1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Kinh tế chính trị Mác - Lênin bài giảng dùng cho sinh viên kinh tế. Tập 1 Những vấn đề chung của kinh tế chính trị, kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa

259 2,9K 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 259
Dung lượng 8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế Chính trị học Mác - Lênin xem xét các yếu tố của nền sản xuất trên co cd phan biệt vai trò của nó trong một quá trình sản xuất sản phẩm trực tiếp hoặc của nền sản xuất xã hội nói

Trang 1

— BỘ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRI

‘TRUONG DAI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Chấp hành chủ trương đổi mới các môn học trong trường, trong đó có môn Kinh tế Chính trị học nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngủ cán bộ Quân lý Kinh tế và Kinh doanh giỏi trong nền Kinh tế hang hóa nhiều thành phân theo định hướng Xã hội Chủ nghia ở nước ta; Bộ

- môn Kinh tế Chính trị trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh tổ chức biên soạn mới hệ thống bài giảng kinh

tế chính trị để kịp thời phục vụ việc học tập của sinh

viên

Tập bài giảng Kinh tế Chính trị này được soạn căn cứ theo chương trình môn học của Bộ Giáo Dục và Đào tạo ban hành tháng 9 - 1991 cho các trường Đại học thuộc khối kinh tế trong cả nước; đồng thời có tham khảo tập bài giảng của bộ môn Kinh tế Chính trị Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (do NXB Sự thật xuất bản tháng

1 - 1992)

Do trình độ và thời gian có hạn, tập bài giảng này khó tránh khỏi còn nhứng hạn chế và thiếu sót Bộ môn

và tập thể tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến góp

ý xây dựng của bạn đọc để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện đần môn học trong thời gian tới

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT NHUNG VAN DE CHUNG CUA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Bai 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠI,f+ PHÁP CUA KINH TẾ CHÍNH TRI

I NÊN SẢN XUẤT XÃ HỘI

1/ Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống

xã hội :

Để tồn tại, người ta phải có cơm ăn, áo mặc, nhà ở Muốn có nhứng của cải ấy, người ta phải gẩở tạo ra chúng, nghĩa là phải sản xuất ra chúng Hơn nứa, việc sản xuất

ấy là một hoạt động không ngừng và với một qui mô ngày càng mở rộng

Hoạt động sản xuất là một hoạt động đặc trưng của con người, nó khác căn bản với các hoạt động sinh tồn mang tính chất bản năng tự nhiên của loài vật Sự khác biệt ấy biểu hiện ở những nét cơ bản sau : hoạt động sản

xuất, Đó làj

+ Hoạt động có mục đích có ý thức

T° Biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động

- Không chỉ tiếp nhận các sản vật của 'tự nhiên mà còn biết cải tiến chúng ngày càng sâu sắc

Đời sống của xã hội loài người có nhiều mặt hoạt động phong phú và có quan hệ mật thiết với nhau như : chính trị văn hóa - nghệ thuật, tôn giáo, khoa học, lao động sản

Trang 4

xuất và dịch vụ Xã hội càng phát triển, các hoạt động ấy càng phong phú và với trình độ cao hơn ¬

Tuy nhiên, hoạt động lao động sản xuất bao giờ cúng

là hoạt động cơ bản nhất, là cơ sở của toàn bộ đời sống

là gì?

Theo quan điểm của các Nhà kinh tế hục tư sản, đó

là : Lao động, Đất đai và Tư bản, tuy nhiên, nội dung của các thuật ngữ lao động và tư bản có sự khác biệt căn bản ' với quan niệm Mác - xít

Trang 5

Kinh tế Chính trị học Mác - Lênin xem xét các yếu

tố của nền sản xuất trên co cd phan biệt vai trò của nó trong một quá trình sản xuất sản phẩm trực tiếp hoặc của nền sản xuất xã hội nói chung, và chia ra : Sức lao động,

Tư liệu lao động và Đối tượng lao động

a) Lao động -

Sức lao động, với mỗi người, đó là tổng hợp thể lực

và trí tuệ, tức khả năng lao đông của người đó

Trên phạm vỉ rộng hơn, sức lao động là sức lao động

xa hội, là nhân lực Sức lao động xã hội hay nhân lực xã hội ở một thời điểm hay trong một giai đoạn nào đó được :

biểu hiện ở các khía cạnh :

- Thứ nhất : Số lượng người lao động, tức tổng số

nhân lực của xã hội

- Thứ hai : Trình độ đào tạo chuyên môn của người , lao động

- Thứ ba : Cơ cấu nhân lực, bao gồm một loạt các chỉ tiêu khác nhau như giới tính, độ tuổi ngành nghề, học vấn

Trong điều kiện lao động thủ công còn phổ biến thì vấn đề thể lực, vấn đề tống nhân lực có ý nghĩa quyết định bậc nhất

Còn trong điều kiện một nền sản xuất hiện đại, mặt

trình độ chuyên môn - mặt trí huệ của lao động, lại được đặt tên hàng đầu

` Sức lao động hay yếu tố con người bao giờ cũng là yếu tố hàng đầu, cơ bản của bất kỳ nền sản xuất nào Bởi

lẽ, suy cho cùng, chính con người tạo ra mọi khoa học và công nghệ

Trang 6

Sức lao động mới chỉ là khả năng lao động Để thực hiện quá trình sản xuất, sức lao động phải được đưa vào hoạt động, nghĩa là phải tiêu dùng nó Như vậy, lao động

là quá trình tiêu dùng hay sử dụng sức lao động

Sự phân công lao động xã hội càng cao, tính chất xả hội hóa của nên sản xuất càng cao và càng rộng thì tính chất xã hội của lao động càng cao Ngày nay, quá trình quốc tế hóa sản xuất đã bao hàm trong ì nó quá trình quốc

tế hóa lao động :

Cuộc Cách Mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện nay vừa là kết quả tất yếu, vừa là nguyên nhân thúc day việc không ngừng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn của người lao động Hiện nay, trên thế giới, do tính đa dạng và phức tạp của ,nền kinh tế thị trường hiện đại, sự hoàn thiện sức lao động diễn ra theo

ca hai xu hướng : chuyên sâu và đa năng

Nước ta, tính đến năm 1992 có hơn 70 triệu người với hun 34 triệu người lao động Song, chủ yếu là lao động thủ công với hơn 70% là lao động nông nghiệp Đó là cơ cấu nhân lực của một nước kém phát triển Tuy nhiên, nó cũng chứa đựng những tiềm năng : tính cần cù, sự khéo léo và trình độ văn hóa trung bình của dân cư khá cao

so với nhiều nước cũng có trình độ phát triển

b¿ Đối tượng lao động :

Đối tượng lao động là tất cả nhứng vật mà lao động tác động vào và làm biến đổi hình thái của' nó: tạo ra hình thái mới cho phù hợp với như cầu'của con người

- Đối tượng lao động tạo nên yếu tố vật chất của sản

phẩm

Trang 7

Đối tượng lao động gồm các loại : „

- Loại có sắn trong tự nhiên Loại này thường là đối tượng của các ngành công nghiệp khai thác Song, chỉ có

thể gọi là đối tượng lao động, trở thành đối tượng lao động, khi các yếu tố vật chất tự nhiên ấy được lao động của con

người hướng tới

- Loại đã qua chế biến, nghĩa là đã trải qua nhứng quá trình tác động của lao động ở các quá trình sản xuất trước đó Loại này được gọi là nguyên vật liệu

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ,

loại thứ nhất ngày càng được sử dụng một cách triệt để

và có hiệu quả nhưng có xu hướng ngày một khan hiếm,

còn loại thứ hai thì ngày càng phong phú, đa dạng và có chất lượng cao Vật liệu mới với chất lượng cao là một trong nhứng hướng phát triển chính của Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại

cj Tư liệu lao động :

Tư liệu lao động là một vật hay toàn bộ những vật

mà con người dùng để tác động vào đối tượng lao động trong quá trình sản xuất

Tư liệu lao động bao gồm :

- Công cụ lao động : là những phương tiện mà con người sử dụng để tác động trực tiếp vào đối tượng lao động Nó bao gồm các công cụ câm tay thô sơ cho đến các máy móc sản xuất biện đại nhất Như những hệ thống máy móc tự động với bộ điều khiến bằng máy tính hiện đại Thông qua công cụ lao động, lao động biến đối tượng lao động thành sản phẩm — -

9

Trang 8

- Hệ thống các yếu tờ vật chất phục vụ trực tiếp hay

_ gián tiếp cho quá trình sản xuất Thuộc nhóm yếu tố này

có thể kế : Nhà xưởng, kho bãi, công trình giao thông vận

Trong tư liệu lao động thì công cụ lao động là quan

trọng nhất Cồng cụ lao động biểu hiện một cách tập trung

nhất trình độ phát triển của một nên sản xuất xã hội, là tiêu thức cơ bản để phản biệt một thời đại kinh tế này với một thời đại kinh tế khác Về mặt kỹ thuật, xã hội loài người đã trải qua các thời đại : đồ đá củ, đồ đá mới,

đồ đồng, đồ sắt, thời đại công nghiệp cơ khí và ngày nay

là thời đại tự động, thời đại tin học 3

Ranh giới giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động chỉ có tính chất tương đổi, tùy theo chức năng mà nó đảm nhận trong mỗi quá trình sản xuất cụ thể

Đối tượng lao động và tư liệu lao động kết hợp lại thành tư liệu sản xuất

Tư liệu sản xuất là nhân tố khách quan của sản xuất, còn nhân tố con người xét theo khía cạnh là chủ thể của sản xuất là nhân tố chủ quản, tích cực và đóng vai trò quyết định -

3/ Sản phẩm xã hội :

Sản phẩm là kết quả của sản xuất

- Các sản phẩm vật chất hoặc phi vật chất được tạo ra

là nhằm thỏa mãn một như cầu nào đó của con người Mỗi sản phẩm cụ thể là kết quả của một quá trình sản xuất cụ thể và nhằm thỏa mãn một nhu cầu cụ thể của những đổi tượng nào đó

10

Trang 9

Còn sản phẩm xã hội là kết quả tổng hợp của nền sản

xuất xã hội Sản phẩm xã hội là một phạm trù kinh tế

phức tạp, thường được đo lường và biểu hiện bởi các chỉ tiêu kinh tế như : Tổng sản phẩm xá hội, Tổng sản phẩm quốc gia, Tổng sản phẩm quốc nội Khoa học thống kê sẽ

nghiên cứu sâu sắc và tỉ mỉ nội dung và cách tính của những chỉ tiêu này

Sản phẩm xã hội sau khi khấu trừ các khoản hao phí vật chất gọi là Thu nhập quốc dân Theo học thuyết giá

trị lao động, Thu nhập quốc dân là tổng số giá trị mới

sáng tạo của xá hội Trong hạch toán, Thu nhập quốc dân

còn được gọi là Sản phẩm xã hội thuần túy

Sản phẩm xã hội bao gồm : Sản phẩm vật chất và sản phẩm phí vật chất Trong sản phẩm vật chất lại bao gồm

- tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng

4/ Giới hạn về khả năng của nền sản xuất xã hội : Trong những điều kiện nhất định thì sản phẩm xã hội

có giới hạn nhất định, không phải muốn có bao nhiêu cũng

được Sản phẩm xã hội có được luôn luôn tùy thuộc một

cách chặt chẽ vào khả năng của nền sản xuất xã hội và

sự huy động các nguồn khả năng ấy vào sản xuất trong

thực tế

Khả năng sản xuất của xã hội bị giới hạn bởi :

- Số lượng tài nguyên và cơ cấu của nó

- Số lượng và chất lượng nhân lực

- Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ -

11

Trang 10

- Tổng quy mô về tích lủy của xã hội đến thời điểm

đó

- Khả năng trong hợp tác quốc tế,

Khi các nguôn tiềm năng được huy động tối đa và tối

ưu thì nên kinh tế sẽ đạt đến tống sản phẩm tiêm năng Khi vì một nguyên nhân nào đó như cơ chế quản lý chính sách kinh tế sai lâm, hoặc một môi trường Kinh tế Chính trị không thuận lợi mà các ngưồn tiềm năng không được huy động đây đủ, sử dụng không tối ưu thì tống sản phẩm thực tế sẽ thấp hơn tổng sản phẩm tiềm năng

Vì tiềm năng sản xuất của xả hội thay của mỗi doanh nghiệp cũng vậy) là có hạn, không thể sản xuất cái gì và bao nhiêu một cách tùy ý nên buộc con người phải luôn lựa chọn một cơ cấu tổng sản phẩm về mặt hiện vật sao cho hợp lý nhất

Chẳng hạn, khi tổng sản phẩm đạt đến giới hạn tiềm năng thì, người ta chỉ có thể tăng loại sản phẩm này trong khi phải giảm sản phẩm kia và ngược lại Không bao giờ người ta có thể đồng thời, trong những điều kiện tiềm năng không đối, tăng đủ mọi thứ

Giới hạn vê khả năng sản xuất là biểu hiện của các quy luật vê sự khan hiếm Quy luật này buộc người ta phải lựa chọn và được biểu hiện qua sự lựa chọn của xã hội Trong cơ chế thị trường cạnh tranh, hoàn hảo, sự lựa chon nhu vay hoàn toàn được thực hiện bởi thị trường Còn trong nền kinh tế hỗn hợp hay nền kinh tế thị trường

có điều tiết, có sự kết hợp giửa sự lựa chọn tự phát của thị trường là chủ yêu với sự lựa chọn tự giác của xã hội

Trang 11

Tuy nhiên giới hạn về khả năng sản xuất của xã hội

không phai là mọt dại lượng bất biến Khi các nguồn khả

năng thay đổi thì giới hạn đó cúng thay đổi Chẳng bạn,

sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ có thể làm thay đổi nhanh chóng sự giới hạn ấy

Í PHƯƠNG THỨC SẢẲN XUẤT XÃ HỘI

Trong quá trình sản xuất con người, một mặt tác động

vào tự nhiên và mặt khác, tác động lẫn nhau Nói cách khác, con người ta một mặt lu‘ a lao động trong tự nhiên

và với tự nhiên; mặt khác luô lao động trong xã hội và

cing với xã hội Điều này đi biểu hiện hai mặt của nền

sản xuất xã hội : Lực lượng -án xuất và Quan hệ sản xuất

lf Luc lượng sản xuất :

Lực lượng sản xuït là nội dung vật chất của nền sản

xuất xã hội, bao gồm các yếu tố :

- Tư liệu sản xuất

- Người lao động với nhứng khả năng thể lực và trí tuệ để sáng tạo và sử dụng các tư liệu sản xuất nhằm sản

xuất ra các sản phẩm cho xá hội và bản thân

Từ khi có cuộc Cách Mạng khoa học kỹ thuật thì khoa

học - kỹ thuật đã trở thành một yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất phản ánh năng lực sản xuất và

trình độ chỉnh phục thiên nhiên của con người trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử Trình độ phát triển của

lực lượng sản xuất biểu hiện ở :

13

Trang 12

- Trình độ phân công lao động xã hội

- Trình độ chuyên môn của người lao động

- Sy: phat triển tương ứng của tư liệu lao động, trước hết là của công cụ lao động

Lực lượng sản xuất luôn tồn tại, phát triển với tư cách

là lực lượng sản xuất xã hội Nền sản xuất do đó bao giờ cũng mang tính chất xã hội

Lực lượng sản xuất không ngừng phát triển và hoàn thiện về mọi yếu tố của nó Ngày nay, lực lượng sản xuất của nhân loại đã đạt đến qui mô và trình độ rất cao Song, điều quan trọng hơn là nó đang vận động, đang biến đổi với một tốc độ cực kỳ nhanh chóng Vì vậy, bất kỳ dân tộc nào, chỉ chậm lại một thập kỷ là đã bị lạc hậu rất xa

về trình độ tiên tiến Đương nhiên, lực lượng sản xuất khong phai là cái gì tự thân vận động Động lực sâu xa

và chung nhất của nó là lợi ích của con người Không có động lực ấy, không có bất cứ sự phát triển nào

2/ Quan hệ sản xuất :

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất,

nó phản ánh nhứng mới quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất xã hội : sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng

Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ kinh tế - tổ chức

và quan hệ kinh tế - xã hội

Quan hệ kinh tế - tổ chức xuất hiện trong quá trình

tổ chức sản xuất, nó vừa biểu hiện quan hệ giữa người với người, vừa biểu hiện “trạng thái tự nhiên - kỹ thuật” của nền sản xuất Quan hệ kinh tế - tổ chức biểu hiện trên

Ị 14

Trang 13

thực tế thông qua sự phản công lao động xã hội, sự chuyên môn hóa và hợp tác trong sản xuất, sự liên kết và cạnh tranh, quan hệ trong tổ chức quản lý thuần túy về mặt nghiệp vụ chức năng Quan hệ kinh tế - tổ chức phản ánh trực tiếp tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Có thể nói, đó là kênh trung gian để chuyển sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Quan hệ kinh tế - xã hội biểu hiện trên các mặt chủ ,

- Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hứu _ những điều kiện vật chất của sản xuất và do đó, trong việc chiếm hưu sản phẩm của lao động Nói gọn lại, đó là quan hệ sở hứu Quan hệ sở hứu vừa là quan hệ giữa người vừa là quan hệ giửa người với vat

- Địa vị của các giai cấp và tập đoàn xã hội trong sản xuất và những quan hệ lẫn nhau giửa các giai cấp và Tập đoàn ấy Điều này xác định các quan hệ chủ - thợ, hay quan hệ hợp tác bình đẳng, và nó phân biệt với phương thức tổ chức, hay hệ thống tổ chức thuộc quan hệ kinh

tế - tổ chức

- Quan hệ giữa các giai cấp và tập đoàn xã hội trong

việc phân phối sản phẩm

Trong quan hệ kinh tế - xã hội thì quan hệ sở hứu

là quan hệ cơ bản, có tính xuất phát, bởi như KMar đã nói : “Sở hứu là điều kiện của sản xuất”.Song, quan hệ sở hữu lại chỉ được biểu hiện trên thực tế về mặt kinh tế thông qua quan hệ quản lý, và đặc biệt là quan hệ phân phối! Quan hệ phân phối biểu hiện mục đích lợi ích của

15

Trang 14

mỗi người Không được biểu hiện bằng quan hệ phân phối, quan hệ sở hửu và cá quan hệ quản lý sẽ không, có nội dung

Quan hệ sản xuất biếu hiện trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội với những hình thức cụ thể

3/ Phương thức sản xuất xã hội :

- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn có mối

quan hệ biện chứng với nhau theo quy luật quan hệ sản

xuất phải thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất bao gid cing

là nhân tố chủ động, quyết định Sự thống nhất gitta lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một giai đoạn nào đó hình thành nên "phương thức sản xuất xã hội"

Phương thức sản xuất xã hội luôn luôn biến đổi Sự biến đổi nầy trước hết bao hàm sự biến đổi trong ban than một phương thức sản xuất từ thấp đến cao - trước một

sự phát triển có tính chất tiệm tiến; và sau nửa là sự biến đổi từ phương thức sản xuất này sang một phương thức sản xuất khác cao hơn - tức một sự phát triển có tính chất cách mạng hay nhảy vọt Sự biến đổi của lực lượng

sản xuất quyết định sự biến đổi của chế độ xã hội Mọi

sự thay đổi của phương thức sản xuất bao giờ cúng bắt

đầu từ lực lượng sản xuất Song, đến lượt mình, quan hệ sản xuất cũng đóng vai trò tích cực trở lại, đó là khi chất

16

Trang 15

mới được biểu hiện ra bằng lượng mới Tuy nhiên không bao giờ được cường điệu vai trò tích cực của quan hệ sản xuất, đặc biệt là quan hệ kinh tế - xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, xã hội loài người đã trải qua các phương thức sản xuất xã hội : Công xã nguyên thủy, Chiếm hứu nô lệ, Phong kiến, Tư

bản chủ nghĩa, và ngày nay đang quá độ lên một phương

thức sản xuất mới : Phương thức sản xuất Xã hội chủ nghĩa

Trong một chế độ xã hội thì tống thể những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu xã hội và kinh tế, đóng vai trò

là Cơ sở hạ tâng của xã hội

Mỗi Cơ sở hạ tầng của xã hội lại nảy sinh một Kiến trúc thượng tang thích ứng với nó 5ự kết hợp và thống

nhất giửa các mặt này hình thành nên một Hình thái Kinh

tế Xã hội ,

4 QUY LUẬT KINH TẾ

1/ Quy luật Kinh tế và đặc điểm của nó :

Cả lực lượng sản xuất, và quan hệ sản xuất đều luôn

tồn tại trong trạng thái vận động Sự vân đông này được biểu hiện ra bên ngoài bởi vô số những hiện tượng quá

trình kinh tế phức tạp

Tuy nhiên giữa nhứng hiện tượng và quá trình kinh

tế ấy, củng như sự vận động của chúng, có nhứng mối quan hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Và trong vô số

những môi liên hệ và tác động này có nhựng mối liên hệ

Trang 16

fei tại, bền vửng và thường xuyên lặp đi lặp lại Đó chính

là những quy luật kinh tế

Hệ thống các quy luật kinh tế bao gồm ba nhóm chính: kinh tế kỹ thuật, kinh tế - tổ chức hoặc kinh tế - xã hội Với đổi tượng nghiên cứu của mình, Kinh tế Chính trị học chủ yếu nghiên cứu hai nhóm quy luật sau Kinh tế Chính trị Mác - Lênin đặt trọng tâm nhiều hơn vào nhóm quy luật thuộc các quan hệ kinh tế - xã hội, tuy nhiên trong điêu kiện xây dựng xã hội mới, việc đi sâu nghiên cứu các quy luật liên quan tới mặt kinh tế - tổ chức cũng là điều hết sức cân thiết

Cân phân biệt Quy luật kinh tế và Phạm trù kinh tế

- Quy luật kinh tế chỉ phản ánh các mối liên hệ bản chất, nội tại, bền vững giứa các quá trình và hiện tượng:

- kinh tế, Còn phạm trù kinh tế thì phản ánh một cách trực tiếp khách quan, trừu tượng bản thân các quá trình và: hiện tượng kinh tế ấy

Quy luật kinh tế có nhứng đặc điểm cơ bản sau đây:

- Quy luật kinh tế, củng giống như quy luật tự nhiên, đều mang tính chất khách quan Điều đó có nghĩa là, những điều kiện kinh tế nhất định sẽ nảy sinh nhứng quy luật kinh tế tương ứng Người ta chỉ có thể nhận thức và phát hiện ra các quy luật kinh tế chứ không thể sáng tạo hay gạt bỏ quy luật kinh tế Điều quan trọng là hoạt động đúng quy luật thì thuận lợi và thành công Ngược lại, hành động trái quy luật thì khó khăn và thất bại Không thể có chuyện chấp nhận hay không mà chỉ có vấn đề làm đúng hay không yêu cầu của quy luật kinh tế

Trang 17

So sánh một cách đơn giản, muốn bay vào vú trụ phải biết và thắng được sức hút của trái đất và lực ma sát Con người đã biết tất cả các quy luật đó, đã làm theo nó

_ Song quy luật kinh tế lại-có những đặc điểm riêng của

nó, khác vi các quy luật tự nhiên Đó là :

- Quy luật kinh tế là quy luật hoạt động của chính con người Người ta có thể biết hay không biết, tự giác hay tự phát, đúng hay sai trong hành động đổi với quy luật, nhưng quy luật kinh tế thì chỉ có thể biểu hiện thông qua hoạt động kinh tế của con người và được rút ra từ chính quá trình ấy

Chẳng hạn một người sản xuất nhỏ có thể chưa bao giờ biết quy luật kinh tế là gì, song anh ta biết rõ và luôn hành động theo nguyên tắc : Kinh doanh là phải có lãi Nghĩa là anh ta đã hành động theo đúng các quy luật của kinh tế hàng hóa và các quy luật ấy đã được biểu hiện và

rút ra từ nhứng hành động như vậy

- Quy luật kinh tế có tính lịch sử Điều đó có nghĩa: rằng điều kiện kinh tế nào thì có các quy luật kinh tế ấy Điều kiện kinh tế thay đổi thì quy luật kinh t& cing thay đổi

Nếu các điều kiện thay đổi mang tính chất tiên tiến thì các quy luật sẽ thay đổi về cường độ, phạm vi và hình

Nếu các điều kiện có sự thay đổi mang tính nhảy vợt thì sẽ có những quy luật tự mất đi và có những quy luật mới nảy sinh

19

Trang 18

Aristote, nha học giả lỗi lạc cổ đại Hy Lạp đã nói rất

có lý : “Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sóng” Cái chân lý giản đơn mà phức tạp ấy chỉ rõ : Không thể áp dụng máy móc, rập khuôn những kinh nghiệm dù

là tốt nhất

- Một đặc điểm quan trọng là các quy luật 4{inh tế không hoạt động riêng biệt mà là hoạt động trong một hệ thống các quy luật kinh tế

2/ Hệ thống các quy luật Kinh tế :

Tương ứng với một điều kiện Kinh tế của một giai đoạn phát triển nào đó, có không phải là một mà là nhiều quy luật kinh tế cùng hoạt động

Như đã đề cập ở trên, các quy luật:kinh tế không tồn tại và tác động một cách biệt lập mà mang tính chất hệ thống Điều đó có nghĩa là các quy luật Kinh tế luôn có mối liên hệ, ràng buộc, chỉ phối lẫn nhau

Và, vê mặt biểu hiện cụ thể, không có một hiện tượng | Kinh tế nào mà lại chỉ biếu hiện sự hoạt động của chỉ một quy luật Kinh tế nào đó

Hệ thống các quy luật Kinh tế có thể phân thành hai

- Một là : Các quy luật Kinh tế đặc thù, tức là các quy luật Kinh tế chỉ hoạt động trong một phương thức sản xuất nào đó, nó biểu hiện những mối liên hệ đặc trưng, riêng có và do đó mà phân biệt phương thức sản xuất này với phương thức sản xuất khác

20

Trang 19

Ví dụ : Phân phối bình quân là quy luật của công xã nguyên thủy Còn quy luật giá trị thặng dư là của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Hai là : Các quy luật Kinh tế chung, bao gồm : + Các quy luật Kinh tế hoạt động trong tất cả các phương thức sản xuất xã hội Chẳng hạn : Quy luật tăng năng suất lao động, quy luật khan: hiém

z + Các quy luật Kinh tế chỉ hoạt động trong một số _phương thức sản xuất, không phải chỉ trong một nhưng cũng không phải trong tắt cả các phương thức sản xuất Tiêu biểu cho nhóm này là quy luật giá trị quy luật cung cầu - những quy luật của mọi nền sản xuất hàng hóa Tuy là quy luật Kinh tế chung, song những điều kiện khác nhau, sự hoạt động củ: chúng cũng không giống nhau Các quy luật Kinh tế chung phản ánh sự phát triển biện chứng, sự kế thừa liên tụ.: trong quá trình vận động Chung và đặc thù Đó là mối quan hệ giữa tính thống nhất và tính mâu thuẫn, giữa cái chung và cái riêng trong Kinh tế

- 3/ Nhận thức vận dụng các quy luật Kinh tế :

Quy luật Kinh tế là quy luật hoạt động của con người Con người có thể hoặc là sự chịu sự tác động của quy luật một cách tự phát ngâu nhiên, hoặc là chủ động nhận thức

và vận dụng nó trong hoạt động Ninh tế của mình

, Con người vươn tới đỉnh cao của việ nhận thức và , vận dụng quy luật Kinh tế một cách tự giác, chủ động và -

do vậy, ngày càng hạn chế sự tác động tự phát, từ phía

sau lưng của các quy luật Kinh tế Dù quan điểm còn

21

Trang 20

nhiều khác biệt, song thực tế, ai cũng phải thừa nhận rằng, con người ngày càng chủ động hơn trong việc cân bằng nhu cầu, làm chủ giá cả thị trường, chủ động trong việc điều chỉnh lạm phát và thất nghiệp

Nhận thức và vận dụng các quy luật Kinh tế là một

quá trình phức tạp, khó khăn Nó là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào nhận thức chủ quan tuân thủ theo quá trình nhận thức : từ thực tiến khách quan đến

tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng trở vê thực

cụ thể và nếu có thể, phải được lượng hóa

- Hai là : Trên cơ sở nhận thức thực trạng nền Kinh

tế mà nhận thức các quy luật Kinh tế Nhận thức các quy

luật Kinh tế lại bao gồm :

+ Phát hiện các quy luật Kinh tế đang hoạt động

Trang 21

+ Xác định vị trí, nội dung và yêu cầu của mỗi quy luật

+ Xác định phương thức, cường độ và phạm vi hoạt

- Bốn là : Lựa chọn các phương pháp, phương tiện và hình thức kinh tế sao cho thỏa mãn tốt nhất, phù hợp nhất với yêu câu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao nhất

- Năm là : Tổ chức hoạt động để đạt đến các mục tiêu đề ra với các phương pháp, phương tiện và hình thức

Nhận thức và vận dụng các quy luật Kinh tế biểu hiện

ở mọi cấp và mọi khâu của nền Kinh tế Tuy nhiên vai trò nhận thức hoạch định, và tổ chức ở cấp vĩ mô là vô cùng quan trọng Ở đó, sự tham gia của các nhà khoa học, các nhà khoa học hàng đầu và sự sáng suốt quyết đoán của các trung tâm chính trị là quyết định

23

Trang 22

II ĐỐI TƯỢNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC

"Kinh tế chính trị là môn khoa học xã hội, nó nghiên cứu những cơ sở kinh tế chung của đời sống xã hội, tức

là các quan hệ kinh tế trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người

Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ xã hội của con người hình thành trong quá trình sản xuất và tái sản xuất,

và vạch rõ 'nhứng quy luật liều tiết sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của cải đó trong những trình

độ nhất định của sự phát :riển xã hội loài người

Nói gọn lại, đối tượng các kinh tế chính trị là các quan hệ sản xuất,

Nhưng kinh tế chính :rị nghiên cứu các quan hệ sản xuất không phải một cách cô lập mà nghiên cứu trong mối liên hệ và sự tác động lắn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng

Các quan hệ sản xuất luôn phải phù hợp với một trình

độ nhất định của lực lượng sin xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, đầy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Nghiên cứu quan hệ sản xuất mà tách rời khỏi

Trang 23

lực lượng sản xuất sẽ không thấy được những quan hệ sản _ xuất nào còn phù hợp và tích cực, cân tạo điều kiện phát triển; những quan hệ sản xuất nào đã thật sự lỗi thời đang

dần biến mất, và không còn thúc đẩy nhanh quá trình ấy Tránh được điều đó trong lý luận và trong chính sách

kinh tế gây nên mới không phạm phải sai lầm do tính chủ

quan, duy ý chí

Kinh tế chính trị củng quan tâm đến mới liên hệ giữa

quan hệ sản xuất với kiến trúc thượng tầng, bởi vì các

quan hệ sản xuất là cơ sở cho kiển trúc thượng tảng Và kiến trúc thượng tầng, đến lượt nó, lại tác động trở lại quan hệ sản xuất, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Hơn nửa, trong xã hội hiện đại, một bộ phận quan

trọng của kiến trúc thượng tâng cúng đồng thời là nhứng yếu tố của cơ sở hạ tầng Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ này trở nên hết sức quan trọng

Cần phân biệt Kinh tế chính trị theo nghĩa rộng và

Kinh tế chính trị theo nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, Kinh

tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất vốn có của nhứng phương thức sản xuất khác nhau, thay thế nhau trong lịch

sử Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong tất yếu của các quan

hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất nhất định ở

những hoàn cảnh cụ thể nhất định

Nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu Kinh tế chính trị đòi hỏi phải kết hợp việc nghiên cứu Kinh tế chính trị theo nghĩa

rộng với kinh tế chính trị theo nghĩa hẹp Đề cập tới nhứng phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản và nghiên

cứu sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa chính là tạo cơ

25

Trang 24

sở cho việc nhận thức sâu sắc nhứng quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chú nghĩa xã hội ở nước ta _Kính tế chính trị nghiên cứu các quá trình kinh tế và hiện tượng kinh tế nhưng không dừng lại ở cái bề ngoài, cái hiện tượng đơn nhất; mà đi sâu để phát hiện cái bản chất, cái chưng, cái quy luật bên trong của các sự kiện kinh tế xa ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn Như vậy, Kinh tế chính trị học có một vai trò rất quan trọng : nó cung cấp những vấn đề thuộc nhận thức luận và phương pháp luận về kinh tế Nó là cơ sở cho các khoa học kinh tế chuyên ngành, và hơn nửa, cho các chính sách kinh tế trong thực tiến

2/ Chức năng của kinh tế chính trị :

Với tư cách là môn khoa học, Kinh tế chính trị trước - hết có chức năng nhận thức Chức năng này yêu cầu phải nghiên cứu và giải thích các quá trình và hiện tượng trong

Song Kinh tế chính trị nhận thức không phải để nhận thức Việc nhận thức này phải nhằm cải tạo thực tiến Vì thé, Kinh tế chính trị không chỉ dừng lại ở việc tiếp cận một cách đơn thuần các sự kiện 'TLà môn khoa học cơ bản làm cơ sở cho các môn khoa học, về kinh tế và quản lý kinh tế, Kinh tế chính trị can x4m nhập, cần vận dụng lý thuyết kinh tế vào đời sống thực tế, Vì vậy, cùng với chức năng nhận thức lý luận, kinh tế chính trị còn có chức

năng thực Hễn

Kinh tế chính trị học luôn luôn có chức nững tư tưởng

Những tư tưởng kinh tế phát sinh phát triển trong những

điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, mà những điều kiện 26

Trang 25

nay lại qui định sự hiện diện của các giai tâng xả hội khác nhau Vì vậy các tư tưởng kinh tế phải phục vụ cho mục đích của các giai cấp nhất định Thực tế lịch sử chứng minh chua bao giờ có tư tưởng kinh tế phi giai cấp

Cuối cùng, kinh tế chính trị có chức năng phương pháp

luận Nó hình thành nền tảng lý luận cho tổng thể các

"môn khoa học kinh tế khác, kể từ các môn kinh tế ngành

cụ thể (công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng vận tải, bưu

điện, du lịch ) cho đến các ngành chức năng (như lao

động, thống kê, kế hoạch, tài chính, lưu thông tÍền tệ )

và các khoa học kinh tế khác (địa lý kinh tế, dân số, lịch

sử kinh tế quốc dân )

3/ Sự cần thiết của việc nghiên cứu kinh tế chính tri hoc:

Với những chức năng trên, việc nghiên cứu kinh tế chính trị học là cần thiết không chỉ đối với nhứng người nghiên cứu khoa học kinh tế, đối với các cán bộ quản lý

kinh doanh, với những người có nhiệm vụ vạch ra đường hướng phát triển kinh tế của đất nước, mà còn cân thiết đổi với mỗi một con người, một gia đình trong xã hội

Trong cuộc sống đời thường chúng ta luôn gặp nhứng vấn đề của kinh tế chính trị học Không có một ai lại

không quan tâm đến vấn đề : làm thế nào để có thu nhập

và sử dụng thu nhập đó như thế nào Và đó là những vấn

Trang 26

mà những kiến thức cơ bản kinh tế chính tri hoc sé, lam

cơ sở cho sự nắm bắt đó

Việc nghiên cứu kinh tế chính trị học là càn thiết cho

nhứng người làm nhiệm vụ xây dựng các đường lối phát triển kinh tế của một nước Ở đây, không nên nhằm lẫn

kinh tế chính trị học với các đường lối, chính sách kinh

tế của các Đảng lãnh đạo và các Nhà nước

Kính tế chính trị là khoa học lịch sử vẻ nhứng quy luật vận động nội tại của các nền kinh tế, Còn đường lối chính sách là sự vận dụng nguyên lý kinh tế chính trị trong những điều kiện lịch sử, cụ thể của từng giai đoạn, tng nước Vì vậy, kinh tế chính trị học là cơ sở của đường lối chính sách kinh tế Có thể xuất hiện khoảng cách giữa nguyên lý kinh tế chính trị và đường lối chính sách của Đảng Nhà nước, tuy nhiên sự tách biệt này càng nhỏ thì hiệu lực của đường lối chính sách càng cao Muốn có sự tách biệt nhỏ, đội ngủ những người lập đường lối, chính sách phải nhuân nhuyễn nhứng nguyên lý kinh tế chính

trị học

Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc nghiên cứu kinh tế chính trị học càng cần thiết Từ sau Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề đổi mới tư duy lý

luận được đặt ra một cách cấp bách Trong quá trình này,

tầm quan trọng của việc nghiên cứu kinh tế chính trị học càng tăng lên, báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung

ương tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII viết :

“Khoa học xã hội phải góp phần xứng đáng trong việc đổi mới tư duy, xây dựng luận cứ khoa học cho con người

đi lên chủ ngĩa xã hội ở nước ta, xây dựng lập trường, 28

Trang 27

quan điểm ý thức và nhân cách đứng đắn, khắc phục những

tư tưởng sai lầm Trong nhửng năm tới, nhiệm vụ chủ yếu

của các ngành khoa học xã hội là vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

tổng kết kinh nghiệm thực tiễn ở nước ta và tiếp thu có

chọn lọc nhứng thành tựu khoa học của thế giới, nghiên cứu "nhứng vấn đề cơ sở lý luận để hoàn thiện và triển

khai Cương lính, chiến lược ốn định và phát triển kinh tế

xã hội và những văn kiện khác của Đại hội VII” (1)

IV LICH SU RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CUA KINH TE CHINH TRI HOC

Kinh tế chính trị trở thành khoa học độc lập kể từ

xã hội phong kiến suy đồi, phát sinh phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa, hình thành thị trường dân tộc ở các

nước phong kiến Tây Âu

(1) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII - NXB Sự thật 1991 tr.i80

Trang 28

Thuật ngứ kinh tế chính trị lần đầu tiên được kinh tế gia người Pháp là Montchrétien sử dụng vào năm 1615 và

từ đó được lấy làm tên cho môn khoa học này ˆ Trường phái kinh tế chính trị tư sản đầu tiên là Chủ nghĩa Trọng Thương Nó ra đời trong thời kỳ tích lúy nguyên thủy tư bản từ giửa thế kỷ XV đến giữa thé ky XVII Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị lúc này

là lĩnh vực lưu thông Các đại biểu Trọng Thương đánh giá cao vai trò của tiền tệ trong việc tích lủy của cải tạo

điều kiện cho sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; Họ nhìn thấy con đường để làm tăng của cải

là thương nghiệp, là ngoại thương, thực hiện bán nhiều mua ít Đồng thời họ đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế để tạo đíều kiện cho chủ nghĩa tư bản ra đời Theo đà xâm nhập của tư bản vào lĩnh vực sản xuất Những vấn đề kinh tế của sản xuất nảy sinh vượt quá khả năng lý giải của Chủ nghĩa Trọng Thương Do đó đòi hỏi phải có những lý thuyết kinh tế mới, và Kinh tế chính trị

tư sản cổ điển xuất -hiện

Là xu hướng tư tưởng kinh tế phát sinh trong thời kỳ hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Kinh tế chính trị Tư sản Cổ dién lần đầu tiên

đã chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất

Các đại biểu xuất sắc của trường phái này là William

Petty, F Quesnay, A Smith, D Ricardo, S Sismondi Ho

đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản của lý luận kinh tế chính trị học như lý thuyết : giá trị - lao động, tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản, tích lúy, tái sản xuất 30

Trang 29

Từ đó xây dựng lên hệ thống các phạm trù và quy luật kinh tế của môn khoa học này

Một trong số các đặc trưng của trường phái này là ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế Theo họ, hoạt động kinh

tế là tự do, do quy luật' kinh tế khách quan hay “Bàn tay

vô hình ” tự phát chỉ phối; Nhà nước không can thiệp vào kinh tế Họ cho rằng, sự hoạt động tự động của bộ máy

Cung - C7 hàng hóa trong môi trường cạnh tranh tự do dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, và động lực lợi nhuận sẽ tự động điều tiết nên kinh tế, đảm

bảo cho nó sự phát triển cân đổi, không có khủng hoảng

Song thực tế không diễn ra như vậy Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên năm 1825 và những cuộc khủng hoảng kinh tế tiếp theo đã bác bỏ tư tưởng tự do kinh tế của

trường phái cổ điển, đồng thời nó cúng thể hiện sự bất

lực của kinh tế chính trị tư sản cổ điển trước những hiện thực kinh tế mới Lý thuyết cổ điển bị suy đồi và lão hóa, đòi hỏi phải có những lý thuyết kinh tế mới thay thế nó Trong bối cảnh đó xuất hiện bai trào lưu cơ bản trong

"số nhiều trào lưu kinh tế chính trị học

Một là nhứng kinh tế gia tiếp tục lý thuyết tư sản cổ điển, đổi mới và phát triển nó dưới tên gọi mới là “Minh

tế học” Thuật ngữ “Kinh tế học” lần đầu tiên do các kinh

tế gia trường phái "Cổ điển mới" sử dụng và tiếp tục được

sự thừa nhận của các trường phái Keynas, tự do mới, kinh

tế học cấp tiến, v.v Ngày nay kinh tế học là đầu đề của

các sách giáo khoa nghiên cứu những nguyên lý kinh tế

chính trị ứng dụng vào thực tiễn quản lý kinh doanh ở các nước tư bản ^*ˆ =¬shïa

31

Trang 30

Hai là, kinh tế chính trị Mác - Lénin

3/ Kinh tế chính trị Mác - Lênin và vai trò của nó: Người sáng lập ra kinh tế chính trị Mác - Lênin là Karl Marx (1818 - 1883) Ông không chỉ kế thừa nhing hat nhân hợp lý trong kinh tế chính trị tư sản cổ điển

mà còn phát triển một cách xuất sắc và thực hiện một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế chính trị học Lý vduận giá trị thặng dư của Marx trình bày trong “Tư bản

Luận”,¿của học thuyết Marxjifong lý luận kinh tế của mình JMarx đã nghiên cứu hệ thống các phạm trù và quy luật của nèn kinh tế hàng hóa phát triển Sự phân tích sâu sắc bản chất chế độ tư bản chủ nghĩa của Marx đá dẫn tới kết luận về sự hạn chế lịch sử của phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa và sự thay thế tất yếu nó bằng một xã hội mới tốt đẹp hơn là chủ nghĩa cộng sản

Khi nghiên cứu những biện tượng mới trong sự phat triển của xã hội tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XIX 4u

thế kỷ XX, V.I Lênin đã tiếp tục phát triển kinh tế thính trị Mác xít, xây dựng kinh tế chính trị Mác - Lênin VỊ

Lênin chỉ rõ chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn mới,

giai đoạn độc quyền Ở giai đoạn này nhứng mâu thuẫn

vốn có của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc và tạo ra nhứng tiền đề trực tiếp cho công cuộc cải tạo xã hội theo tinh thần xã hội chủ nghĩa _

Kinh tế chính trị Mác Lênin là một môn khoa học, nó không ngừng phát triển và hoàn thiện Nhiệm vụ của mỗi thé hệ là phái làm cho nó ngày càng phản ánh sát đúng với đời sống kinh tế - xã hội sinh động -

32

Trang 31

V PHƯƠNG PHÁP CỦA- KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC

Mỗi khoa học, tùy theo đối tượng nghiên cứu, có phương pháp nghiên cứu riêng của nó Song mặt khác, tùy theo quan điểm, muc dich va góc độ tiếp cận đổi tượng, hại có thể có nhứng phương pháp, công cụ nghiên cứu khác nhau,

Trong Kinh tế chính trị học củng vậy

Đã có nhiều trường phái kinh tế học coi phương pháp hàm là quan trọng nhất Tiêu biếu là các nhà kinh tế học nổi tiếng A Marsheall, J.M Keynes Ho nghiên cứu các 'hiện tượng và quá trình kinh tế trên cơ sở lượng hóa và

do đó, nghiên cứu các mối tương quan về lượng Họ cho rằng, trong nghiên cứu kinh tế, cái quan trọng là quan hệ hàm, chứ không phải là quan hệ nhân quả

Kinh tế chính trị học Mác - Lênin đã lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận

Duy vật bởi lẽ, kinh tế chính trị học Mác - Lênin luôn lấy tồn tại khách quan của kinh tế, tức của nền sản xuất

xã hội làm đối tượng nghiên cứu và cho rằng sự thay đổi của nó là cơ sở cho mọi sự thay đổi xã hội và tư duy Biện chứng bởi lẽ nó nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế trong những mối liên hệ và phụ thuộc, thống nhất và mâu thuần, vận động và phát triển không ngừng

Phép duy vật biện chứng được vận dụng vào nhỉ» lĩnh vực khoa học Tuy nhiên tùy theo đối tượng nghiên :-ứu,

nó được sử dụng khác nhau và cùng với nhứng phương pháp cụ thể mang tính công cụ khác nhau,

43

Trang 32

Một công cụ hàng đầu của kinh tế chính trị là trừu tượng hóa khoa học Quá trình và hiện tượng kinh tế thì phong phú, đa dạng Bởi vậy, không thể hiếu được bản chất của nó nếu chỉ nắm lấy cái đơn nhất, mà phải nắm lấy cái phổ biến Đương nhiên, muốn nắm cái bản chất, cái phổ biến lại phải đi từ cái hiện tượng, cái đơn nhất, phải từ vô số cái ngẫu nhiên mà tìm ra cái tất nhiên Song, điều không kém phân quan trọng là, mỗi kết luận mang trạng thái lý luận khi trở lại cuộc sống, trở lại thực tiến kinh tế lại phải đi vào cái đơn nhất, cái riêng biệt,

do đó, phải cụ thể hóa trở lại, có như vậy, lý luận mới có sức sống thực sự

Kinh tế chính trị học Mác - Lênin còn sử dụng hàng loạt phương pháp khác như các phương pháp của toán học

và thống kê học để nghiên cứu mặt quan hệ về lượng ảnh hưởng như thế nào và phản ánh như thế nào đến mặt chất Phương pháp Lôgic được kết hợp chặt chẽ với phương pháp Lịch sử để nghiên cứu sự phát triển kinh tế như một quá trình có tính hệ thống

Tính đúng đấn của mọi phương pháp nhận thức sẽ được đo lường bởi chính thực tiễn đời sống kinh tế Thực tiến kinh tế vừa là cơ sở vừa là mục đích, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá tính đúng đắn của mọi học thuyết và phương pháp của nó

34

Trang 33

- Bài 2

X SẲẢN XUẤT HÀNG HOA

VÀ CÁC QUI LUẬT KINH TẾ CỦA NỀN SẲN XUẤT HÀNG HOÁ

1 NEN SAN XUAT HANG HOA :

1/ Sản xuất tự cung tự cấp và sản xuât hàng hoá :

_ Bản xuất hàng hoá là một hình thức vận động nhất

định, của nên sản xuất xá hội, được hình thành từ sự tan

rã của nền kinh tế tự nhiên Sản xuất hàng hoá đã tồn tại trong số một phương thức sân xuất, và ngày nay đóng

một vai trò to lớn trong sự vận động kinh tế của hầu hết

các quốc gia trên thế giới

Trong lịch sử, nên sản xuất hàng hoá là sự thay thế tất yếu nên kinh tế tự nhiên Sự thay thế này là một quá

trình lâu dài, và nó đã tạo nên một bước tiến nhảy vọt

trong sự phát triển nền sản xuất xã hội của nhân loại Sản xuất tự nhiên tự cung cấp là kiểu tổ chức kinh

tế dau tiên mà loài người sử dụng để giải quyết, theo

nhưng kinh nghiệm cổ truyền, những vấn đề cơ ban cia một nền kinh tế : sản xuất ra cái gì, sản xuất như thế

nào và sản xuất cho ai Trong nền sản xuất tự nhiên, sản phẩm sản xuất ra dể thỏa mán nhu cầu tiêu dùng nôi bộ trực tiếp của từng cá nhân, từng gia đình, hay từng địa phương, công xã, khu vực

35

Trang 34

Sản xuất tự nhiên là kiểu tổ chức sản xuất khép kín

trong phạm vi một đơn vị nhỏ, không cho phép mở rộng

quan hệ với bén ngoài vi vậy nó có tính chất bảø thủ trì trệ và bị giới hạn ở những nhu câu chật hẹp Sản xuất tự nhiên thích ưng với thời kỷ lực lượng sản xuất chưa phát

triển và lao động cøn là thú cổng nó chiếm địa vị thong

tri trong thời kỳ Công xả nưuyên thủy và tồn tại pho biến trong thi kỳ chim hưa nổ lệ Trong thời kỳ phong kiến, sẩn xuất †ự nhiẽn rồn tải dưới hình thức điền trang, thái

ấp của địa chứ và kình tế nông dân gia trưởng

Khi lye lượng sản xuất phát triển và hình thành sự phản công lao động xã hội, sự trao đổi hàng hóa dân dân xuất hiện Trao đổi hàng hóa một khi trở thành mục đích thường xuyên và phổ biến của sản xuất thì ra đời sản xuất hàng hóa

Sản xuới hàng hóa là một hình thái tổ chức nhất

định của nền sơn xuất xổ hội, trong đó cóc quan hệ kinh

tế được biểu hiện thông qua thị trường, thông qua việc mua bán sản phẩm lao động của con người

Về thực chất, sân xuất hàng hóa là sản xuất nhằm mục tiêu trao đổi Trong nền sản xuất này, quan hệ trao đổi lao động được thực hiện gián tiếp dưới hình thức trao đổi - mua bán sản phẩm; và tất cả các vấn dé co bản của nền kinh tế được giải quyết thông qua hệ thống thị trường, `

do thị trường quyết định

Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa là wae qua tat yéu cia qué trinh tan 14 cia nén sda xuất tự nhiên, Chinh nền kinh tế tr nhiên trong sự chuyển biến hết guc chậm chạn và lâu dài của nó đã tạo ra những diêu kiện vật chất cân thiết (như : phát triển lục lượng sản xuất, thực đá

Trang 35

hiện phân công lao động xã hợi, xác lập các mới quan hệ kinh tế ) cho sự ra đời của sân xuất hàng hóa Mặt khác, sản xuất hàng hóa một khi ra đời lại trở thành động lực mạnh mẽ nhất làm phá vỡ các quan hệ kinh tế lac hau :

và bảo thủ của nền kinh tế tự nhiên, thủ tiêu tính chất

lệ thuộc cá nhân trực tiếp của các quan hệ xã hội, và tạo

ra những điều kiện khách quan thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh chóng

3/ Cơ sở ra đời và tồn tại của nền sản xuất hàng hóa :

Sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau Cơ sở kinh tế - xã hội cua một nền sản xuất hàng hóa là sự phân công lao động xã hội

tò sự tách biệt về kinh tế giữa nhitng người san xudt do -các quan hệ sở hữu khúc nhau về tự liệu san xuất qui định Đó là những cơ sở chung của sự ra đời và tön tại của nên sản xuất hàng hóa Những cơ sở này là độc lập với những quan hệ sản xuất đặc thù của từng phương thức sản xuất riêng biệt

Phản công lao dong xa hội là sự chuyên rnôn hóa người sân xuất vào những ngành nghề khác nhau của xã, hội, mỗi người chỉ chuyên sản xuất một hay một vài loại sản phẩm nhất định song như câu sản xuât và tiêu dùng lại

đồi hỏi môi người phải có nhiều loại sẩn phẩm Vì vậy,

nay xinh yêu Cầu phát cố sự trạo đổi sản phám giứa những người Sản vuật Nhy vậy sự phân công lao động xa hội lam cho nhúng người sẵn xuất có môi hến hệ với nhau và phụ thuộc + › nhau

37

Trang 36

Ví dụ, trong điều kiện sản xuất tự cấp tự túc, một hộ gia đình có thể vừa trồng lúa, vừa tạo ra công cụ (cày, bừa, cuốc, ) lại vừa dệt vải Khi có phân công lao động

xã hội, một loại người (nông dân) sẻ chuyên môn hóa việc _ trông lúa, còn chế tạo công cụ sản xuất và dệt vải là do

người khác (thợ rèn và thợ dệt) đảm nhiệm Song người trồng lúa (nông dân) không chỉ cần có lúa để ăn mà còn phải có công cụ để sản xuất, vải để mặc cúng như người thợ rèn và người thợ dệt không thể chỉ sống bằng cày, bừa

và vải mà cần phải có lúa gạo để ăn Điều này làm cho giữa những người nông dân, thợ rèn, thợ dệt phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau Phân công lao động

xã hội, do đó là tiên đề khách quan của sản xuất hàng hóa

Tuy nhiên, trao đổi sản phẩm không nhất thiết chỉ được thực hiện dưới hình thức trao đổi hàng hóa Để có

sự trao đổi hàng hóa, ngoài điều kiện phân công lao động nói trên, còn cân một điều kiện khác, đó là sự tách biệt

Uề kinh tế giữa những ngu ` sản xuốt, hay nói cách khác

đi là sự hình thành uà nhé "riển của chủ thể kính tế độc lập uới nhau - các chủ sở hữu

"Quyền sở hưu của những người chủ khác nhau về tư liệu sản xuất đưa tới sự độc lập về lợi ích kinh tế của người sản xuất Mỗi người sở hứu có toàn quyền quyết định việc sử dụng tư liệu sản xuất và nhứng sản phẩm do

họ sản xuất ra Như vậy, quấn hệ sở hứu khác nhau về

tư liệu sản xuất đã chia rẽ những người sản xuất, tức làm cho họ tách biệt với nhau về mặt kinh tế Trong điều kiện

đó, người sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm người sản xuất kia thì phải dùng sản phẩm của mình làm phương

38

Trang 37

tiện để trao đổi, từ đó sản phẩm lao động trở thành hàng hóa Như vậy chính sự tồn tại của nhứng chủ thể kinh tế độc lập dựa trên một trạng thái nhất định của phân công

lao động xã hội đá làm cho sự trao đổi sản phẩm giữa những người sản xuất mang hình thức là một sự trao đổi

của nền sản xuất xã hội

3/ Mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hóa :

Khi sản phẩm lao động trở thành hàng hóa thì người sản xuất trở thành người sản xuất hàng hóa Lao động của người sản xuất hàng hóa uừa có tính chút xã hội, uừa

có tính chất te nhân cá biệt

Tính xá hội của lao động sản xuất hàng hóa thể hiện

& chổ, do sự phân công lao động xã hội nên sản phẩm lao động của người này trở nên cần thiết cho người khác, tức cần thiết cho xã hội Nói cách khác người sản xuất hàng hóa bị lệ thuộc vào hệ thống sản xuất và trao đổi của xã hội mà sự phân công của xã hội đã tạo ra ~

Con tinh chất tư nhân cá biệt thể hiện ö chổ việc sản

xuất cái gì, sản xuất như thế nào và cho ai là công việc

cá nhân của các chủ sở hứu về tư liệu sản xuất, do mỗi chủ sở hứu tự định đoạt Nói cách khác, mỗi người sản

39

Trang 38

xuất là chu thẻ kinh tế độc lập, có toàn quyên đối với hoạt động của mình

Như vậy, trong một nền sản xuất hàng hóa, địa vị của người sản xuất mang tính chất mâu thuẫn Lao động của

„người sản xuất hàng hóa bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính chất xa i hoi và tính chất tư nhản cá

Tính chát xã hội của lao động sản xuất hàng hóa chỉ được thừa nhận khi ggười sản xuất tìm được người mua trên thị trường và bán được hàng hóa do họ sản xuất ra, Nếu hàng hóa của họ không bán được tức là lao động cá nhân của họ không được thừa nhận là lao động xá hội và phát sinh ra mâu thuần Mâu thuẫn này không giải quyết được thì khả năng tồn tại bình thường về kinh tế của người sản xuất sẽ bị đe dọa

Như vậy, máu thuấn giữa tính chết xã Adi va tinh chát tư nhân cá biệt của lao động san xuất hàng hóa là mâu thuấn cơ bản của mọi nền sản xuất hàng hóa Mâu thuần này không ngừng được tái lập và nó chính là cơ sở của khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa

Đối với người sản xuất hàng hóa, để giải quyết mâu thuần không ngừng được tái sinh này, cần pHải cải tiến

kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động và dd tim được nhứng tín hiệu trên thị trường Chính trong phương thức hoạt động như vậy, người ta có thể thấy được động lực phát triển mạnh mê mà hình thức hàng hóa đã đem Jai cho nên sản xuất xã hội

Trang 39

4/ Ưu thế của sản xuất-'hàng hóa :

Sự phát triển hiện thức cho thấy rằng tới một trình

độ nhất định thì sản xuất hàng hóa là hình thức vận động thích hợp duy nhất của mọi nền sản xuất xã hội Có thể khẳng định rằng sản xuất hàng hóa, do nhưng ưu thế của

nó, là một giai đoạn tất yếu không thể bỏ qua đối với mọi nên sản xuất xã hội của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Vậy sản xudt hang hóa có những ưu thế gì?

Thứ nhất : Sự phát triển sản xuất hàng hóa làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, các hình thức tổ chức lao động xã hội như chuyên môn hóa, hiệp - tác hóa, tập trung hóa ngày càng phát triển; mối liên hệ

giửa các ngành, các.vùng ngày càng chặt chẽ Từ đó, tính

tự cấp tự túc và tính bảo thủ trì trệ của nền kinh tế bị xóa bỏ, quá trình xã- hội hóa sản xuất và lao động được đẩy mạnh

Thứ hai : Tính tách biệt kinh tế đòi hỏi người sản

xuất hàng hóa luôn phải năng động trong sản xuất kinh doanh để có thể tồn tại được trên thị trường Muốn vậy

họ phải ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến qui cách - mấu mã sản phẩm, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ v.v Từ đó năng suất lao động

cá biệt và năng suất lao động xã hội của nền sản xuất được kích thích gia tăng, lực lượng sản xuất được thúc đẩy phát triển

._ Thứ ba : Sản xuất hàng hóa, với vai trò ưu thế của

cơ chế thị trường, thường tỏ ra nhanh nhạy trong việc đáp ứng các nhu cầu phong phú đa dạng của xã hội, đồng thời

nó cũng có khả năng tự điều chỉnh cao để xác lập nhứng

sự cân bằng Vì vậy, sản xuất hàng hóa được coi là phương

4I

Trang 40

thức tiên tiến dé tổ chức và phát triển nên kinh tế - xã hội trong một xã hội văn minh hiện đại ‘

Sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài

Đầu tiên là Sản xuớ? hàng hóa giản đơn Đó là nền

sản xuất hàng hóa của nông dân và thợ thủ công dựa trên chế độ tư hứu về tư liệu sản xuất và sức lao động của ban thân người chủ sở hứu Sản xuất hàng hóa giản đơn

là kiểu sản xuất hàng hóa nhỏ dựa trên kỹ thuật thủ công

và lạc hậu, nó ra đời trong thời kỳ công xã nguyên thủy tan rá và còn tồn tại đến ngày nay

Trong các phương thức sản xuất tiền tư bảnchủ nghĩa, các quan hệ hàng hóa chỉ đóng một vai trò thứ yếu trong đời sống kinh tế Tuy nhiên với tính ưu việt của nó, các quan hệ này cúng đã tạo ra những khả năng tiềm tàng to_ lớn để phát triển lực lượng sản xuất, nhờ đó chúng ngày: càng mở rộng phạm vi hoạt động, và từng bước làm tan

rã các quan hệ kinh tế cổ truyền của các xã hội cổ đại,

nô lệ và phong kiến trung cổ

Khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, Sản xuất hàng hóa giản đơn chuyển thành Sdn xướt hàng hóa lớn Quá trình chuyển biến này diễn ra trong thời kỳ chuyển tiếp từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản Trong nền sản xuất hàng hóa TBCN các quan hệ hàng hóa trở thành hình thức vận động thống trị và phổ biến Sản xuất hàng hóa tự bản chủ nghĩa tồn tại trên cơ sở chế độ chiếm hứu

tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và quan hệ bóc lột lao động làm thuê Sự phát triển hình thái hàng hóa của các quan hệ kinh tế ở giai đoạn này đã dẫn đến

sự xuất hiện và cúng cố các mối liên hệ kinh tế trên phạm

42

Ngày đăng: 13/03/2015, 14:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thái  giá  trị  giản  đơn  hay  ngẫu  nhiên  thích  hợp  với  giai  đoạn  đầu  tiên  của  trao  đổi  hàng  hóa - Kinh tế chính trị Mác - Lênin  bài giảng dùng cho sinh viên kinh tế. Tập 1 Những vấn đề chung của kinh tế chính trị, kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa
nh thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên thích hợp với giai đoạn đầu tiên của trao đổi hàng hóa (Trang 54)
Hình  thức  chuyến  hóa  gây  ra  sự  lẫn  lộn  là  do  nhứng.  tình  hình  saư  đây  : - Kinh tế chính trị Mác - Lênin  bài giảng dùng cho sinh viên kinh tế. Tập 1 Những vấn đề chung của kinh tế chính trị, kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa
nh thức chuyến hóa gây ra sự lẫn lộn là do nhứng. tình hình saư đây : (Trang 145)
Hình  thức  tiền  lương  tính  theo  sản  phẩm  che  dấu  và-. - Kinh tế chính trị Mác - Lênin  bài giảng dùng cho sinh viên kinh tế. Tập 1 Những vấn đề chung của kinh tế chính trị, kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa
nh thức tiền lương tính theo sản phẩm che dấu và- (Trang 148)
Là  1  hình  thái  biếu  hiện  của  giá  trị  thặng  dư  hình  thành  trong  giai  đoạn  chủ  nghĩa  tư  bản  độc  quyền - Kinh tế chính trị Mác - Lênin  bài giảng dùng cho sinh viên kinh tế. Tập 1 Những vấn đề chung của kinh tế chính trị, kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa
1 hình thái biếu hiện của giá trị thặng dư hình thành trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền (Trang 232)
Hình  thức  tổ  chức  của  sở  hứu  này  bao  gồm  :  Các  ngành,  khâu,  lĩnh  vực,  xí  nghiệp,  đầu  mối,  then  chốt  và  trọng  yếu,  cùng  với  việc  nấm  hệ  thống  tài  chính,  ngân  sách,  ngân  hàng  Nhà  nước  là  những  bộ  phận  quan  trọng   - Kinh tế chính trị Mác - Lênin  bài giảng dùng cho sinh viên kinh tế. Tập 1 Những vấn đề chung của kinh tế chính trị, kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa
nh thức tổ chức của sở hứu này bao gồm : Các ngành, khâu, lĩnh vực, xí nghiệp, đầu mối, then chốt và trọng yếu, cùng với việc nấm hệ thống tài chính, ngân sách, ngân hàng Nhà nước là những bộ phận quan trọng (Trang 238)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w