm lợng tri thức lớn hơn nhiều so với windows 95 và do đó nó có giá trị sử dụng cao hơn nhiều Và nh một điều hiển nhiên khi có sản phẩm mới ra đời
có giá trị sử dụng cao hơn thì sản phẩm đó đã đợc thị trờng chấp nhận và điều đó cũng có nghĩa là sản phẩm cũ đã bị đào thải Doanh nghiệp nào nắm bắt nhanh nhạy
đợc thị trờng thì doanh nghiệp đó mới có cơ hội sống sót Thế giới đang ngày một thay đổi với tốc độ chóng mặt, nếu nh trớc đây bạn phải ra chợ mua từng món hàng thì giờ đây bạn chỉ cần ngồi ở nhà bấm máy tính hoặc gọi điện thoại là bạn sẽ có ngay thứ mình cần với giá cả không đắt hơn là bạn tự đi mua ngoài chợ Điều này có
đợc là nhờ sự phát triển vợt bậc của công nghệ thông tin điển hình là mạng Internet Qua những ví dụ trên chúng ta có thể thấy công nghệ cao là yêú tố sống còn của doanh nghiệp Hơn nữa để có thể đạt đợc mức thu lợi cao, doanh nghiệp chỉ có con đ-ờng duy nhất mà cũng là con đờng ngắn nhất đó là phải săn lùng, tìm kiếm và sáng tạo ra các giải pháp công nghệ mới Điều này cũng khiến phần lớn các khoản đầu t
Trang 32mạo hiểm đều nhắm vào các dự án công nghệ Tại Mỹ, 94% các công ty nhận đợc các nguồn tài trợ mạo hiểm là các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ.
Nhng khi đã có những phát minh, ý tởng mới, doanh nghiệp muốn biến nó thành hiện thực thì phải có vốn Thông thờng, đầu t vào công nghệ cao thì cần vốn lớn nhng độ rủi ro lại cao vì các phát minh sáng chế trong lĩnh vực này thờng có tính
đột phá cao, lơị ích lớn, mục tiêu đạt đợc rất cao xa, hơn nữa phần lớn mới chỉ là ý ởng bột phát chứ cha có thiết kế, tính toán hay thí nghiệm kỹ lỡng Và trên thực tế thì hầu hết các ý tởng này do những ngời cha đủ uy tín về khoa học kỹ thuật đề xuất, thậm chí có những ngời không có trình độ chuyên môn và điều mấu chốt nhất là họ không có tiền để biến ý tởng của họ thành hiện thực Đây chính là thời điểm để các nhà đầu t mạo hiểm vào cuộc bởi vì chỉ có họ mới có đủ khả năng và đủ can đảm để chấp nhận rủi ro cũng nh đủ niềm tin để tin rằng những ý tởng này sẽ mang lại cho họ mức lợi nhuận lợi nhuận to lớn, gấp trăm nghìn lần so với lợng vốn họ bỏ ra Kiểu
t-đầu t này là “đợc ăn cả ngã về không”, chính vì thế mà những nhà t-đầu t truyền thống rất ngại khi gặp phải những dự án kiểu nh vậy Bởi vì, họ sợ gặp phải rủi ro, mà rủi ro
đối với các dự án công nghệ cao này là rất lớn nhng có điều là họ đã không nghĩ tới mức lợi nhuận to lớn nếu họ thành công, mức lợi nhuận cho một dự án này có thể bằng mấy lần mức lợi nhuận mà họ đầu t vào các lĩnh vực khác Rủi ro càng lớn lợi nhuận càng cao Bạn chấp nhận rủi ro trong hiện tại để kỳ vọng vào thành công rực rõ trong tơng lai, đó là con đờng đầy gai góc nhng rất thú vị Mạo hiểm ở đây không phải là liều lĩnh, nếu bây giờ bạn không mạo hiểm thì chắc chắn trong tơng lai bạn sẽ không đạt đợc những thành công rực rỡ Nếu nh trớc đây Bill Gates và P Allen đang
ở tuổi 20 không bỏ dở học đại học để lập ra công ty máy tính phần mềm Microsoft thì giờ đây Bill Gates có thể là ngời giàu nhất thế giới không, và công ty Microsoft có
là một tập đoàn về lĩnh vực công nghệ thông tin hàng đầu trên thế giới nh hiện nay không? Và nếu không có Microsoft thì có hệ điều hành Windows95, 98, 2000 mà cả thế giới đang sử dụng không? Đây chỉ là một ví dụ điển hình về sự thành công của các doanh nghiệp khi tham gia vào lĩnh vực khoa học công nghệ thông tin Còn rất nhiều những công ty đứng đầu thế giới về doanh thu cũng nh lợi nhuận đang kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin Điển hình là nớc Mỹ, bạn đã bao giờ đặt ra
Trang 33câu hỏi là tại sao nớc Mỹ lại là một siêu cờng quốc kinh tế, tại sao nớc Mỹ lại là nớc
đứng đầu thế giới về khoa học công nghệ thông tin, tại sao nớc Mỹ lại là nơi qui tụ các nhà bác học lừng danh trên thế giới Có rất nhiều câu trả lời cho những câu hỏi trên nhng xem xét theo khía cạnh đầu t thì chúng ta có thể thấy rằng việc đầu t vào phát triển khoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triển rực rỡ nh ngày nay, và hình thức chủ yếu đầu t vào khoa học kỹ thuật công nghệ cao chính là các quỹ đầu t mạo hiểm, các quỹ này đóng vai trò then chốt, là động lực
để khoa học công nghệ cao phát triển với tốc độ nh vũ bão ngày nay Giờ đây không
ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của công nghệ thông tin đối với nhân loại, công nghệ khoa học kỹ thuật cao là động lực để phát triển kinh tế, xã hội Phơng tiện, công
cụ tài trợ cho các phát minh khoa học công nghệ mới chính là các quỹ đầu t mạo hiểm Vai trò của quỹ đầu t mạo hiểm là không thể thiếu trong hoạt động thúc đẩy khoa học công nghệ cao phát triển, quỹ đầu t mạo hiểm là nguồn vốn tối u đối với các
dự án trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật Việc tìm kiếm các giải pháp công nghệ, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Internet làm cho các công ty liên quan đến lĩnh vực công nghệ có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các nhà đầu t mạo hiểm
Hiện có rất nhiều quỹ đầu t mạo hiểm đã bỏ rơi các khu vực truyền thống để tập trung vào các công ty Internet Số liệu thống kê cho thấy, đầu t vào ngành công nghiệp Internet đã tăng từ 3,4 tỷ $ (năm 1998) lên 19,9 tỷ $ (năm 1999) , chiếm tỷ trọng 54 % toàn bộ các nguồn đầu t mạo hiẻm
Nhiều quỹ đầu t mạo hiểm hàng đầu đã thu đợc mức lợi nhuận trên 100% nhờ
đầu t vào ngành công nghiệp Internet Hơn nữa, tiền của nhà đầu t không bị găm lại một chỗ, bởi các công ty Internet nhanh chóng phát hành cổ phiếu ra công chúng Trung bình các công ty làm dịch vụ Internet chỉ cần không tới 2 năm để trở thành công ty đại chúng so với khoảng thời gian 3-5 năm của các công ty thông thờng Tuy nhiên không phải công ty nào đợc tài trợ cũng thành công về mặt tài chính Ước tính
cứ 10 dự án đầu t, thì chỉ có 1 hoặc 2 dự án mang lại lợi nhuận
Thị trờng vốn mạo hiểm hiện nay là nguồn chủ yếu cung cấp vốn cho phát triển công nghệ cao, bổ sung, thậm chí thay thế cho nguồn kinh phí của chính phủ
Trang 34các nớc phát triển Nó chính là “bà đỡ”, cái nôi của công nghệ cao, nếu không có vốn
đầu t mạo hiểm thì rất nhiều phát minh có giá trị bị xếp xó và nh vậy thì khoa học công nghệ mới làm sao phát triển vợt bậc
3/ Quỹ đầu t vốn mạo hiểm và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tếHội nhập và cạnh tranh là hai mặt của một tiến trình toàn cầu hoá kinh tế quốc tế, hội nhập và cạnh tranh luôn diễn ra song song, có hội nhập tất yếu phải có cạnh tranh, cạnh tranh trong môi trờng hội nhập không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển khi hội nhập kinh tế quốc tế thì mỗi doanh nghiệp phải tự khẳng định đợc năng lực cạnh tranh của mình, năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp thể hiện ở tốc độ tiêu thụ sản phẩm và mức độ chiếm lĩnh thị phần Để có tốc độ tiêu thụ sản phẩm nhanh thì sản phẩm phải có các u diểm vợt trội so với các sản phẩm cùng loại, phải đáp ứng đợc yêu cầu của khách hàng và mặt khác khi tốc độ tiêu thụ sản phẩm nhanh thì khả năng quay vòng vốn nhanh, khả năng quay vòng vốn nhanh dẫn tới chủ động trong di chuyển luồng vốn, vốn đợc sử dụng có hiệu quả, do đó điều kiện để nghiên cứu sáng tạo ra sản phẩm mới rất cao, và doanh nghiệp luôn luôn theo kịp thời đại, đáp ứng đ-
ợc nhu cầu của thị trờng Để thị phần chiếm lĩnh rộng rãi thì trình độ marketing, quảng cáo, xúc tiến bán hàng phải cao và doanh nghiệp phải có những chiến lợc kinh doanh phù hợp Và một điều kiện tiên quyết để đáp ứng các yêu cầu trên đó là khả năng tài chính của doanh nghiệp phải đảm bảo, doanh nghiệp phải chủ động trong việc di chuyển luồng vốn Đây thực sự là khó khăn đối với các doanh nghiệp mới khởi sự và những doanh nghiệp đang trong thời kỳ phát triển, đầu t vào nghiên cứu những sản phẩm mới
Hơn nữa thị trờng luôn luôn phát triển và thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập Các qui luật và đòi hỏi của thị trờng cũng biến động thờng
Trang 35xuyên ngoài ý muốn của bản thân các doanh nghiệp, thị trờng ngày nay thể hiện tính ngắn hạn nhiều hơn và khốc liệt hơn trong tất cả mọi lĩnh vực, ngành nghề kinh tế
Năm 1997, Năng lực cạnh tranh của Việt Nam đứng thứ 49 trên 53, năm 1998 xếp thứ 39 trên 53, năm 1999 xếp thứ 48 trên 53, năm 2000 xếp thứ 53 trên 59 và năm 2001 xếp thứ 62 trên 75 Có thể thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam giảm t-
ơng đối so với các nớc khác Một điều đáng lu ý là Singapore và Mỹ luôn đứng ở vị trí số 1 và 2 trong bảng xếp hạng tính cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới Bảng xếp hạng này do WEF ( World Economic Forum ) công bố hàng năm, sử dụng 8 nhóm tiêu chí bao gồm 155 chỉ tiêu, tham khảo ý kiến của 1500 các công ty lớn nhất trên thế giới Giờ đây, tính cạnh tranh của mỗi quốc gia không chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên , lao động rẻ không đợc đào tạo , đồng tiền giá trị thấp , u đãi khuyến khích của Chính Phủ về thuế hay giá
Theo kết quả điều tra năm 1999 đánh giá nhóm các nhân tố cơ cấu tính cạnh tranh quốc gia nh sau:
Trang 36doanh nghiệp bởi vì doanh nghiệp là xơng sống của nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt
động tốt, phát triển mạnh thì quốc gia đó cũng sẽ phát triển Và sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể đợc định nghĩa là năng lực tồn tại và vơn lên trên thị trờng cạnh tranh , duy trì đợc lợi nhuận và thị phần trên thị trờng trong nớc và quốc tế về một hay nhiều sản phẩm , dịch vụ của doanh nghiệp Yếu tố quyết định là
tỷ lệ lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm
Các yếu tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
• Chiến lợc đầu t và kinh doanh : Phân tích thị trờng, lợi thế so sánh của doanh nghiệp Phân tích nhu cầu của thị trờng, phân tích các đối thủ cạnh tranh, xác định thị phần cho doanh nghiệp
• Trình độ khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Thực hiện thơng mại điện tử Thực hiện phân tích thông tin từ Internet, giao dịch qua Internet, mở trang chủ , đặt quan hệ với ngân hàng
• Đầu t cho khoa học công nghệ , kiểu dáng thơng hiệu trong nớc và nớc ngoài
• Đào tạo nguồn nhân lực
• Tổ chức quản lý
• Liên doanh , liên kết
Trong hoạt động của doanh nghiệp, trình độ công nghệ quyết định cấp độ của sản phẩm, chất lợng và năng suất lao động Khả năng thay đổi hoặc tiếp cận với công nghệ mới, chi phí nghiên cứu và phát triển quyết định tới trình độ của công nghệ Về năng lực cạnh tranh của sản phẩm đợc đánh giá thông qua chất lợng sản phẩm, bao bì , mẫu mã, tính độc đáo hay sự khác biệt sản phẩm
Vậy, chúng ta có thể thấy dù là xét về năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì yếu tố quyết định là khả năng tài chính
và trình độ khoa học công nghệ Hai yếu tố này lại liên quan tới nhau, khả năng tài chính tốt hay nói cách khác là nguốn vốn đợc đảm bảo tất yếu dẫn đến trình độ công
Trang 37nghệ cao, mặt khác khi trình độ công nghệ cao mang lại chi phí sản xuất thấp , tốc độ tiêu thụ sản phẩm nhanh, khả năng quay vòng vốn cao, và tất yếu nguồn tài chính của doanh nghiệp đợc bảo đảm Nhng vấn đề đặt ra là đối với các doanh nghiệp mới khởi
sự thì không thể có một nguồn tài chính dồi dào để đầu t nghiên cứu, áp dụng các công nghệ mới bởi vì việc ứng dụng các thành tựu công nghệ mới này có thể thành công hoặc thất bại, thậm chí có trờng hợp thất bại ngay trong quá trình nghiên cứu, và trong trờng hợp đó thì vốn đầu t bỏ vào nghiên cứu mất không, và đối với những doanh nghiệp hạn chế về vốn thì khả năng nghiên cứu lại hầu nh không có Ngay cả khi công trình nghiên cứu có thành công nhng toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp dồn vào việc nghiên cứu công nghệ mới thì doanh nghiệp sẽ không còn tiền để quảng cáo, marketing sản phẩm, dẫn tới sản phẩm không tiếp cận tới thị trờng và ngời tiêu dùng, kết cục là doanh nghiệp không thể trụ vững trên thơng trờng Hoàn cảnh này thờng thấy đối với các doanh nghiệp mới khởi sự, các doanh nghiệp trẻ
Hơn nữa trong một môi trờng cạnh tranh khốc liệt khi gia nhập vào nền kinh
tế quốc tế thì việc cá lớn nuốt cá bé là không thể tránh khỏi, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia sẵn sàng tiêu diệt đối thủ khi đối thủ mới chập chững bớc vào thị tr-ờng Vì vậy, yếu tố cần thiết nhất và quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp và đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ đó chính là tài chính phải đợc đảm bảo, sau đó là trình độ quản lý doanh nghiệp hoạt động tốt bởi vì đối với các doanh nghiệp trẻ cha có kinh nghiệm va chạm trên thơng trờng quốc tế Với tất cả các lý do đó có thể thấy rằng quỹ vốn đầu t mạo hiểm là giải pháp tối u tháo gỡ đợc các khó khăn của doanh nghiệp trẻ nhất là trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
Trang 38Chơng II
Điều kiện và khả năng phát triển quỹ dầu t mạo hiểm tại Việt Nam
I - Hoạt động của các quỹ đầu t mạo hiểm trên thế giới
Quỹ đầu t mạo hiểm là hình thức đầu t phổ biến và mang lại hiệu quả cao đối với các dự án trong lĩnh vực khoa học công nghệ, chính vì vậy loại hình đầu t này đã phát triển rất mạnh tại các nớc phát triển đặc biệt là nớc Mỹ Đầu t mạo hiểm xuất hiện đầu tiên tại nớc Mỹ và giờ đây tại Mỹ đã có hàng trăm nghìn nhà đầu t mạo hiểm đầu t vào lĩnh vực khoa học công nghệ cao Các quỹ đầu t mạo hiểm ra đời và
đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển hùng mạnh của kinh tế Mỹ Nhiều quỹ đầu
t mạo hiểm đã phát hành cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán và nêu ra yêu cầu khá cao đối với các nhà đầu t tham gia, thí dụ phải có tài sản ít nhất 1 triệu $, thu nhập hàng năm là 200 nghìn $ và vốn góp bị giam trong quỹ ít nhất vài năm Gần đây, do mạng Internet cực kỳ phát triển nên đã hình thành cả một thị trờng vốn mạo hiểm, bất
cứ ai cũng có thể dễ dàng thông qua mạng để góp vốn vào các quỹ đầu t mạo hiểm, kiểu đầu t này đã thu hút đợc nhiều ngời tham gia Đầu năm 2000, công ty vốn mạo hiểm vật chất Advisers huy động một quỹ công cộng thu hút 330 triệu $ từ hàng nghìn nhà đầu t t nhân, ai muốn mua cổ phần của họ chỉ cần kích đúp chuột máy tính vào địa chỉ trên mạng của nhà môi giới điện tử là xong, phi vụ hoàn tất Tổng số vốn
Trang 39đầu t mạo hiểm ở Mỹ năm 1995 là khoảng 6,2 tỷ $, năm 1998 là 12,5 tỷ $ Năm
1999, các nhà đầu t mạo hiểm đã cung cấp 45 tỷ $ cho các công ty mới thành lập Và theo thống kê con số này trong quý 1 và 2 năm 2000 lên tới 17,8 tỷ $ và 17,2 tỷ $
điều đó có nghĩa là bình quân mỗi tuần hơn 1 tỷ $ đợc rót vào các dự án mạo hiểm và trong số đó có tới 86% dành cho các công ty làm về mạng Internet Nguồn vốn mạo hiểm khổng lồ và gia tăng liên tục tạo ra khả năng đầu t cực lớn cho phát triển công nghệ cao và đây cũng là nguồn tài chính dồi dào tạo nên đất dụng võ cho một số ý t-ởng khoa học công nghệ, là một u thế nổi bật của nớc mỹ so với các nớc khác Có thể nói tốc độ tăng trởng của nền kinh tế Mỹ phần lớn là phụ thuộc vào tốc độ tăng trởng của khoa học công nghệ và do đó quỹ đầu t mạo hiểm là tiền đề cho sự tăng trởng của kinh tế Mỹ
Và với mỗi công ty mạo hiểm thì có cách làm ăn riêng phù hợp với chiến lợc cũng nh lợi ích của các thành viên trong quỹ Ta hãy xem xét một số công ty quản lý quỹ đầu t mạo hiểm đợc coi là thành đạt nhất ở Mỹ và trên thế giới KPCB là công ty vốn mạo hiểm đầu tiên trên thế giới, rất nổi tiếng ở thung lũng Silicon, đã từng đầu t cho các hãng Intel, Amazon, Apple và những hãng này giờ đây đều đạt đợc những thành công to lớn trên thơng trờng và trở thành những đại gia lớn Thế nhng các bạn
có biết là KPCB có bao nhiêu nhân viên không? Chỉ có 25 nhân viên đó là câu trả lời cho các bạn 25 nhân viên bao gồm 9 cổ đông, 4-5 ngời giúp việc, mấy th ký Mỗi
dự án đầu t thờng do một cổ đông phụ trách chính nhng cả 9 cổ đông đều đồng ý thì
dự án mới đợc thực thi Và chúng ta xem xét việc đầu t vào công ty Amazon bắt đầu
nh thế nào Một hôm, ngới sáng lập công ty Amazon đến gặp KPCB và nói họ có ý ởng tổ chức bán sách trên mạng Ngời của KPCB ghi lại địa chỉ trang web của Amazon rồi hẹn một tuần sau gặp lại Sau đó mấy cổ đông của KPCB cùng nhau đặt mua trên mạng một số sách Sách đợc nhanh chóng gửi đến, thế là hai bên ký ngay hợp đồng trong lần gặp thứ hai Bản báo cáo giám định dự án chỉ dài có hai trang song kết quả là lợi nhuận thu đợc cực lớn
t-Trong thực tế, cái thiếu nhất của các doanh nghiệp không phải là vốn mà là ngời lãnh đạo có năng lực Nghe nói có tới 150 công ty lớn ở Mỹ hiện vẫn cha tìm đ-
ợc giám đốc đạt yêu cầu Bởi vậy, các công ty vốn mạo hiểm không chỉ cấp vốn mà
Trang 40còn quan trọng hơn, họ còn giúp đối tác tổ chức hoặc hoàn thiện ban lãnh đạo, tức là
họ có thể kiêm luôn các chức vị giám đốc điều hành và các phó giám đốc phụ trách tài vụ, tiêu thụ và kỹ thuật Các công ty công nghệ cao mới thành lập thông thờng chỉ
có một vài ngời, đa số là các chuyên gia kỹ thuật, rất ít hiểu biết về cách quản lý doanh nghiệp Nhng các công ty vốn mạo hiểm thì giàu kinh nghiệm về mặt này, vì
họ tiếp xúc nhiều nơi và đã tham gia nhiều vụ đầu t, quen thuộc nhiều ngời, biết ngời biết của và quan trọng nhất là có thể biết ai có thể cộng tác đợc với ai Công ty vốn mạo hiểm nào mạnh về mặt này thì sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng tổ chức tốt công việc, sớm đợc niêm yết trên thị trờng chứng khoán để trở thành công ty công cộng, khi đó cổ phiếu của công ty sẽ có giá rất cao mang lại siêu lợi nhuận Song việc
tổ chức ban lãnh dậo công ty đôi khi đem lại nhiều rắc rối, vì có trờng hợp phải gạt
bỏ chính ngời sáng lập công ty Jobs và Wozniak đồng sáng lập công ty Apple nhng khi KPCB đầu t vào đây họ đã gạt Jobs ra khỏi Apple Đáng buồn nhất là trờng hợp KPCB đầu t vào công ty Cisco, họ đã cử cổ đông lớn nhất của mình đến làm tổng giám đốc và sa thải chính hai vợ chồng ngời sáng lập Cisco với lý do bà này có tác phong nghệ sĩ, quản lý công ty đã chẳng ra sao mà còn không hoà hợp với nhân viên còn ông chồng là kỹ s, không biết gì về quản lý doanh nghiệp
Một trong những công ty vốn mạo hiểm lâu đời nhất là Allied Capital nói rằng trong 40 năm qua, lợi tức trung bình hàng năm của mỗi cổ phần của họ là 19% hiện nay là 10,2% Thông thờng lợi nhuận thu đợc lớn nhất không phải do chính phát minh công nghệ cao đem lại mà là do cổ phiếu của doanh nghiệp nhận tài trợ lên giá sau khi trở thành công ty công cộng đợc niêm yết trên thị trờng chứng khoán Thí dụ công ty Benchmarch Capital bỏ vốn ban đầu là 6,5 triệu $ vào công ty Bay Inc (kinh doanh trong lĩnh vực thơng mại điện tử), nay vốn đã tăng hơn 500 lần lên tới 3,4 tỷ $ Hãng Institutional Venture Partners cho biết trong vài năm nay tỷ suất lợi nhuận trung bình của họ là 75% - 90% Ông Gwathmey rót 100 nghìn $ vào một công ty lắp
đặt đơng cáp dới đáy biển, nay cổ phần của ông đã có giá trên 10 triệu $ Đạo diễn
điện ảnh nổi tiếng Spielberg đầu t 5,5 triệu $ vào hãng City Search làm hớng dẫn du lịch trên mạng, nay ông đã có 18 triệu $ Nhờ đầu t mạo hiểm cầu thủ bóng bầu dục