1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tích lũy tháng 2- tuần 3-4

17 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 396,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông tên thật là Nguyễn Phúc Đảm 阮福膽, còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu 阮福晈, là vị vua anh minh nhất của nhà Nguyễn.[2] Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán,[3] Minh Mạng đã đề xuất

Trang 1

Minh Mạng

Nguyễn Thánh Tổ Nhân hoàng đế

Hoàng đế Việt Nam (chi tiết )

Chân dung Minh Mạng theo minh họa trong sách của John Crawfurd (xb 1828)

Hoàng đế nhà Nguyễn

Trị vì 1820 – 1841

Tiền nhiệm Gia Long

Kế nhiệm Thiệu Trị

Vợ Hồ Thị Hoa (Tá Thiên Nhân Hoàng hậu)

hiện]Hậu duệ

Tên húy

Nguyễn Phúc Đảm

Nguyễn Phúc Kiểu

Niên hiệu

Minh Mạng: 1820 - 1841

Thụy hiệu Nhân Hoàng đế

Miếu hiệu Thánh Tổ (聖祖)

Triều đại Nhà Nguyễn

Hoàng gia ca Đăng đàn cung

Thân phụ Nguyễn Phúc Ánh

Thân mẫu Trần Thị Đang

Sinh 25 tháng 5 năm 1791

Gần Sài Gòn, Việt Nam

Trang 2

Mất 20 tháng 1, 1841 (49 tuổi)

Huế, Việt Nam

An táng Hiếu Lăng, Huế, Việt Nam

Tôn giáo Nho giáo

Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh (chữ Hán: 明命, 25 tháng 5, 1791 – 20 tháng

1 1841), tức Nguyễn Thánh Tổ Nhân Hoàng đế là vị Hoàng đế thứ hai (ở ngôi

từ 1820 đến 1841) của nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam Ông tên thật là Nguyễn Phúc Đảm (阮福膽), còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu (阮福晈),

là vị vua anh minh nhất của nhà Nguyễn.[2]

Được xem là một ông vua năng động và quyết đoán,[3] Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở kinh đô Huế, bãi

bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan

ở miền núi Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài Dưới triều Minh Mạng có nhiều cuộc nổi dậy diễn ra: Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam Triều đình đã phải đối phó vất vả với những cuộc nổi dậy ấy

Ngoài việc trừ nội loạn, Minh Mạng còn chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài Ông đổi tên Việt Nam thành Đại Nam, và muốn cho đất nước trở thành một đế quốc hùng mạnh Nhà vua lập các phủ Trấn Ninh, Lạc Biên, Trấn Định, Trấn Man nhằm khống chế Ai Lao; và thực

sự kiểm soát Chân Lạp, đổi Nam Vang (Phnôm Pênh ngày nay) thành Trấn Tây thành; kết quả là Đại Nam có lãnh thổ rộng hơn cả Quan lại Đại Nam đã được cử sang các vùng đó làm quan cai trị, và đã gây nhiều bất bình với dân chúng ở đó khiến cho tình hình rối loạn cứ liên tiếp xảy ra Do không có thiện cảm với phương Tây, Minh Mạng đã khước từ mọi tiếp xúc với họ Ngoài ra, vì Minh Mạng không thích đạo Cơ Đốc của phương Tây, nên ông đã ra chiếu cấm đạo và tàn sát hàng loạt tín đồ Cơ Đốc giáo.Thụy hiệu do vua con Thiệu Trị đặt

cho ông là Thể thiên Xương vận Chí hiếu Thuần đức Văn vũ Minh đoán Sáng thuật Đại

thành Hậu trạch Phong công Nhân Hoàng đế (體天昌運至孝淳德文武明斷創述大成厚宅豐功 仁皇帝).[1]

Mục lục

[ẩn]

1 Thân thế

Trang 3

2 Thái tử

3 Trị vì đất nước

4 Đối ngoại

5 Qua đời

6 Đế hệ thi

7 Phiên hệ thi

8 Gia quyến

9 Nhận định

Trang 4

Xem thêm

11

Chú thích và tham khảo

12

Đọc thêm

13

Liên kết ngoài

[ sửa ] Thân thế

Nguyễn Phúc Đảm là con trai thứ tư của vua Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu Trần Thị Đang Ông sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi, tức 25 tháng 5, 1791 tại làng Tân Lộc, gần Sài Gòn, giữa cuộc Chiến tranh Tây Sơn–Chúa Nguyễn (1787-1802).[4]

[ sửa ] Thái tử

Xem thêm: Gia Long và Nguyễn Phúc Cảnh

Con thứ hai của Gia Long là hoàng thái tửNguyễn Phúc Cảnh mất sớm năm 1801

Do thái tử Cảnh và người con chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Cơ Đốc từ Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long không chọn cháu đích tôn của mình (con Cảnh) làm người người kế vì sợ những ảnh hưởng của Pháp tới triều đình

Mặc dù có nhiều đình thần phản đối nhưng vua Gia Long vẫn quyết chọn Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Cơ Đốc và

không có cảm tình với người Pháp – tư tưởng này giống với Gia Long Năm 1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong Hoàng thái tử và từ đó sống ở điện Thanh Hoà để quen với việc trị nước

[ sửa ] Trị vì đất nước

Tháng 12 năm Kỷ Mão (đầu năm 1820), vua Gia Long qua đời Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), Nguyễn Phúc Đảm lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng Bấy giờ ông

đã 30 tuổi nên rất am hiểu việc triều chính.[1] Nhiều lần sau buổi chầu, ông cùng một vài quan đại thần ở lại để bàn việc, hoặc hỏi về các sự tích xưa, hoặc hỏi về những nhân vật cùng phong tục các nước khác.[1]

Trang 5

Nguyễn Thánh Tổ được xem là một vị vua siêng năng, luôn thức khuya dậy sớm để xem xét công việc, có khi thắp đèn đọc sớ chương ở các nơi gởi về đến trống canh ba mới nghỉ.[3]Ông th ường bảo với các quan: ng b o v i các quan: ảo với các quan: ới các quan:

Lòng người, ai chả muốn yên hay vì chuyện sinh sự để thay đổi

luôn, lúc trẻ tuổi còn khoẻ mạnh mà không biết sửa sang mọi

việc, đến lúc già yếu thì còn mong làm gi được nữa Bởi thế

—[1][3]

Thật vậy, trong suốt thời gian trị vì của mình, vua Minh Mạng đã thay đổi rất nhiều việc,

từ nội trị, ngoại giao cho đến những cải cáchxã hội cùng những việc trong dòng họ.[3]

Đại kỳ của vua Minh Mạng

Minh Mạng đã xin triều đình Mãn Thanh cho phép đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại

Nam ngụ ý một nước Nam rộng lớn Tuy nhiên triều đình Mãn Thanh không chính thức

chấp thuận Đến ngày 15 tháng 2 năm 1839, nhận thấy Mãn Thanh suy yếu, Minh Mạng đã chính thức công bố quốc hiệu Đại Nam Quốc hiệu này tồn tại đến năm 1945

Trong việc dùng người Minh Mạng chú trọng cả tài, đức và đặc biệt là học vấn.[3] Ông cho rằng người không học thì không rõ pháp luật, lỡ khi xử đoán sai thì pháp luật khó dung, như thế sẽ làm hại dân Việc dùng người không ngoài mục đích muốn yên dân Muốn yên dân thì quan phủ huyện không được phiền nhiễu dân, tham nhũng.[3] Vì vậy, nhà vua đã nghiêm trị nhiều viên quan tham nhũng.[3] Từ thời Minh Mạng được xác định

rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia làm chánh và tòng

Trang 6

2 bậc Trừ khi có chiến tranh, loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình Quan Tổng đốc (văn) vừa trị vì tỉnh vừa chỉ huy đội quân của tỉnh nhà.[5] Minh Mạng còn định mức lương bổng cho quan lại, định tiền gạo cho mỗi cấp cùng thời hạn lãnh lương Ngoài ra ông còn cấp tiền dưỡng liêm để tranh sự tham nhũng của quan lại.[3][1]

Minh Mạng cho bỏ các dinh, trấn mà thành lập các tỉnh.[1] Đất nước được chia làm 31 tỉnh, đặt các quan Tổng đốc, Tuần phủ, Bố Chính sứ, Án sát, và Lãnh binh để trông coi Trong triều, các cơ quan điều khiển cũng đổi mới, Thị Thư Viện được đổi thành Văn Thư Phòng vào năm 1820, rồi thành Nội Các vào năm 1829 Năm 1830, ông đặt ra Cơ Mật viện để trông coi những việc quốc quân trọng yếu.[1] Ông đã cho thành lập Tôn Nhân Phủ, điều hành các Hệ, Phòng trong việc kê khai nhân thế bộ, cấp dưỡng và từ

tế cũng như kiểm soát và đàn hạch trong quốc tộc.[1]

Đối với vùng thượng du và các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, chủ yếu là

6 ngoại trấn của Bắc Thành cũ, nhà vua quyết định nhất thể hóa về mặt hành

chính cùng với các vùng miền xuôi Năm 1829, ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ

ti (tù trưởng dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương

“…thanh liêm, tài năng, cần cán làm dân tin phục” làm Thổ tri các châu, huyện Tiếp đó, các châu huyện miền núi cũng được phân chia lại để phù hợp với diện tích và dân

số của mỗi vùng Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ nhằm khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi Nhà vua còn nghĩ đến việc giúp lư chuyển tiền bạc,[1]tránh cho người đi xa khỏi mang theo nhiều tiền,[1] như vào năm Bính thân (1836) đặt ra “Giao Tứ Vụ”[1] ở Cao Bằng để chuyển đổi tiền bạc, cơ quan này có nhiệm vụ như ngân hàng ngày nay.[1]

Bài chi tiết: Quân đội nhà Nguyễn

Minh Mạng rất quan tâm đến mặt quân sự Nhiều lần, ông thân hành ra thao trường để chứng kiến việc luyện tập của quân đội Ông lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng tới việc quân cốt tinh nhuệ, không cốt đông, giảm bớt số lượng người cầm cờ từ 40 xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị

1 vệ (500 người).[6]

Theo Việt Nam sử lược, quân đội thời Minh Mạng gồm bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh Bộ binh gồm kinh binh và cơ binh Kinh binh được chia làm doanh, vệ đội, đóng ở Kinh thành hoặc đóng ở các tỉnh Mỗi doanh có 5

vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người, có đội trưởng và suất đội cai quản Vũ

Trang 7

khí của mỗi vệ gồm 2 khẩu thần công, 200 khẩu điểu thương và 21 ngọn cờ Cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia làm cơ và đội Cơ có các quản cơ, đội có các suất đội cai quản Tượng binh chia làm đội, mỗi đội có 40 con voi Ở Kinh thành có 150 con, ở Bắc Hà có 110 con, ở Gia Định có 70 con, ở Quảng Nam có 35 con, ở Bình Định có 30 con, ở Nghệ An có 21 con, ở Quảng

Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa mỗi nơi có 15 con, ở Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận và Ninh Bình mỗi nơi có 7 con

Ông còn cho lập đồn ải ở những nơi hiểm yếu trong nước, còn ngoài biển thì lập pháo đài Ông rất chú trọng đến thuỷ quân, các vùng hải đảo đều được đánh mốc giúp cho sự lưu thông dễ dàng.[1] Thuỷ quân có 15 vệ, chia làm 3 doanh do quan

đô thống cai quản, mỗi doanh được quan chương vê cai quản

Thuế đinh và thuế điền cơ bản cũng theo như vua Gia Long đã định Theo Việt Nam sử lược, chỉ có năm Bính thân (1836), đất Nam Hà đạc điền xong, tính ra được hơn 630.075 mẫu và định lại các thứ thuế điền thổ ở đó Còn như số dân đinh và điền thổ trong nước, thì theo số bộ tổng cộng lại được 970.516 suất đinh

và 4.063.892 mẫu ruộng và đất

Đối với những người Hoa sang lập ấp ở Đại Nam (gọi là Minh Hương), triều đình

có lệnh rằng mỗi người 1 năm phải nộp 2 lạng bạc và được miễn giao dịch Những người già yếu và khuyết tật phải chịu 1 nửa

Đối với những người nhà Thanh sang Đại Nam buôn bán, người nào có vật lực thì

1 năm phải đóng 6 quan tiền; ai không có vật lực thì phải nộp một nửa, hạn cho 3 năm, thì chiếu lệ thu cả thuế

Theo Việt Nam sử lược, Minh Mạng còn đặt lệ đánh thuế muối Mỗi ruộng muối 1 năm phải nộp bằng muối từ 6 phương đến 10 phương Mỗi phương nộp bằng tiền thì phải nộp từ 3 tiền đến 4 tiền 30 đồng Còn các thuế mỏ, thuế sản vật,… thì cơ bản cũng theo lệ Gia Long đã định, chứ không thay đổi gì mấy

Tập tin:QuoctynhaNguyen.jpg

Ấn vàng của Minh Mạng

Bản thân vua Minh Mạng cũng là một học giả, đã từng làm thơ, soạn sách văn học, khuyến khích biên soạn các loại sách sử, nhất là các sách sử,địa Nhiều người soạn sách mới, dâng sách cũ đều được nhà vua ban thưởng và khuyến

Trang 8

khích Các bộ sách quý như: Gia Định thành thông chí,Lịch Triều Hiến Chương

loại chí,… đều ra đời dưới thời Minh Mạng Các con của ông, điển hình như Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Tuy Lý VươngMiên Trinh và Tương An Quận

Vương Miên Bửu,…, đều là những nhà văn, nhà thơ xuất sắc, và đều nổi tiếng dưới các triều vua Thiệu Trị, Tự Đứcsau này

 Năm 1821, Minh Mạng thành lập Quốc tử giám ở kinh thành Huế

 Năm 1826, ông chính thức thành lập Nhà hát tuồng Quốc gia trong Đại Nội, được gọi là Duyệt Thị Đường

 Năm 1832, ông hoàn tất việc xây dựng kinh thành Huế theo kiến trúc

của phương Tây kết hợp với kiến trúc thành quách của phương Đông

Để xã hội có qui củ cùng nề nếp, nhà vua cho thống nhất việc đo lường và thống nhất y phục.[1] Năm Bính thân (1836) phủ huyện được cấp các cân mẫu, rồi năm

Kỷ hợi (1839) được cấp các loại thước mộc, thước may, thước đo ruộng.[1] Về y phục ông từng bảo: “Ngày nay nước nhà cương thổ đã hiệp nhất thì chính trị,

phong tục lẽ nào khác biệt”.[1] Bởi thế, nên nhiều đạo dụ được ban bố để y phục ở miền Bắc và miền Nam giống nhau.[1]

Là người tinh thông Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh M ng r t quan tâm ạng rất quan tâm ất quan tâm

n n n khoa c , h c v n Nh vua th ng nói:

đến nền khoa cử, học vấn Nhà vua thường nói: ền khoa cử, học vấn Nhà vua thường nói: ử, học vấn Nhà vua thường nói: ọc vấn Nhà vua thường nói: ất quan tâm à vua thường nói: ường bảo với các quan:

Đạo trị nước phải gây dựng nhân

—Minh Mạng[1]

Năm 1821, ông đặt chức Tế tửu và Tư nghiệp, năm 1822 mở lại thi Hội, thi Đình [3] Ông còn cho đặt đốc học ở thành Gia Định, ông giao trọng trách cho nhà giáo Nguyễn Trọng Vũ người Nghệ An, giữ chức Phó Đốc học chăm lo việc học hành

ở Nam Bộ Bấy giờ, ở Gia Định có Trịnh Hoài Đức là người có học vấn cao nên được nhà vua tin dùng, phong làm Hiệp Biện Đại học sĩ, Thượng thư Bộ Lại kiêm Thượng thư Bộ Binh.[3]

Trang 9

Minh Mạng còn đặt ra lệ rằng ai được thăng quan, bổ nhiệm đều phải lên kinh gặp vua trước khi nhậm chức.[3] Đây là cơ sơ để nhà vua kiểm tra đức độ, năng lực và khuyên bảo điều hay lẽ phải, cốt sao cho lợi ích nước nhà.[3]

Năm 1836, ông cho thành lập “Tứ dịch quán” để dạy ngoại ngữ (tiếng

Pháp, Xiêm)

Vua Minh Mạng muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông chỉ toàn là những hủ nho lạc hậu, không giúp

đỡ được nhà vua trong một kế hoạch nào làm cho quốc phú, dân cường.[7] Ông ãđ nói r ng: ằng:

Lâu nay cái học khoa cử làm cho người ta sai lầm, Trẫm

nghĩ văn chương vốn không có quy củ nhất định, mà nay

những văn cử-nghiệp chỉ câu nệ cái hư sáo khoe khoang

lẫn với nhau, biệt lập mỗi nhà một lối, nhân phẩm cao hay

thấp do tự đó Khoa tràng lấy hay bỏ cũng do tự đó Học

như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi.

Song tập tục đã quen rồi, khó đổi ngay được, về sau dần

—Minh Mạng[8]

Dưới thời Minh Mạng, việc khẩn hoang rất được khuyến khích Nhà vua cho quan lại mộ dân lập những ấp mới ở trong Nam cũng như ngoài Bắc, khiến cho việc phân phối ruộng đấtđược hợp lý Ngoài ra, ông còn hoàn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc Bộ, lập các huyện Kim Sơn và Tiền Hải Ở Nam Bộ, công cuộckhai hoang và thuỷ lợi cũng được đẩy mạnh Minh Mạng còn thử nghiệm giải pháp bỏ đê phía nam Hà Nội, đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)[1][3]

Năm 1832, vua Minh Mạng khai mở ngành tơ tằm Đại Nam.[9]

Ông còn ban dụ cho lập nhà dưỡng tế ở các tỉnh để giúp đỡ những người tàn tật, nghèo khổ, già cả và hoặc không nơi nương tựa.[1] Triều đình cũng bắt quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau, nhằm làm

Trang 10

cho nông nghiệp không bị đình trệ và việc mất mùa không ảnh hưởng trong các năm sau.[10]

Thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo bao

gồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu [11] Cụ thể là năm 1834, với sự đồng ý của Minh Mạng, Nguyễn Văn Túy chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng nước mang tên Thuỷ hoả kí tế.

Trong các năm 1837 và 1838, theo kiểu mẫu phương Tây, thợ thủ công Nhà nước

đã chế tạo được máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng,… và còn có cảxe cứu hỏa

Đặc biệt là vào năm 1839, dựa trên các kiểu mẫu phương Tây, các đốc

công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi Năm sau (1840), Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến và sửa chữa một chiếc bị hỏng Điều đáng tiếc là mọi việc dường như bị đình lại sau đó [12]

Vua Minh Mạng và Tả quân Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) vốn có nhiều hiềm khích và tư thù[13] Dù không ưa Lê Văn Duyệt nhưng ông không dám[14] làm gì, do công lao và uy quyền quá lớn của Lê Văn Duyệt với triều đình

Năm 1833, Lê Văn Duyệt qua đời, con nuôi là Lê Văn Khôi (? – 1834) nổi loạn chiếm thành Phiên An (tức thành Gia Định), Minh Mạng trong khi đánh dẹp cuộc nổi dậy này vẫn thường ban trách Lê Văn Duyệt

Năm 1835, sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi, Minh Mạng bèn làm án Tả quân, giao cho nhóm nội các là Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh nghị tội Tả quân

có sáu điều, có bảy tội phải chém, hai tội phải thắt cổ, một tội phải sung quân Bản án quyết định truy đoạt quan chức, phá bỏ quan quách giết thây Mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định bị cuốc

bằng và bị xiềng xích, phía trên khắc đá dựng bia ở trên viết to mấy chữ: Đây chỗ tên lại cái

lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu phép nước[15]; các ngôi mộ cha mẹ của Lê Văn Duyệt bị đục

bỏ tước hiệu khắc trên bia

Ngày đăng: 03/05/2015, 08:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w