1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nhằm khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại việt nam

82 183 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số công trình nghiên cứu gần đây như: nghiên cứu của Kenny về vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới tại Mỹ và mô hình đầu tư vốn mạo hiểm tại Israel 2003, Nghiên cứu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHAN ĐỨC THIỆN

GIẢI PHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh, năm 2004

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ v

LỜI MỞ ĐẦU 1 U CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM 3

1.1.1 Khái niệm đầu tư vốn mạo hiểm 3

1.1.2 Mô hình tổ chức của công ty đầu tư vốn mạo hiểm 5

1.1.3 Hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm 7

1.2 VAI TRÒ CỦA VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 9

1.2.1 Khái niệm về quá trình đổi mới công nghệ 9

1.2.2 Vai trò của vốn đầu tư mạo hiểm trong quá trình đổi mới công nghệ 11

1.2.3 Vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ đối với sự tăng trưởng kinh tế 14

1.3 KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỒI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA 16

1.3.1 Trung Quốc 16

1.3.2 Ấn Độ 18

1.3.3 Mỹ 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

Trang 3

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

2.1 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 24

2.1.1 Quan điểm và chính sách đổi mới công nghệ tại Việt Nam 24

2.1.2 Thực trạng nguồn tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ 25

2.2 THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 28

2.2.1 Giai đoạn từ 1991 – 2002 28

2.2.2 Giai đoạn từ 2002 đến nay 32

2.3 NHỮNG YẾU TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 34

2.3.1 Giai đoạn thành lập công ty đầu tư mạo hiểm 34

2.3.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư 36

2.3.3 Giai đoạn kết thúc doanh vụ 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 3.1 QUAN ĐIỂM , CƠ SỞ VÀ ĐỊNH HƯỚNG CỦA GIẢI PHÁP 44

3.1.2 Quan điểm đề xuất giải pháp 44

3.1.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 45

3.1.3 Định hướng của giải pháp 49

Trang 4

QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ 51

3.2.1 Hoàn thiện môi trường thể chế khuyến khích phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm 51

3.2.2 Nâng cao năng lực đổi mới công nghệ quốc gia 63

3.2.3 Phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm 66

3.2.4 Phát triển các mạng lưới hỗ trợ hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm 51

3.2.5 Nhà nước hỗ trợ tài chính cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 74

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNPM: Công nghệ phần mềm

CNTT: Công nghệ thông tin

DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

R&D: Nghiên cứu và phát triển

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Trang Bảng 1: Vai trò của nhà đầu tư vốn mạo hiểm trong chu kỳ sống công nghệ .13

Bảng 2: Đầu tư cho hoạt động KHCN giai đoạn 1996-2002 25

Bảng 3: Vốn mạo hiểm gia tăng mới 1991-1995 .29

Hình 1: Tổ chức đầu tư mạo hiểm theo mô hình công ty hợp danh hữu hạn 5

Hình 2: Chu kỳ sống của công nghệ 12

Hình 3: Vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 1991-2002 28

Hình 4: Vốn mạo hiểm gia tăng mới tại Việt Nam 1995-2002 30

Hình 5: Vốn đầu tư mạo hiểm một số nước Châu Á 1996 - 1999 31

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Không nằm ngoài sự tác động đó Việt Nam đang có những chính sách chủ động nhằm đón bắt những cơ hội cho việc nâng cao nâng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế Nghị quyết Đại hội lần

thứ IX của Đảng xác định “nước ta có thể và cần thiết phải rút ngắn quá trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa; nắm bắt, ứng dụng rộng rãi những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ hiện đại” Hội nghị Trung ương 6 (khóa IX) cũng đã nhấn mạnh

“Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp dựa vào công nghệ mới… Buộc các doanh

nghiệp phải thực sự cạnh tranh bằng hiệu quả, bằng ứng dụng khoa học và công nghệ, bằng năng lực sáng tạo và đổi mới” Tuy nhiên đầu tư vào quá trình đổi mới công

nghệ, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro và đòi hỏi cần hai yếu tố then chốt: những doanh nghiệp có tinh thần mạo hiểm và đổi mới, các các định chế tài chính sẳn sàng trợ cho các dự án có mức độ rủi ro cao

Hình thức đầu tư vốn mạo hiểm đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và đã được minh chứng là nguồn vốn thích hợp tài trợ cho quá trình đổi mới công nghệ Tuy nhiên đây vẫn là vấn đề khá mới tại Việt Nam Một số công trình nghiên cứu gần đây như: nghiên cứu của Kenny về vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới tại

Mỹ và mô hình đầu tư vốn mạo hiểm tại Israel (2003), Nghiên cứu vai trò của vốn đầu

tư mạo hiểm đối với lĩnh vực CNTT Ấn Độ, đối với hoạt động KHCN Trung Quốc (2002)… đã đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia có nền công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm phát triển và cả các quốc gia đang tạo dựng những nền móng đầu tiên cho sự phát triển một ngành công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm

vi rất rộng Do đó đề tài chỉ hạn chế ở hình thức đầu tư vốn mạo hiểm theo nghĩa hẹp, tức đầu tư vào các dự án khởi sự, có tỷ suất sinh lợi tiềm năng và có tính đổi mới cao Bên cạnh đó hoạt động đầu tư mạo hiểm chủ yếu được nghiên cứu ở phạm vi các nhà đầu tư mạo hiểm là định chế có tổ chức Còn quá trình đổi mới công nghệ (sau đây gọi tắt là quá trình đổi mới) liên quan đến một chuỗi các hoạt động tương tác với nhau bao

Trang 8

gồm các quá trình ươm tạo công nghệ, phát triển công nghệ, ứng dụng và thương mại hóa kết quả của quá trình đổi mới Do đó đề tài nghiên cứu và đưa ra các giải pháp đặt trong mối quan hệ với hệ thống đổi mới công nghệ của quốc gia

Trên cơ sở tiếp cận các mô hình đầu tư đổi mới công nghệ dựa trên nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từ các nước phát triển và đang phát triển, luận văn sẽ phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tạo môi trường thuận lợi khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay Để giải quyết các vấn đề trên luận án có kết cấu gồm ba phần như sau:

Chương 1: Tổng quan về đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ Chương 2: Thực trạng và những yếu tố tác động đến đầu tư vốn mạo hiểm vào

quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nhằm khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình

đổi mới công nghệ tại Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VỐN MẠO HIỂM VÀO QUÁ

TRÌNH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư vốn mạo hiểm

1.1.1 Khái niệm đầu tư vốn mạo hiểm

Đầu tư vốn mạo hiểm đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và chưa có một chuẩn mực chung để định nghĩa chính xác thuật ngữ này Theo Josept W.Bartlett [32] thì kỷ nguyên đầu tư mạo hiểm bắt đầu từ 1946 khi Georges Doriot và các đồng sự đã thành lập tổ chức Nghiên cứu và phát triển Mỹ (ARD), công ty đầu tư mạo hiểm đầu tiên đúng với nghĩa của nó

Ngày nay ở Mỹ thuật ngữ đầu tư mạo hiểm để chỉ việc đầu tư cổ phần vào các công ty công nghệ cao còn non trẻ, các công ty có tiềm năng tăng trưởng cao Ở châu

Á, thuật ngữ này đề cập đến việc đầu tư vốn cổ phần vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa được niêm yết và ở mức độ nào đó, có sự tham gia của các nhà đầu tư vào quá trình quản lý công ty [28]

Một định nghĩa hẹp khác theo MPDF thì đầu tư mạo hiểm có liên quan đến việc đầu tư vốn cổ phần tư nhân trung hạn vào các công ty nhận vốn chưa trưởng thành Các công ty này đang trong giai đoạn phát triển còn non trẻ và quy mô nhỏ nên mức độ rủi

ro có xu hướng cao Do vậy, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm sẽ hy vọng tìm kiếm được các khoản thu nhập vốn tiềm năng lớn [1]

Như vậy đầu tư mạo hiểm là hình thức đầu tư vốn cổ phần có các đặc điểm sau: (1) là việc đầu tư vốn cổ phần vào các dự án có ý tưởng mới và có tính đổi mới, do đó việc đầu tư mang tính rủi ro cao nhưng hàm chứa tiềm năng tăng trưởng lớn, (2) làm tăng giá trị doanh nghiệp được đầu tư không những bằng tài sản hữu hình mà tài sản vô hình là chủ yếu, do đó yếu tố then chốt trong quá trình đầu tư là con người, (3) là khoản đầu tư mang tính kiên nhẫn do đó nhà đầu tư mạo hiểm phải có tầm nhìn chiến lược dài hạn khi đầu tư

Nhìn chung hầu hết các khoản đầu tư trong nền kinh tế đều bao hàm các yếu tố

Trang 10

trên Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường hành vi đầu tư thể hiện việc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Một nguyên tắc cơ bản được thừa nhận là rủi ro của một danh mục đầu tư càng cao thì tỷ suất sinh lợi đòi hỏi càng lớn Thường các nhà đầu tư mạo hiểm đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi trên khoản tiền đầu tư vào các doanh nghiệp khởi sự từ 30%-40% hoặc cao hơn, vì khả năng thất bại của các doanh nghiệp này thường ở mức tối thiểu là 50% [34] Do vậy khác với nhà đầu tư bình thường, nhà đầu tư mạo hiểm chấp nhận rủi ro cao và đóng vai trò chủ động trong dự án đầu tư

Vậy tại sao các doanh nghiệp khởi sự có tiềm năng trưởng nhanh như vậy không

tự tìm nguồn tài trợ từ các định chế tài chính truyền thống khác Trên thực tế các tổ chức tín dụng và thị trường chứng khoán đều bị ràng buộc bởi những quy định và thông lệ nhằm bảo vệ công chúng đầu tư [30] Thật vậy một khoản vay tài trợ cho dự án khởi sự hàm chứa mức độ rủi ro lớn, do đó ngân hàng thường đòi hỏi mức lãi suất được hoàn trả rất cao và người đi vay cần phải có tài sản cụ thể để đảm bảo cho khoản

nợ Rõ ràng một doanh nghiệp khởi sự ngoài tài sản vô hình là “ý tưởng” thì hầu như không có đủ tài sản cụ thể để thế chấp Hơn nữa cho dù nhà đầu tư có tài sản từ gia đình hoặc người thân để thế chấp, thì khoản đầu tư này có mức độ rủi ro rất cao do sự kết hợp của rủi ro kinh doanh vốn có của giai đoạn khởi sự và rủi ro tài chính do mức lãi suất đi vay cao để tài trợ cho dự án này Chính vì vậy việc tài trợ cho dự án từ nguồn vốn vay tỏ ra không thích hợp Mặt khác doanh nghiệp khởi sự cũng không thể tiếp cận với thị trường chứng khoán để huy động vốn cổ phần vì chưa có thành tích về doanh thu, lợi nhuận và uy tín để phát hành cổ phiếu

Như vậy nguồn vốn đầu tư mạo hiểm tỏ ra thích hợp hơn cho các dự án khởi sự

vì những nhà đầu tư mạo hiểm chấp nhận rủi ro cao Chính vì mức độ rủi ro kinh doanh cao, nhà đầu tư mạo hiểm rất thận trọng trong việc xem xét năng lực kinh doanh và năng lực công nghệ của bên nhận vốn Bên cạnh đó khi cung cấp vốn cổ phần với mức

độ rủi ro cao, nhà đầu tư mạo hiểm cũng đồng thời cung cấp kỹ năng và kinh nghiệm quản lý cần thiết cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp và do đó họ trở thành nhà quản

lý chiến lược của công ty Điều này cho thấy bên cạnh vốn, vấn đề then chốt trong quá trình đầu tư mạo hiểm chính là yếu tố con người

Trang 11

1.1.2 Mô hình tổ chức của công ty đầu tư vốn mạo hiểm

1.1.2.1 Hình thức tổ chức của công ty đầu tư mạo hiểm

Hoạt động đầu tư mạo hiểm thường được thực hiện bởi các công ty đầu tư vốn mạo hiểm, các tổ chức này được thể chế hoá thành định chế tài chính phi ngân hàng có chức năng tập trung những nguồn vốn từ các nhà đầu tư riêng lẻ trong nền kinh tế và thành lập nên một quỹ lớn để đầu tư mạo hiểm trong giai đoạn trung hoặc dài hạn Theo IFC [38] công ty đầu tư mạo hiểm thường được tổ chức theo các mô hình: công ty hợp danh hữu hạn, công ty cổ phần, các công ty con của các tổ chức tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế

ƒ Công ty hợp danh hữu hạn (limited partnership): theo hình thức này các nhà đầu

tư sẽ góp vốn của mình vào quỹ mạo hiểm được quản lý bởi những nhà đầu tư mạo hiểm chuyên nghiệp còn được gọi là thành viên quản lý vốn hay nhà sáng lập quỹ Những thành viên này quản lý danh mục đầu tư của quỹ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình Còn các thành viên góp vốn khác thường là các cá nhân, công ty bảo hiểm, quỹ hưu bổng, các tập đoàn công nghiệp sẽ chịu trách nhiệm hữu hạn ở phần vốn góp của mình

Hình 1: Tổ chức đầu tư mạo hiểm theo mô hình công ty hợp danh hữu hạn

Thành viên TNHH/

Các nhà đầu tư bên ngoài

Quỹ đầu tư mạo hiểm

Công ty quản lý quỹ/

Thành viên trách nhiệm

vô hạn, nhà sáng lập

IPO Sáp nhập Thu mua

Danh mục đầu tư

Trang 12

ƒ Công ty cổ phần (Corporation): theo mô hình này các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn đầu tư Trong đó các cổ đông nắm một

tỷ lệ cổ phần đáng kể sẽ có đủ điều kiện tham gia hội đồng quản trị với tư cách

cổ đông sáng lập, còn lại là cổ đông thường Thực hiện mô hình này các cổ đông vẫn có thể dễ dàng kiểm soát hoạt động của công ty thông qua vai trò chủ động của hội đồng quản trị và khả năng lựa chọn công ty quản lý quỹ Mô hình này cũng cho phép quỹ đầu tư mạo hiểm được hình thành dưới dạng quỹ đóng hoặc quỹ mở

ƒ Các công ty con của các tổ chức tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế (corporate subsidiaries): theo mô hình này các tổ chức tài chính hoặc các tập đoàn công nghiệp sẽ thành lập các công ty đầu tư mạo hiểm nhằm mục tiêu đầu tư vào các

dự án khởi sự, thúc đẩy đổi mới công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm của công

ty mẹ từ đó làm tăng giá trị chung của tập đoàn Nhìn chung quy mô vốn của quỹ loại này không lớn và nắm giữ một phần nhỏ trong ngành công nghiệp đầu

tư mạo hiểm

1.1.2.2 Nguồn vốn của quỹ đầu tư mạo hiểm

Mức độ tập trung nguồn vốn vào các quỹ đầu tư mạo hiểm từ các chủ thể tham gia thị trường vốn phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau như uy tín của các thành viên sáng lập quỹ, mức độ ưa thích rủi ro của nhà đầu tư, môi trường đầu tư, việc phát triển các định chế tài chính khác như các quỹ hưu trí và các quỹ đầu tư khác… Thông thường nguồn vốn của quỹ đầu tư mạo hiểm được huy động từ thị trường vốn trung và dài hạn

vì việc thu hoạch của quỹ đầu tư khi doanh vụ kết thúc thường sau 3 năm, do đó các nhà đầu tư vào quỹ mạo hiểm là những nhà đầu tư kiên nhẫn chờ đợi những “vụ thắng lớn” hoặc sẵn sàng gánh chịu những tổn thất trong tương lai [38]

Nguồn vốn cho quỹ đầu tư mạo hiểm chủ yếu được huy động từ các tập đoàn công nghiệp, các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí, các ngân hàng, nhà nước và các cá nhân Ở châu Á vốn góp của chính phủ, các định chế tài chính, các tập đoàn công nghiệp vào quỹ mạo hiểm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của quỹ Còn ở Mỹ nguồn vốn mạo hiểm được huy động chủ yếu từ các quỹ tư nhân và các nhà đầu tư cá nhân [34] Bên cạnh đó chính phủ ngày càng có những tác động tích cực vào

Trang 13

thị trường vốn đầu tư mạo hiểm thông qua việc cung cấp các khoản vay giá rẻ cho có công ty kinh doanh nhỏ (SBIC) để các công ty này đem cho các doanh nhân mà họ thấy xứng đáng vay lại [22] hoặc góp vốn trực tiếp cho các quỹ đầu tư mạo hiểm với tư cách như là một cổ đông nhưng được tư nhân quản lý một cách chuyên nghiệp Sự can thiệp của chính phủ sẽ có những tác động tích cực đến sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và đến lược nó thúc đẩy sự ra đời của các doanh nghiệp khởi sự Như vậy các nguồn tài trợ cho quỹ đầu tư mạo hiểm rất đa dạng Tính đa dạng cũng như tỷ trọng của từng loại nguồn vốn của quỹ phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của các định chế tài chính, sự phát triển của các ngành công nghệ cao và sự quan tâm của nhà đầu tư tư nhân cũng như của chính phủ đối với hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm ở từng quốc gia

1.1.3 Hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm

Khi tổ chức đầu tư mạo hiểm được định hình và thu hút đủ lượng vốn theo mục tiêu ban đầu thì quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ mở ra kênh đầu tư mới đầy hấp dẫn cho các doanh nghiệp tiềm năng và cho chính bản thân nhà đầu tư mạo hiểm Thông thường hoạt động đầu tư mạo hiểm tập trung vào các lĩnh vực công nghệ mới có hàm lượng chất xám cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học vì nó hội đủ các yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư mạo hiểm bao hàm cả mức độ rủi ro cao và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng lớn Theo IFC [38] hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm trải qua các giai đoạn sau:

¾ Thẩm định kế hoạch đầu tư và định giá: ban đầu nhà đầu tư mạo hiểm đánh

giá sơ bộ kế hoạch đầu tư Sau khi các yếu tố tổng quan được xem xét nhà đầu tư mạo hiểm tiến hành thẩm định chi tiết và định giá thông qua việc xem xét: năng lực của đội ngũ quản lý, đặc điểm của sản phẩm, công nghệ được sử dụng và rủi ro của nó, tiềm năng của thị trường Giai đoạn này rất quan trọng đối với nhà đầu tư mạo hiểm, nó quyết định sự thành bại của doanh vụ thông qua việc phán đoán và kinh nghiệm của nhà quản lý quỹ đối với các kế hoạch kinh doanh đề nghị đầu tư

Trong giai đoạn này mỗi công ty đầu tư mạo hiểm đều có chính sách riêng đối với tập danh mục đầu tư của mình, tuỳ thuộc vào mục tiêu hoạt động và cam kết đối với các nhà đầu tư Đối với các quốc gia có thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và thị trường công nghệ phát triển thì việc đầu tư vốn mạo hiểm vào các giai đoạn vốn mồi và

Trang 14

giai đoạn khởi sự là phổ biến Đối với các quốc gia đang phát triển hoặc có thị trường vốn đầu tư mạo hiểm sơ khai thì thường các nhà đầu tư mạo hiểm thường lựa chọn danh mục gồm các doanh nghiệp hướng về xuất khẩu hoặc đang trong giai đoạn mở rộng và có nhiều tiềm năng phát triển để hạn chế rủi ro

¾ Tham gia quản lý hoạt động của dự án: sau khi hợp đồng có hiệu lực, nhà đầu

tư mạo hiểm cùng với doanh nghiệp tham gia quản lý dự án và ra các quyết định liên quan đến toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu những khoản

lỗ và tối đa hóa lợi nhuận của dự án Ở giai đoạn này vai trò của nhà đầu tư mạo hiểm rất quan trọng trong việc gia tăng giá trị của doanh nghiệp thông qua một đội ngũ quản

lý chuyên nghiệp Chính mức độ thành công trong quá trình tham gia quản lý của nhà đầu tư mạo hiểm cùng với năng lực công nghệ của doanh nghiệp sẽ quyết định đến mức độ thu hồi vốn khi doanh vụ kết thúc Thông thường các nhà đầu tư mạo hiểm đều

có vị trí ở hội đồng quản trị nhằm mục tiêu giám sát và đưa ra các quyết định quan trọng trong quá trình hoạt động của đối tác được đầu tư

¾ Thanh lý doanh vụ: tùy theo hợp đồng ban đầu, sau 3-7 năm nhà đầu tư mạo

hiểm sẽ tiến hành “bán” khoản vốn góp trong doanh nghiệp của mình cho các nhà đầu

tư khác để thu hồi vốn và kết thúc doanh vụ Để tối đa hoá giá trị của quỹ, nhà đầu tư mạo hiểm thường kết thúc doanh vụ vào lúc doanh nghiệp ở giai đoạn tăng trưởng với

tỷ suất sinh lợi hiện tại và kỳ vọng rất hấp dẫn các nhà đầu tư khác Lối ra cho nhà đầu

tư mạo hiểm lúc này thường là: cùng với doanh nghiệp phát hành cổ phần ra công chúng (IPOs), sáp nhập với công ty khác hoặc bị mua bởi công ty khác, bán lại cổ phần cho các nhà đầu tư khác hoặc cho chính doanh nghiệp được tài trợ

Ở những quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển và chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát hành cổ phiếu, thì lối ra tốt nhất cho nhà đầu tư mạo hiểm thường là IPOs Đối với những quốc gia có nền công nghệ cao phát triển mạnh mẽ, thì cách thứ hai sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ cao quy mô nhỏ hoạt động thành công sáp nhập với các tập đoàn công nghiệp lớn thông qua mức giá chuyển nhượng rất hấp dẫn cho các nhà đầu tư mạo hiểm Còn ở các nước

có những điều kiện nghiêm ngặt về việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng hoặc

ở những nước có thị trường chứng khoán kém phát triển thì phương thức bán lại cổ

Trang 15

phần cho các nhà đầu tư khác hoặc cho chính doanh nghiệp được tài trợ là lối ra khả dĩ nhất cho các nhà đầu tư mạo hiểm Lối thoát cho các nhà đầu tư khi doanh vụ kết thúc

là yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm vì nó giúp nhà đầu tư mạo hiểm thu hồi được vốn và lãi theo kế hoạch ban đầu và

từ đó dòng vốn này sẽ tiếp tục tìm kiếm các cơ hội đầu tư mạo hiểm vào các dự án có tiềm năng tăng trưởng cao khác

1.2 Vai trò của vốn đầu tư mạo hiểm trong quá trình đổi mới công nghệ

1.2.1 Khái niệm về quá trình đổi mới công nghệ

Theo Frederick Betz [16] toàn bộ quá trình đổi mới công nghệ bao gồm việc phát minh, phát triển và đưa vào thị trường sản phẩm mới, quy trình mới hoặc dịch vụ có chứa công nghệ mới Cũng theo ông các hoạt động đổi mới công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: đổi mới căn bản, đổi mới dần dần, đổi mới có hệ thống và sử dụng công nghệ thế hệ mới Trong đó đổi mới căn bản tạo ra năng lực chức năng hoàn toàn mới không phải là sự kế thừa năng lực công nghệ hiện tại mà bắt đầu từ những kiến thức mới nhất về khoa học Kết quả của quá trình đổi mới căn bản sẽ mang lại nhiều cơ hội cho sự phát triển các ngành nghề mới trong xã hội

Một định nghĩa khác theo OECD thì “Đổi mới công nghệ sản phẩm và qui trình

là việc thực hiện được sản phẩm và qui trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến

bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và qui trình Đổi mới được thực hiện nếu đổi mới đó đã được ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình) Đổi mới gắn với một chuỗi các hoạt động khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại”

Động cơ cho quá trình đổi mới công nghệ có thể được lý giải dựa trên nhiều quan điểm khác nhau Đứng dưới góc độ của các nhà doanh nghiệp thì đổi mới công nghệ giúp họ có cơ hội chiếm lĩnh thị trường hoặc tạo ra nhu cầu mới cho người tiêu dùng Khi đó động cơ chính của các doanh nghiệp là khả năng có được lợi nhuận lớn nhất bao hàm cả sự sẳn sàng chấp nhận rủi ro về sự thua lỗ Nếu nhìn trên quan điểm tổng thể thì chính sách đổi mới công nghệ của quốc gia xuất phát từ các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế trong giai đoạn trung hoặc dài hạn nhằm nâng cao năng lực

Trang 16

cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế Trên thực tế việc đầu tư đổi mới công nghệ diễn ra xuất phát cả từ đòi hỏi của nhu cầu thị trường lẫn nhu cầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia Đó là quá trình đổi mới công nghệ theo mô hình hỗn hợp giữa mô hình công nghệ đẩy và mô hình sức kéo của thị trường Thực vậy nhu cầu của thị trường là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tích cực tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ và ngược lại các chính sách đổi mới công nghệ lại có vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt thị trường và tạo ra nhu cầu mới cho thị trường

Để quá trình đổi mới công nghệ diễn ra một cách liên tục và hiệu quả đòi hỏi nỗ lực tập thể rất lớn từ tất cả các thành viên trong cộng đồng theo một quy trình có hệ thống Do đó đầu tư đổi mới công nghệ là một quá trình mang tính chiến lược đòi hỏi

sự kiên nhẫn và năng lực sáng tạo cao của các cá nhân tham gia nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra những sản phẩm dựa trên nền tảng công nghệ mới có giá trị kinh tế xã hội cao Tuy nhiên do tính mới của sản phẩm từ quá trình đổi mới công nghệ nên việc đầu tư này luôn tiềm ẩn rủi ro ở mức rất cao Rủi ro, nói một cách tổng quát, là những khả năng không chắc chắn về khoản thu nhập hoặc lợi ích thu được trong tương lai từ những khoản tiền đầu tư trong hiện tại Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ không chắn chắn đối với sự thành công của dự án đầu tư đổi mới công nghệ tùy thuộc vào sự thay đổi của môi trường kinh tế xã hội và chính từ bản thân cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình đổi mới công nghệ bao gồm:

- Rủi ro trong quá trình thiết kế sản phẩm: trong giai đoạn này yếu tố về sự không chắc chắn của công nghệ và của thị trường rất lớn Thật vậy các ý tưởng về công nghệ mới của doanh nghiệp chưa được kiểm chứng thực tế và trên thị trường không có hoặc có rất ít thông tin cụ thể về nhu cầu sản phẩm của quá trình đổi mới công nghệ

- Rủi ro trong quá trình tích hợp công nghệ và sản xuất sản phẩm: trong quá trình này doanh nghiệp sẽ khó khăn trong việc tích hợp các hệ thống công nghệ khác nhau trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất sản phẩm mới Rủi ro của quá trình tích hợp công nghệ và sản xuất sản phẩm mới xuất phát từ sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ trên thị trường Điều này ảnh hưởng đến việc tích hợp từng phần công nghệ vào toàn bộ hệ thống công nghệ, giữa công nghệ cũ và công nghệ mới, giữa

Trang 17

hệ thống công nghệ và nguồn nhân lực hiện tại, giữa khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu với hệ thống công nghệ…

- Rủi ro trong quá trình đưa sản phẩm mới vào thị trường: ở giai đoạn này sự không chắc chắn của yếu tố công nghệ và thị trường đã giảm xuống nhưng doanh nghiệp sẽ đối đầu với việc cạnh tranh thay thế các sản phẩm cũ hiện có trên thị trường Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng đương đầu với rất nhiều rủi ro trước các đối thủ cạnh tranh tiềm năng Ngoài ra doanh nghiệp còn phải tập trung đối phó và giải quyết các vấn đề như quyền sở hữu công nghiệp hay bí mật thương mại, sự thay đổi của các quy định có liên quan đến vấn đề môi trường, các tiêu chuẩn trong công nghiệp, trách nhiệm pháp lý về sản phẩm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và xã hội

Để hạn chế các rủi ro phát sinh trong quá trình đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp cần có một cơ cấu tổ chức thích ứng linh hoạt với những biến động từ môi trường bên ngoài và chính bên trong bản thân doanh nghiệp Tuy nhiên thường các doanh nghiệp khởi sự được xây dựng trên nền tảng công nghệ mới lại chưa có đủ kinh nghiệm cũng như kỹ năng quản lý cần thiết để tối ưu hóa hoạt động của mình Hơn nữa các doanh nghiệp này hầu như rất thiếu thông tin từ các thị trường và thậm chí khó có thể tiếp cận các nguồn lực tài chính ban đầu cho quá trình đổi mới công nghệ do mức

độ rủi ro cao của dự án Có nhiều nguồn tài trợ cho dự án tùy thuộc vào mức độ ưa thích hoặc khả năng chịu đựng rủi ro từ quá trình đổi mới công nghệ của các nhà đầu

tư Trong đó vốn đầu tư mạo hiểm tỏ ra cần thiết và thích ứng với nhu cầu vốn cho quá trình đầu tư đổi mới công nghệ Thậy vậy các nhà đầu tư vốn mạo hiểm là những người sẳn sàng chấp nhận rủi ro và có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý rủi ro Hơn nữa nguồn lực tài chính và kinh nghiệm quản lý của các nhà đầu tư mạo hiểm trong các dự

án của doanh nghiệp khởi sự sẽ bù đắp sự thiếu hụt nguồn vốn cũng như nguồn nhân lực quản lý cho các doanh nghiệp phát triển dựa trên nền tảng của quá trình đổi mới

1.2.2 Vai trò của vốn đầu tư mạo hiểm trong quá trình đổi mới công nghệ

Nhà đầu tư mạo hiểm đóng vai trò quan trọng việc cung cấp các nguồn lực tài chính và kinh nghiệm quản lý đối với các giai đoạn của quá trình đổi mới công nghệ Các giai đoạn này có thể biểu diễn qua đường cong dạng hình chữ S cổ điển Đường cong này thể hiện quá trình phát sinh và phát triển của công nghệ hay nói cách khác nó

Trang 18

thể hiện chu kỳ sống của công nghệ Theo Bob Zider [30] các nhà đầu tư mạo hiểm thường tránh né giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của chu kỳ Theo ông ở giai đoạn đầu mức độ không chắn chắn của công nghệ và của nhu cầu của thị trường còn lớn, còn ở giai đoạn cuối thì tốc độ tăng trưởng đã giảm đi rõ rệt vì doanh nghiệp chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ trên thị trường

Hình 2: Chu kỳ sống của công nghệ

Khả năng sinh lợi

Chi phí đầu tư

Giai đoạn chín muồi

Giai đoạn tăng trưởng

Giai đoạn thâm nhập

Nguồn: [15]

Trong thực tế việc đầu tư vào giai đoạn nào của chu kỳ sống công nghệ là tùy thuộc vào thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro Nếu việc đầu tư ở giai đoạn đầu của chu kỳ sống công nghệ thì nhà đầu tư mạo hiểm sẽ có được cơ hội nhận được những

“phần thưởng” xứng đáng để bù đắp những rủi ro mà họ có thể gánh chịu trong quá trình đầu tư so với các giai đoạn khác Tuy nhiên các nhà đầu tư mạo hiểm đều có điểm chung là chỉ tập trung đầu tư vào những phân ngành tăng trưởng cao vì họ có cơ hội nhận được “phần thưởng” hấp dẫn khi doanh vụ kết thúc Để hưởng được những phần lợi nhuận xứng đáng từ doanh vụ, các nhà đầu tư mạo hiểm rất năng động trong vai trò

là người quản lý chiến lược của quá trình đầu tư đổi mới công nghệ Với vai trò đó nhà đầu tư mạo hiểm sẽ thực hiện các chức năng tài chính và chức năng phi tài chính trong các giai đoạn của chu kỳ sống công nghệ như sau:

Trang 19

Bảng 1: Vai trò của nhà đầu tư vốn mạo hiểm trong chu kỳ sống công nghệ Nội dung

hoạt động

Vai trò Chức năng tài chính Chức năng phi tài chính

GIAI ĐOẠN XUẤT HIỆN (KHỞI SỰ)

- Triển khai

thành lập

doanh nghiệp

- Hình thành vốn mồi - Xem xét kế hoạch kinh doanh

- Đánh giá nhóm quản lý của doanh nghiệp và thẩm định kế hoạch kinh doanh

- Tư vấn các vấn đề pháp lý thành lập doanh nghiệp

- Tuyển chọn nhân lực quản lý

- Tư vấn xây dựng các quy trình, thủ tục kiểm soát quá trình hoạt động của doanh nghiệp

- Tư vấn phát triển ý tưởng

GIAI ĐOẠN CỦNG CỐ (PHÁT TRIỂN)

- Cho vay để mua lại công ty

- Tư vấn các vấn đề phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng

- Hoặc hỗ trợ việc mua bán/sáp nhập với các công ty khác

Nguồn: Tổng hợp theoKenny và OECD [36] [37]

Trang 20

1.2.3 Vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ đối với

sự tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một bộ phận quan trọng của đời sống kinh tế xã hội và là một trong những chỉ tiêu then chốt để đánh giá sự phát triển của một quốc gia Có nhiều yếu tố tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế và tùy vào từng giai đoạn lịch

sử các yếu tố đó được ưu tiên xem xét ở các mức độ khác nhau Nếu như trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào tỷ lệ tiết kiệm, tích lũy tư bản và vốn vật chất, thì ngày nay tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực, công nghệ, thể chế chính trị và truyền thống văn hóa [24], trong đó tiến bộ của khoa học công nghệ chính là động lực của tăng trưởng kinh tế, của tăng năng suất lao động và cải thiện lâu dài mức sống [27]

Có nhiều mô hình khác nhau đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển công nghệ

với tăng trưởng kinh tế Theo Cobb-Douglas thì sản lượng Y = A K a L (1-a) , với A là yếu tố thay đổi công nghệ, K là dòng chảy của các dịch vụ vốn từ lượng vốn, L là số ngày làm việc của lao động, a là tỷ trọng đóng góp của vốn và (1-a) là phần đóng góp

từ lao động.Trong mô hình này A là tham số quan trọng và cũng là một số đo tốt về nhân tố năng suất tổng hợp sản xuất (TFP) [8]

TFP là một cách đo lường năng suất của cả vốn lẫn lao động trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế Có nhiều yếu tố làm TFP tăng trưởng như: chất lượng của lao động và vốn, tiến bộ công nghệ, mức độ cạnh tranh, lợi ích kinh tế nhờ quy mô, việc tái phân bổ nguồn lực, chính sách kinh tế…, trong đó yếu tố công nghệ đóng vai trò rất quan trọng Thật vậy nó góp phần tăng năng suất của yếu tố lao động

và vốn, nếu việc đầu tư cho khoa học công nghệ là hiệu quả, và do đó tất yếu dẫn đến

sự tăng trưởng kinh tế cao Do vậy khả năng chuyển đổi những tiến bộ khoa học, công nghệ thành sản phẩm mới đã trở thành một yếu tố quyết định sự khác biệt trong nhịp

độ tăng trưởng kinh tế giữa các quốc gia [17]

Tuy nhiên việc đầu tư đổi mới công nghệ đòi hỏi phải gia tăng nguồn vốn đầu

tư Ở các nước đang phát triển vấn đề thiếu vốn để phát triển khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế trở thành một vòng lẩn quẩn Thật vậy, vốn ít dẫn đến mức đầu tư cho khoa học công nghệ thấp, từ đó dẫn đến năng suất thấp và tốc độ tăng trưởng thấp Đến lượt tốc độ tăng trưởng thấp tất yếu dẫn đến mức độ tích lũy vốn cho

Trang 21

nền kinh tế thấp Để phá vỡ cái vòng lẩn quẩn đó đòi hỏi nhà nước cần có chính sách thu hút vốn đầu tư đổi mới công nghệ một cách có hiệu quả nhất Có nhiều nguồn vốn khác nhau tài trợ cho việc đổi mới công nghệ Trong đó vốn mạo hiểm là một trong những nguồn tài trợ then chốt thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ, làm tăng nhân tố năng suất tổng hợp TFP và do đó thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển bền vững của nền kinh tế

Việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm, nhất là từ các nguồn nước ngoài và từ khu vực tư nhân trong nước, trước hết sẽ làm giảm áp lực về vốn đầu tư cho hoạt động đổi mới công nghệ Bên cạnh đó kỹ năng cũng như kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư mạo hiểm sẽ dẫn đến vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cho quá trình phát triển và ứng dụng công nghệ vào các hoạt động kinh tế Ngoài ra việc đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển các ngành nghề mới, các doanh nghiệp mới, do đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững

Bên cạnh đó vốn đầu tư mạo hiểm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức như các định chế tài chính, các trường đại học, các doanh nghiệp định hướng công nghệ, các tập đoàn công nghiệp và tạo thành một

“mạng lưới phức tạp” [37] Các mắc xích trong mạng lưới này liên kết chặt chẽ nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển Sự phát triển về chiều sâu và chiều rộng của mạng lưới này góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ, đổi mới hệ thống giáo dục, phát triển thị trường tài chính, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phát triển

và ứng dụng công nghệ và do đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia Hơn nữa sự vận hành có hiệu quả của tổ chức đầu tư mạo hiểm và các tổ chức trong mạng lưới sẽ hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng [32], góp phần giảm thiểu

rủi ro cho các nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế trong quá trình đổi mới

Thậy vậy để thu hút có hiệu quả vốn đầu tư mạo hiểm vào hoạt động đổi mới công nghệ, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ của các yếu tố trong hệ thống đổi mới Đối với mô hình đổi mới công nghệ dựa vào nguồn vốn đầu tư mạo hiểm thì hệ thống này bao gồm các mạng lưới liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành “cấu trúc xã hội của đổi mới” [37] Các mạng lưới chủ yếu của mô hình này bao gồm:

Trang 22

ƒ Mạng lưới các nhà đầu tư tài chính khác nhau tập trung vốn vào các quỹ đầu tư mạo hiểm

ƒ Mạng lưới các nhà doanh nhân, các trường đại học… thực hiện việc nghiên cứu và đề xuất các ý tưởng mới tạo cơ hội cho việc thành lập các doanh nghiệp định hướng công nghệ

ƒ Mạng lưới các nhà tư vấn chuyên môn trong các lĩnh vực khác nhau cung cấp thông tin và các dịch vụ cần thiết cho quá trình đổi mới công nghệ

ƒ Mạng lưới các nguồn lực đầu vào cho quá trình đổi mới và đầu ra cho các sản phẩm hoàn chỉnh

đối với sự tăng trưởng kinh tế là một minh chứng tiêu biểu cho quan điểm “sự đóng góp của tài chính vào tăng trưởng dài hạn là là nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp của nền kinh tế chứ không phải lượng vốn” [13] trong giai đoạn hiện nay

1.3 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại một số quốc gia

1.3.1 Trung Quốc

Trước những nhu cầu phát triển kinh tế khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Trung Quốc đã tiến hành nhiều chính sách cải cách mạnh mẽ nhằm vực dậy nền kinh

tế, trong đó chính sách phát triển KHCN thông qua hệ thống đổi mới có hiệu quả là vấn

đề then chốt của nền kinh tế

Ngành công nghiệp vốn đầu tư mạo hiểm tại Trung Quốc bắt đầu giữa những năm 1980 Trong thời gian này chính phủ Trung Quốc đã thành lập “Công ty đầu tư mạo hiểm công nghệ cao” (1986) từ nguồn vốn nhà nước nhằm mục tiêu hỗ trợ chính sách đổi mới công nghệ quốc gia Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư mạo hiểm tại Trung Quốc không ổn định, thời gian đầu do thiếu kinh nghiệm nên chính sách của nhà nước cũng như của khu vực tư nhân đối với đầu tư vốn mạo hiểm đã thất bại Trong thời gian này Trung Quốc chưa có đầy đủ cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ do:

Trang 23

ƒ Cở sở pháp lý cho hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm chưa đầy đủ

ƒ Qúa trình chuyển đổi nền kinh tế vẫn còn tồn tại những quan điểm tiêu cực trong các định chế công

ƒ Sự hạn chế về lối thoát cho các nhà đầu tư mạo hiểm khi kết thúc doanh vụ

ƒ Các dịch vụ (tư vấn, pháp lý, quản trị…) hỗ trợ hoạt động đầu tư mạo hiểm chưa phát triển

ƒ Các nhà đầu tư mạo hiểm chưa am hiểu tập quán cũng như văn hóa kinh doanh của người Trung Quốc

ƒ Nguồn cung từ thị trường lao động cao cấp chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các công ty đầu tư vốn mạo hiểm

Tuy nhiên vốn đầu tư mạo hiểm tại Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng đều đặn vào những năm sau đó Đến năm 2002 Trung Quốc có 160 công ty đầu tư mạo hiểm nội địa

và 50 công ty của nước ngoài với tổng vốn mà các quỹ đang quản lý vào năm 2001 là khoảng 6 tỷ USD Để thu hút vốn đầu tư mạo hiểm vào phát triển các lĩnh vực công nghệ cao, Trung Quốc đã thực hiện một số chính sách:

ƒ Khẳng định vốn đầu tư mạo hiểm và quá trình thương mại hóa công nghệ mới là động lực cho sự tăng trưởng và sự sống còn của nền kinh tế quốc gia

ƒ Phát triển vườn ươm tạo và các chương trình công nghệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa quá trình nghiên cứu thông qua phát triển công nghệ cao và cải thiện môi trường kinh doanh

ƒ Giảm thiểu các thủ tục thành lập doanh nghiệp công nghệ cao và các công ty đầu tư vốn mạo hiểm thông qua việc phân quyền cho các cấp địa phương

ƒ Đa dạng hóa các hình thức công ty đầu tư mạo hiểm dưới các hình thức sở hữu của nhà nước, các trường đại học, các tập đoàn công nghiệp, các công ty

đã niêm yết trên TTCK, các công ty FDI…

ƒ Ưu tiên đầu tư vốn mạo hiểm vào các lĩnh vực công nghệ cao như: điện tử và CNTT, công nghệ sinh học, vật liệu mới, quang học, công nghệ tiết kiệm năng lượng, công nghệ bảo vệ môi trường, năng lượng mới …

ƒ Từng bước hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm vào các hoạt động đổi mới công nghệ thông qua việc xây dựng luật về

Trang 24

đầu tư mạo hiểm, luật về khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm trong các lĩnh vực công nghệ cao…

Tóm lại chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ, mặc dù hiện nay vẫn chưa có bằng chứng

về hiệu quả của việc đầu tư này nhưng chúng là nền tảng để kích thích quá trình đổi mới công nghệ và gia tăng năng lực cạnh tranh của Trung Quốc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.2 Ấn Độ

Vốn đầu tư mạo hiểm được đề cập tại Ấn Độ từ rất sớm vào những năm 70 Tuy nhiên vào những năm 80, nhà nước Ấn Độ mới có những chính sách can thiệp trực tiếp nhằm phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm trong xã hội Quá trình hình thành và phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và công nghệp đầu tư mạo hiểm tại Ấn Độ trải qua 2 giai đoạn chủ yếu: giai đoạn hình thành những định chế đầu tư vốn mạo hiểm đầu tiên được xã hội công nhận và giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng của vốn đầu tư mạo hiểm tại Ấn Độ

động đầu tư vốn mạo hiểm thông qua các chính sách:

ƒ Khuyến khích nghiên cứu đổi mới và ứng dụng công nghệ mới trong các lĩnh vực công nghiệp điện tử, phần mềm, truyền thông và các ngành công nghiệp mới nổi thông qua chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách thuế, chính sách tài chính hỗ trợ cho các doanh nghiệp từ các Quỹ phát triển công nghiệp, một quỹ phôi thai cho việc hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm ở Ấn Độ

ƒ Xây dựng cơ sở pháp lý cho việc đầu tư vốn mạo hiểm bao gồm các vấn đề: qui chế hoạt động của các công ty đầu tư mạo hiểm từ các tổ chức tài chính nhà nước, khuyến khích hoạt động đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ, qui định về ưu đãi thuế thu nhập đối với các công ty đầu tư mạo hiểm…

Trang 25

ƒ Cho phép tổ chức quốc tế đầu tiên (WB) tham gia vào việc xây dựng thể chế

và cung cấp nguồn vốn cho hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Ấn Độ

nhanh chóng Nguyên nhân chủ yếu của việc tăng nhanh vốn đầu tư mạo hiểm trong thời gian này là do:

ƒ Chính phủ đã ban hành các đạo luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, ban hành luật về Quỹ đầu tư mạo hiểm (1996), ban hành luật về đầu

tư vốn mạo hiểm nước ngoài (2000)

ƒ Chính phủ khuyến khích khu vực tư nhân trong nước và nước ngoài tham gia góp vốn vào các quỹ đầu tư mạo hiểm, không có sự phân biệt đối xử với các định chế đầu tư mạo hiểm từ nguồn vốn nhà nước ở giai đoạn trước đó

ƒ Sự đa dạng của các hình thức tổ chức đầu tư mạo hiểm, của các nguồn vốn đầu tư (ngân hàng, bảo hiểm, các quỹ đầu tư khác) và sự linh hoạt trong lối thoát cho nhà đầu tư mạo hiểm là yếu tố quan trọng thúc đẩy dòng vốn mạo hiểm tiếp tục quay trở lại đầu tư tại Ấn Độ

ƒ Chính phủ tiếp tục xúc tiến hoạt động đầu tư vào các vườn ươm tạo công nghệ nhằm cung cấp các dịch vụ làm tăng giá trị tài sản của các nhà đầu tư mạo hiểm trong đối tác được tài trợ thông qua hệ thống tư vấn, thông tin, tài chính, nguồn nhân lực…

ƒ Sự thành công của các nhà kinh doanh Ấn Độ tại thung lũng Silicon vào những năm 80 cùng với sự bùng nổ của ngành CNTT trong giai đoạn này đã kích thích mạnh mẽ dòng vốn đầu tư mạo hiểm chảy vào Ấn Độ

ƒ Nguồn lao động CNTT của Ấn Độ có kỹ năng cao, thông thạo tiếng Anh và giá nhân công rẻ góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp phần mềm từ Mỹ và các nước phát triển chuyển sang đầu tư tại Ấn Độ và do đó kéo theo cả dòng vốn đầu tư mạo hiểm

Như vậy sự tăng trưởng của vốn đầu tư mạo hiểm trong thời gian này chủ yếu là

do khả năng đón bắt kịp thời cơ hội phát triển CNTT của Ấn Độ trong thời kỳ bùng nổ nền kinh tế “dot.com” trên toàn cầu

Trang 26

1.3.3 Mỹ

Mỹ là quốc gia có ngành công nghiệp vốn đầu tư mạo hiểm phát triển rất sớm từ những năm 1950.Qúa trình hình thành và phát triển công nghiệp vốn đầu tư mạo hiểm tại Mỹ ít chịu sự can thiệp trực tiếp từ chính phủ mà phụ thuộc chủ yếu vào tín hiệu của các thị trường và đặc biệt là các ngành công nghiệp công nghệ cao Trong đó thung lũng Silicon là một điển hình về sự thành công của của việc đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới tại Mỹ

Tuy nhiên sự thành công từ mô hình đổi mới công nghệ của thung lũng Silicon không thể tách rời sự phát triển kinh tế nói chung và sự can thiệp gián tiếp nói riêng của nhà nước đối với quá trình đổi mới dựa trên nguồn vốn đầu tư mạo hiểm Thật vậy

sự phát triển về quy mô và chất lượng của vốn đầu tư mạo hiểm tại Mỹ còn do chính phủ đã thực hiện một số biện pháp [35]:

ƒ Thực thi chính sách tài chính tiền tệ ổn định

ƒ Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp đầu

tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới

ƒ Cho phép các quỹ lương hưu đầu tư vào các quỹ mạo hiểm, đồng thời ưu đãi

về thuế đối với lợi nhuận mang lại từ việc đầu tư này

ƒ Tạo lập khuôn khổ pháp lý nhằm kiểm soát sự minh bạch của các thông tin trên thị trường chứng khoán, giúp các nhà đầu tư không e ngại khi góp vốn vào các quỹ và tạo lối thoát hữu hiệu cho các công ty đầu tư mạo hiểm

ƒ Giảm thiểu những rủi ro cho doanh nghiệp do sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động đầu tư

ƒ Đầu tư mạnh mẽ vào các hoạt động nghiên cứu đổi mới tại các trường đại học thông qua các quỹ của nhà nước và của các trường đại học

ƒ Khuyến khích việc thành lập Công ty đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ (SBICs) thông qua việc cho phép các SBIC được huy động vốn từ ngân hàng

và chính phủ với tỷ lệ vốn được vay gấp hai hoặc ba lần vốn riêng của chủ

sở hữu Thực chất các SBIC là những công ty hợp doanh giữa chính phủ và khu vực tư nhân nhưng được giao cho tư nhân quản lý và là cầu nối giữa các nhà đầu tư lớn với các doanh nghiệp nhỏ Bên cạnh đó, chính phủ đã áp dụng

Trang 27

các biện pháp ưu đãi về thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động của các SBIC

lớn của vốn đầu tư mạo hiểm lên qui mô nền kinh tế Mỹ Trong vòng 3 thập kỷ từ năm 1970-2000, các nhà đầu tư mạo hiểm đã đầu tư khoảng 273 tỷ USD vào 16.278 công

ty, và giai đoạn 6 năm từ 1995-2000 con số này là 192 tỷ USD Trong năm 2000, các công ty được đầu tư vốn mạo hiểm đã tạo ra 12,5 triệu việc làm, đóng góp cho GDP 1,1 nghìn tỉ, chiếm khoảng 1/9 tổng sản lượng quốc gia của Mỹ Nếu tính cả những ngành công nghiệp phụ trợ thì tổng số việc làm được tạo ra sẽ gấp 2,2 lần con số trên Cũng theo nghiên cứu này, khi so với những công ty không được đầu tư bằng vốn mạo hiểm, các công ty được đầu tư vốn mạo hiểm đã tạo doanh số gần gấp đôi, trả thuế gần gấp 3, xuất khẩu gấp 2 lần và đầu tư cho các hoạt động R&D gấp 2 lần tính trên 1.000 USD tài sản

Tóm lại, tuỳ thuộc vào mức độ tự do hóa kinh tế mà mỗi quốc gia sẽ có những chính sách khác nhau nhằm thu hút có hiệu quả vốn đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ Nếu như Trung Quốc, Ấn Độ và kể cả một số quốc gia Châu Á có những chính sách can thiệp trực tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động đầu tư mạo hiểm thì ở

Mỹ chính phủ chỉ can thiệp gián tiếp nhằm truyền dẫn những thông tin định hướng đến các thị trường cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm các nước cho hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm Việt Nam bao gồm:

¾ Khung pháp lý cho hoạt động đầu tư mạo hiểm nói chung và đầu tư mạo hiểm và các lĩnh vực công nghệ nói riêng cần rõ ràng và đầy đủ

¾ Chính phủ các nước khuyến khích các công ty tư nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ

¾ Chính sách thuế ưu đãi cho các công ty đầu tư mạo hiểm và các hoạt động đầu tư vào quá trình đổi mới

Trang 28

¾ Thị trường tài chính tiền tệ ổn định và phát triển, trong đó sự phát triển của TTCK là yếu tố quan trọng cho việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm

¾ Cơ sở hạ tầng cho quá trình đổi mới công nghệ đầy đủ và phát triển bao gồm: các khu công nghệ, các trường đại học, các cơ sở R&D…

¾ Đội ngũ lao động tri thức có trình độ kỹ thuật công nghệ cao và đội ngũ những nhà quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp

¾ Hệ thống thông tin cho quá trình đổi mới công nghệ thông suốt, thị trường tư vấn công nghệ và quản lý phát triển

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã đề cập đến các vấn đề có tính chất tổng quan về đầu tư vốn mạo hiểm và vai trò của đầu tư vốn mạo hiểm trong quá trình đổi mới công nghệ Đầu tư vốn mạo hiểm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phổ biến trong xu hướng phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức toàn cầu Với đặc điểm chỉ tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao đồng thời với mức độ rủi ro lớn, vốn đầu tư mạo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân có tinh thần mạo hiểm và sáng tạo tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ Sự tạo dựng và phát triển các mối quan hệ song hành giữa những nhà đầu tư mạo hiểm có vốn và kinh nghiệm quản lý với các tổ chức, cá nhân có tinh thần kinh doanh và năng lực công nghệ đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm Và đến lượt mình sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đầu tư mạo hiểm sẽ có những đóng góp tích cực vào chất lượng tăng trưởng kinh tế của quốc gia thông qua việc gia tăng tỷ

lệ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) trong cơ cấu các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế Thực tiễn phát triển của nền công nghiệp đầu tư vốn mạo hiểm tại một số quốc gia đã được được nghiên cứu trong chương này là minh chứng cụ thể cho những lợi ích mà dòng vốn đầu tư mạo hiểm mang lại trong hệ thống đổi mới quốc gia Những lý luận tổng quan và kinh nghiệm thực tiễn này sẽ là nền tảng để tiếp tục nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho việc khuyến khích đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam trong chương 2 và chương 3

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐẦU

TƯ VỐN MẠO HIỂM VÀO QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng đầu tư đổi mới công nghệ tại Việt Nam

2.1.1 Quan điểm và chính sách đổi mới công nghệ tại Việt Nam

Đổi mới công nghệ có quan hệ mật thiết với sự phát triển khoa học công nghệ

và là một bộ phận của chính sách KHCN của quốc gia Vai trò quan trọng của hoạt động khoa học và công nghệ trong quá trình phát triển kinh tế xã đã được Nhà nước quan tâm từ rất sớm Từ năm 1982, Nghị quyết của Bộ chính trị đã khẳng định “khoa học kỹ thuật là then chốt”, năm 1991 Đại hội Đảng lần thứ VII cũng coi “khoa học, công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới”, Đại hội Đảng lần thứ IX

2001 cũng khẳng định “phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp, hóa hiện đại hóa” Thực hiện quan điểm đó hàng loạt các chính sách liên quan đến đổi mới công nghệ ra đời như:

- Nghị quyết 26-NQ/TW (30/03/1991) về khoa học công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã đề cập đến việc “đổi mới công nghệ trong các ngành chế tạo máy Hiện đại hóa những công nghệ truyền thống Tập trung phát triển một số ngành KHCN mũi nhọn …”

- Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII (06/1991) đề ra giải pháp cho việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 1996-2000: “Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành sản xuất dịch vụ chủ yếu Phát triển công nghệ cao”

- Nghị quyết 02-NQ/HNTW (24/12/1996) với nhiệm vụ “Đến năm 2020 đạt trình độ công nghệ tiên tiến trong khu vực ở các ngành trọng điểm Nâng cao năng lực nội sinh về KHCN để có khả năng tiếp thu các tri thức mới của thế giới Phát huy cao

độ khả năng sáng tạo của quần chúng, các tập thể KHCN, của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế …”

Trang 31

- Nghị quyết 06 của Ban chấp hành trung ương Đảng Khóa IX (07/2002) đã đề

ra nhiệm vụ: “Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân…Chú trọng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và thành tựu KHCN”

- Và hàng loạt các chính sách cụ thể ra đời như Nghị quyết 07/NQ-CP về xây dựng và phát triển công nghệ phần mềm ở nước ta giai đoạn 2000-2005, Nghị quyết 18/CP (03/1993) về phát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam đến năm 2010, Nghị định 119 (09/1999) về một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KHCN…

Như vậy Việt Nam đã có những chính sách rõ ràng về định hướng phát triển KHCN và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực canh tranh trong bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế hiện nay

2.1.2 Thực trạng nguồn tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ

Những thay đổi của chính sách trong thời gian qua đã tạo điều kiện cho việc đa dạng hóa các nguồn tài chính cho hoạt động KHCN Tuy nhiên nguồn tài chính cho hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ ở nước ta còn rất hạn chế và chủ yếu từ NSNN Các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và các nguồn khác vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư

Bảng 2: Đầu tư cho hoạt động KHCN giai đoạn 1996-2002

Nguồn: Bộ KH&ĐT và Bộ tài chính

„ Nguồn vốn ngân sách nhà nước

số tuyệt đối và đã đạt được 2% tổng chi NSNN liên tiếp trong 3 năm 2000,2001,2002

Trang 32

Chi NSNN cho hoạt động KHCN bao gồm: chi cho đầu tư xây dựng cơ bản và chi cho kinh phí sự nghiệp khoa học Trong đó chi cho hoạt động sự nghiệp khoa học chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi NSNN cho KHCN (năm 2000: 71%, 2001: 69%, 2002: 64%) Đối với khoản mục chi đầu tư XDCB thì chi đầu tư mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động KHCN còn thấp (chiếm từ 40%-50% cơ cấu kinh phí đầu tư XDCB cho KHCN hàng năm) Do đó năng lực thí nghiệm và sản xuất thử nghiệm của các viện nghiên cứu dựa vào vốn NSNN là rất hạn chế vì trình độ máy móc thiết bị còn nghèo nàn lạc hậu và thiếu đồng bộ Hơn nữa cơ chế tài chính cho hoạt động của các tổ chức R&D trong thời gian qua còn chưa tạo động lực thúc đẩy khả năng sáng tạo và năng lực nghiên cứu của tầng lớp trí thức Thật vậy với cơ chế đầu tư dàn trải và không hiệu quả từ cấp trung ương đến địa phương đã hạn chế hiệu quả đầu tư của xã hội Gần đây Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về thực hiện chế độ tài chính cho các đơn vị sự nghiêp có thu của Chính phủ dường như nhằm mục tiêu tạo nên sự đột phá cho hoạt động KHCN Tuy nhiên trên thực tế Nghị định này vẫn chưa có tác động mạnh mẽ đến

sự phát triển của các tổ chức R&D cũng như thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam

„ Nguồn vốn từ các doanh nghiệp

nghệ luôn là vấn đề hàng đầu trong chiến lược phát triển của các doanh nghiệp Tuy nhiên chi phí đầu tư đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam ở mức thấp chỉ

từ 0,2-0,3% doanh thu, so với 5% ở Ấn Độ và 10% ở Hàn Quốc [20] Mặt khác đầu tư hoạt động R&D, hoạt động cốt lõi của quá trình đổi mới, chỉ chiếm 5-6% trong tổng đầu tư cho KHCN của các doanh nghiệp [21] Đối với các Tổng công ty 90 và 91 thì trong giai đoạn 1996-2000 tỷ lệ chi cho R&D chỉ dao động từ 0,05-0,1% trên tổng doanh thu [3] (trong đó chủ yếu từ nguồn vốn tự có chiếm gần 70%, phần còn lại là từ vốn NSNN) Bên cạnh đó Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu KHCN tại các doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ chi cho hoạt động này còn rất thấp trong tổng đầu tư KHCN của quốc gia Thật vậy trong năm 2002, năm đầu tiên thực hiện Nghị định số 119/1999/NĐ-CP về một số chính sách tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho KHCN, Bộ KHCN chỉ phê duyệt được 12 đề tài nghiên cứu KHCN

Trang 33

của doanh nghiệp với tổng kinh phí hỗ trợ là 8.8 tỷ (theo định mức nhà nước hỗ trợ 10%, doanh nghiệp chi 90% kinh phí thực hiện đề tài) Như vậy nguồn vốn cho hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp còn thấp, chưa đáp ứng được các yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế

„ Nguồn vốn từ các tổ chức tài chính

Ngân hàng và Quỹ hỗ trợ phát triển là các tổ chức tài chính chủ yếu tài trợ cho hoạt động đổi mới công nghệ Tuy nhiên những nhược điểm từ cơ chế đảm bảo tiền vay hiện tại đã hạn chế các doanh nghiệp vay vốn trung và dài hạn từ các TCTD để đầu

tư đổi mới Các doanh nghiệp hiện tại, nhất là doanh nghiệp tư nhân, vẫn khó tiếp cận với hệ thống tín dụng vì khả năng dùng tài sản cụ thể hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba

là rất thấp Mặt khác quá trình đổi mới luôn tiềm ẩn mức độ rủi ro cao là nguyên nhân góp phần hạn chế các TCTD cho vay theo các lãi suất ưu đãi như quy định của chính sách nhà nước Hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển cũng tương tự, nhưng với mức lãi vay ưu đãi hơn và chỉ hạn chế cho các đối tượng có nhu cầu trong 6 lĩnh vực được quy định tại Nghị định 43/1999/NĐ-CP về tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

„ Các nguồn khác

WB… và các hiệp định song phương Để sử dụng các khoản vay ưu đãi hoặc không hoàn lại này Việt Nam phải phụ thuộc vào các điều kiện thoả thuận với các nước hoặc các tổ chức quốc tế Trên thực tế vốn vay từ các tổ chức này chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu đổi mới công nghệ tại Việt Nam Bên cạnh đó dòng vốn FDI gia tăng nhanh chóng là yếu tố góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ tại Việt nam Tuy nhiên nguồn vốn này chỉ đáp ứng cho các yêu cầu của các chủ đầu tư nước ngoài và vẫn chưa tạo động lực cho việc thúc đẩy nhu cầu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong nước

công nghệ còn chưa đầy đủ và đa dạng Chính vì vậy việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ sẽ tạo thêm một kênh huy động vốn góp phần bổ sung những khoảng trống trong hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển KHCN tại Việt Nam

Trang 34

2.2 Thực trạng đầu tư vốn mạo hiểm tại Việt Nam trong thời gian qua

2.2.1 Giai đoạn từ 1991 – 2002

Hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm vẫn còn là vấn đề khá mới tại Việt Nam, mặc dù dòng vốn mạo hiểm đầu tiên đã vào Việt Nam từ năm 1991 với sự ra đời của quỹ Vietnam Fund Cho đến nay hình thức quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa (huy động

từ các nguồn vốn trong nước) vẫn chưa phát triển và vốn đầu tư mạo hiểm vẫn chiếm

tỷ trọng rất nhỏ trong luồng FDI chảy vào hàng năm Xu hướng tăng trưởng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam trải qua hai giai đoạn: từ năm 1991-1995 là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư mạo hiểm khá lớn và từ năm 1996-2002 là giai đoạn có sự sụt giảm về tốc độ của dòng vốn đầu tư mạo hiểm chảy vào Việt Nam

Hình 3 :Vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 1991-2002

157

0 50

1995 Cùng với luồng vốn FDI này, vốn mạo hiểm cũng nhanh chóng chảy vào Việt

Trang 35

Nam nhằm tìm kiếm những cơ hội đầu tư vào các dự án có tiềm năng tăng trưởng cao

như triển vọng của các dự báo kinh tế

Bảng 3: Vốn mạo hiểm gia tăng mới 1991-1995 (Triệu USD)

VMH Việt Nam 10 12 109 115 53

VMH Châu Á 2.045 2.032 2.273 5.338 6.701

FDI Việt Nam * 1.275 2.027 2.589 3.746 6.607

* FDI Việt Nam theo vốn đăng ký cấp mới

Nguồn: AVCJ, Thời báo kinh tế Việt Nam

Các nhà đầu tư rất lạc quan về khả năng sinh lợi của các dự án thực hiện tại Việt Nam Họ kỳ vọng vào mức tăng trưởng GDP của nền kinh tế tiếp tục tăng và nhu cầu rất lớn về vốn đầu tư cho quá trình CNH-HĐH Cũng trong giai đoạn này làn sóng công nghiệp hoá đang lan rộng tại vùng Đông Á đã tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho việc thu hút vốn FDI vào các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam Bên cạnh

đó sự kỳ vọng của các nhà đầu tư về một thị trường chứng khoán sớm ra đời theo dự định của chính phủ vào năm 1994 là nhân tố quan trọng thúc đẩy việc gia tăng vốn đầu

tư mạo hiểm vào những năm đầu thập niên 90 tại Việt Nam Đến cuối năm 1994, mặc

dù vốn huy động từ các quỹ chưa thực hiện hết nhưng giá giao dịch các quỹ trên thị trường chứng khoán đã có “phần bù” (premium) rất hấp dẫn cho các nhà đầu tư [31]

mới đã có dấu hiệu suy giảm, mặc dù trong giai đoạn này dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn có tốc độ tăng trưởng mạnh tại Việt Nam và dòng vốn đầu tư mạo hiểm gia tăng mới tiếp tục tăng khá tại khu vực Châu Á Cho đến năm 2002 tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam vẫn chưa được cải thiện và hoạt động đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam đã trở nên kém sôi động mặc dù trong giai đoạn này Việt Nam vẫn được đánh giá là một trong những thị trường mới nổi rất hấp dẫn cho việc thu hút đầu tư

Trang 36

Hình 4 : Vốn mạo hiểm gia tăng mới tại Việt Nam 1995-2002

Nguồn: AVCJ

Triệu USD

Riêng trong năm 1999, vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam tăng khá với mức

tăng mới gấp 4 lần năm 1998 (Hình 2.2) Đó là do trong thời gian này chính phủ đã ban

hành hàng loạt các quy định khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào các công ty tư nhân trong nước Hơn nữa thông tin về sự mở cửa của trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên tại TP.HCM vào năm 2000 cũng góp phần gia tăng dòng vốn mạo hiểm chảy vào Việt Nam Tuy vậy sau đó tốc tăng trưởng của vốn đầu tư mạo hiểm tiếp tục giảm dần

Trong giai đoạn này hàng loạt của các quỹ đầu tư được thành lập trong những năm đầu thập niên 90 đã rút lui khỏi Việt Nam như: Vietnam Fund, Vietnam Frontier

cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 càng làm cho việc thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam càng thêm khó khăn Lúc này dòng vốn mạo hiểm tìm kiếm các cơ hội đầu tư tại các nước bị tác động mạnh nhất của cuộc khủng hoảng và có nhiều tiềm năng hồi phục nhanh chóng, đây cũng là một trong những hoạt động cơ bản nhất của các quỹ đầu tư: tìm kiếm khả năng sinh lợi từ những công ty có triển vọng tăng trưởng cao nhưng đang gặp nhiều khó khăn về tài chính trong khủng hoảng

Trang 37

Hình 5: Vốn đầu tư mạo hiểm một số nước Châu Á 1996 - 1999

0 1000

Triệu USD

Nguồn: AVCJ

¾ Nguyên nhân của sự sụt giảm vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam

trong thời gian qua:

nhân chủ yếu dẫn đến sự kém sôi động của hoạt động đầu tư mạo hiểm Vì lý do này các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam không thể rút vốn vốn thông qua phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Các kênh rút vốn khác khi dự án kết thúc như mua bán, sáp nhập công ty vẫn còn nhiều hạn chế khiến cho các quỹ phải sớm thanh lý hoặc tiếp tục “cầm cự” các dự án đã đầu tư

còn rất lớn nhưng trong giai đoạn này vẫn có rất ít cơ hội hấp dẫn cho các nhà đầu tư mạo hiểm Dường như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh về giá nhân công rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẳn có, do đó chất lượng tăng trưởng còn thấp Chính vì vậy với yêu cầu tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao trong các dự án thâm dụng vốn của các nhà đầu tư mạo hiểm

là thiếu khả thi

là khuôn khổ pháp lý vào những năm 1990 chưa cho phép các quỹ thực hiện đầu tư và chiếm lĩnh cổ phần kiểm soát các công ty trong nước Các quy định riêng chỉ cho phép các quỹ đầu tư vào các công ty liên doanh và các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

[1] Để thực hiện nhanh số vốn đã huy động, các quỹ đã vội vã đầu tư vào các công ty liên doanh hay đầu tư vào các lĩnh vực mới thông qua việc thành lập một công ty cổ

Trang 38

phần ở hải ngoại để đầu tư trực tiếp vào các dự án 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Những hoạt động này chứa đựng nhiều rủi ro do các xung đột lợi ích giữa các bên và nhà đầu tư mạo hiểm không thể chủ động trong vai trò là người quản lý chiến lược nhằm tối đa hóa lợi nhuận của dự án Mặt khác trong giai đoạn này khu vực kinh tế tư nhân chưa được khuyến khích phát triển, sự can thiệp về mặt hành chính của các định chế công vào quá trình kinh doanh, chi phí và thời gian tiến hành dự án cao… đã góp phần hạn chế các cơ hội đầu tư cho các quỹ

Nam, còn các nhân viên phân tích người Việt Nam lại chưa có kinh nghiệm về quản lý quỹ cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của nhà đầu tư mạo hiểm Bên cạnh đó các quỹ phải đương đầu với rủi ro tỷ giá hối đoái trong quá trình đầu tư Do vốn huy động của các quỹ chủ yếu từ các nhà đầu tư quốc tế nên mọi sự biến động theo xu hướng mất giá của đồng Việt Nam đều dẫn đến giá trị tài sản của quỹ tính theo USD bị giảm sút so với dự kiến trong các dự án có thị phần chủ yếu được tiêu thụ trong nước Điều này làm cho các quỹ càng ít quan tâm đến các dự án đầu tư nội địa Như vậy kinh nghiệm còn hạn chế về môi trường kinh doanh tại Việt Nam là nguyên nhân khiến cho các nhà đầu tư mạo hiểm đưa ra các quyết định không hợp lý khi tiến hành các doanh

vụ đầu tư

Từ việc kém hiệu quả trong việc đầu tư của các quỹ tại thị trường Việt Nam đã dẫn đến giá trị tài sản ròng của quỹ và giá cổ phiếu được niêm yết trên các thị trường chứng khoán nổi tiếng bị sụt giảm Điều này dẫn đến các nhà đầu tư nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với môi trường đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam và do đó gây khó khăn cho việc huy động vốn của các quỹ Đó là một số nguyên nhân chủ yếu góp phần làm sụt giảm tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam thời gian qua

2.2.2 Giai đoạn từ 2002 đến nay

ra đời của Mekong Enterprise Fund vào năm 2002 đã đánh dấu cho sự phục hồi của dòng vốn đầu tư vốn mạo hiểm trong nền kinh tế Với cơ cấu vốn góp gồm các nhà đầu

Trang 39

tư uy tín như: ADB(25%), Nordic Development Fund…, và nhà tư vấn hoạt động của quỹ là MPDF đã khởi nguồn cho làn sóng đầu tư mạo hiểm thứ hai tại Việt Nam

đi vào hoạt động (11/2003) Một số quỹ đầu tư khác cũng đang triển khai kế hoạch kinh doanh tại Việt Nam như: tập đoàn IDG của Mỹ với số vốn dự kiến là 80 triệu USD, quỹ PXP (Phan xi păng) của các nhà đầu tư Châu Âu và Đông Á với số vốn dự kiến 7-25 triệu USD, quỹ FMO (Thụy Sỹ), DEG (Đức) và một số quỹ của Hàn Quốc cũng đang trong quá trình thăm dò thị trường và tìm hiểu các đối tác tại Việt Nam [9]

Hơn nữa một số quỹ đầu tư đã bắt đầu quan tâm đến các ngành công nghệ cao

Tỷ trọng tài sản của quỹ Dragon Capital đầu tư trong lĩnh vực công nghệ phần mềm đã tăng từ 5,2% (2001) lên 7.6% (2002) Quỹ Mekong Enterprise, tuy mới bắt đầu hoạt động, cũng đã nhanh chóng tiếp cận cơ hội đầu tư vào lĩnh vực CNTT với số vốn góp

745 ngàn USD trong công ty tin học Lạc Việt Bên cạnh đó hầu hết số vốn mà IDG dự định đầu tư vào Việt Nam chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực công nghệ cao như bưu chính viễn thông và công nghệ không dây, công nghiệp phần mềm, công nghệ sinh học cao, công nghệ điện - điện tử

Đối với đầu tư vốn mạo hiểm từ các quỹ nội địa, trong năm 2002 Bộ khoa học công nghệ cùng với Ban quản lý dự án khu công nghệ cao Hoà Lạc cũng đã soạn thảo

và trình chính phủ đề án “Quỹ đầu tư phát triển công nghệ cao Viettech” Hình thức hoạt động của quỹ được thực hiện theo mô hình công ty hợp danh hữu hạn theo luật pháp Mỹ có trụ sở tại Mỹ và chi nhánh tại Việt Nam Số vốn góp của phía Mỹ là từ 20-

30 triệu USD, phía Việt Nam từ 2-3 triệu USD (với nguồn vốn ban đầu từ NSNN) và việc đầu tư của quỹ theo tỷ lệ 50% đầu tư vào Mỹ, 50% đầu tư vào khu công nghệ cao Hòa Lạc Tuy nhiên cho đến nay đề án này vẫn chưa được chính phủ phê duyệt vì nhiều nguyên nhân liên quan đến vấn đề luật pháp Mỹ, vấn đề mô hình chi nhánh quỹ tại Việt Nam, vấn đề tiến độ xây dựng khu công nghệ cao tại Hòa Lạc …

Tại TPHCM, vấn đề đầu tư vốn mạo hiểm cũng liên tục được thảo luận trong năm 2003 như kiến nghị của Hội doanh nghiệp trẻ về việc thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm, góp ý tại hội thảo khu công nghệ cao TPHCM (12/2003) về việc thành lập hiệp

Trang 40

hội đầu tư mạo hiểm … Và trên thực tế hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm vẫn đang diễn

ra sôi động ở khu vực TPHCM

Như vậy, sự quay trở lại của các nhà đầu tư mạo hiểm đã cho thấy môi trường kinh doanh tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện những yếu tố tích cực cho việc hình thành các cơ hội đầu tư hấp dẫn Hơn nữa Việt Nam vẫn là quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi với trình độ công nghệ rất lạc hậu sẽ là động cơ kích khích các dòng vốn mạo hiểm chảy vào Viêt Nam

2.3 Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam

2.3.1 Giai đoạn thành lập công ty đầu tư mạo hiểm

Hiện tại cơ sở pháp lý cho việc thành lập công ty đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam hầu như chưa có Nếu căn cứ theo Luật doanh nghiệp hiện hành thì công ty đầu tư mạo hiểm có thể tổ chức theo hình thức công ty cổ phần và hoạt động các quỹ đầu tư có thể dựa vào Nghị định 144/2003/NĐ–CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán Tuy nhiên nghị định chỉ đề cập đến các quỹ đầu tư chứng khoán và các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Do đó nếu áp dụng các cơ sở pháp lý trên cho hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng chỉ là gượng ép và không thể điều chỉnh hết mọi vấn đề phức tạp trong quá trình hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm Đối với các công ty đầu

tư mạo hiểm nước ngoài thì có thể áp dụng theo Luật đầu tư nước ngoài, tuy nhiên hình thức pháp lý cho công ty đầu mạo hiểm vốn nước ngoài chưa được quy định rõ khiến cho hầu hết các công ty đầu tư mạo hiểm nước ngoài đều chưa có tư cách pháp nhân tại Việt Nam mà chỉ hoạt động thông qua các văn phòng đại diện

Một hình thức khác khá phổ biến tại các nước có nền công nghiệp vốn đầu tư mạo hiểm phát triển là mô hình công ty hợp danh hữu hạn Nếu đối chiếu theo Luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì mô hình này được phép thực hiện Tuy nhiên Luật doanh nghiệp quy định các thành viên của doanh nghiệp hợp danh tại Việt Nam chỉ bao gồm các cá nhân Trong khi đó theo mô hình công ty hợp danh hữu hạn tại các nước thì các thành viên bao gồm cả pháp nhân hay tập thể Do đó sẽ hạn chế các công ty tư nhân lớn, các tổng công ty, các công ty bảo hiểm, ngân hàng … góp vốn vào mô hình

Ngày đăng: 07/01/2018, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w