LỜI NHÀ XUẤT BẢNNghiên cứu, tìm hiểu có hệ thông các tư tưởng kinh tế, các học thuyết kinh tế theo dòng lịch sử từ thời cổ đại đến nay, thấy rõ được những thành tựu và những hạn chế của
Trang 1HÍNH TRỊ QUỐC GIA Hồ CHÍ MINH
PHÂN VIỆN HÀ NỘI
IOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỂ CƯƠNG TẬP BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ Tư TƯỞNG KINH TÊ
( SÁCH THAM KHẢO)
I HI 'tEN DAi HOC THUY SAN
mCC'Hỷ ¿ ạ * ¿ Ã ¿ ế * v é i
Trang 2333.04
Mã số:
-CTQCT - 2000
Trang 3HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÓ CHÍ MINH
PHẲN VIỆN HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỂ CƯƠNG TẬP BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ Tư TUỒNG KINH TÉ
( SÁCH THAM KHẢO)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 4LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Nghiên cứu, tìm hiểu có hệ thông các tư tưởng kinh tế, các học thuyết kinh tế theo dòng lịch sử từ thời cổ đại đến nay, thấy rõ được những thành tựu và những hạn chế của các học thuyết này là cần thiết, nhằm tiếp thu tinh hoa của nhân loại góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triên kinh
tế - xã hội nước ta ngày càng vững mạnh.
Đê có thêm tài liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy trong các trường Đảng, Nhà xuâd bản Chính trị quốc gia kết hợp với Khoa kinh tế chính trị Phân viện Hà Nội thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
xuất bản cuốn sách Đề cương tập bài giảng Lịch sử tư tưởng
kinh tế, do tập thể tác giả: TS Phạm Thị cần (chủ biên),
Th.s Phan Doãn Ngụ, TS Đỗ Quang Vinh, TS Đoàn Khải,
TS Lê Văn Phụng biên soạn.
Cuốn sách gồm bảy bài:
Bài I: Tư tưởng kinh tế cổ đại và phong kiến
Bài II: Các học thuyết kinh tế tư sản trưốc Mác
Bài III: Các học thuyết kinh tế tiểu tư sản và chủ nghĩa
xã hội không tưởng ở phương Tây thế kỷ XIX
Trang 5Bài IV: Học thuyết kinh tê của Mác
Bài V: Tư tưởng kinh tê của Lênin
Bài VI: Các học thuyết kinh tế tư sản hiện đại
Bài VII: Trường phái thể chế.
Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc và mong nhận được
ý kiến phê bình để lần xuất bản sau được tốt hơn.
Tháng 7 năm 2000
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 6BAI I
T ư TƯỞNG KINH TẾ
CỔ ĐẠI VÀ PHONG KIẾN
I- T ư TƯỞNG KINH TẾ c ổ ĐẠI
1 H oàn cả n h r a đời và đặc điểm ch u n g
c ủ a tư tư ở n g k in h t ế cổ đ ại
1.1 Hoàn cảnh ra đời
Chế độ nô lệ là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên có đối kháng giai cấp Vì vậy, các tư tưỏng kinh tế phản ánh quá trình xác lập và phát triển chế độ nô lệ là những tư tưởng kinh tế đầu tiên trong lịch sử các học thuyết kinh tế
ở phương Đông, chế độ nô lệ ra đời vào khoảng
4000 năm trưóc công nguyên với đặc điểm là chế
độ sỏ hữu tư nhân của chủ nô tồn tại song song vối các công xã nông nghiệp Hình thức nô lệ vì nợ là phổ biến
Dưới hình thức cổ điển, chế độ chiếm hữu nô
Trang 7lệ đã tồn tại ở Hy Lạp và La Mã cổ đại từ 1000 năm trước công nguyên So với phương Đông, sự xác lập của nó diễn ra trong điều kiện ph át triển cao hơn của lực lượng sản xuất Vì thế, quá trìn h này tiến triển hầu như đồng thời với sự phát triển của các quan hệ hàng hoá - tiền tệ và cho vay nặng lãi Nó kéo theo sự th ủ tiêu chế độ nô lệ
vì nợ và sự ta n rã n h an h hơn của công xã Những đặc điểm này ảnh hưởng đến các tư tưởng kinh tê
- Những quan hệ hàng hoá - tiền tệ được xem xét gắn liền với ý tưởng trao đổi ngang giá các vật theo giá trị của nó, song chỉ đơn thuần theo kinh nghiệm Đại thương nghiệp và cho vay nặng lãi bị lên án
Những đặc trưng trên mang những hình thức biểu hiện riêng ở phương Đông và châu Âu
Trang 82 Tư tư ở ng k in h t ế củ a phương Đông cổ đại
Do những điều kiện địa lý thuận lợi, các nước phương Đông đã phát triển kinh tế, thống nhất về chính trị và hưng thịnh về văn hoá rấ t sớm Điều
đó làm cơ sở cho sự phát triển rấ t sớm các tư tưởng kinh tế, đặc biệt từ th ế kỷ XX đến th ế kỷ XVII trước công nguyên trở đi
2.1 Tư tưởng kinh tế Ai Cập và Babilon thời cổ
Ai Cập
- Tư tưởng kinh tế đã thể hiện ngay từ thòi cổ
vương quốc (3000 năm trước công nguyên) Sự tồn tại của nền kinh tê nhà thờ mà đặc điểm của nó là kết hợp những đặc trưng của kinh tế công xã và chiếm hữu nô lệ đã cho ta khái niệm về điều đó
- Tư tưởng kinh tế Ai Cập cổ đại được thể hiện tập tru n g trong "cách ngôn Ipuve", xuất hiện vào thòi kỳ tru n g vương quốc (thế kỷ XX -
th ế kỷ XVIII trước công nguyên) Những quan điểm kinh tế độc đáo của nó đã phản ánh trực tiếp mâu th u ẫ n giai cấp và kinh tế của Ai Cập thời đó, cũng như quan điểm kinh tế của giai cấp thông trị để bảo vệ lợi ích của mình, chống lại những cố’ gắng muôn quay về với những nguyên tắc của công xã
Trang 9Ớ Lưỡng Hà
- Biểu hiện sớm nh ất của tư tưởng kinh tế vùng Lưỡng H à là những cải cách của Hoàng đế Ưrucaghina (khoảng th ế kỷ XXV trước công nguyên) Trong những bảng chữ khắc còn giữ lại được về những tuyên bô của ông, có thể thấy được
tư tưởng muôn để chế độ nô lệ cùng tồn tại với công xã và điều hoà hai cái đó Một m ặt ông muôn tăng cường một phần vị trí của công xã, m ặt khác ông không chủ trương xoá bỏ chê độ nô lệ mà chỉ muốn tăng cường chế độ sở hữu các nhà thò nhò việc thu hẹp chế độ sở hữu nô lệ tư nhân, vì kinh tê của các đền thò còn giữ lại những tàn tích của các quan hệ công xã
- Phản ánh rõ rệt n h ất tư tưởng kinh tê vùng Lưõng Hà là Bộ lu ậ t H am urapi (1792 - 1750 trước công nguyên)
Triều đại H am urapi là thời kỳ cực thịnh của Nhà nước Babilon - Nhà nưốc chiếm hữu nô lệ cổ đại lớn nhất ồ Lưõng Hà Với 282 điều khoản được tạc vào bia đá, Bộ lu ậ t của Hoàng đê Ham urapi phản ánh k h át vọng xoa dịu cuộc đấu tran h giai
cấp nhằm củng cố chế độ nô lệ Chúng bảo vệ cơ sỏ
kinh tế của chế độ sồ hữu tư nhân, coi nó là không
gì lay chuyển nổi, xâm phạm đến nó sẽ bị trừng trị nghiêm khắc Việc phân chia xã hội thành nô lệ và
Trang 10chủ nô được coi là hiện tượng vĩnh cửu, tự nhiên Quan tâm đến sự phát triển của quan hệ hàng hoá
- tiền tệ, bộ luật đề ra những quy định chi tiết cho các giao kèo mua - bán v ề cỡ bản, những điều khoản đó có lợi cho kinh tế hàng hoá, đồng thòi cũng chứng tỏ sự phát triển chưa đầy đủ của nó
2.2 Tư tưởng kinh t ế ở Ả n Độ
Các tư tưỏng kinh tê ỏ Ân Độ cũng hình thành khá sớm Minh chứng rõ ràng cho điều này là sự
xuất hiện bộ kinh Vệ đà - bộ kinh cầu nguyện cổ
được viết hàng nghìn năm trước công nguyên Nó phản ánh những quan điểm kinh tế thời kỳ tan rã của chế độ công xã, bắt đầu hình thành chê độ nô
lệ và tư tưởng đẳng cấp thể hiện khá rõ
- Hệ tư tưởng đặc trưng của xã hội chiếm hữu
nô lệ được phản ánh rõ rệt nhất trong các đạo luật
- Nhà tư tưởng quan trọng nhất của Ân Độ cổ đại là Kauchin Visnugypta, một mưu sĩ của vua
Chanđra I, tác giả của cuốn sách Artkhasatơra
Trang 11(Khoa học và chính trị) được viết vào khoảng giữa thê kỷ IV- III trưốc công nguyên - với tư cách là cuôn giáo phạm cho nhà Vua Mục đích của nó là bảo vệ nhà nước chiếm hữu nô lệ v ề m ặt lý luận kinh tê có những luận điểm đáng lưu ý:
+ Vấn đề "giá trị của vật" đã được đề cập đên Theo ông, sô lượng của giá trị được xác định bởi sô lượng "ngày làm việc", còn tiền công được hình dung trong sự tương ứng với kết quả lao động Ong phân biệt giá cả th ị trường với giá trị và chỉ ra rằng, sự cạnh tra n h của người m ua "đẩy giá của hàng hoá lên, làm cho nó cao hơn giá trị thực tế" Phải chăng, ông là một trong những bậc tiền bối của học thuyết giá trị lao động?
+ Lợi n huận thương nghiệp được ông gộp vào giá cả hàng hoá như là "một món phí tổn khác thêm vào"
+ Trong cương lĩnh kinh tế của mình, ông kêu gọi nhà Vua ph át triển lực lượng sản xuất, điều tiết giá cả, tạo ra quỹ hàng hoá; ngân sách nhà nước phải tu â n theo bảng quyết toán tích cực:
"tăng th u và giảm chi"
2.3 Các tư tưởng kinh tế Trung Hoa cổ đại
Từ hàng ngàn năm trước công nguyên, Trung Quốc đã đạt tới một trìn h độ văn minh vật chất và
Trang 12tinh thần rất cao Vì thế, trong lịch sử phương Đông cổ đại, tư tưởng kinh tế Trung Quốc tỏ ra thành thục nhất.
- Phản ánh rõ rệt nhất những đặc điểm của tư tưởng kinh tế Trung Quốc thời cổ đại là những quan điểm kinh tế của Khổng Tử (551 - 479 trước
công nguyên) được trình bày trong cuốn Luận ngữ
(Mạn đàm và nghị luận) Quan điểm kinh tế - xã
hội của ông mang tính mâu thuẫn Ông cố sức thực
hiện nguyên tắc bình đẳng xã hội trong khi bảo vệ chế độ nô lệ Trong khi gắn mọi mâu thuẫn và tai hoạ của đế quốc Trung Hoa vối sở hữu tư nhân, ông vẫn mơ ước về một xã hội công bằng, một thế giới đại đồng kiểu công xã, ông lại biện hộ cho sự phân chia xã hội thành đẳng cấp và coi nó như là điều được chúa trời và tự nhiên sắp đặt ông coi nguồn gốc của mọi của cải là lao động và sự giàu có của quốc gia cần dựa trên sự giàu có của nhân dân Song, suy đến cùng ông quan tâm đến việc làm sao cho sự giàu có của chủ nô tăng lên nhờ nhân dân Ông kêu gọi nhân dân làm việc nhiều hơn và tiêu dùng ít hơn Ông dạy các nhà cầm quyền biết cách buộc nhân dân phải run sợ trước họ
- Tư tưởng kinh tế Trung Hoa thời cổ thể hiện
đặc sắc nhất trong Quản tử luận - cuốn sách ra đời
vào khoảng th ế kỷ IV - III trước công nguyên, thời
Trang 13kỳ p h át triển hơn nữa của chế độ nô lệ, của kinh tế hàng hoá Có thể nêu những quan điểm chủ yếu của nó:
+ Thừa nhận sự tồn tại của các quy luật xã hội nhưng cũng thừ a nhận sự can thiệp rộng rãi của nhà nước vào đời sống kinh tế để có thể hạn chế ảnh hưởng của các hiện tượng tự nhiên
+ Lao động của n hân dân được tuyên bô" là nguồn gốc sự hùng m ạnh của quốc gia và cũng là nguồn gốc của mọi th u nhập Họ cho rằng, nhân dân tạo ra thu nhập cho các doanh nhân và lợi nhuận cho thương nhân Song, luận điểm này được
sử dụng chủ yếu để đề cao đẳng cấp
+ Đưa ra tư tưởng quan trọng về sự trao đổi ngang giá xuất phát từ ý tưỏng công bằng xã hội.+ Cho rằng vàng là thước đo các nguồn dự trữ quốc gia và làm phương tiện lưu thông
+ Đặc biệt là những lòi bàn về tính quy luật của thị trường Họ coi thị trường là nơi điều tiết tấ t
cả mọi hàng hoá Họ nhận thức được tính quy luật
tự ph át của thị trường về quy luật cung - cầu ảnh hưởng đến giá cả
+ Bác bỏ thuê trực thu, đề cao thuê gián thu (thuế muôi, th u ế sắt )
+ Trong cương lĩnh kinh tế của mình, họ chủ
Trang 14trương điều tiết giá cả các mặt hàng thiết yếu (bánh mỳ) tạo lập các quỹ quốc gia, mỏ mang tín dụng cho chủ ruộng đất Theo họ, khi đó sẽ loại trừ được khát vọng làm giàu của thương mại và các làng quê sẽ bình an.
Những cuộc luận chiến gay gắt giữa các môn đệ của Khổng Tử với phái Pháp gia (do Thương Ưởng
và Tang Cung Dương đại biểu) về thuế, về sự phát triển của đại thương nghiệp, về giối hạn sự can thiệp của nhà nước và tự do kinh doanh của tư nhân đã cho thấy tư tưởng kinh tê Trung Hoa thời
cổ đại đã đi trước và nhìn rất xa vào tương lai
3 Tư tư ở n g k in h tê củ a ch â u Âu cổ đại
Hy Lạp và La Mã là những nhà nước chiếm
hữu nô lệ ra đòi sớm nhất ở châu Âu Vì vậy, tư
tưởng kinh tế cũng phát triển khá sốm, nhất là ở
Hy Lạp Đáng chú ý là các quan điểm kinh tế của các nhà tư tưởng sau:
3.1 ở Hy Lạp
- Kxênôphôn (khoảng 430 - 354 trước công
nguyên)
Trong các tác phẩm của mình, đặc biệt là trong
cuốn Phương châm trị gia, các quan điểm kinh tế
của ông được trình bày khá nổi bật, phản ánh khát vọng của bọn chủ nô muốn sử dụng sự phát triển
Trang 15của các quan hệ hàng hoá - tiền tệ đê củng cô" nền kinh tế tự nhiên Vì vậy, một m ặt ông xem xét hoạt động kinh tế như là một quá trìn h tạo ra những vật có ích Về m ặt này, ông là người đầu tiên chú ý đến ý nghĩa của phân công lao động, đồng thời dạy các chủ nô rằng: để làm giàu trong kinh doanh cần
có được phần dôi ra nhò thoả mãn tối thiếu nhu cầu của nô lệ M ặt khác, Kxênôphôn chỉ rõ mối liên
hệ giữa phân công lao động và phạm vi thị trường, chỉ rõ giá trị trao đổi của sản phẩm bên cạnh giá trị sử dụng của nó, song ông cho rằng, giá trị do tính chất có ích của vật quyết định, ngoài ra nó còn tuỳ thuộc vào việc biết sử dụng vật đó Ông thừa nhận ngoài chức năng phương tiện lưu thông và tích trữ, tiền còn vận động với tư cách là tư bản Mác đánh giá Kxênôphôn có sự linh cảm tư sản
- Platôn (427 - 347 trưỏc công nguyên)
Là nhà tư tưỏng lớn của Hy Lạp Tư tưởng độc đáo về kinh tế của ông được thể hiện trong cuốn
sách Chính trị hay nhà nước, trong đó vẽ nên một
nhà nước lý tưởng Trong nhà nước đó, ông chia toàn bộ dân cư th àn h ba đẳng cấp: các nhà bác học, các chiến binh và các thần dân Hai đẳng cấp đầu hình th àn h bộ máy quản lý nhà nưóc Họ không có quyền có b ất cứ sở hữu riêng nào, còn tiêu dùng của họ có tín h chất xã hội hoá Được phép sở hữu
Trang 16chỉ có tầng lớp thứ ba bao gồm những chủ ruộng, thợ thủ công, thương gia Ông không coi nô lệ là công dân và gạt ra ngoài các đẳng cấp Họ cùng với đẳng cấp thứ ba có nghĩa vụ thoả mãn không hạn chê tiêu dùng của hai đẳng cấp đầu.
Như vậy, khi đề ra nhà nước lý tưởng, ông muôn đề cao chế độ nô lệ Giai cấp tư sản ngộ nhận một sô" quan điểm của ông là cộng sản và sử dụng chúng để chông chủ nghĩa cộng sản khoa học
- Điều đáng lưu ý là trong tác phẩm này, Platôn đã chú ý đến việc giải thích mối liên hệ giữa phân công lao động, thương nghiệp, tiền tệ và sự tách ra của thương nhân Mác đánh giá sự giải thích này là thiên tài đối với thời đại đó Nhưng ông bảo vệ nền kinh tế tự nhiên chiếm hữu nô lệ
và muốn hạn chế chức năng của tiền chỉ ở phương tiện lưu thông, trong khi nhìn thấy ở tiền là một trong những nguyên nhân của sự thù địch trong xã hội Ông bác bỏ cho vay nặng lãi và đòi hạn chê lợi nhuận thương nghiệp bằng cách hình thành giá cả
- Arixtối (384 - 322 trước công nguyên)
Arixtốt là nhà tư tưởng kiệt xuất nhất của HyLạp cổ đại trong rấ t nhiều lĩnh vực v ề kinh tế, ông có rất nhiều quan điểm và tư tưởng độc đáo:+ Ông lý giải sự phân chia giai cấp trong chế độ nô
lệ bắt nguồn từ sự khác nhau tự nhiên của con người
Trang 17+ Thừa nhận "của cải chân chính" là tấ t cả mọi giá trị sử dụng và hoạt động gắn liền với nó là hoạt động kinh tế.
+ Lần đầu tiên phân tích giá trị trao đổi, giá trị
và đã vạch ra quan hệ ngang giá trong trao đổi Song, cái chung để so sánh đó là cái gì thì ông không khẳng định (về điểm này Mác cho rằng, ông
đã tiếp cận đến học thuyết giá trị - lao động) Đồng thòi, ông cũng chỉ rõ giá trị trao đổi của hàng hoá
là hình thái phái sinh của giá cả hàng hoá Ông vạch ra việc biến H - H th à n h H - T - H và kết luận rằng, năm cái giường có thể so sánh bằng một cái nhà, hoặc được xác định bằng một lượng tiền Song, ông sai lầm khi cho rằng, các hàng hoá trở thành cái đo lường chính m ình nhờ tiền tệ
+ Ông phân biệt ba loại trao đổi:
• H - H: trao đổi tự nhiên
• H - T - H: chu chuyển hàng hoá
• T - H - T: đại thương nghiệp
Hai loại đầu là hoạt động kinh tế, loại sau là hoạt động sản xu ất của cải Ông phản đối loại này,
vì cho rằng nó trá i với tự nhiên và có quan hệ đến
sự biển lận
3.2 Ở La Mã
- Katôn (234 - 149 trước công nguyên)
Trang 18Những quan điểm kinh tế của ông được thể
hiện trong các tác phẩm Nghề nông:
+ Chủ trương "chỉ tiêu ít hơn và kiếm lời nhiều hơn"
+ Xem lợi nhuận thương nghiệp là sô" trội ra trên giá trị (sai lầm)
+ Đặc biệt, ông dành nhiều sự chú ý đến vấn đề
tổ chức lao động của nô lệ trong điều kiện đôi kháng giai cấp
- Varôn (116 - 27 trước công nguyên) và Kalimen (thế kỷ I trước công nguyên).
Trong các tác phẩm của mình, cũng như Katôn, các ông ủng hộ và chú ý đến các biện pháp tô chức lao động
Tóm lại, xem xét các quan điểm kinh tê của các
nhà tư tưỏng cổ đại, có thể thấy mặc dù do những hạn chế của lịch sử, những tư tưởng kinh tế của họ, nhất là ở phương Đông đã khá trưởng thành, đặc biệt là những ý kiến của họ về quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã tỏ rõ sự thiên tài và tính đặc sắc
II- TƯ TƯỞNG KINH TẾ PHONG KIÊN
1 Tư tưởng kinh tế thời trung cổ
- Chế độ phong kiến trên th ế giới ra đời trong những thòi gian khác nhau (Trung Quốc vào thế
kỷ II trước công nguyên; Tây Âu: th ế kỷ V - VI)
Trang 19Trong xã hội phong kiến, tôn giáo là hình thức tư tưởng chiếm độc tôn nền sự phát triển của khoa học nói chung và tư tưởng kinh tế nói riêng bị bóp nghẹt dưới quyền lực của tôn giáo.
Nét đặc trưng chung của các tư tưởng kinh tê thời kỳ này là coi chế độ phong kiến là tự nhiên, thuận ý trời Việc nghiên cứu quan hệ hàng hoá - tiền tệ được chú ý nhằm bảo vệ lợi ích cho tầng lớp quý tộc M àu sắc tôn giáo bao trùm cả trong cách diễn đạt các quan điểm kinh tế Có thể nêu một sô"
tư tưởng chủ yếu:
1.1 Ở châu Á
Khu vực các nước Arập là nơi quan hệ buôn bán phát triển hơn cả, vì th ế tư tưởng kinh tế có sự trưởng th à n h n h ấ t định
Nhà tư tưởng sáng chói n h ất của chế độ phong kiến thời đó là Ipnơkhanđun (1332 - 1406)
- Ông chú ý nhiều đến của cải dưới hình thái hàng hoá và vạch ra luận điểm sâu sắc là "lao động chứa đựng trong các sản phẩm được biểu lộ ra với
tư cách là giá trị" Từ đó cho phép ông rú t ra kết luận: "các sản phẩm của lao động mua được bằng trao đổi ngang bằng theo giá trị", ô n g phân biệt giá trị vối giá cả thị trường Ông cho rằng, vàng và bạc là sự kết tinh (hiện thân) giá trị của tấ t cả
Trang 20những cái mà con người tạo ra bằng lao động của mình Rõ ràng, ông đã hiểu về giá trị của hàng hoá khá sâu sắc.
- Lợi nhuận thương nghiệp được ông xem xét đơn thuần theo kinh nghiệm là kết quả của việc mua rẻ bán đắt
- Lợi nhuận công nghiệp được ông giải thích là
do "những người giàu thuê một người nào đó, người này không nhận được vật thay th ế ngang giá với lao động của anh ta" 0 đây, ông đã tiếp cận với học thuyết giá trị thặng dư
- Ông cho rằng, phương tiện hiệu nghiệm nhất
để đạt được sự phồn vinh của đời sống xã hội là giảm quy mô thuế Rõ ràng, ông quan tâm đến những vấn đề của kinh tế hàng hoá, nhưng ông vẫn muốn duy trì chế độ phong kiến
1.2 ở Tây Ầu
Vì sự thể hiện đầy đủ nhất quan hệ phong kiến
là nhà thờ, do đó, tư tưởng kinh tế của các nhà "tôn pháp học" là đáng quan tâm hơn cả
- Tư tưởng trung tâm của họ là học thuyết về
"giá cả công bằng", coi nó như là sự sắp đặt của chúa trời Tuy nhiên, quan niệm về giá cả công bằng trong những thời kỳ khác nhau cũng khác nhau (có những biểu hiện không giông nhau)
+ Trong thời kỳ tiền trung cổ (thế kỷ VI đến
th ế kỷ XI) quan niệm về giá cả công bằng là muôn nói đến giá cả được so sánh bằng chi phí lao động
Trang 21Việc chiếm dụng lợi nhuận thương nghiệp và lợi
tức theo họ là vi phạm quy tắc trao đổi theo "giá cả công bằng" và đòi hỏi nghiêm cấm đại thương nghiệp và cho vay nặng lãi.
+ Vào thời kỳ sau (thế kỷ XIII - th ế kỷ XIV) thuyết giá cả công bằng được ph át triển phù hợp với việc bảo vệ lợi ích đẳng cấp Đại biểu lớn nhất của các nhà "tôn pháp học" lúc này là Tômát Đacanh Ông giối hạn việc trao đổi là hành vi
th u ần tuý chủ quan - sự bình đẳng về lợi ích Vì thế, ồng cho rằng "nếu một đồ vật đem lại ích lợi cho người này và th iệ t hại cho người khác thì trong trường hợp đó theo lẽ thường đồ vật bán được đắt hơn giá trị vốn có của nó, vì sự thêm vào sẽ bồi thường sự th iệt hại gây ra cho người bán do bị m ất
đồ vật này"
- Lợi tức được ông giải thích như là tiền công cho sự rủi ro hoặc như là "quà tặng hào hiệp" của người đi vay
- Địa tô theo ông là tiền trả cho chủ ruộng những lao động quản lý của họ đối với những ngưòi dưới quyền mình
Một số n h à kinh t ế tư sản đã viện đến sự giống nhau bề ngoài và cho rằng, học thuyết của Mác về trao đổi ngang giá là sự vay mượn ở các nhà "tôn pháp học" để chống lại Mác v ề điều này, Lênin đã kịch liệt bác bỏ
Trang 222 Những không tưởng xã hội cuối thời kỳ trung cổ
2.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm chung
Thế kỷ XV - XVII ở Tây Âu diễn ra quá trình tan rã của chế độ phong kiến và sự xuất hiện chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa phong kiến suy tàn càng bộc lộ tính chất ăn bám, thối nát của nó Sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản với những biện pháp khốic liệt của tích luỹ nguyên thuỷ khiến người ta e
sợ và mong muốn tìm kiếm cách giải quyết khác cho các vấn đề phát triển kinh tế Từ đó nảy sinh những không tưởng xã hội
Đặc điểm chung của nó là vừa có tính chất chông phong kiến, vừa chống chủ nghĩa tư bản, coi chế độ tư hữu là nguyên nhân của mọi tai hoạ Trên cơ sỏ phê phán đó, hình dung một xã hội tương lai tốt đẹp hơn Song, lại tìm những phương thức thực hiện nó thoát ly thực tế lịch sử
2.2 Các đại biểu không tưởng xã hội chủ yếu và
lý thuyết của họ
- Tômát Morơ (Thomas More, 1478-1535).
Tômát Morơ là nhà hoạt động chính trị lỗi lạc
và một nhà tư tưỏng sâu sắc của Anh
Trong tác phẩm Utôpi (xuất bản 1516), ông đã
Trang 23đưa ra sự phê phán sâu sắc với trình độ khái quát cao chủ nghĩa phong kiến thối n át và cả chủ nghĩa
tư bản mới báo tin sự xuất hiện của nó bằng sự kiện đẫm máu của cuộc cách mạng ruộng đất Ong chỉ rõ nguồn gôc sâu xa của mọi sự b ất công, áp bức bóc lột và cùng khổ là chế độ tư hữu Đổ thoát khỏi tình trạng đó, ông đề nghị xây dựng một chế
độ xã hội kiểu mới trong đó không có tư hữu, mọi người bình đẳng với nhau, sản xuất có tính chất công cộng tuy được phân bô" trong các phân xưởng
cá biệt, không có sự đốĩ lập giữa lao động trí óc và chân tay, giữa th àn h thị và nông thôn, sản phấm được phân phôi cho tiêu dùng cá nhân theo nhu cầu Chế độ chính trị mang tín h chất cộng hoà Nô
lệ vẫn được dùng để làm việc nặng nhọc, cơ sỏ kỹ
th u ậ t của sản xuất vẫn là th ủ công Rõ ràng, những mơ ước của ông đã thoát ly thực tế của thê
kỷ XVI Vì vậy, nó mang tính chất không tưởng
- Tômát Myntxe (Thomas Müntzer, 1490-1525).
Là nhà tư tưỗng sâu sắc và nhà cách mạng nhiệt thành, người cổ vũ về tư tưỏng, đồng thòi là một anh hùng của cuộc chiến tran h nông dân ở Đức
Trong khi phê phán xã hội phong kiến, ông đưa
ra cương lĩnh của mình muôn xây dựng một thiên đường ngay trên trái đất Đó là một chế độ xã hội
Trang 24không có giai cấp, không có tư hữu tư sản, không
có chính quyền nhà nước đốĩ lập và xa lạ với các thành viên trong xã hội V V Để thực hiện cương lĩnh của mình, ông đề nghị thành lập một liên minh, mời quý tộc và vua chúa tham gia, nếu từ chối sẽ bị thủ tiêu Cái chết đã buộc ông bỏ dở con đường cách mạng của mình
Là người cùng thời với T.Morơ, nhưng ông đã đi
xa hơn Morơ và đã dựa trên cơ sỏ cách mạng để tìm một giải pháp chín chắn hơn cho các vấn đề kinh tế - xã hội Song, ông vẫn không thoát khỏi tính không tưởng khi coi sự sụp đổ của chế độ phong kiến là sự tháng lợi của thiên đường trên trái đất Phát triển những ảo tưởng công xã của nông dân đến cực độ, trong thiên đường đó, ông dự kiến sẽ thủ tiêu chế độ tư hữu và thực hiện sự bình đẳng, bác ái Chính vì thế, ông đã thoát ly một cách vô vọng khỏi thực tế lịch sử
- Campanenla (Tomas Campanella, 1568-
1639)
Là nhà yêu nước, ông tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh cách mạng chông sự thống trị của nền chuyên chính Tây Ban Nha ở Calabrơ 27 năm trong tù, ông vẫn hy vọng về một xã hội tốt đẹp
hơn Trong cuốn sách Thành p h ố mặt trời được viết
Trang 25trong tù ngục, ông phê phán gay gắt chế độ phong kiến ở Ý, chỉ rõ chính chế độ tư hữu là nguyên nhân của mọi xấu xa đó Đồng thòi, để nhân loại đang đau khổ thấy viễn cảnh tương lai, ông phác hoạ một chế độ xã hội của th àn h phô" trê n một hòn đảo Taprôban - trong đó không có chê độ tư hữu, mọi người đều lao động và được ph át triển hài hoà, người nắm quyền do dân bầu ra Ông hướng về một nền kinh tê tự nhiên theo mô hình công xã nông nghiệp Trong xã hội đó, bọn quý tộc, thầy tu vẫn còn có quyền lực n h ất định Trong khi mô tả quốc gia không tưỏng đó, ông không nhìn thấy con đường đi đến xã hội đó Chính sự không tưởng đó
là m ặt yếu của ông
Trang 26tư bản chủ nghĩa ra đời Đây là thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản, khi kinh tê hàng hoá và ngoại thương đã phát triển gắn với những phát kiến về địa lý, những phát minh về khoa học tự nhiên cùng với làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của phong trào phục hưng chống tư tưởng đen tối thòi trung cổ, chủ nghĩa duy vật chông lại các thuyết giáo duy tâm của nhà thờ.Chủ nghĩa trọng thương phát triển một cách độc lập trong các nước khác nhau, phản ánh những
Trang 27đặc điểm của sự phát triển kinh tế của mỗi nước Đáng lưu ý hơn cả là những tư tưỏng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương ở Anh và Pháp với các đại biểu nổi tiếng Uyliam Stápphớt (1554-1612), Tômát Man (1571-1641), Mông Crêchiên (1575- 1629), Gi.B Cônbe (1619-1683).
2 Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương và các giai đoạn phát triển của nó
- Lý thuyết kinh tế trọng thương đánh giá cao vai trò của tiền (T), sùng bái tiền
+ Đồng n h ất tiền với của cải, với sự giàu có
+ Coi tiền là tiêu chuẩn để đánh giá sự giàu có của mỗi quốc gia, để đánh giá tín h hữu ích của mọi hình thức hoạt động nghề nghiệp Họ cho rằng, tiền là phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ
và phương tiện để th u lợi nhuận
- Coi hoạt động thương mại là phương tiện thực hiện tích luỹ tiền tệ Họ cho rằng, ngoại thương có
vị trí đặc biệt quan trọng - là loại hoạt động tạo ra của cải "Nội thương là hệ thông ông dẫn, ngoại thương là máy bơm Muôn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dẫn của cải qua nội thương"
+ Thương nghiệp là nguồn gốc tạo ra lợi nhuận
Nó là kết quả của việc mua ít, bán nhiều, mua rẻ,
Trang 28bán đắt mà có.
+ Đánh giá cao sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế thông qua chính sách, pháp luật v.v để đạt mục đích tăng khôi lượng T Chủ nghĩa trọng thương phản ánh lợi ích của giai cấp tư sản (thương nhân) Song, về mặt hình thức, nó vẫn nằm trong khuôn khổ của chế độ phong kiến, cho nên phần nào chủ nghĩa trọng thương đã nhượng
bộ giai cấp quý tộc phong kiến và trong một chừng mực nhất định nó phản ánh cả lợi ích của giai cấp phong kiến
Chủ nghĩa trọng thương ỏ châu Âu phát triển trải qua ba giai đoạn
- Giai đoạn 1: ở th ế kỷ XV-XVI (còn gọi là giai
đoạn học thuyết tiền tệ) Chủ nghĩa trọng thương đưa ra cương lĩnh kinh tế gọi là học thuyết tiền tệ, hay bảng cân đôi tiền tệ và cho rằng, nhà nước phải điều tiết lưu thông tiền tệ, thực hiện chính sách xuất siêu, nhập ít, cấm xuất khẩu tiền tệ, tăng thu tiền từ nước ngoài về, lập hàng rào thuế quan cao, giảm lợi tức cho vay, giám sát chặt chẽ thương nhân nước ngoài, buộc họ phải mua hàng hết số tiền sau khi bán hàng, không được đem tiền
về nước mình, các biện pháp ở giai đoạn này chủ yếu mang tính hành chính nhằm mục đích giữ khôi lượng tiền trong nước
Trang 29- Giai đoạn 2: ồ thê kỷ XVI - XVII (còn gọi là
giai đoạn học thuyết về bảng cân đối thương mại)
Do sự phát triển của sản xuất hàng hoá nội thương và ngoại thương nên học thuyết tiền tệ không còn phù hợp nữa và đã được thay th ế bằng học thuyết về bảng cân đối thương mại Theo Mác, đây chính là học thuyết trọng thương thực thụ ơ giai đoạn này, ngoài lưu thông tiền họ còn chú ý đến lưu thông hàng hoá để tăng khối lượng tiền trong nước Thực hiện chính sách bán nhiều, mua
ít, khuyến khích ph át triển công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, ph át triển m ạnh nội thương và ngoại thương, mở rộng xuất khẩu, cho phép nhập khẩu nhưng cấm nhập hàng xa xỉ, khuyến khích xuất thành phẩm, hạn chế xuất nguyên liệu thô, cho xuất khẩu tiền nhằm mục đích buôn bán (mua
rẻ bán đắt) để làm tăng khối lượng tiền đem về nước, các biện pháp h ành chính được thay th ế dần bằng các biện pháp kinh tế Qua hai giai đoạn phát triển chính là sự phản ánh các nấc thang phát triển về nhận thức và quan điểm kinh tế của chủ nghĩa trọng thương
- Giai đoạn 3: Quá trình tan rã của chủ nghĩa
trọng thương (từ th ế kỷ XVII)
Lực lượng sản xuất phát triển, các công trường
th ủ công phát triển mạnh, lợi ích kinh tế của giai
Trang 30cấp tư sản đã chuyển sang cả lĩnh vực sản xuất Thời kỳ tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản đã kết thúc, bắt đầu thòi kỳ phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa cho nên tính chất phiến diện của chủ nghĩa trọng thương đã bộc lộ rõ ràng Những
ảo tưởng về làm giàu, bóc lột nước nghèo thuần tuý nhò hoạt động thương mại không thể tồn tại Thực
tê đòi hỏi phải nghiên cứu một cách sâu sắc sự vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Đây là thời kỳ tan rã của chủ nghĩa trọng thương từ th ế
kỷ XVII, sớm nhất ở Anh - một nước phát triển nhất về kinh tế, chuyển sang giai đoạn hình thành
và phát triển của các trường phái kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, phát triển mạnh nhất ở Anh và Pháp
3 Đánh giá công lao và hạn chế của chủ nghĩa trọng thương
- Công lao: Chủ nghĩa trọng thương đoạn tuyệt
với những truyền thông kinh tế thời trung cổ là nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp Chủ nghĩa trọng thương tạo ra những tiền đề lịch sử cho kinh
tế chính trị học tư sản Lần đầu tiên trong lịch sử chủ nghĩa trọng thương đã tiến hành nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; đưa ra khái niệm về sự giàu có là T; bước đầu nêu ra bí
Trang 31m ật của công thức vận động tư bản và mục đích của nó là T - T' (T' > T) Chứng minh vai trò quan trọng của tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản và vai trò của nhà nước đối vối sự phát triển kinh tế.
- H ạn chế: Chủ nghĩa trọng thương ít tính lý
luận, mang nặng tính kinh nghiệm, thường được nêu dưới hình thức những lời khuyên thực tiễn chính sách, cương lĩnh, luật lệ V V
- Chỉ giới hạn nghiên cứu lĩnh vực lưu thông
- Không hiểu đầy đủ bản chất, chức năng của tiền
- Nặng về nghiên cứu các hiện tượng bên ngoài, không đi sâu nghiên cứu về bản chất của các hiện tượng Vì vậy, đã dẫn đến những quan niệm không đầy đủ
- Đ ánh giá sai về vai trò của các loại hoạt động kinh tế
- Trong khi đề cao vai trò nhà nước thì lại không thừ a nhận các quy lu ật kinh tế
- Đ ánh giá sai quan hệ trong trao đổi hàng hoá, vì cho rằng lợi nhuận thương nghiệp có được
là do kết quả của trao đổi không ngang giá, lừa gạt, rằng không có ai thu được lợi nhuận mà không dựa trên cơ sở làm thiệt hại người khác, dân tộc
Trang 32này làm giàu bằng cách làm thiệt hại lợi ích của dân tộc khác, tức là trong trao đổi phải có một bên thua và một bên được.
II - HỌC THUYẾT KINH TẾ c ổ ĐIÊN ở
PHÁP - CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG
1 H oàn cả n h r a đời và đ ặc điểm chủ yếuĐến giữa th ế kỷ XVIII, chế độ phong kiến ở Pháp đã khủng hoảng nghiêm trọng và trở thành phản động Phong trào đấu tranh chống chế độ phong kiến bảo thủ phát triển mạnh Trong khi đó chủ nghĩa trọng thương ở Pháp lại gắn liền VỚI lợi ích của chế độ phong kiến Chính sách của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương như: hạ giá hàng nông sản, tăng các loại thuế đánh vào nông dân Ngoài ra, nông dân còn phải nộp thuê cho nhà thờ và bị thương nhân bóc lột thông qua giá cả cánh kéo V.V Điều đó đã làm cho nền nông nghiệp Pháp suy tàn Trung tâm của các mâu thuẫn kinh tế diễn ra trong lĩnh vực nông nghiệp, bởi vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa trọng thương cùng với chế độ phong kiến đã gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ nông nghiệp và dẫn đến lý tưởng hoá nghề nông
Chủ nghĩa trọng nông ra đời trước cách mạng
Trang 33dân chủ tư sản Pháp (1789), là một trong những cơ
sở lý luận cho cuộc cách mạng này Nó mang tư tưởng giải phóng kinh tế nông dân khỏi những quan
hệ phong kiến
Đặc điểm chung của chủ nghĩa trọng nông là
đã chuyển đối tượng nghiên cứu sang lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, đánh giá cao vai trò của ngành nông nghiệp Coi nó là lĩnh vực duy n h ất tạo ra của cải cho xã hội Chỉ có lao động nông nghiệp mới là lao động có ích, lao động sinh lợi và nông nghiệp tạo ra sản phẩm thuần tuý cho xã hội Bởi vậy, muốn cho đất nước giàu có phải phát triển nông nghiệp Do thừ a nhận nguyên tắc trao đổi ngang giá, chủ nghĩa trọng nông đã phê phán một cách có hiệu quả quan điểm của chủ nghĩa trọng thương về vấn đề này
- Đại biểu của chủ nghĩa trọng nông là Ph.Kênê (1694-1774); A.R.Gi Tuyêcgô (1727- 1781)
2 Một số quan điểm kỉnh tế chủ yếu của chủ nghĩa trọng nông
2.1 Lý thuyết về sản phẩm thuần tuý (sản phẩm ròng).
Đây là trung tâm hệ thống lý luận của chủ nghĩa trọng nông Theo họ, sản phẩm th u ần tuý là
Trang 34số' chênh lệch giữa tổng sản phẩm và chi phí sản xuất.
Sản phẩm thuần tuý = sả n phẩm xã hội - Chi phí sản xuất
- Sản phẩm thuần tuý chỉ được tạo ra trong nông nghiệp Họ giải thích nguồn gốc của sản phẩm thuần tuý theo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên - do tự nhiên mà có Ph.Kênê viết rằng: "chỉ
có của cải dân cư ở nông thôn mới đẻ ra của cải quốc gia", "nông dân nghèo thì xứ sở nghèo" Còn công nghiệp không tạo ra sản phẩm thuần tuý vì trong công nghiệp, quá trình tạo ra sản phẩm chỉ
là quá trình kết họp giản đơn những chất cũ, không có sự tăng thêm về chất
2.2 Lý thuyết về lao động sản xuất và lao động không sinh lời
Từ lý thuyết về sản phẩm thuần tuý, Ph.Kênê đưa ra lý thuyết về lao động sản xuất và lao động không sinh lời Theo ông, lao động sản xuất là lao động tạo ra sản phẩm thuần tuý, lao động nào không tạo ra sản phẩm thuần tuý là lao động không sinh lòi Bởi vậy, chỉ có lao động nông nghiệp là lao động sản xuất, lao động công nghiệp
là lao động không sinh lòi Tuy vậy, ông không coi lao động công nghiệp là ăn bám vào nông nghiệp
Trang 352.3 Lý thuyết vê giai cấp
Từ lý thuyết sản phẩm thuần tuý, Ph.Kênê đưa
ra lý thuyết giai cấp Theo ông, xã hội chia thành
ba giai cấp: giai cấp sản xuất ra sản phẩm thuần tuý (gồm cả tư bản và công nhân nông nghiệp), giai cấp không sản xuất (gồm cả tư bản và công nhân công nghiệp) và giai cấp sở hữu (chủ ruộng)
Sau đó, A.R.Gi Tuyếcgô phát triển quan điểm này và chia xã hội th à n h năm giai cấp: giai cấp tư
sản sản xuất ra sản phẩm thuần tuý; giai cấp công nhân sản xuất ra sản phẩm thuần tuý; giai cấp tư
sản không sản xuất; giai cấp công nhân không sản xuất; giai cấp sở hữu (chủ ruộng)
2.4 Lý thuyết về tiền lương và lợi nhuận
Theo A.R.Gi Tuyếcgô, tiền lương của công nhân là th u nhập theo lao động, ông cho rằng: cần phải thực hiện "quy luật sắt về tiền lương" - tức là phải giảm tiền lương đến mức tốì thiểu, vì cung về lao động luôn lớn hơn cầu về lao động, còn lợi nhuận là th u nhập không lao động
- Đó là một phần lao động không được trả công của công nhân nông nghiệp
A.R.Gi Tuyếcgô là người đầu tiên nêu lên tư tưởng về lợi nhuận bình quân và xu hướng giảm sút tỷ su ất lợi nhuận
Trang 36Mặc dù ủng hộ quan điếm về sản phẩm thuần tuý, song ông đã đặt cơ sở bước đầu cho việc phân tích lợi nhuận trong công nghiệp.
tư bản phải là tiền được sử dụng để làm giàu
Chủ nghĩa trọng nông đã biết chia tư bản thành tư bản ứng trước lần đầu và tư bản ứng trước hàng năm, căn cứ vào phương thức chu chuyển giá trị của nó
Sau này gọi là tư bản cô" định và tư bản lưu
động
2.6 Lý luận về tái sản xuất xã hội
Một công hiến to lớn của chủ nghĩa trọng nông
là "Biểu kinh tế" của Ph.Kênê Nó phản ánh đầy
đủ các quan điểm kinh tê" chủ yếu của chủ nghĩa trọng nông, "Biểu kinh tế" được công bô" năm 1758, song những người đương thời chưa ai hiểu được nó
Trang 37Bởi vậy, tám năm sau (1766), ông phải xuất bản
một cuốn sách khác Phân tích biểu kinh tế để giải
thích biểu kinh tế
Trước hết, ông nêu các giả định sau: giá cả không biến động, không xét đến ngoại thương, xã hội được chia th àn h ba giai cấp: giai cấp sở hữu, giai cấp sản xuất ra sản phẩm thuần tuý và giai cấp không sản xuất ra sản phẩm thuần tuý
- Sản phẩm xã hội là 7 tỷ gồm: giai cấp sản xuất có 5 tỷ sản phẩm nông nghiệp, trong đó: 1 tỷ được dùng để khấu hao tư bản ứng trước lần đầu
(tư bản cố định); 2 tỷ là làm tư bản ứng trước hàng
năm (tư bản lưu động); 2 tỷ là sản phẩm thuần tuý Giai cấp không sản xuất có 2 tỷ sản phẩm công nghiệp, trong đó: 1 tỷ dùng để bù đắp cho tiêu dùng, 1 tỷ dùng để bù đắp nguyên liệu để tiếp tục tái sản xuất
- Giai cấp sở hữu có 2 tỷ tiền do giai cấp sản xuất trả
Quá trìn h vận động của sản phẩm và tiền trải qua năm h àn h vi (trong sơ đồ), kết thúc là giai cấp sản xuất bán 3 tỷ nông sản, có 5 tỷ tiền: 1 tỷ dùng
để m ua tư bản ứng trước lần đầu (tư liệu sản xuất), 2 tỷ trả cho giai cấp sở hữu, 2 tỷ nông sản dùng làm tư bản ứng trước hàng năm Giai cấp không sản xuất bán 2 tỷ sản phẩm công nghiệp
Trang 38thu 2 tỷ tiền, 1 tỷ dùng mua nông sản để tiêu dùng, 1 tỷ dùng mua nông sản làm nguyên liệu Giai cấp sở hữu có 2 tỷ tiền đã mua 2 tỷ sản phẩm (nông nghiệp và công nghiệp) để tiêu dùng.
Như vậy là có thể tiếp tục quá trình tái sản xuất giản đơn đúng với các giả định trên
Giai cấp sò hữu 2 tỷ tiền
1 ty tư liệu v ậ t liệu
Mác và nhiều nhà kinh tế khác đã đánh giá rất cao biểu kinh tế của Ph.Kênê: Mác nhận xét, việc làm này thực hiện vào giữa th ế kỷ XVIII thuộc thời
kỳ ấu trĩ của kinh tế chính trị là một tư tưỏng hết sức thiên tài, rõ ràng là một tư tưởng thiên tài nhất trong những tư tưởng mà khoa học kinh tế chính trị
đã đề ra cho đến bây giờ Ông gọi Ph.Kênê là cha đẻ của kinh tế chính trị học
Trang 39Công lao của Ph.Kênê thể hiện ở chỗ, ông đã đưa những giả định cơ bản là đúng, đã phân tích
sự vận động của tổng sản phẩm xã hội cả về hai mặt: giá trị và hiện vật, sự vận động của sản phẩm kết hợp sự vận động của tiền Tuân theo đúng quy luật: tiền bỏ vào lưu thông rồi quay trở lại điểm xuất phát của nó Tuy vậy, biểu kinh tế cũng thể hiện một sô" hạn chế n h ất định
3 Đánh giá công lao và hạn chế của chủ nghĩa trọng nông
Công lao: Từ những phần trìn h bày có thể rú t
ra những th àn h tựu hết sức quan trọng thể hiện bước trưởng th àn h n h ất định trong tư duy lý luận, trong phương pháp tiếp cận các hiện tượng kinh tế, phản ánh một giai đoạn mới - một cuộc cách mạng trong sự ph át triển tư tưởng kinh tế của th ế kỷ XVIII Điều này được thể hiện tập trung ở các vấn
đề chủ yếu sau:
- Chủ nghĩa trọng nông là học thuyết đầu tiên nghiên cứu, phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Thừa nhận tính quy luật của đời sống kinh tế -
xã hội
- Thừa nhận nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
từ lĩnh vực sản xuất
Trang 40- Thừa nhận nguyên tắc trao đổi ngang giá.
Hạn chế: Trong quan điểm của họ còn chứa
đựng tính chất phi lịch sử, lẫn lộn giữa các yếu tô"
khoa học và yếu tố tầm thường.
Chẳng hạn, coi của cải xã hội và khối vật chất
vô dụng là một, từ đó đi đến kết luận chỉ có lao động nông nghiệp mới tạo ra của cải Lao động công nghiệp là lao động không sinh sản
Đồng nhất sản xuất tư bản chủ nghĩa với sản xuất nông nghiệp, đồng nhất giá trị thặng dư với địa tô V.V
III - KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN c ổ ĐĨEN ANH
1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm chung
Cuộc cách mạng công nghiệp ỏ Anh bắt đầu từ những năm 60 của thê kỷ XVIII đã làm cho chủ nghĩa tư bản Anh phát triển mạnh: sản xuất phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển các công trường thủ công trong lĩnh vực sản xuất, thương nghiệp, xuất khẩu đã phụ thuộc vào sản xuất Đây
là lĩnh vực tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản Giai đoạn tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản kết thúc Phong trào đấu