1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(đề tài thạc sĩ) nghiên cứu, đề xuất nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư điều khiển tàu biển

70 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 751,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ phân tích, đánh giá chất lượng đào tạo huấn luyện kỹ sư Điều khiển tàu biển hiện nay: Nội dung, chương trình đào tạo; đội ngũ giảng viên; đội ngũ sinh viên; cơ sở vật chất … Đề xuất hiệu chỉnh chương trình đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính thời sự và nhu cầu cấp thiết của đề tài

Nhân loại bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ trí tuệ mà con người giữ vai trò quyết định sự phát triển với xu thế toàn cầu, phát triển kinh tế tri thức, công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, hình thành nền văn minh trí tuệ Đó là

cơ hội và thách thức về yếu tố con người, về năng lực trí tuệ sáng tạo và ý chí vươn lên bền vững của con người, của cộng đồng và toàn xã hội ta để thoát khởi nghèo nàn, lạc hậu, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, phấn đấu 2020 cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp Muốn thực hiện thành công CNH và HĐH thắng lợi phải phát triển giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Để giáo dục và đào tạo phát triển đáp ứng được yêu cầu CNH - HĐH phải xác định rõ mục tiêu, xác định rõ quan điểm chỉ đạo đúng đắn, có những giải pháp và bước đi phù hợp, từng bước phát triển kinh tế tri thức nhằm xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh …Nhằm đạt được mục tiêu đó, Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ là nền tảng, động lực của sự CNH - HĐH

Với chiều dài bờ biển trên 3260 km, Việt Nam nằm trong tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, là quốc gia có vị trí địa lý cực kỳ thuận lợi để phát triển ngành vận tải đường biển và khai thác cảng biển Trong những năm đầu của thế kỷ 21, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách ưu tiên đặc biệt để phát triển nền kinh tế hướng ra biển Cụ thể:

Trang 2

Khoa học và công nghệ đã và đang phát triển mạnh mẽ như vũ bão, những thành tựu của nó được ứng dụng vào mọi lĩnh vực, trong đó có ngành hàng hải Trên các tàu biển hiện nay khoa học và công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi với mức độ tự động hoá cao, hiện đại … đòi hỏi cần có đội ngũ

sỹ quan và thuyền viên có trình độ cao để khai thác và sử dụng nó

Xu thế hội nhập, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, đã và đang diễn ra trên toàn thế giới Xu thế phát triển của ngành hàng hải đã có nhiều thay đổi, nhiều yêu cầu mới của các công ước quốc tế được bổ sung, hoàn thiện …

Nền kinh tế của đất nước đang trên đà phát triển, tốc độ tăng trưởng cao, lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, lượng hàng hoá thông qua các cảng biển, sản lượng vận tải, thị phần vận tải …hàng năm tăng theo Từ đó, đòi hỏi năng lực vận tải biển cần phải tăng lên tương ứng và thực tế đã chứng minh đội tàu vận tải của nước ta đã tăng lên nhanh chóng

Từ những lý do nêu trên, đòi hỏi đội ngũ sỹ quan, thuyền viên Việt Nam không những phải tăng nhanh về số lượng, mà còn phải giỏi, tinh thông nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ và tin học …đạt tiêu chuẩn quốc tế; nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển của ngành Hàng hải; làm chủ được khoa học và công nghệ; quản lý, khai thác và điều khiển tốt đội tàu buôn quốc gia và cung cấp thuyền viên cho đội tàu buôn thế giới

Thực hiện chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, cũng như nhiệm vụ mà Bộ GTVT đã giao Để đào tạo - huấn luyện nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước nói chung và ngành hàng hải nói riêng Trong những năm qua công tác đào tạo và huấn luyện của trường Đại học Hàng hải Việt Nam nói chung và khoa Điều khiển tàu biển nói riêng không ngừng phấn đấu, đổi mới để vươn lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đã đạt được những thành tựu đáng kể đóng góp nguồn nhân lực dồi dào cho nền kinh tế của đất nước và ngành hàng hải nói

Trang 3

riêng Chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao, quy mô ngày càng lớn mạnh cả trong và ngoài nước

Bên cạnh những thành tích đạt được trong công tác đào tạo - huấn luyện, khi tìm hiểu thực tiễn ta thấy: Hình thức tổ chức đào tạo - huấn luyện nguồn nhân lực nói chung, các kỹ sư Điều khiển tàu biển nói riêng còn nhiều hạn chế chưa đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của thực tiễn Khả năng thực hành còn kém, thiếu kinh nghiệm Sức khoẻ chưa tốt, tinh thần gắn bó với nghề chưa cao, chưa có tính chuyên nghiệp Yếu về ngoại ngữ, khả năng sử dụng tin học còn chậm, gây nhiều thiệt hại cho chủ tàu và công ty cho thuê tàu và cá nhân người lao động bị thiệt thòi Thái độ đôi khi thiếu nhiệt tình, chưa có tác phong công nghiệp, chưa ý thức được quan niệm “đi làm thuê” chưa quen với khái niệm làm thuê, hội nhập quốc tế Nhiều chủ tàu thường phải đào tạo và huấn luyện lại

Chương trình đào tạo chưa thật gắn liến với thực tiễn mang nặng tính lý thuyết, thời gian đào tạo dài, phương pháp đào tạo theo kiểu cổ điển, lạc hậu;

sự mềm dẻo và linh hoạt trong quá trình đào tạo còn gặp một số hạn chế, chi phí đào tạo cao …

Cơ sở vật chất nghèo nàn lạc hậu, thiếu tàu thực tập, thiếu các thiết bị

Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên Tôi xin

mạnh dạn lựa chọn đề tài “Nghiên cứu, đề xuất nâng cao chất lượng đào

tạo kỹ sư điều khiển tàu biển’’ là đúng đắn, rất cấp thiết phù hợp với xu thế

Trang 4

phát triển chung của ngành hàng hải, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi thực tiễn…Nó sẽ giúp cho các cơ sở đào tạo - huấn luyện hàng hải có cái nhìn bức tranh tổng thể việc đào tạo - huấn luyện hàng hải nói chung và kỹ sư Điều khiển tàu biển nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đưa ra cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về vấn đề chất lượng đào tạo - huấn luyện hàng hải

Từ phân tích, đánh giá chất lượng đào tạo - huấn luyện kỹ sư Điều khiển tàu biển hiện nay: Nội dung, chương trình đào tạo; đội ngũ giảng viên; đội ngũ sinh viên; cơ sở vật chất …

Đề xuất hiệu chỉnh chương trình đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Sinh viên trường Đại học Hàng hải và sinh viên khoa Điều khiển tàu biển đang học

Kỹ sư Điều khiển tàu biển sau khi tốt nghiệp làm việc trên đội tàu trong

và ngoài nước Đội ngũ thuyền viên, sỹ quan làm việc tại các công ty vận tải biển trong nước và xuất khẩu Chất lượng đội ngũ kỹ sư, thuyền viên sau khi

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu trên các văn kiện, nghị quyết, giáo trình, tài liệu, luật, bộ luật, tiêu chuẩn đánh giá, quy trình quản lý chất lượng (ISO)

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, phỏng vấn, hội

Trang 5

thảo, phân tích biện chứng và suy luận logic, tổng kết kinh nghiệm …

Phương pháp nghiên cứu phương pháp bổ trợ: Thống kê, biểu bảng, hình vẽ

Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp

đã đề ra, phù hợp với thực tiễn đòi hỏi, đáp ứng sự phát triển của ngành hàng hải Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Khẳng định tầm quan trọng, vai trò, cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc nâng cao chất lượng đào tạo - huấn luyện hàng hải nói chung và kỹ sư Điều khiển tàu biển nói riêng phù hợp với xu thế phát triển, xu thế hội nhập, từng bước tiến tới đạt chuẩn chất lượng quốc tế về đào tạo - huấn luyện hàng hải

Chỉ ra được những tồn tại và hạn chế trong công tác đào tạo - huấn luyện kỹ sư Điều khiển tàu biển

Xác định đúng đắn nhu cầu phát triển đội tàu trong nước, thế giới và dự báo được nhu cầu nguồn nhân lực hàng hải trong thời gian tới và những tiêu chuẩn họ phải đạt được

Đề cao vai trò của cán bộ quản lý, giảng viên cũng như việc ứng dụng

Trang 6

các phương tiện, trang thiết bị dạy học tiên tiến, hiện đại … trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập, đánh giá chất lượng đào tạo - huấn luyện …

Ý nghĩa thực tiễn

Xây dựng mới chương trình đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển một cách toàn diện, phù hợp với thực tiễn đòi hỏi, đáp ứng sự phát triển của ngành Hàng hải Việt Nam

Thực hiện xây dựng chương trình đào tạo gắn liền với các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo, đó là: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, chủ thể đào tạo (nhà giáo dục), đối tượng đào tạo (sinh viên), các điều kiện đào tạo (cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài chính, môi trường đào tạo), kết quả đào tạo (chất lượng và hiệu quả đào tạo)

Góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo - huấn luyện hàng hải, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng xu thế phát triển của đất nước trong quá trình hội nhập

Những kết luận và kiến nghị với các Bộ, Ngành, các cấp lãnh đạo quan tâm tới lĩnh vực Hàng hải về mọi phương diện để công tác đào tạo - huấn luyện hàng hải tiến tới đạt chuẩn khu vực và quốc tế

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO SINH VIÊN

TRONG LĨNH VỰC HÀNG HẢI HIỆN NAY 1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Hiện nay đã có công trình khoa học liên quan trực tiếp tới đề tài, luận văn thạc sỹ của Phạm Viết Cường “Giải pháp nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh quốc tế của xuất khẩu thuyền viên Việt Nam tới 2010’’, thực hiện

2003 Đề tài đã nghiên cứu và phân tích các vấn đề liên quan bao gồm:

Đánh giá thị trường thuyền viên thế giới và Việt Nam

Đánh giá thực trạng đào tạo thuyền viên - những vấn đề cần giải quyết trong công tác xuất khẩu thuyền viên Việt Nam

Đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả và cạnh tranh quốc tế của xuất khẩu thuyền viên Việt Nam

Đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ do TS Đặng Văn Uy làm chủ nhiệm “Nâng cao năng lực đào tạo Hàng hải các cấp tại Việt Nam’’

2007 Đề tài đề cập các vấn đề cơ bản sau:

Đánh giá hệ thống đào tạo huấn luyện thuyền viên ở Việt Nam hiện nay

Đánh giá thực trạng và xu thế phát triển của ngành hàng hải ở Việt Nam và trên thế giới

Dự báo nhu cầu phát triển của đội tàu trên thế giới và nhu cầu cung cấp thuyền viên của các nước

Đánh giá, nhận xét, phân tích mạng lưới cơ sở, hệ thống đào tạo - huấn luyện hàng hải: Chương trình đào tạo; Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo huấn luyện hàng hải; Đội ngũ cán bộ, đội ngũ giảng viên; Chất lượng của kỹ sư và thuyền viên …

Trang 8

Đưa ra định hướng nâng cao năng lực đào tạo hàng hải các cấp ở Việt Nam: Xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên; Tăng cường cơ

sở vật chất; Xây dựng chương trình đào tạo …

Đề xuất và kiến nghị một số vấn đề liên quan nâng cao năng lực đào tạo - huấn luyện hàng hải tại Việt Nam

Tuy nhiên các đề tài liên quan đến vấn đề chủ yếu đưa ra đánh giá thực trạng việc đào tạo - huấn luyện đội ngũ thuyền viên tại Việt Nam và đưa ra các giải pháp chung đối việc đào tạo đội ngũ thuyền viên tại Việt Nam, chưa

đi sâu nghiên cứu đánh giá chi tiết thực trạng kỹ sư ngành đi biển trong đó kỹ

sư Điều khiển tàu biển và chưa đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đào tạo - huấn luyện kỹ sư Điều khiển tàu biển

Đề tài nghiên cứu, đề xuất hiệu chỉnh chương chình đào tạo hệ đại học chính quy ngành ĐKTB mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn góp phần đánh giá thực trạng công tác đào tạo của khoa Điều khiển tàu biển, đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư Điều khiển tàu biển trong giai đoạn

2011 - 2015 góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao khắc phục việc thiếu hụt thuyền viên hiện nay

1.2 Những lý luận chung về chất lượng đào tạo - huấn luyện hàng hải hiện nay

1.2.1 Quan niệm về chất lượng trong đào tạo, huấn luyện hàng hải

Mặc dù khó có thể đưa ra được một định nghĩa về chất lượng trong đào tạo, huấn luyện hàng hải mà mọi người đều thừa nhận, song các nhà nghiên cứu cũng cố gắng tìm ra những cách tiếp cận phổ biến nhất Cơ sở của các cách tiếp cận này xem chất lượng là một khái niệm mang tính tương đối động,

đa chiều và với những người ở các cương vị khác nhau có thể có những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và học viên thì

ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất

Trang 9

kỹ thuật phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Còn đối với những người sử dụng lao động, ưu tiên về chất lượng của họ lại ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lực và kiến thức của học viên khi ra trường Do vậy không thể nói tới chất lượng như một khái niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo với mục tiêu hay ý nghĩa của nó, và ở khía cạnh này, một trường đào tạo, huấn luyện hàng hải có thể có chất lượng cao ở một lĩnh vực này nhưng ở một lĩnh vực khác lại có thể có chất lượng thấp

Điều này đặt ra một yêu cầu phải xây dựng một hệ thống rõ ràng, mạch lạc các tiêu chí với những chỉ số được lượng hoá, nêu rõ các phương thức đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng sẽ được sử dụng trong và ngoài đào tạo - huấn luyện hàng hải với xu hướng tiếp cận dần với chuẩn của khu vực và thế giới nhằm đưa đào tạo, huấn luyện hàng hải Việt Nam hoà nhập hoàn toàn với đào tạo, huấn luyện hàng hải thế giới

1.2.2 Những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề chất lượng

Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)

Trong đào tạo, huấn luyện hàng hải cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các trường đào tạo, huấn luyện hàng hải muốn nâng cao chất lượng đào tạo, huấn luyện có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, huấn luyện và nghiên cứu khoa học của trường mình và phấn đấu theo các chuẩn đó Nhược điểm của cách tiếp cận này là nó không nêu rõ các tiêu chuẩn này được xây dựng nên trên cơ sở nào

Chất lượng là sự phù hợp với mục đích

Cách tiếp cận khái niệm chất lượng được đa số các nhà hoạch định chính sách và quản lý đào tạo, huấn luyện hàng hải, kể cả tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học quốc tế (INQAHE - International Network of Quality Assurance In Higher Education) sử dụng là tính phù hợp với mục đích - hay đạt được các mục đích đề ra trước đó Chất lượng được đánh giá

Trang 10

bởi mức độ mà sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích đã tuyên bố

Cách tiếp cận này cho phép cung cấp một hình mẫu để xác định các tiêu chí mà một sản phẩm hay dịch vụ cần có Nó là một khái niệm động, phát triển theo thời gian, tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tuỳ thuộc vào đặc thù của từng loại trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượng đào tạo và huấn luyện hàng hải ở các cấp độ khác nhau Nếu mục đích của đào tạo, huấn luyện hàng hải là cung cấp nguồn lao động được đào tạo cho ngành hàng hải thì chất lượng ở đây sẽ được xem là mức độ đáp ứng của học viên tốt nghiệp đối với thị trường lao động trong ngành hàng hải cả về số lượng và loại hình

Còn nếu để xét chất lượng về một khoá học nào đó thì chất lượng sẽ được xem xét trên góc độ là khối lượng, kiến thức, kỹ năng mà khoá học đã cung cấp, mức độ nắm, sử dụng các kiến thức và kỹ năng của học viên sau khoá học Nhược điểm của cách tiếp cận này là rất khó xác định mục tiêu của đào tạo, huấn luyện hàng hải trong từng thời kỳ và cụ thể hoá nó cho từng khối trường, từng trường cụ thể, thậm chí cho từng khoa, hay khoá đào tạo Hơn nữa đào tạo, huấn luyện hàng hải có thể có nhiều mục đích, một số mục đích cụ thể có thể xung đột với nhau (như giữa yêu cầu tăng quy mô và nâng cao chất lượng) và trong trường hợp đó cũng khó có thể đánh giá chất lượng của một trường đại học

Chất lượng với tư cánh là hiệu quả của việc đạt mục đích của trường

đào tạo, huấn luyện hàng hải

Theo cách hiểu này, một trường đào tạo, huấn luyện hàng hải có chất lượng cao là trường tuyên bố rõ ràng sứ mạng (mục đích) của mình và đạt được mục đích đó một cách hiệu quả và hiệu suất nhất Cách tiếp cận này cho phép các trường tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu đào tạo của trường mình Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng các tổ chức hữu

Trang 11

quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của trường đó có khả năng giúp nhà trường hoàn thành sứ mạng một cách hiệu quả và hiệu suất cao nhất không? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các trường có nguồn lực hạn chế, giúp các nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, an toàn những nguồn lực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một cách hiệu quả

nhất

Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người sử dụng lao

động được đào tạo)

Trong 20 năm gần đây người ta không chỉ nói tới việc sản phẩm phải phù hợp với các thông số kỹ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn nói tới sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng sản phẩm đó Vì vậy, khi thiết kế một sản phẩm hay dịch vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của khách hàng, để sản phẩm có được những đặc tính mà khách hàng muốn và với giá cả mà họ

sẽ hài lòng trả

Trong đào tạo, huấn luyện hàng hải, định nghĩa này gây ra một số khó khăn trong việc xác định khái niệm khách hàng Ai là khách hàng trong đào tạo, huấn luyện hàng hải? Đó là học viên (người sử dụng dịch vụ như thư viện, ký túc xá, phòng thí nghiệm .) hay là Chính phủ, các doanh nghiệp Hàng hải (người trả tiền cho các dịch vụ đó) hay đó là cán bộ giảng dạy, cha

mẹ học viên Hơn nữa khi xác định học viên là khách hàng trong đào tạo, huấn luyện hàng hải, lại nảy sinh thêm khó khăn mới là liệu học viên có khả năng xác định được nhu cầu đích thực dài hạn của họ hay không? Liệu các nhà quản lý có phân biệt được đâu là nhu cầu còn đâu là ý thích nhất thời của họ?

1.2.3 Các thành tố quan trọng trong thiết lập hệ thống đảm bảo chất lượng ở

các cơ sở đào tạo huấn luyện hàng hải

Chúng ta có thể giả thiết rằng đảm bảo chất lượng và kiểm soát chất

Trang 12

lượng phụ thuộc vào cách một hệ thống được sắp xếp, vào sự đầy đủ các nguồn nhân lực và tài chính, vào cách đánh giá trong và ngoài được tổ chức Một hệ thống đảm bảo chất lượng phải quan tâm đến các quá trình các hoạt động giảng dạy sau đây: Thiết kế và nội dung của các môn học; Chuyển tải và

đánh giá; Đánh giá, giám sát và xem xét, quản lý nói chung

Có ba bước cơ bản trong việc thành lập một hệ thống đảm bảo chất lượng: Thiết lập sứ mạng của nhà trường; Thiết kế các phương pháp; và Lập các chuẩn mực Một đặc điểm quan trọng khác của đảm bảo chất lượng được xác định, cho rằng có bốn thành phần chính trong một hệ thống đảm bảo chất lượng Thứ nhất, tất cả mọi người trong hệ thống phải có trách nhiệm duy trì chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ mà tổ chức làm ra Thứ hai, tất cả mọi người phải có trách nhiệm củng cố chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ đó Thứ ba, tất cả mọi người hiểu, sử dụng, và cảm thấy mình là người làm chủ

hệ thống đang hoạt động đúng hướng nhằm duy trì và củng cố chất lượng Thứ tư, những người hưởng lợi (người quản lý hay khách hàng) cần phải thường xuyên kiểm tra hệ thống và có trách nhiệm kiểm tra chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ Như vậy, cần phải có nhiều bước chi tiết trong cách tiếp cận việc thiết lập một hệ thống đảm bảo chất lượng Các bước đó là:

Xác định sứ mạng hay mục đích của các trường đào tạo, huấn luyện hàng hải

Xác định các chức năng mà các trường đào tạo - huấn luyện hàng hải thực hiện, và tầm quan trọng tương ứng trong việc thực hiện sứ mạng;

Xác định các mục tiêu của mỗi chức năng và đặt ra các chỉ số thực hiện định tính và định lượng của chúng;

Thành lập một hệ thống quản lý đảm bảo chất lượng, và các quá trình quản lý nhằm đảm bảo rằng các mục tiêu này có thể đạt được;

Thành lập một hệ thống kiểm định chất lượng nhằm đánh giá việc các

Trang 13

trường đào tạo - huấn luyện hàng hải thực hiện các chức năng và xác định các lĩnh vực nơi cần có sự cải tiến Các đề nghị có liên quan đến việc làm thế nào thành lập một hệ thống đảm bảo chất lượng nói chung thường tập trung vào việc có được các đánh giá trong và đánh giá ngoài Điều này cho thấy tầm quan trọng của đánh giá trong và ngoài trong đảm bảo chất lượng Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố quyết định duy nhất của chất lượng trong một trường đào tạo, huấn luyện hàng hải là từ bên trong của chính trường đó Nó được quyết định bởi chất lượng quản lý, năng lực của các nhà lãnh đạo và quản lý Cũng rất quan trọng khi những người có trách nhiệm trong việc đưa ra các quyết định về mục đích, mục tiêu của trường phát triển được các đặc điểm chung trong kiểm soát chất lượng trong toàn bộ các hoạt động của nhà trường Một khi các qui định về kiểm soát chất lượng đã được nhà trường áp dụng, đánh giá đồng nghiệp và đánh giá ngoài cần phải được củng cố và giúp các trường tập trung vào việc phát huy các mặt mạnh và khắc phục các mặt yếu của mình

1.2.4 Các mô hình đảm bảo chất lượng được ứng dụng trong hàng hải hiện

nay

Trong giáo dục đào tạo, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống, chính sách, thủ tục, qui trình, hành động và thái độ được xác định từ trước nhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998; 1999) Định nghĩa này cũng được Cơ quan Đảm bảo Chất lượng Australia sử dụng Tại các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng được tính đến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng ở các trường đào tạo (Kells, 1988; 1989; 1990; Neave & van Vught, 1991) Theo Russo (1995), đảm bảo chất lượng “xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuất sản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm Nếu như chúng ta có hệ thống đảm bảo chất lượng, sẽ

Trang 14

vô tri, vô giác, dù có hiện đại đến đâu đi nữa thì con người mới chính là “linh hồn” thổi sức sống cho mỗi con tàu, làm cho nó hoạt động được Theo thống

kê của các chuyên gia thì khoảng 80% tai nạn hàng hải là do có sai sót của con người Hầu như (nếu không muốn nói là tất cả) các vụ đâm va và mắc cạn đều do sai sót của con người Các vụ cháy nổ cũng chủ yếu do thiếu sót của con người gây ra Việc chìm và đắm tàu do thời tiết có thể coi là bất khả kháng, nhưng cũng có thể hạn chế được nếu sử dụng dịch vụ dẫn đường để tránh thời tiết xấu Ngay cả các vụ tai nạn liên quan đến hỏng hóc cơ khí đôi khi cũng có thể do lỗi bảo dưỡng thiết bị gây nên Quan tâm đến yếu tố con người trong an toàn hàng hải, IMO đã có những bộ luật mang tính nhân văn như Công ước Quốc tế về Tiêu chuẩn đào tạo, cấp giấy chứng nhận và trực ca của thuyền viên (STCW 78/2010) Một Bộ luật về yếu tố con người (Bộ luật Quản lý an toàn quốc tế ISM Code) cũng đã được soạn thảo Ngoài ra, IMO cũng chuẩn hoá giáo trình đào tạo cho các trường và các viện Hàng hải theo các

mô - đun (Module), được biên soạn bởi các chuyên gia có kinh nghiệm, để cung

Trang 15

cấp tài liệu đào tạo thuyền viên, phổ biến những nghiên cứu về hàng hải Các trường hàng hải các cấp của các quốc gia trên thế giới có nhiệm vụ đào tạo và huấn luyện cho các sĩ quan, thuyền viên làm việc trên các tàu vận tải biển của đội tàu biển quốc gia và phục vụ cho xuất khẩu thuyền viên ra nước ngoài Ngoài ra, các trung tâm huấn luyện thuyền viên của các trường hàng hải, ở các quốc gia còn được giao nhiệm vụ huấn luyện và cấp các chứng chỉ chuyên môn đi biển cho thuyền viên theo công ước của IMO bao gồm: Chứng chỉ An toàn cơ bản; Chứng chỉ nghiệp vụ, Chứng chỉ đặc biệt; Chứng chỉ huấn luyện nghiệp vụ Do đó, trách nhiệm của các trường hàng hải các cấp của mỗi quốc gia hiện nay rất nặng nề Vì chất lượng một con tàu

đi biển phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn của đội ngũ sĩ quan, thuyền viên trên tàu Trình độ chuyên môn của đội ngũ sĩ quan, thuyền viên trên các con tàu vận tải biển lại phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đào tạo, huấn luyện của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải Chính vì lẽ đó mà chất lượng đào tạo, huấn luyện sĩ quan, thuyền viên tại các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải đang được Chính phủ của tất cả các quốc gia có ngành hàng hải nói chung và Việt Nam ta nói riêng rất quan tâm

Năng lực đào tạo, huấn luyện hàng hải là khả năng của các cơ sở đào tạo, huấn luyện về hàng hải trong việc đào tạo, huấn luyện sĩ quan, thuyền viên, đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng của đội ngũ sĩ quan, thuyền viên của Việt Nam và của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) Như vậy, năng lực đào tạo, huấn luyện sĩ quan, thuyền viên của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải luôn luôn gắn liền với khả năng đảm bảo chất lượng đào tạo, huấn luyện sĩ quan thuyền viên của chính các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải đó Chất lượng đào tạo, huấn luyện hàng hải của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải thể hiện thông qua năng lực của học viên sau khi được đào tạo, huấn luyện Năng lực này bao hàm các thành tố sau: Khối lượng, nội dung và trình

Trang 16

độ kiến thức được đào tạo, huấn luyện; Kĩ năng thực hành được huấn luyện; Năng lực nhận thức và năng lực tư duy được đào tạo, huấn luyện; Phẩm chất nhân văn được đào tạo, huấn luyện Liên quan đến chất lượng đào tạo, huấn luyện của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải, hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau Những quan điểm khác nhau về chất lượng trong đào tạo, huấn luyện hàng hải được thể hiện như sau:

Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”: Theo quan điểm này, chất lượng của một cơ sở đào tạo, huấn luyện Hàng hải phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng “đầu vào” của cơ sở đó Các cơ sở đào tạo, huấn luyện tuyển được các học viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, thực hành, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là cơ sở đào tạo, huấn luyện có chất lượng cao Quan điểm này đã loại bỏ sự tác động của quá trình đào tạo, huấn luyện được diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài Thực tế, theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo, huấn luyện được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Sẽ khó giải thích trường hợp một cơ sở đào tạo, huấn luyện có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo, huấn luyện hạn chế; hoặc ngược lại, một cơ sở đào tạo, huấn luyện có nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho học viên một chương trình đào tạo, huấn luyện hiệu quả

Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”: “Đầu ra” của quá trình đào tạo, huấn luyện chính là thứ hạng tốt nghiệp hay mức độ đạt được về khả năng chuyên môn, nghề nghiệp của các sĩ quan, thuyền viên đã được đào tạo, huấn luyện so với các yêu cầu của thị trường lao động hàng hải trong nước và quốc tế Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng “đầu ra” của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải có nhiều khó khăn, phụ thuộc chủ quan vào tiêu chí đánh

Trang 17

giá, xếp loại học viên tốt nghiệp của cơ sở đào tạo hay sự phản hồi chậm, không toàn diện của các nhà tuyển dụng sĩ quan, thuyền viên hàng hải

Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”: Theo quan điểm này, chất lượng của một cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải được đo bằng sự khác biệt trong sự phát triển về tri thức khoa học, nghề nghiệp của học viên trước

và sau khi được đào tạo, huấn luyện hàng hải Nếu theo quan điểm này, một loạt vấn đề về phương pháp luận nan giải sẽ nảy sinh: Khó có thể thiết kế được một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra”

để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo, huấn luyện đó Hơn nữa các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải Hơn nữa, cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì cho chúng ta về sự cải tiến quá trình đào tạo, huấn luyện trong cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải

Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”: Theo quan điểm này, chất lượng của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải chủ yếu dựa vào

sự đánh giá về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải Điều này có nghĩa là, cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải nào có nhiều cán bộ giảng dạy có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cao; có học vị, chức danh khoa học và nghề nghiệp cao thì được xem là cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải có chất lượng cao Hạn chế của cách tiếp cận này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

Trang 18

Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”: Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải phải tạo ra được “văn hoá tổ chức riêng” để hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì thế, một cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải được đánh giá là có chất lượng khi nó có được “văn hoá tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, huấn luyện Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chất của tổ chức Đây là quan điểm chất lượng dùng nhiều trong các tổ chức công nghiệp, rất khó áp dụng trong lĩnh vực đào tạo, huấn luyện hàng hải

Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”: Quan điểm này xem trọng quá trình bên trong cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Kiểm toán chất lượng các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải quan tâm xem các cơ sở đào tạo, huấn luyện Hàng hải có thu thập đủ thông tin phù hợp và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp

lý và hiệu quả không Quan điểm này cho rằng, nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác, và chất lượng được đánh giá qua quá trình thực hiện đào tạo, huấn luyện, còn “đầu vào” và “đầu ra” chỉ là các yếu tố phụ Hạn chế của cách đánh giá này là sẽ khó lý giải những trường hợp khi một cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, song vẫn có những quyết định chưa phải là tối ưu

Như vậy, để xác định năng lực đào tạo, huấn luyện của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải, Nhà nước cần phải ban hành Bộ tiêu chí chuẩn cho đào tạo, huấn luyện hàng hải Việc đánh giá năng lực đào tạo, huấn luyện hàng hải của các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải phải dựa vào Bộ tiêu chí chuẩn đó Nếu không có Bộ tiêu chí chuẩn, thì các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải phải dựa vào mục tiêu đào tạo, huấn luyện hàng hải đã đề ra để đánh

Trang 19

giá Như vậy, để đánh giá năng lực đào tạo, huấn luyện hàng hải của một cơ

sở đào tạo, huấn luyện nào đó, chúng ta phải dựa vào Bộ tiêu chí có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã qui định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn của cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải

1.4 Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực sỹ quan hàng hải ở Việt Nam 1.4.1 Xu hướng chung về phát triển nguồn nhân lực hàng hải

Xu hướng chung về phát triển nguồn nhân lực hàng hải là giảm thuyền viên định biên trên tàu bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan:

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển hiện đại Công nghệ mới, tự động hóa được áp dụng rộng rãi trên tàu

Xu hướng chung của ngành hàng hải là yêu cầu, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao để đáp ứng tốt khi làm việc trên các con tàu hiện đại

Sự cạnh tranh gay gắt trong vận tải biển tạo nên xu hướng chung là giảm số lượng thuyền viên trên tàu Thuyền bộ giảm chỉ còn định biên tối thiểu Xu hướng chung số thuyền viên bố trí trên các con tàu qua các thời kỳ tính đến nay:

Từ năm 1980 trên tàu thường bố trí 30  40 người/tàu

Từ năm 1980  1990 trên tàu thường bố trí 20  30 người/tàu

Từ năm 2000  2010 trên tàu thường bố trí 15  20 người/tàu

Trong tương lai nguồn nhân lực hàng hải có khuynh hướng giảm định biên tối thiểu triệt để về số lượng thuyền viên làm việc trên tàu Vì thế, đòi hỏi chất lượng thuyền viên rất cần phải được nâng cao

Khó khăn: Khi kinh tế phát triển, có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm ở những ngành nghề khác ít vất vả hơn Do đó, ít người muốn làm nghề đi biển, bởi nghề đi biển quá vất vả, nguy hiểm và không còn hấp dẫn như trước

1.4.1.1 Nhu cầu sỹ quan, thuyền viên cho đội tàu quốc gia

Căn cứ quyết định 1195/2003/QĐ-ĐT ngày 04/11/2003 của Thủ tướng

Trang 20

Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến 2010

và định hướng đến 2020, thì từ 2006 đến 2010 Việt Nam đã phát triển thêm 857 tàu hàng

Tương ứng với nhu cầu về đội ngũ sỹ quan, thuyền viên sẽ phải có khoảng 1000 người, gồm thuyền viên làm việc trên tàu, thuyền viên sẵn sàng thay thế, thuyền viên dự trữ Thuyền viên cần được đào tạo để thay thế những người nghỉ hưu, chuyển nghề ước khoảng 6000 người Như vậy bình quân mỗi năm nhu cầu đào tạo mới khoảng 2000 người

Số sỹ quan thuyền viên cần được huấn luyện để cấp chứng chỉ theo STCW 78/SửA ĐổI 2010 Code khoảng 6800 người, mỗi năm số sỹ quan, thuyền viên tham dự các lớp bồi dưỡng để thi nâng bậc khoảng 400 người Như vậy: Tổng số sỹ quan, thuyền viên tham dự các lớp là: 1250 người

1.4.1.2 Nhu cầu xuất khẩu sỹ quan, thuyền viên

Theo kết quả phân tích của BIMCO/IFS cho thấy nhu cầu tối thiểu về đội ngũ sỹ quan, thuyền viên cho đội tàu biển thế giới là khoảng 1,1 triệu người Việc phân bố nhu cầu thuyền viên đối với các nước khu vực được phân bố cụ thể như sau: Khu vực các nước OECD cần 38%; Khu vực Đông

Âu chiếm 7%; Khu vực Châu Phi - Mỹ La tinh chiếm 28%; Khu vực Viễn Đông chiếm 23%; Khu vực lục địa Ấn Độ chiếm 4%

Trong đó khả năng cung cấp của các khu vực đáp ứng được là: Khu vực các nước OECD cung cấp 28%; Khu vực Đông Âu cung cấp 14%; Khu vực Châu Phi - Mỹ La tinh cung cấp 10%; Khu vực Viễn Đông cung cấp 37%; Khu vực lục địa Ấn Độ cung cấp 11%

Nguồn nhân lực hàng hải ở các nước Châu Âu giảm, lượng sỹ quan, thuyền viên chuyển sang làm việc ở ngành khác nhau, mức độ yêu cầu tuyển dụng, quốc tịch, độ tuổi phục vụ trên tàu, nhu cầu tăng thời gian nghỉ ngơi, các quốc gia không nằm trong “Danh sách trắng”, các trở ngại về văn hóa,

Trang 21

ngôn ngữ, tôn giáo, kinh nghiệm, các hạn chế về quốc tịch áp dụng đối với quốc gia có tàu mang cờ Do đó, việc thiếu sỹ quan, thuyền viên không chỉ đang xẩy ra ở các nước Châu Âu, Châu Mỹ mà ngay trong khu vực Châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore cũng đang có nhu cầu lớn

Việc xuất khẩu thuyền viên ở Việt Nam được thực hiện từ năm 1992 và

số lượng tăng dần hàng năm Doanh thu mang về cho Nhà nước ước khoảng trên 7 triệu USD/năm

1.4.2 Xu thế phát triển của đội tàu biển Việt Nam

Ngày 4/11/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số TTg về việc phê chuẩn Quy hoạch phát triển Vận tải biển Việt Nam đến 2010

1195/QĐ-và định hướng đến 2020 trong đó nhấn mạnh mục tiêu phát triển:

Phát triển đội tàu biển Việt Nam đến 2010 có tổng trọng tải đạt 4.445.000 DWT và định hướng đến 2020 đạt 7.100.000 DWT Trong đó đến năm 2010, có 326.000 DWT cần phải thay thế

Từng bước trẻ hoá đội tàu đến 2010 đạt độ tuổi trung bình 16 tuổi và định hướng đến 2020 đạt 14 tuổi

Đưa năng suất phương tiện vận tải bình quân đến 2010 đạt 16,7 T/DWT và định hướng đến 2020 đạt 20,0 T/DWT

Từng bước nâng cao tỷ lệ đảm nhận vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu đến 2010 là 25%, định hướng đến 2020 là 35% Tỷ lệ đảm nhận hàng hoá vận tải biển nội địa đạt 100%, đặc biệt nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải bằng đường biển

Phát triển mạnh nguồn nhân lực theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, sỹ quan thuyền viên để nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh, mở rộng hoạt động dịch vụ hàng hải và xuất khẩu thuyền viên

Để đáp ứng xu thế phát triển, đội tàu biển Việt Nam đang được “Tiếp tục trẻ hóa, hiện đại hóa đội tàu vận tải theo hướng chuyên dụng để bảo vệ,

Trang 22

phát triển thị phần vận tải và tăng nhanh khả năng cạnh tranh trên thị trường nhiều cảng chuyên dụng, cảng cạn, áp dụng phương thức khai thác mới, tổ chức lại các đơn vị, tạo thành những đầu mối doanh nghiệp chủ lực trong từng lĩnh vực để tăng sức cạnh tranh, hoạt động bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài”

Trong chiến lược phát triển của mình, ngành Hàng hải đã chủ trương từng bước xây dựng đội tàu chính qui hiện đại dựa vào các tiêu chuẩn, tiêu chí

và yêu cầu sau: Đội tàu có cơ cấu và qui mô hợp lý cả về số lượng và chất lượng; Trang bị đồng bộ, hiện đại, thỏa mãn yêu cầu, tiêu chuẩn theo qui phạm

và các công ước hiện hành; Tăng mức độ tự động hóa lên cao, tạo điều kiện để thâm nhập thị trường vận tải khu vực và thế giới; Ứng dụng các hình thức khai thác tiên tiến, hiện đại và hiệu quả trong việc vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu và từng bước tăng thị phần vận chuyển

Song song với qui hoạch sắp xếp lại đội tàu, định rõ mục tiêu, yêu cầu phù hợp với từng loại hình ngành hàng hải cũng chủ động hoàn thiện, xây dựng sắp xếp lại hệ thống cảng biển, các cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu biển, các loại hình dịch vụ biển khác trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực hàng hải để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế nhất là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên chính thức của WTO

1.5 Công tác đào tạo - huấn luyện hàng hải ở các quốc gia trong khu vực, trên thế giới hiện nay và Việt Nam

1.5.1 Công tác đào tạo - huấn luyện sỹ quan hàng hải ở các quốc gia trong

khu vực và trên thế giới

Căn cứ vào những kiến thức, hiểu biết, kỹ năng, tiêu chuẩn đánh giá năng lực quy định cho mỗi chức danh được nêu phần A - Bộ luật quốc tế tiêu chuẩn về đào tạo, cấp bằng và trực ca cho thuyền viên (STCW 78/2010) các quốc gia thành viên đã xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện

Trang 23

sỹ quan, thuyền viên phù hợp của nước mình Với mục đích:

Tuân thủ đúng luật pháp của quốc gia về đào tạo, huấn luyện

Đồng thời thoả mãn các yêu cầu của Công ước STCW 78/2010

Để công tác đào tạo, huấn luyện sỹ quan, thuyền viên ở các trường Đại học, các cơ sở đào tạo Hàng hải trên thế giới có được sự trợ giúp, hướng dẫn xây dựng chương trình, Tổ chức Hàng hải thế giới đã xuất bản các chương trình mẫu (Model Course) như:

Chương trình đào tạo, huấn luyện làm quen với tàu hoá chất (Model Course 1.01)

Chương trình đào tạo, huấn luyện chữa cháy nâng cao (Model Course 2.03)

Chương trình đào tạo, huấn luyện máy trưởng (Model Course 7.02) Chương trình đào tạo, huấn luyện sỹ quan trực ca buồng máy (Model Course 7.04)

Hướng dẫn đánh giá và cấp giấy chứng nhận cho người đi biển (Model Course 3.12)

1.5.1.1 Hệ thống đào tạo Hàng hải của một số quốc gia trên thế giới

Theo đánh giá của trung tâm nghiên cứu thuyền viên thế giới, hệ thống đào tạo nghề Hàng hải của một số nước như:

Trung Quốc: Hiện đang có đội ngũ thuyền viên trên 400 ngàn người

Một số bài học kinh nghiệm trong việc đào tạo - huấn luyện hàng hải của

Trung Quốc là:

Thay đổi tư duy đào tạo, thay đổi nội dung khoá học

Tối ưu hoá hệ thống đào tạo, áp dụng hình thức đào tạo khác nhau cho các cấp khác nhau

Cải tiến phương pháp giảng dạy, trang thiết bị, tăng thời lượng thực hành; Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; Áp dụng hệ thống quản lý chất

Trang 24

lượng …

Singapore: Chương trình đào tạo và huấn luyện nghề hàng hải của

Singapore là chất lượng và hiệu quả, song do đặc thù và qui mô nhỏ nên số lượng thuyền viên tốt nghiệp rất ít so với yêu cầu, phần lớn họ đào tạo cho một số quốc gia trong khu vực như Philipine, Myama, Indonesia …

Bảng 1.1 Thời gian đào tạo Hàng hải Singapore theo các cấp

Ấn Độ: Hệ thống đào tạo tương đối tốt và toàn diện, được thể hiện theo

bảng thống kê các hình thức và thời gian đào tạo

Bảng 1.2 Hệ thống đào tạo Hàng hải tại Ấn Độ

Hệ thống đào tạo thuỷ thuỷ, thợ máy

Các hình thức đào tạo khác

Tiêu chuẩn đào tạo

năm Trung cấp / 30 tháng

Chuyển cấp /6 tháng

GP thuỷ thủ toàn năng /

12 tháng Thuỷ thủ /6 tháng

Thợ máy /6 tháng

Học tại nước ngoài: Anh, Mỹ, Thuỵ Điển

Hệ Đại học và Cao đẳng Đào tạo nâng cấp các khoá nâng cao 4,8,12,14 tháng

Tiêu chuẩn đào tạo STCW 78/2010 Tiêu chuẩn đào tạo Anh quốc

Trang 25

Nhật Bản: Chương trình đào tạo của Nhật Bản thực sự đạt tiêu chuẩn

theo Bộ Luật STCW 78/2010 của IMO và tiêu chuẩn theo quốc gia Nhật Bản

có hệ thống đào tạo hàng hải tiên tiến trên thế giới Tư tưởng đào tạo - huấn luyện hàng hải mang tính toàn cầu, an toàn, tiết kiệm, ứng dụng tối đa công nghệ phần mềm, đào tạo chất lượng và sáng tạo, mục tiêu cuối cùng là làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp phải biết tự giải quyết được công việc

Hình 1.1 Thể hiện mô hình đào tạo của ngành hàng hải Nhật Bản 1.5.2 Hệ thống các cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải ở Việt Nam

Hiện nay, đội ngũ kỹ sư và sỹ quan thuyền viên (dân sự, quân sự) của nước ta được đào tạo, huấn luyện thông qua các trường đào tạo đó là: Trường Đại học Hàng hải Việt Nam; Trường Đại học giao thông vận tải Thành phố

Hồ Chí Minh; Trường Cao đẳng Hàng hải 1 và Trường Cao đẳng nghề hàng hải Thành phố Hồ Chí Minh; Trường Cao đẳng bách nghệ Hải Phòng và một

số trường Cao đẳng nghề khác; Các công ty và tập đoàn hàng hải trong nước thực hiện, thêm vào đó là một số sinh viên tốt nghiệp các trường hàng hải ở nước ngoài về Kể từ khi Bộ Luật về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp bằng, đi ca

- Thời gian đào tạo:

4 năm

- Tốt nghiệp Đại học thực tập Sỹ quan 1 năm

Trường Cao Đẳng Hàng hải - 4 Trường

- Thời gian đào tạo: 5 năm

- Tốt nghiệp Cao Đẳng thực tập Sỹ quan 1 năm

- Sẽ được bố trí chức danh Sỹ quan theo quyết định chủ tàu

Trang 26

cho thuyền viên ra đời, đặc biệt là khi quy chế huấn luyện, cấp chứng chỉ chuyên môn và đảm nhận chức danh thuyền viên trên tàu biển Việt Nam ban hành, công tác đào tạo, huấn luyện hàng hải nước ta đã có nhiều chuyển biến

rõ rệt, công tác điều hành, quản lý chặt chẽ hơn, đồng bộ và thống nhất trên toàn quốc Các cơ sở đào tạo hàng hải có nhiều bước nhảy vọt về số lượng cũng như chất lượng được nâng cao, qui mô đào tạo ngày càng mở rộng, cơ

sở vật chất được bổ sung, đội ngũ nhà giáo được nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ …đáp ứng được một phần nhân lực cho sự phát triển của ngành hàng hải và kinh tế đất nước, đóp góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá

và hiện đại hoá của đất nước

Đặc điểm của hệ thống đào tạo - huấn luyện hàng hải tại Việt Nam hiện nay Tất cả các cơ sở đào tạo - huấn luyện Hàng hải đều chịu sự quản lý của

Bộ giáo dục và đào tạo nên đặc điểm nổi bật về chất lượng chuyên môn như sau:

Tổ chức thi tuyển đầu vào của sinh viên theo quy chế của Bộ giáo dục

và đào tạo ban hành

Thí sinh đầu vào đều đã tốt nghiệp phổ thông trung học

Thời gian đào tạo tương đối dài đại học 4,5 năm, cao đẳng 3 năm tuy nhiên sau khi ra trường học viên chưa đảm nhận được chức danh sỹ quan

Nội dung chương trình đào tạo gồm các môn: Cơ sở, các môn chuyên môn, tiếng anh, thực tập tại xưởng, trên tàu, các trung tâm mô phỏng, khu huấn luyện cơ bản, phòng thực hành …Tuy nhiên chưa có sự gắn kết một cách chặt chẽ về chuyên môn, nghiệp vụ các cấp học …

Trang 27

Hình 1.2 Hệ thống các trường đào tạo, huấn luyện hàng hải

Bộ quốc phòng

Bộ LĐTBXH

Trường Đại học GTVT

TP HCM

Trường Đại học Thuỷ Sản Các trường trung học, Trường CNKT thuỷ sản TW và địa phương

Học viện hải quân

Các trường T.H.K.T.N.V Hải quân

Các trường

CĐ nghề hàng hải

Liên kết đào tạo trong

và ngoài nước

Quân chủng Hải quân

Trang 28

Bảng 1.3 Thống kê thời gian đào tạo hệ chính quy các bậc học

Hàng hải tại Việt Nam

TT Hệ đào

tạo

Thời gian đào tạo (tháng)

Công tác đào tạo - huấn luyện ở các quốc gia ngày nay hầu hết tuân thủ theo đúng Bộ luật STCW 78/2010 Tuy rằng: Cách thức, biện pháp, mục tiêu

mà cách quốc gia áp dụng có thể khác nhau cho phù hợp với luật pháp của quốc gia mình

Nội dung chương trình đào tạo - huấn luyện có sự đa dạng, mềm dẻo, linh hoạt, thống nhất và chuẩn mực trong quản lý;

Thực hiện công tác đào tạo nhằm phục vụ tốt cho sự chuyển đổi nghề nghiệp; tạo cơ hội cho người học, mang lại lợi ích và hiệu quả cho cá nhân người học, xã hội

Thời gian đào tạo phù hợp cho từng cấp học; các kỹ sư sau khi tốt nghiệp có thể đảm nhận ngay các chức danh sỹ quan

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO KỸ SƯ ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN - TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI HIỆN NAY 2.1 Đánh giá chung về công tác đào tạo kỹ sư khoa Điều khiển tàu biển

Trong những năm qua tuy gặp nhiều khó khăn, thử thách về nhiều lĩnh vực, song Trường Đại học Hàng hải nói chung và khoa Điều khiển tàu biển nói riêng đã có nhiều cố gắng vươn lên đạt được một số thành tựu đáng kể trong công tác và huấn luyện, có nhiều biện pháp nâng cao chất lượng cũng như quy mô đào tạo ngày càng mở rộng cung cấp cho ngành trên 18.000 sỹ quan, thuyền viên Đội ngũ sỹ quan, thuyền viên viên đảm nhận tốt nhiệm vụ khi công tác trên các tàu biển Việt Nam chạy tuyến quốc tế và trong nước, cũng như công tác xuất khẩu thuyền viên Điều đó chứng tỏ rằng công tác đào tạo kỹ sư điều khiển tàu biển đã đáp ứng được một phần thực tế và yêu cầu thực tiễn sản xuất

Đặc biệt khi có Nghị quyết TW2 Khoá VIII của Đảng và chiến lược phát triển giáo dục của Chính phủ, khi thực hiện việc triển khai áp dụng Bộ Luật quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp bằng và trực ca cho người đi biển (STCW 78/2010) và quy chế 31 của Cục Hàng hải Việt Nam về việc đào tạo, huấn luyện, cấp bằng và trực ca cho thuyền viên thì việc đào tạo hàng hải nói chung và kỹ sư Điều khiển tàu biển nói riêng đã có những chuyển biến, đổi mới toàn diện và thống nhất thực hiện về công tác đào tạo và huấn luyện Tháng 1/2001 Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) qua công tác kiểm tra đào tạo, huấn luyện, quản lý đã xếp Việt Nam vào “Danh sách trắng - White List” ngay đợt đầu Tuy nhiên chất lượng đào tạo - huấn luyện hiện nay đang gặp những vấn đề khó khăn, thách thức trong bối cảnh đất nước thực sự hội nhập

và phát triển, đặc biệt vấn đề cạnh tranh nguồn nhân lực cho ngành hàng hải

và xuất khẩu thuyền viên phục vụ kinh tế biển Công tác đào tạo các kỹ sư

Trang 30

hàng hải thực sự có chất lượng đang đòi hỏi chúng ta phải nâng cao năng lực đào tạo - huấn luyện hàng hải hiện nay cần tập chung giải quyết các vấn đề sau:

Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy; Xây dựng nội dung và chương trình đào tạo;

Xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên;

Tăng cường nguồn tài chính, nâng cao cơ sở vật chất;

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về đào tạo - huấn luyện hàng hải;

Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học;

Đổi mới công tác quản lý sinh viên, nâng cao đời sống cho sinh viên; Đánh giá chất lượng đào tạo theo chuẩn mực đề ra phù hợp với mục tiêu đào tạo

2.2 Đánh giá về phương pháp giảng dạy, chương trình đào tạo

2.2.1 Đánh giá chương trình đào tạo

Về lý thuyết: Sâu, rộng, nhưng hạn chế về điều kiện thực hành, thời gian thực hành trên biển Nội dung đào tạo còn mang nặng lý thuyết Lý thuyết chiếm 70% tổng số thời gian học Nếu ta phân tích các môn học chung thì môn học cơ bản cơ sở chiếm trên 40% lý thuyết Các môn cơ sở cơ bản còn nhiều giờ

Nội dung chương trình đào tạo có phần chưa bám sát thực tiễn sản xuất, thiếu sự liên thông giữa các bậc học, ngành học, khó khăn khi chuyển đổi nghề nghiệp

Nội dung chương trình đào tạo còn nhiều tồn tại, bất cập bởi nhiều nguyên nhân, chưa áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong công tác đào tạo Nội dung đào tạo còn bảo thủ, thiếu đổi mới so với thực tiễn, có những phần học chưa đảm bảo yêu cầu, chưa bám sát thực tiễn nghề nghiệp

Trang 31

Nội dung đào tạo biên soạn chưa gắn liễn với các phương pháp giảng dạy hiện đại, chưa tạo điều kiện cho người học

Nội dung đào tạo chưa có tính hiện đại và phát triển, chưa đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức chuyên ngành và các

bộ môn khoa học Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất…

Nội dung đào tạo chưa được bổ sung và đa dạng hoá và phân hoá chuyên môn sâu, chưa thường xuyên cập nhật các thông tin mới, chưa tách biệt rõ phần kiến thức đào tạo và phần huấn luyện để tránh trùng lặp Chưa trang bị cho sinh viên hai mảng kiến thức và kỹ năng cơ bản, chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản và năng lực thực hiện công tác chuyên môn, chưa phát huy được phương pháp học tập khoa học

Thời gian đào tạo hệ đại học 4 năm của một số trường trên thế giới và khu vực nhỏ hơn 2000 giờ, ở Việt Nam khoảng 3200 giờ Đối với đào tạo kỹ

sư Điều khiển tàu biển tổng số giờ lý thuyết và thực hành 3225 giờ (trong đó

lý thuyết 2433 giờ, thực hành 657 giờ) Thời gian đào tạo cho chuyên ngành Điều khiển tàu biển dài đại học 4,5 năm: Tổng số tín chỉ học tập: 157

Hiện nay, các lớp học được tổ chức theo khoá tuyển sinh, việc quản lý sinh viên được thực hiện theo cơ chế cố vấn học tập, thời khoá biểu và phòng học được phân cấp do phòng đào tạo phân bổ, chưa phân cấp quản lý đào tạo cho Khoa Do vậy kế hoạch vẫn thụ động trong việc bố trí lịch trình giảng dạy, thời gian lên lớp, bố trí các môn học chưa hợp lý, bố trí giảng viên…

Thời gian dạy và học môn tiếng anh cơ bản và tiếng anh chuyên ngành còn chưa hợp lý, dài nhưng không hiệu quả, chưa phân loại được trình độ tiếng anh đầu vào của sinh viên nên hiệu quả học chưa cao, trình độ không đồng đều, khả năng thực hành nghe và nói kém, thiếu chủ động trong giao tiếp…

Trang 32

2.2.2 Đánh giá phương pháp đào tạo

Phương pháp đào tạo theo kiểu truyền thống, thụ động và thuyết trình: Thầy giảng trò nghe và ghi chép, phấn trắng - bảng đen là phổ biến, không phát huy được tính tích cực, sáng tạo, chủ động của người học Thầy vẫn giữ vai trò trung tâm trong hoạt động dạy và học

Phương pháp đào tạo chưa coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện

kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu khoa học

Phương pháp đào tạo chưa tính hiện đại, các bài giảng chủ yếu được biên soạn trên giáo án truyền thống, chưa cho phép người học được học tập, cập nhật các kiến thức ở mọi lúc mọi nơi, vẫn phải có sự hướng dẫn của Thầy dẫn đến người học thụ động, chưa có tính sáng tạo, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng còn hạn chế

Việc sử dụng các trang thiết bị hỗ trợ cho việc dạy học chưa được áp dụng thường xuyên, chưa có thói quen sử dụng các phần mềm ứng dựng khi thiết kế môn học lên lớp

Tỉ lệ các môn học chuyên ngành được ứng dụng phương pháp giảng dạy hiện đại (có sự trợ giúp của các thiết bị) chưa nhiều do chưa xây dựng các phòng học hiện đại và chuẩn Các trang thiết bị dạy học còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa được cung cấp đủ dẫn đến khó khăn trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy

2.3 Đánh giá về đội ngũ giảng viên

2.3.1 Đánh giá về số lượng, cơ cấu của đội ngũ giảng viên

Số lượng cán bộ, giảng viên tăng lên cả về số lượng và chất lượng: Tháng 4/2012 tổng số cán bộ, giảng viên: 102 người Tuy nhiên cơ cấu chưa đồng đều và hợp lý giữa độ tuổi, trình độ khoa học và trình độ chuyên môn

Trang 33

Tỷ lệ sinh viên / giảng viên quá cao 40 - 45 tức là 1 giảng viên thông thường phải giảng dạy cho khoảng 40 - 45 sinh viên (năm 2012 tổng số sinh viên của Khoa trên 2000 trong đó có khoảng 50 giảng viên trực tiếp giảng dạy

số còn lại đi công tác trên các tàu biển)

2.3.2 Đánh giá về trình độ kiến thức (chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận

Có đủ sức khoẻ đẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất …

Phẩm chất chính trị vững vàng, lối sống trong sáng, yêu nghề, đạo đức tốt, đoàn kết đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực, có kỷ luật và tác phong công nghiệp; Chấp hành tốt đường lối lãnh đạo của Đảng, pháp luật Nhà nước, thực hiện tốt nội quy và quy chế của Trường, Khoa, Bộ môn;

Gương mẫu, nhiệt tình, uy tín, danh dự nhà giáo, tôn trọng nhân cách người học, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người học, công bằng, dân chủ

Tính đến 4/2012: Trình độ khoa học của cán bộ, giảng viên của Khoa như sau:

Phó giáo sư: 1 giảng viên đạt 0.98% tổng số cán bộ, giảng viên

Tiến sỹ: 6 giảng viên đạt 5 % tổng số cán bộ, giảng viên

Thạc sỹ: 31 giảng viên đạt 30 % tổng số cán bộ, giảng viên

Kỹ sư/cử nhân: 65 giảng viên đạt 64 % tổng số cán bộ, giảng viên

Giảng viên chính: 5 giảng viên đạt 5 % tổng số cán bộ, giảng viên

Trang 34

Bốn giảng viên đang theo học thạc sỹ nước ngoài, 1 giảng viên đang học tiến sỹ nước ngoài, 28 cán bộ giảng viên đang học cao học trong nước

Thuyền trưởng: 21 giảng viên chiếm 21 % tổng số cán bộ, giảng viên

Sỹ quan quản lý: 13 giảng viên chiếm 12 % tổng số cán bộ, giảng viên

Sỹ quan vận hành: 33 giảng viên chiếm 32% tổng số cán bộ, giảng viên Tuy nhiên, qua phân tích đánh giá thực tiễn đội ngũ cán bộ, giảng viên của Khoa còn tồn tại và hạn chế một số mặt nhất định như:

Số lượng tăng nhưng chất lượng chưa đồng đều, cơ cấu chưa hợp lý, tỷ

lệ giảng viên và sinh viên quá cao 40 - 45 sinh viên /1 giảng viên

Cán bộ giảng viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao còn thiếu, chưa có chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực chuyên môn; Đa số các cán bộ

có thâm niên công tác giỏi về tay nghề thì trình độ khoa học chưa đạt theo quy định, cán bộ giảng viên trẻ có trình độ khoa học cao nhưng tay nghề chuyên môn còn yếu Do đó việc quy hoach và bồi dưỡng, phát triển đội giảng viên có trình độ nghiệp vụ tay nghề giỏi và trình độ khoa học đang đòi hỏi cấp thiết

Việc quy hoạch phát triển và bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý bộ môn và Khoa còn nhiều khó khăn: Do số lượng cán bộ, giảng viên luôn có sự thay đổi, biến động do đặc thù nghề nghiệp, lân chuyển công tác sang các đơn vị, làm việc trên các tàu biển do đặc thù nghề nghiệp

Đa số trình độ ngoại ngữ, tin học của cán bộ, giảng viên mới chỉ đủ hoàn thành công việc, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn nhiều bất cập, hạn chế, trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu công tác

Do đặc thù nghề nghiệp nhiều giảng viên còn non trẻ trình độ sư phạm, khả năng truyền đạt cho sinh viên còn nhiều hạn chế

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đào tạo, chưa đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục,

Trang 35

chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức còn chậm

Cán bộ, giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học còn ít chỉ chiếm 30% tổng số cán bộ giảng viên, sinh hoạt học thuật chưa được duy trì thường xuyên, công tác dự giờ đánh giá chất lượng giảng dạy đã làm nhưng chưa thường xuyên

Việc tiếp nhận và xử lý thông tin, kế hoạch của Khoa còn nhiều hạn chế, công tác quản lý và kiêm nhiệm còn buông lỏng, công tác quản lý và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng còn hạn chế, chưa đúng quy trình hướng dẫn

Khả năng hoàn thành tốt công việc chưa cao, việc thích ứng với công việc có cường độ cao còn chưa đáp ứng được Đặc biệt, số lượng giảng viên thường xuyên biến động do phải đi công tác trên tàu biển nên cán bộ, giảng viên phải kiêm nhiệm rất nhiều công tác khác nhau dẫn đến khả năng hoàn thành công việc chưa hiệu quả hoặc bị sức ép công việc quá lớn, căng thẳng

Một số giảng viên chưa tâm huyết, dao động về tư tưởng, thiếu ý chí phấn đấu để nâng cao trình độ chuyên môn, còn ỷ lại, thiếu tinh thần trách nhiệm …

Đời sống cán bộ, giảng viên còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là giảng viên trẻ, công tác lao động sản xuất tăng thu nhập cho giáo viên còn nhiều khó khăn …

Việc đánh giá cán bộ, giảng viên chưa thực sự khách quan, công bằng

và dân chủ, chưa có kế hoạch rà soát trình độ chuyên môn cán bộ, giảng viên

có kế hoạch bồi dưỡng và phát triển theo định hướng tiêu chuẩn của Luật giáo dục Việt Nam và Bộ Luật STCW 78/2010

2.4 Đáng giá về đội ngũ sinh viên

2.4.1 Đánh giá chất lượng đầu vào của sinh viên

Ngày đăng: 02/05/2019, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w