1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ TÀI THẠC SĨ

18 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 173 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hướng dẫn học sinh tự học là phương thức dạy học phù hợp với quan điểm đổi mới giáo dục hiện nay, trong đó học sinh tự lĩnh hội tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên, khơi dậy được ti

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông

Giáo dục- Đào tạo luôn được xem là nhân tố quan trọng, quyết định để phát huy tiềm năng tư duy sáng tạo của con người, đó là động lực quan trọng cho sự phát triển của xã hội

Thế kỉ XXI được xem là kỉ nguyên công nghệ thông tin, để không bị tụt hậu trong chặng đường thế kỉ này, chúng ta phải năng động, sáng tạo hơn

Do vậy, giáo dục cần có sự đổi mới để đào tạo ra những con người có thể đáp ứng được nhu cầu của thời đại mới

Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII và báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục- Đào tạo… Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”[] Đó chính là giúp người học tự nghiên cứu, tự điều chỉnh, chiếm lĩnh tri thức bằng các hoạt động của chính bản thân mình Người học sẽ trở thành trung tâm, chủ thể, được định hướng để tự mình tìm

ra kiến thức, chân lí Còn thầy giáo sẽ là người “đạo diễn”, tổ chức, định hướng cho học sinh khám phá ra “điều mình chưa biết” Làm được như vậy tức là chúng ta đã chuyển từ đào tạo sang tự đào tạo, tạo được tâm thế chủ động cho người học, phát huy được tiềm năng tư duy sáng tạo của mỗi cá nhân người học

1.2 Xuất phát từ việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa

Trong tình hình hiện nay, khi mà khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão, khối lượng tri thức ngày càng tăng, làm xuất hiện mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức cần dạy và cần biết cho học sinh là rất lớn Trong

Trang 2

khi đó thời lượng các tiết ở nhà trường là có hạn Dạy cho học sinh biết cách

tự học là trang bị cho các em cách thức để giải quyết mâu thuẫn đó

Một trong những phương tiện để tổ chức hoạt động tự học, phát huy được tính tích cực của học sinh là sách giáo khoa Hiện nay sách giáo khoa được biên soạn theo hướng đổi mới; nội dung kiến thức được triển khai ở nhiều “kênh” thông tin khác nhau như: Kênh hình, kênh chữ, sơ đồ, bảng biểu… Việc khai thác thông tin qua các kênh đòi hỏi người học cần phải có

kĩ năng, kĩ xảo Do đó đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hợp lí

Hướng dẫn học sinh tự học là phương thức dạy học phù hợp với quan điểm đổi mới giáo dục hiện nay, trong đó học sinh tự lĩnh hội tri thức dưới

sự hướng dẫn của giáo viên, khơi dậy được tiềm năng tư duy sáng tạo, tính tích cực chủ động của từng cá nhân học sinh Từ đó hình thành ở người học khả năng tư duy độc lập, có hệ thống trong việc lĩnh hội tri thức cũng như hình thành và phát triển ở các em khả năng hoạt động độc lập, tự chủ trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

1.3 Xuất phát từ đặc điểm nội dung phần di truyền học

Di truyền học có vị trí và ý nghĩa quan trọng trong chương trình Sinh học phổ thông Di truyền học nghiên cứu về các hiện tượng di truyền, biến dị

và tiến hoá, mối quan hệ của các hiện tượng di truyền đó với môi trường không chỉ ở cấp độ quần thể, quần xã mà giới thiệu cơ sở phân tử, tế bào và

cơ thể của các hiện tượng đó trên quan điểm xem thế giới sống là hệ thống

có tổ chức cao theo cấp bậc lệ thuộc từ đơn giản đến phức tạp như một thể thống nhất biện chứng Từ đó giúp học sinh giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên có liên quan đến di truyền, biến dị, giải các bài tập di truyền Trên cơ sở này, giáo dục và củng cố cho học sinh thế giới quan khoa học: Quan điểm duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng

Trang 3

Trong chương trình Sinh học phổ thông, di truyền học được phân bố ở đầu năm học 12 Khi đó học sinh đã bước vào giai đoạn trưởng thành về tâm sinh lí, có năng lực tư duy, năng lực tự học cao Vốn kiến thức về tự nhiên

và xã hội khá phong phú Vì vậy, khi giảng dạy, giáo viên có thể nâng cao vai trò chủ thể của học sinh bằng cách hướng dẫn và tổ chức cho học sinh tự học

Từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu tự học và hướng dẫn tự học phần di truyền học (Sinh học 12)”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Hình thành biện pháp hướng dẫn tự học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần di truyền học (Sinh học 12)

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Xác định cơ sở lí luận của hoạt động tự học và hướng dẫn tự học

- Đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinh tự học phần di truyền học (Sinh học 12)

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các phương án đề xuất

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Hướng dẫn học sinh tự học phần di truyền học (Sinh học 12)

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Sinh học 12

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học di truyền học 12 sẽ góp phần nâng cao tính tích cực, tự lực của học sinh đồng thời nâng cao chất lượng dạy học

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Trang 4

Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá… trong nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm:

+ Các tài liệu về đường lối của Đảng và nhà nước trong công tác Giáo dục, các văn bản về cải cách Giáo dục của Bộ Giáo dục- Đào tạo

+ Các công trình nghiên cứu khoa học giáo dục có liên quan

+ Sách giáo khoa Sinh học 12, sách giáo viên, thiết kế bài giảng Sinh học 12

6.2 Phương pháp thống kê toán học

Kết quả nghiên cứu được xử lí bằng thống kê toán học nhằm tăng độ chính xác cũng như sức thuyết phục của kết luận

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm có đối chứng song song

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ TỰ HỌC

VÀ HƯỚNG DẪN TỰ HỌC 1.1 Một số vấn đề về tự học và hướng dẫn tự học

1.1.1 Khái niệm về tự học và hướng dẫn tự học

a Hoạt động tự học

Học là một hoạt động đặc trưng của con người, trong đó người học đóng vai trò là chủ thể và tri thức khoa học là đối tượng cần chiếm lĩnh Do

đó, bản chất hoạt động học là sự chiếm lĩnh tri thức khoa học của người học Điều này xuất phát từ bản chất lao động học tập, người học tự cải biến mình

để trưởng thành về kiến thức, kĩ năng, thái độ Tuy vậy, trong hoạt dộng học cũng có hai trạng thái đó là: Học thụ động và học chủ động (học tích cực) Hoạt động tự học (self learning) là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định Như vậy, để hoạt động học có hiệu quả thì cần thiết phải chuyển hoạt động học từ trạng thái học bị động sang học chủ động

Hoạt động tự học có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau: Tự học có thể được tiến hành ngoài quy mô trường học, khi không có sự hướng dẫn cuả giáo viên, cũng có thể được tiến hành dưới sự hướng dẫn, định hướng của giáo viên Tự học có thể được tổ chức ở trên lớp

Trang 6

hoặc ở nhà Tự học trong khâu nghiên cứu tài liệu mới hoặc tự học với mục đích ôn tập, củng cố kiến thức

Tự học không có hướng dẫn: Đây là hình thức tự học sơ khai nhất Khi nhà trường chưa xuất hiện, con người đã biết tự học, tự mình chiếm lĩnh tri thức nhân loại hình thức tự học này xuất phát từ nhu cầu, hứng thú, ý chí nỗ lực phấn đấu, không ngừng học hỏi, vươn lên để tự chiếm lĩnh tri thức đang ngày càng đa dạng và phong phú Trong hình thức tự học không hướng dẫn, người học hoàn toàn được tự do về mục tiêu cũng như quy trình… do đó tính sáng tạo của chủ thể được bộc lộ tối đa Song, do không có sự định hướng, dẫn dắt của giáo viên, không có mục tiêu rõ ràng, cụ thể nên người học “thích gì”, “học lấy”, không đáp ứng được mục tiêu của giáo dục Mặt khác, do không được hướng dẫn về quy trình nên người học khó hình thành

kỹ năng, kỹ xảo tự học và chất lượng tự học chưa cao

Trong hình thức dạy học tập trung, giáo viên trực tiếp tổ chức, hướng dẫn qúa trình nhận thức của người học, còn người học phải đóng vai trò chủ thể nhận thức, tích cực huy động mọi phẩm chất tư duy cá nhân của mình để tiến hành các hoạt động học tập cụ thể nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành

kĩ năng, thái độ Giáo viên thường xuyên giúp đỡ, uốn nắn, bổ sung cho quá trình tự học của học sinh thông qua các hình thức kiểm tra Giáo viên và học sinh tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên theo kế hoạch dạy học chặt chẽ

Ngoài giờ lên lớp, có giáo viên trực tiếp giảng dạy, quá trình học tập của học sinh còn được tiến hành khi không có giáo viên, người học phải chủ động, tự sắp xếp kế hoạch phù hợp với các điều kiện mình có, huy động trí tuệ, kỹ năng của bản thân để học tập theo yêu cầu và hướng dẫn của giáo viên để học bài mới, ôn tập củng cố và mở rộng kiến thức, hoàn thành nhiệm

vụ học tập nói cách khác, giáo viên đã điều khiển gián tiếp quá trình tự học

Trang 7

của học sinh thông qua nhiệm vụ học tập được giao về nhà sau mỗi bài

giảng

Như vậy, khái niệm tự học là rất rộng, nó có thể diễn ra với người học

khi có giáo viên trực tiếp giảng dạy hoặc khi có sự điều khiển gián tiếp của

giáo viên, thậm chí khi không có giáo viên hướng dẫn song dù tổ chức dưới

hình thức nào, nó cũng thể hiện tính sáng tạo, độc lập trong suy nghĩ của

người học Có thể biểu diễn bằng sơ đồ các hình thức tự học như sau:

Hình 1.1 Sơ dồ các hình thức tự học

Tự học

Tự học không có

hướng dẫn

Tự học có hướng dẫn

Tự học ở trên lớp

Tự học

ở nhà

Trong khâu

nghiên cứu

tài liệu mới

Trong khâu ôn tập, củng cố kiến thức

Trong khâu nghiên cứu tài liệu mới

Trong khâu ôn tập, củng cố kiến thức

Trang 8

Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu hoạt động

tự học và hướng dẫn tự học ở trên lớp Như vậy, khái niệm tự học trong đề tài này được hiểu là hoạt động tự học của học sinh để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức trong chương trình thông qua sách giáo khoa, tài liệu tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên

b Hướng dẫn tự học

Trong hoạt động dạy học, dạy chính là sự tổ chức, điều khiển, tối ưu quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học để thông qua đó hình thành và phát triển nhân cách cho người học Hoạt động dạy có hai chức năng liên hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau đó là: “Truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động dạy học” [] Mối tương quan của hai chức năng này thường thay đổi theo lịch sử phát triển các phương pháp dạy học và việc lựa chọn các phương pháp dạy học

Trong hướng dẫn tự học chức năng của giáo viên là chức năng chỉ đạo,

ít mang tính “quyền uy” hay “mện lệnh” như hình thức dạy học cũ lấy giáo viên làm trung tâm

Từ quan điểm dạy học trên đây, có thể hiểu khái niệm hướng dẫn tự học

là sự hỗ trợ của giáo viên trong việc định hướng, tổ chức và chỉ đạo nhằm giúp học sinh tối ưu hoá quá trình tự lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo thông qua đó hình thành và phát triển nhân cách người học Nội dung việc đinh hướng bao gồm: Định hướng mục tiêu, nội dung, phương pháp học tập để học sinh tự phát hiện, lựa chọn Nội dung công việc

tổ chức, dẫn dắt của giáo viên bao gồm: Xác định mục tiêu, xây dựng các phiếu học tập với các câu hỏi, bài toán nhận thức, chuẩn bị tài liệu tự học, tổ chức thảo luận theo tập thể lớp, nhóm Khi đó giáo viên đóng vai trò là trọng tài, là cố vấn… để học sinh tự tổ chức hoạt động nhận thức nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập

Trang 9

c Hình thức tổ chức dạy học “Tự học có hướng dẫn”

Hình thức tổ chức dạy học là hình thái tồn tại của quá trình dạy học trong đó cốt lõi là cách dạy (của thầy) và cách học (của trò)

Tự học có hướng dẫn là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó thày đóng vai trò người định hướng, dẫn dắt và giúp đỡ để học sinh phát huy nội lực, tự mình chiếm lĩnh tri thức Như vậy, tự học và hướng dẫn tự học được xem xét không phải ở góc độ phương pháp hay biện pháp hỗ trợ dạy học mang tính đơn lẻ, mà là phương thức có sự thống nhất giữa hoạt động tổ chức, chỉ đạo của giáo viên với hoạt động tự tổ chức, tự điều chỉnh của học sinh, tạo thành một chỉnh thể nhằm đạt được mục đích dạy học, trong đó học sinh đạt hiệu quả tự học cao nhất

Những phân tích trên đây có thể biểu diễn bằng sơ đồ mối quan hệ giữa các thành tố trong mô hình tự học có hướng dẫn như sau:

Hình 1.2 Sơ đồ mối quan hệ giữa các thành tố trong mô hình tự học có hướng dẫn

Trong đó:

Trò: Chủ thể, trung tâm, tự mình tìm ra tri thức bằng hành động của

chính mình, tự làm ra sản phẩm ban đầu (tri thúc tự mình tìm ra) mang tính

Tri thức

Trò

Trang 10

chất cá nhân ( quá trình cá nhân hoá); người học không còn là “khán giả” thụ động ngồi xem thày “trình diễn” mà là những “diễn viên” tích cực của giáo dục

Lớp: Cộng đồng lớp học là môi trường xã hội trung gian giữa thầy và

trò, là nôi diễn ra sự trao đổi, giao tiếp, hợp tác giữa trò- trò, trò- thầy, làm cho sản phẩm ban đầu từng cá nhân làm ra mang tính chất xã hội (quá trình

xã hội hoá)

Tri thức: Do người học tự tìm ra, tự chiếm lĩnh với sự hợp tác của các

bạn và sự hướng dẫn của thầy

Thầy: Tác nhân, người hướng dẫn, tổ chức cho người học tự mình tìm

ra kiến thức thông qua một quá trình vừa cá nhân hoá, vừa xã hội hoá việc học Thầy là người đạo diễn”, kích thích hoạt động của người học, là người trọng tài, cố vấn, kết luận làm cho sản phẩm ban đầu trở thành sản phẩm thật

sự khách quan, khoa học

Như vậy, hình thức dạy học lấy học sinh làm trung tâm thực chất là một quá trình:

- Kết hợp quá trình dạy học với quá trình tự học, quá trình giáo dục với quá trình tự giáo dục;

- Kết hợp hữu cơ quá trình cá nhân hoá với quá trình xã hội hoá việc học

- Cộng hưởng dạy học với tự học, tạo ra chất lượng và hiệu quả giáo dục

1.1.2 Cơ sở lí luận của tự học và hướng dẫn tự học

a Cơ sở triết học

Theo quan điểm triết học: Kết quả hành động người bị chi phối bởi hai yếu tố, đó là nội lực và ngoại lực Học tạp là hoạt động cao nhất của con người, yếu tố ngoại lực trong học tập quan trọng, là sự tác động của giáo

Trang 11

viên, các điều kiện vật chất, tinh thần từ bên ngoài Yếu tố nội lực là vốn tri thức đã biết (cả kiến thức và kĩ năng), động cơ học tập, năng lực tự điều chỉnh bản thân…

Trong hai yếu tố trên, yếu tố được khẳng định có vai trò quyết định đó

là nội lực Do đó, hoạt động nhận thức tích cực của học sinh về bản chất là quá trình nhận thức song không phải hoàn toàn “khép kín” mà qúa trình tự học có sự “cộng hưởng” tối đa giữa ngoại lực và nội lực

b Cơ sở tâm lí lứa tuổi

Lứa tuổi trung học phổ thông bao gồm những em có độ tuổi 14- 18

Đó là những học sinh đang theo học từ lớp 10 đến lớp 12 Ở các trường phổ thông, lứa tuổi này hầu hết thanh niên học sinh đã phát triển hoàn thiện mọi mặt, cả về thể chất và tâm lí, hoạt động học tập trở thành trách nhiệm rõ rệt

Đặc điểm nổi bật về sự phát triển trí tuệ của thanh niên học sinh là: Tính chủ định, tính chủ động, tính tích cực, tính tự giác được thể hiện ở tất

cả các quá trình nhận thức Có thể nói năng lực tư duy và năng lực tưởng tượng cũng như các năng lực khác ở thanh niên được hoàn thiện nhanh chóng và có chất lượng cao

Cùng với sự phát triển về tự ý thức thì tự giáo dục, tự tu dưỡng cũng khá phát triển ở lứa tuổi trung học phổ thông Đối với các em, sự tự giáo dục, tự tu dưỡng là khát vọng, là nhu cầu khách quan để hoàn thiện mình, chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc sống tự lập Vì thế ở lứa tuổi này, tự giáo dục bắt đầu chiếm ưu thế nổi bật trong hệ thống giáo dục Học sinh từ chỗ là đối tượng của giáo dục dần dần họ trở thành vừa là đối tượng giáo dục, vừa là chủ thể giáo dục

Bên cạnh những ưu điểm trên, học sinh trung học phổ thông vẫn còn một số hạn chế như nhiều em kết luận vội vàng, chưa phát huy được năng lực độc lập, suy nghĩ đối với cuộc sống còn thiếu kinh nghiệm thực tế

Ngày đăng: 19/05/2015, 02:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức nào, nó cũng thể hiện tính sáng tạo, độc lập trong suy nghĩ của - ĐỀ TÀI THẠC SĨ
Hình th ức nào, nó cũng thể hiện tính sáng tạo, độc lập trong suy nghĩ của (Trang 7)
Hình thức tổ chức dạy học là hình thái tồn tại của quá trình dạy học  trong đó cốt lõi là cách dạy (của thầy) và cách học (của trò). - ĐỀ TÀI THẠC SĨ
Hình th ức tổ chức dạy học là hình thái tồn tại của quá trình dạy học trong đó cốt lõi là cách dạy (của thầy) và cách học (của trò) (Trang 9)
Hình 1.3. Mối quan hệ các thành tố cơ bản của quá trình dạy học - ĐỀ TÀI THẠC SĨ
Hình 1.3. Mối quan hệ các thành tố cơ bản của quá trình dạy học (Trang 12)
Hình 1.4. Mối quan hệ giữa vai trò của GV và hoạt động học của HS - ĐỀ TÀI THẠC SĨ
Hình 1.4. Mối quan hệ giữa vai trò của GV và hoạt động học của HS (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w