Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị – xã hội Tây Nguyên, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng, củng cố hệ thố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HẢI HOÀNG
Quan điểm về tự do trong bàn về tự do của
John Stuart Mill
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS.Nguyễn Vũ Hảo
Hà Nội - 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận quan trọng đặc biệt cấu thành hệ thống chính trị nói chung Đây là nơi có quan hệ trực tiếp với nhân dân, truyền đạt và tổ chức cho mọi tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại địa phương Vì thế, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để tăng cường, củng cố hệ thống chính trị cơ sở nhằm phát huy vai trò, sức mạnh của
nó trong sự nghịêp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tây Nguyên là một địa bàn có tầm quan trọng chiến lược về quốc phòng, an ninh, về kinh tế, chính trị Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tây Nguyên đã có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt; đời sống của nhân dân các dân tộc không ngừng được nâng cao; tình hình chính trị – xã hội từng bước ổn định Sự phát triển toàn diện của Tây Nguyên đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước
Tuy nhiên, những năm gần đây, trên địa bàn Tây Nguyên đang tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định chính trị - xã hội Nhiều vụ tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, nhiều “điểm nóng” liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo liên tục xảy ra, với tính chất ngày càng phức tạp, qui mô, mức độ ngày càng lớn Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, ra sức kích động tư tưởng ly khai, tự trị, lôi kéo một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở đây, trong đó
có cả cán bộ cơ sở, tiến hành gây rối, gây bạo loạn chính trị, làm cho tình hình chính trị – xã hội ở Tây Nguyên không ổn định, ảnh hưởng xấu đến công cuộc xây dựng và phát triển toàn diện trên địa bàn này
Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, nhưng nổi lên là sự hạn chế, yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây nguyên Mặc dù Đảng, Nhà nước đã
Trang 3ban hành nhiều chính sách, biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, nhưng việc cụ thể hóa và thực thi những vấn đề đó tại một địa bàn có tính đặc thù như Tây Nguyên vẫn còn nhiều bất cập
Vì vậy, để đánh giá đúng thực trạng tình hình hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên và nêu lên một số vấn đề nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn chiến lược
này, chúng tôi lựa chọn “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên hiện nay” làm đề tài luận
văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan
Do vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tây Nguyên luôn là mục tiêu mà các thế lực thù địch tập trung hoạt động chống phá nhằm thực hiện ý đồ của chúng đối với cách mạng nước ta Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc
Mỹ là tách Tây Nguyên ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, trực tiếp nắm giữ địa bàn chiến lược, quan trọng này để khống chế các nước Đông dương, ngăn chặn các phong trào cách mạng và khai thác tiềm năng to lớn của Tây Nguyên
Sau Hiệp định Pa ri (1/1973), đế quốc Mỹ chấp nhận thất bại hoàn toàn, buộc phải rút quân khỏi Miền Nam và địa bàn Tây Nguyên Tuy vậy, đế quốc
Mỹ vẫn âm mưu quay trở lại Việt Nam và Tây Nguyên Để thực hiện âm mưu nói trên, chúng đã tiến hành nhiều phương thức thủ đoạn, sử dụng nhiều lực lượng Đặc biệt, sau khi tổ chức FULRO ở Tây Nguyên tan rã (1992), đế quốc
Mỹ đã đưa toàn bộ số cầm đầu, chỉ huy FULRO đang ở Campuchia (đã đầu hàng UNTAC – cơ quan quân sự của LHQ tại Campuchia) cùng thân nhân sang Mỹ, hậu thuẫn và chỉ đạo số này tập hợp lực lượng, thành lập tổ chức phản động, như MFI, MDA, MHRO, ra sức hoạt động chống phán cách mạng
Trang 4Việt Nam ở nước ngoài Mặt khác, chúng ra sức kích động, tiếp tay cho bọn phản động trong nước tập hợp lực lượng, tổ chức biểu tình, gây rối, gây bạo loạn, làm mất ổn định chính trị trên địa bàn Tây Nguyên; điển hình là các vụ biểu tình, bạo loạn 2/2001 và 4/2004 vừa qua Một trong những hoạt động nổi lên, đáng chú ý trên địa bàn Tây Nguyên thời gian qua là các thế lực thù địch
ra sức chỉ đạo bọn phản động trong nước tiến hành các hoạt động móc nối, tác động, mua chuộc, khống chế đội ngũ cán bộ hệ thống chính trị cơ sở nhằm làm suy yếu, vô hiệu hoá hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở Tây Nguyên Chúng cho rằng, để thực hiện âm mưu chống phá cách mạng trên địa bàn Tây Nguyên, điều quan trọng phải sử dụng chính người dân tộc thiểu số bản địa ở Tây Nguyên, vì vậy, phải bằng mọi thủ đoạn để từng bước tạo dựng một bộ máy chính quyền phản động ở Tây Nguyên do chúng nắm giữ và chi phối
Ngày 4/11/2005, Hạ viện Mỹ đã thông qua “Dự luật chi ngân sách đối ngoại năm 2006” (HR 3057), trong đó dành 2 triệu USD cho dự án thuộc chương trình “Hỗ trợ Tây Nguyên” Thực chất của chương trình này là cung cấp tài
chính để nuôi dưỡng, tiếp tay cho bọn phản động trong và ngoài nước tiến hành các hoạt động gây mất ổn định chính trị, tiến tới lật đổ chính quyền, dựng lên cái gọi là “Nhà nước Đê Ga độc lập” trên địa bàn Tây Nguyên
Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị – xã hội Tây Nguyên, một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, vừa bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, vừa vận động quần chúng DTTS nâng cao cảnh giác, đập tan âm mưu, luận điệu xuyên tạc, kích động, phá hoại của các thế lực thù địch trên địa bàn Tây Nguyên Chính vì vậy, công tác xây dựng, củng cố, bảo vệ hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên thời gian qua đã được Đảng,
Trang 5Nhà nước, Chính phủ đặc biệt quan tâm, với nhiều nghị quyết, chỉ thị liên quan được ban hành và thực thi
Ngày 18/3/2002, Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ Đảng Cộng Sản Việt Nam
khoá IX, đã ra nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, phường, thị trấn” Ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ra Nghị quyết số 10/NQ – BCT “Về phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng Tây Nguyên thời kỳ
2001 – 2010” Ngày 9/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 03/TTg “Về một số chủ trương, biện pháp cấp bách nhằm tiếp tục đấu tranh xoá bỏ tổ chức phản động đòi thành lập „Nhà nước Đề ga độc lập” ở Tây Nguyên” Thủ
tướng Chính phủ cũng ra Quyết định số 168/2001/ QĐ - TTg ngày 30/10/2001
“Về việc định hướng dài hạn kế hoạch 2001 – 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên”; Quyết định số 132/2002/QĐ - TTg ngày 8/10/2002 “Về việc giải quyết đất sản xuất và đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên” Để tăng cường sự chỉ đạo toàn diện
của Chính phủ đối với Tây Nguyên, ngày 9/3/2002, Thủ tướng Chính phủ ra
Quyết định số 258/QĐ - TTg “Về việc thành lập tổ chức thường trực xử lý các vấn đề an ninh Tây Nguyên”
Về phương diện xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên, ngày 5/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 253/QĐ - TTg về việc
phê duyệt đề án “Một số giải pháp củng cố kiện toàn chính quyền cơ sở ở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002 – 2010” Những Nghị quyết của Đảng và các văn
bản của Chính phủ là những định hướng sâu sắc để tiến hành công tác đảm bảo
an ninh cũng như xây dựng, củng cố và bảo vệ hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn Tây Nguyên
Trang 6Bên cạnh đó, nhiều công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề liên quan đến xây dựng, củng cố và bảo vệ hệ thống chính trị cơ sở Tây Nguyên, ở nhiều góc độ khác nhau đã được triển khai, thực hiện
Về những vấn đề chung có liên quan đến hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên, một số đề tài, công trình nghiên cứu đã được thực hiện, như: Đề tài khoa học cấp nhà nước (KX – 07- 03) về “Giải pháp đảm bảo an ninh trật tự ở các vùng chiến lược Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc góp phần phát triển kinh tế – xã hội” (2005) do PGS, TS Trần Đại Quang, Bộ Công an, làm chủ nhiệm; Đề tài cấp Bộ “Hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay và những giải pháp về công tác an ninh” (2001); “Công tác đảm bảo an ninh – trật tự vùng chiến lược Tây Nguyên – thực trạng và giải pháp” (2004) do PGS, TS Nông Văn Lưu, Bộ Công an, làm chủ nhiệm; “FULRO ở Tây Nguyên – những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh”, Luận án Tiến sỹ Luật học của Hoàng Kông Tư (2003); Sách chuyên khảo “Một số vấn đề về tôn giáo và đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo ở Tây Nguyên” (2006) và “Công tác an ninh đối với hoạt động tài trợ, đầu tư nước ngoài tại Tây Nguyên” (2007) của TS
Trần Xuân Dung, Bộ Công an…
Những vấn đề liên quan trực tiếp đến hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên, có các đề tài, công trình nghiên cứu: Đề tài cấp Nhà nước “Các giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay” (2001 - 2002) do PGS.TS Phạm
Hảo, Học viện CT - HC quốc gia Khu vực III làm chủ nhiệm, trên cơ sở đánh giá tổng quát thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, cũng như các bộ phận cấu thành, đề xuất các quan điểm và giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện
Trang 7nay; Luận án TS Luật học của Nguyễn Văn Thuân, Bộ Công an với đề tài
“Hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên và những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh” (2006) vừa đánh giá khái quát thực trạng hoạt động, vừa
nêu ra một số giải pháp công tác an ninh góp phần bảo vệ hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên – ở góc độ khoa học an ninh
Tất cả các đề tài nói trên đều được nghiên cứu công phu dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, cùng với việc khảo sát toàn diện, khách quan tình hình Tây Nguyên Nội dung của các đề tài cơ bản đã đánh giá, làm rõ thực trạng tình hình, âm mưu của các thế lực thù địch, công tác đảm bảo an ninh trên địa bàn Tây Nguyên và đã đưa ra nhiều giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo an ninh vùng Tây Nguyên
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát sâu sắc, có hệ thống về hệ thống chính trị cơ sở ở địa bàn Tây Nguyên – từ góc độ chính trị học Vì vậy, hướng nghiên cứu cơ bản của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu
những vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở, tiến hành khảo sát một cách có hệ thống hệ và toàn diện về thống chính trị cơ
sở ở Tây Nguyên, với tất cả những yếu tố tác động, những đặc điểm đặc thù, từ
đó kiến nghị những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu: Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng thực trạng hệ thống
chính trị cơ sở ở Tây Nguyên và dự báo tình hình có liên quan, nêu lên một số giải pháp (có tính phương pháp luận) nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên hiện nay
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu tất cả các đặc điểm, các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ
sở ở Tây Nguyên trên một số mặt cơ bản (tổ chức Đảng, hệ thống chính quyền
và đoàn thể nhân dân ở cơ sở)
- Địa bàn: 5 tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng
- Thời gian nghiên cứu: Từ 1992 (khi tàn quân của tổ chức FULRO đầu hàng cơ quan quân sự của Liên hiệp quốc - UNTAC tại Campuchia) đến nay
Tuy nhiên, Luận văn còn sử dụng tư liệu, số liệu các thời kỳ, các địa bàn khác để đối chứng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, các chuyên khảo của các nhà khoa học
Trang 9- Các phương pháp chính được sử dụng trong quá trình thực hiện Luận văn: phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp chuyên gia, toạ đàm, trao đổi
6 Đóng góp của Luận văn:
- Phân tích, luận giải những nhân tố tác động, những đặc điểm có tính đặc thù của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên
- Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 10“Quá trình phát triển của xã hội loài người đã dẫn đến sự xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện sự phân hóa xã hội thành nhóm, các giai tầng có địa vị xã hội khác nhau, có lợi ích không giống nhau” [50, tr 131]
Điều đó có nghĩa là, khi trong xã hội xuất hiện các giai cấp đối kháng, các lực lượng chính trị – xã hội khác nhau, để bảo vệ, củng cố lợi ích của mình, mỗi giai tầng xã hội, mỗi lực lượng chính trị – xã hội đã thiết lập các thiết chế chính trị – xã hội khác nhau Các thiết chế chính trị – xã hội luôn đấu tranh và hợp tác với nhau vì lợi ích, vì sự tồn tại và phát triển của lực lượng chính trị – xã hội mà họ đại diện, đồng thời vì sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung
Cùng với sự phát triển ngày càng cao của xã hội, sự phân hóa, chia tách của các nhóm xã hội có cùng lợi ích ngày càng phong phú và đa dạng hơn theo nhiều nguyên nhân, với nhiều dấu hiệu khác nhau Chính điều đó đã làm trong
Trang 11xã hội xuất hiện và tồn tại ngày càng nhiều lực lượng chính trị – xã hội, nhiều thiết chế chính trị – xã hội khác nhau
Trong quá trình tồn tại và phát triển, các thiết chế chính trị – xã hội luôn có sự liên hệ, ràng buộc với nhau, luôn tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Điều này xảy ra trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Toàn bộ các thiết chế này tạo thành hệ thống chính trị – xã hội để nắm giữ
và thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Như vậy, có thể hiểu: “Hệ thống chính trị là liên minh các thiết chế chính trị – xã hội có liên hệ mật thiết với nhau, tồn tại và hoạt động nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội; đồng thời bảo vệ lợi ích, thực hiện những mục đích của giai cấp thống trị trong xã hội” [51, tr.300]
Cũng có thể có cách lý giải khác: Hệ thống chính trị là một hệ thống các tổ chức và thể chế của giai cấp thống trị và chỉ giai cấp thống trị mà thôi, như một tổng thể các thiết chế thể hiện quyền lực thống trị của một giai cấp đối với toàn xã hội; Hệ thống chính trị là hình thức tổ chức bộ máy của một giai cấp nào đó trong cuộc đấu tranh để giành và củng cố sự thống trị của mình, là bộ máy thống trị giai cấp…(Chương trình khoa học – công nghệ cấp nhà nước KX 05)
Tuy nhiên, trong phạm vi Luận văn, chúng tôi tán thành hơn với định
nghĩa: Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức, mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Như vậy, có thể hiểu hệ
thống chính trị là một cơ cấu, một chỉnh thể bao gồm các đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành gắn liề với tư tưởng và lợi ích của giai cấp cầm quyền, nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển chế độ xã hội đó
Trang 12Về cấu trúc, hệ thống chính trị bao gồm cấu trúc hình thức (mặt vật chất) và mặt nội dung Măt vật chất của hệ thống chính trị là một tập hợp các thiết chế chính trị – xã hội được thành lập và hoạt động vì những mục đích chính trị – xã hội khác nhau Các thiết chế đó bao gồm Nhà nước, các đảng phái chính trị, các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội, trong đó Nhà nước là tổ chức quan trọng nhất Các tổ chức đó được sắp xếp theo một trật tự khách quan, khoa học và luôn có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau
Mặt nội dung của hệ thống chính trị được hiểu là một cơ chế thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội Có thể nói, quyền lực chính trị là cốt lõi của
hệ thống chính trị Quyền lực đó được vật chất hóa bằng các thiết chế chính trị – xã hội và được biểu hiện thông qua các quan hệ chính trị giữa các lực lượng chính trị – xã hội Quyền lực chính trị được thể hiện một cách tập trung và trước hết ở lý tưởng chính trị, quan điểm, đường lối, chính sách của các lực lượng chính trị – xã hội, ở pháp luật của Nhà nước Chính vì thế, hệ thống chính trị của mỗi nước có ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại, phát triển của mỗi nước nói riêng, của xã hội loài người nói chung
Sự yếu kém, rạn nứt trong nội bộ của hệ thống chính trị thường được chuyển hóa thành các xung đột chính trị – xã hội, cản trở tiến bộ xã hội
b, Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ thống chính trị
xã hội chủ nghĩa ra đời phải dựa trên tiền đề chính trị đó là thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Tuy nhiên, tiền đề chính trị sẽ mở đầu cho việc ra đời của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhưng để tồn tại và phát triển, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa cần phải dựa trên những cơ sở khác, trong đó quan trọng nhất là cơ sở kinh tế
Trang 13Cơ sở kinh tế của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về các tư liệu sản xuất chủ yếu Chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, với sự đa dạng về sở hữu, sự phát triển từ thấp đến cao, không những quy định sự biến đổi về nội dung, hình thức của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, mà còn là yếu tố đảm bảo sự vận hành có hiệu quả của hệ thống đó Nhưng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa còn dựa trên cơ sở một nền sản xuất phát triển, với trình độ xã hội hoá cao và một cơ sở tư tưỏng – văn hoá với tư cách là kim chỉ nam, là định hướng cho hoạt động của toàn bộ
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, có một điểm chung nhất cho mọi định nghĩa về hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Đó là, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được coi là cách thức tổ chức quyền lực chính trị mà giai cấp công nhân nắm quyền thực hiện phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Xuất phát từ những quan điểm nêu trên, có thể định nghĩa
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa như sau: “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là liên minh các thiết chế chính trị –xã hội được thành lập, hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ mà vai trò lãnh đạo thuộc về đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm thực hiện triệt để quyền lực nhân dân, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.[51, tr 301]
Trang 14Sự hình thành, phát triển của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một quá trình lịch sử và lâu dài với những bước thăng trầm khác nhau, nhưng luôn giữ vững mục tiêu là xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, không có sự phân cực đối kháng giữa giàu và nghèo Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa luôn phản ánh những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển của đất nước, khi những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội…có những thay đổi thì hệ thống chính trị cũng thay đổi Trong hệ thống chính trị có thể xuất hiện thêm những tổ chức chính trị – xã hội mới và cũng có thể mất đi một tổ chức cũ, đồng thời cũng diễn ra
sự thay đổi trong bản thân mỗi tổ chức Ngược lại, hệ thống chính trị cũng tác động, ảnh hưởng rất lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Ngoài ra, hệ thống chính trị của mỗi nước còn chịu ảnh hưởng của môi trường quốc tế và cũng có ảnh hưởng tới đời sống chính trị quốc tế
Hệ thống chính trị ở mỗi nước xã hội chủ nghĩa mang những nét đặc thù, phản ánh những đặc điểm riêng về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của nước đó Tuy nhiên, do cơ sở kinh tế – xã hội có cùng bản chất nên hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa đều có chung những đặc trưng
cơ bản sau:
Một là, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa luôn đảm bảo tính thống nhất
cao và không đối kháng Các bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đều tồn tại, hoạt động hợp pháp và luôn có sự liên hệ, tác động qua lại mật thiết với nhau để đạt mục đích chung Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển trên cơ sở chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sự thống nhất – không đối kháng về những lợi ích cơ bản trong toàn xã hội
Trang 15Hai là, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa do đảng tiền phong của giai
cấp công nhân lãnh đạo Đây là yếu tố quyết định bản chất xã hội chủ nghĩa, quy định mục đích, nội dung hoạt động của hệ thống chính trị đó
Ba là, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa quán triệt nguyên tắc quyền lực nhân dân, tức là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được hiểu là cách thức
tổ chức quyền lực chính trị để quyền lực thuộc về nhân dân Quyền lực nhân dân được thực hiện thông qua hệ thống chính trị với nguyên tắc thống nhất không chia sẻ (nhất nguyên về chính trị), trong đó Nhà nước là nền tảng, là trụ cột và đảng của giai cấp công nhân là hạt nhân lãnh đạo, đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện quyền lực nhân dân
Bốn là, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thể hiện tính tích cực chính
trị cao của quần chúng nhân dân lao động Điều này được thể hiện trong các hoạt động của quần chúng như: tích cực tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào những quyết định của đất nước; tham gia vào hoạt động của các tổ chức, đoàn thể xã hội với tư cách là thành viên hoặc người ủng hộ
Năm là, cả hệ thống cũng như từng bộ phận trong hệ thống không ngừng
hoàn thiện và phát triển vì các mục tiêu, giá trị xã hội
Ở Việt Nam, hệ thống chính trị mang đầy đủ những đặc trưng của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Đó là tổng thể các hình thức chính trị – xã hội được thành lập và hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện triệt để quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Cấu trúc hình thức (mặt vật chất) của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam bao gồm các thành tố: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong đó Đảng cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh
Trang 16đạo, Nhà nước là trung tâm quyền lực, là trụ cột Hệ thống chính trị ở Việt Nam được phân chia thành 4 cấp: cấp Trung ương, cấp tỉnh (thành phố), cấp quận (huyện) và cấp phường (xã) ở Việt Nam, một hệ thống chính trị rộng lớn, phức tạp, lại ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và chính sách mở cửa, hội nhập…, đòi hỏi các thành tố cấu thành phải là một động lực tổng hợp của tất
cả các lực lượng chính trị – xã hội phấn đấu vì một mục tiêu chung, cùng tuân theo một cơ chế vận hành và những nguyên tắc nhất định
1.1.2 Hệ thống chính trị cơ sở
a, Khái niệm, cấu trúc của hệ thống chính trị cơ sở
Hiện nay, ở nước ta, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng, cấp cơ sở là cấp xã, phường, thị trấn Đây là quan niệm phù hợp với tình hình thực tế, được nhiều người tán thành Tại hội thảo Khoa học - Thực tiễn “Xây dựng hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ cơ sở” do Bộ biên tập tạp chí Cộng sản phối hợp với Tỉnh ủy Hà Nam tổ chức vào ngày 19/6/2002, các nhà lý luận và quản lý đều cơ bản thống nhất quan niệm về hệ thống chính trị cơ sở
PGS,TS Trần Quang Nhiếp cho rằng: “Cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống và diễn ra mọi mặt hoạt động của đời sống xã hội một cách sinh động Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước…” [60, tr 46] Theo PGS,TS Nguyễn Chí Mỳ thì “hệ thống chính trị cơ sở là cấp độ cuối cùng trong cấu trúc hệ thống chính trị của đất nước Hệ thống chính trị cơ sở là cầu nối trực tiếp đưa nghị quyết của đảng vào cuộc sống, là nơi cung cấp cơ sở thực tiễn sát hợp nhất để đưa cuộc sống vào nghị quyết”… [60, tr 50] Còn PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển khẳng định: “Cấp xã, phường, thị trấn là một khâu quan
Trang 17trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta Do đó cán bộ cơ sở là cán bộ của bộ máy Đảng, Nhà nước, làm việc ở địa phương…” [60, tr 51]
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản khoa học xã hội, năm 1988, định nghĩa: Cơ sở “đơn vị cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như xản xuất, công tác…của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các
bộ phận lãnh đạo cấp trên”
Các văn bản của Đảng, Nhà nước có nội dung liên quan đều xác định cấp cơ sở là cấp xã, phường, thị trấn Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX ghi: “Các cấp cơ sở phường, xã, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống Hệ thống chính trị
cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư” [31, tr.1] Quyết định số 253/QĐ/TTg, ngày 5/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án “Một số giải pháp củng cố kiện toàn chính quyền cơ sở ở vùng Tây Nguyên, giai đoạn 2002 đến 2010” đã xác định cấp cấp cơ sở là xã, phường, thị trấn
Như vậy, từ những quan niệm và thực tế nêu trên, cho phép rút ra: Hệ thống chính trị cơ sở của nước ta là hệ thống chính trị ở cấp xã, phường, thị trấn, bao gồm: tổ chức Đảng cơ sở (các đảng bộ, chi bộ cơ sở); chính quyền (HĐNN, UBND xã phường, thị trấn); Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội Nông dân…) có quan hệ mật thiết với nhau, trực tiếp tiến hành các hoạt động theo sự chỉ đạo của cấp trên
Trang 18Trên cơ sở đó, có thể định nghĩa Hệ thống chính trị cơ sở như sau: Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở [ 24, tr.10]
Hệ thống chính trị cơ sở là một cấp của hệ thống chính trị chung nên có cấu trúc giống như cấu trúc của hệ thống chính trị, bao gồm: Tổ chức Đảng cơ
sở (các Đảng bộ, chi bộ cơ sở); Chính quyền cơ sở (Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn); Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân…)
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 26/3/1998 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2003), xuất bản tháng 5/ 2006, tại Điều 1, khoản g, h quy định các nhóm cán bộ công chức ở
cơ sở bao gồm: những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã); những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân xã Theo Pháp lệnh, trong chức danh chuyên môn của ủy ban nhân dân xã, công an xã là bộ phận cấu thành hữu cơ của hệ thống chính trị cơ sở, là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, nòng cốt trong giữ gìn an ninh trật tự tại cơ sở
b, Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở
So với hệ thống chính trị nói chung, hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta
có những đặc điểm cơ bản sau:
Trang 19Thứ nhất, cấu trúc của hệ thống chính trị ở Việt Nam được xác định
gồm 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh (thành phố), cấp huyện (quận) và cấp xã
(phường, thị trấn) Như vậy, hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị Mặc dù dưới cấp xã còn có thôn, bản, làng…,
nhưng đây không phải là một cấp hành chính độc lập, không có ngân sách, con dấu, tư cách pháp nhân riêng
Thứ hai, hệ thống chính trị cơ sở là cấp gần dân nhất, có quan hệ
chặt chẽ với nhân dân Cán bộ cơ sở trực tiếp sống, công tác, sinh hoạt trên địa bàn, hàng ngày tiếp xúc với nhân dân nên có thể hiểu được đầy đủ nhất mọi tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Vì vậy, cán bộ cơ sở được coi là
“cầu nối” giữa dân với Đảng
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V, khoá IX đã nêu rõ: „Trong thời gian qua, hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta được thiết lập rộng rãi trên khắp các địa phương trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo…” [31.tr 1] Hiện nay trên toàn quốc có 10.538 đơn vị cơ sở bao gồm: 8.497 xã, 565 thị trấn, 1.026 phường Như vậy, có thể nói hệ thống chính trị ở nước ta được thiết lập trải rộng trên khắp các vùng miền của đất nước Do vậy, đông đảo đội ngũ cán bộ cơ sở là những người gần dân, gắn bó với dân, nắm được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
Thứ ba, hệ thống chính trị cơ sở là cấp trực tiếp truyền tải và tổ chức
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước muốn được thực hiện, trước hết phải đến được với dân; dân có hiểu mới thực hiện đúng Muốn chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến được với mọi người dân phải thông qua các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở,
vì đây là cấp gần dân nhất, trải khắp trên tất cả các địa bàn Cấp cơ sở cũng là
Trang 20cấp có điều kiện trực tiếp tổ chức, hướng dẫn nhân dân cùng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Thứ tư, hệ thống chính trị cơ sở là cấp có bộ máy tổ chức đơn giản, đội
ngũ cán bộ thường không chuyên nghiệp và ít được đào tạo cơ bản Cán bộ cơ
sở do nhân dân bầu ra, thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ nhất định, hết nhiệm kỳ cán bộ cơ sở có thể được thay thế Tuy vậy, đội ngũ cán bộ này lại thực hiện nhiệm vụ quản lý toàn diện nhất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội ở cơ sở Đó là lãnh đạo việc phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng ở địa phương; thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ sở theo pháp luật; vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hăng hái tham gia các phong trào của địa phương
Tuy đội phần đông ngũ cán bộ cơ sở còn chưa được đào tạo cơ bản, song hệ thống chính trị cơ sở lại có vai trò quan trọng trong tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng Từ những chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương, cán bộ cơ sở xây dựng kế hoạch cụ thể, tổ chức lực lượng và vận động quần chúng trên địa bàn cùng tham gia thực hiện Trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, khi có những bất cập trong thực tế thì cấp cơ sở cũng là cấp phát hiện đầu tiên để kiến nghị với Đảng, Nhà nước khắc phục kịp thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền tảng của mọi công tác là cấp xã” [54.tr 458] “Cấp xã gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong” [55 tr 371]
c, Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Trang 21Những năm qua, hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta đã khẳng định vai trò
to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ sở
Trước hết, đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở là lực lượng nòng cốt, là hạt nhân đoàn kết, giáo dục, tổ chức nhân dân ở cơ sở để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là chiếc cầu nối giữa Đảng, chính quyền, mặt trận các cấp với đông đảo nhân dân ở cơ sở
Mặt khác, cán bộ cơ sở vừa là người đại diện cho chính quyền nhân dân trong quản lý Nhà nước ở địa phương, vừa là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện quyền hành pháp, quản lý và vận động quần chúng nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh
Hệ thống chính trị cơ sở là nơi quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân được thực hiện rộng rãi (thông qua các hình thức tự quản) và quyền dân chủ đại diện (thông qua HĐND và UBND) được phát huy, là nơi để thực hiện trực tiếp khối đại đoàn kết toàn dân (thông qua mặt trận và các đoàn thể nhân dân)
và là nơi đảm bảo sự vững mạnh của chế độ cả về chính trị, kinh tế, văn hóa,
và quốc phòng – an ninh
Không những thế, hệ thống chính trị cơ sở luôn là nơi cán bộ phát huy vai trò là hạt nhân chính trị trong tổ chức và vận động nhân dân thực hiện một cách chủ động, sáng tạo các nghị quyết của Đảng, đưa nghị quyết vào cuộc sống và góp phần phản ánh cuộc sống vào nghị quyết
Có thể nói, vai trò của hệ thống chính trị cơ sở luôn gắn chặt với vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở Có đội ngũ cán bộ cơ sở tốt sẽ thực sự làm cho hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, thực sự góp phần làm cho cả hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững chắc từ nền tảng ở cơ sở
Trang 221.2 Các nhân tố tác động đến tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
cơ sở ở Tây Nguyên
1.2.1 Nhân tố địa – kinh tế: Tây Nguyên là địa bàn có nhiều tiềm năng và khả năng để phát triển các ngành kinh tế có giá trị cao, phục vụ dân sinh và
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tây Nguyên, hay còn gọi là cao nguyên Trung Bộ, gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Số dân là 4.596.000 người (tính đến 5/2005), bao gồm dân tộc Việt (Kinh), các dân tộc thiểu số bản địa và các dân tộc thiểu số từ nơi khác đến, như miền núi phía Bắc, ven biển Trung Bộ, Nam Trường Sơn và Đông Nam Bộ [28, tr 5]
Với diện tích tự nhiên là 56.129 km2, nằm ở 110
13‟ – 150 15‟ vĩ độ Bắc,
1070 02‟ – 1090 05‟ kinh độ Đông, chiếm gần 17% diện tích cả nước, Tây Nguyên là một vùng có điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đa đạng và phong phú Tây Nguyên là một sơn nguyên có tính đặc thù, với các dãy núi cao phía Bắc (Ngọc Linh: 2598 m) và phía Nam (Chư Yang Sin: 2406 m), nối tiếp là những dãy núi thấp khoảng 200 m và các cao nguyên (Kon Hà Nừng, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đắk nông, Di Linh – Bảo Lộc) có độ cao từ 300 –
1000 m Vùng núi chiếm khoảng 2.930.000 ha, vùng cao nguyên hơn 2.000.000 ha, vùng bình nguyên và thung lũng khoảng 570.000 ha
Tây Nguyên là vùng có diện tích đất đỏ bazan lớn nhất nước, khoảng 1.400.000 ha, rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su, hồ tiêu và các loại cây ăn quả cao cấp, với năng suất, chất lượng cao, sản lượnglớn Ngoài ra, ở đây còn có khoảng 240.000 ha đất phù sa được bồi do các con sông, suối
Tài nguyên rừng đang là một thế mạnh của Tây Nguyên, với rất nhiều loại (rừng lá rộng, rừng lá rụng vào mùa khô, rừng thông, tre nứa…) và trữ
Trang 23lượng gỗ lớn, chiếm khoảng 45% trữ lượng gỗ của cả nước Rừng Tây Nguyên có nhiều loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, như các loại gỗ quý, các loại cây dược liệu; có nhiều loại động vật, nhất là động vật hoang dã, vừa có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho du lịch, xuất khẩu, vừa phục vụ cho nghiên cứu khoa học
Tây Nguyên cũng là nơi giàu về các loại khoáng sản, với trữ lượng lớn,
và chất lượng khá, như quặng bô xít có trữ lượng khoảng 3,05 tỉ tấn; quặng vàng và vàng sa khoáng khoảng 8,82 tấn; quặng thiếc: 400.000 tấn; quặng sắt:
470 triệu tấn; than: 300 triệu tấn; đá xây dựng: 3 tỉ m3 …
Tây Nguyên cũng là nơi giàu về tài nguyên nước và năng lượng thủy điện Với lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.900 mm, như vậy, mỗi năm cả Tây Nguyên hứng được khoảng 106 m3 nước mưa và chuyển vào các dòng chảy sông, suối khoảng 48 tỉ m3 Nguồn nước ngầm ở đâycó thể thoả mãn tốt cho các nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp chế biến, chăn nuôi và tưới Các sông, suối ở Tây Nguyên có độ dốc lớn, tạo ra tiềm năng thuỷ điện, với trữ lượng khoảng 57 tỉ kwh, chiếm khoảng 21% trữ lượng thuỷ điện cả nước [39, tr 55-56]
Với những đặc thù về cảnh quan thiên nhiên và các truyền thống văn hóa lâu đời, mang bản sắc độc đáo, cũng như có nhiều địa danh nổi tiếng, Tây Nguyên là nơi có tiềm năng lớn về phát triển ngành du lịch, nơi hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế
Những tiềm năng lớn mà thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho Tây Nguyên,
đó chính là những điều kiện, tiền đề vô cùng quan trọng, không chỉ cho riêng
Tây Nguyên, mà còn cho cả nước, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu Với những tiềm năng đó, không chỉ cho
Trang 24phép Tây Nguyên phát triển một nền kinh tế đa dạng, toàn diện, mà còn cho phép phát triển nhiều ngành kinh tế mũi nhọn, những thế mạnh riêng có của Tây Nguyên
Tây Nguyên còn là địa bàn giải quyết tình trạng thừa lao động quá mức
ở nhiều địa phương trong cả nước, cũng như khắc phục sức ép về sự gia tăng dân số quá lớn của nước ta trong hơn hai thập kỷ qua Tính đến 5/2005, dân số Tây Nguyên 4.596.000 người, bình quân 82 người/km2 So với mật độ dân số
cả nước hiện nay gần 260 người/km2, thì mật độ dân số ở Tây Nguyên còn rất thấp Trong thời gian từ 1976 – 2005, dân số Tây Nguyên tăng hơn 3,6 lần, chủ yếu là tăng cơ học Riêng số di dân tự do đến Tây Nguyên trong thời gian
đó là khoảng 1 triệu người Di dân, phân bố lại lao động trên phạm vi cả nước
và Tây Nguyên, không thuần túy là vấn đề kinh tế - xã hội, vấn đề đời sống,
mà còn là do yêu cầu bảo vệ kinh tế và các yêu cầu về tăng cường quốc phòng
và an ninh trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước [40, tr 15-16]
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, điều kiện địa lý – tự nhiên ở Tây Nguyên cũng đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở vùng này Do địa hình hiểm trở, núi rừng trùng điệp, hoang vu, giao thông vận tải, đi lại khó khăn , nên nhiều vùng dân cư tách biệt với bên ngoài, hạn chế giao lưu, trao đổi nên đời sống kinh tế – xã hội trì trệ, đời sống văn hoá tinh thần thấp kém Khí hậu ở Tây Nguyên rất khắc nghiệt, hàng năm có 2 mùa rõ rệt: mùa khô nắng hạn kéo dài, cỏ cây trụi lá; mùa mưa ngút ngàn, các sông suối ngăn cách các con đường giao lưu Từ sau 1975, do sự tàn phá của con người, tài nguyên thiên nhiên ở Tây nguyên bị sử dụng lãng phí, mất mát nghiêm trọng: rừng bị tàn phá và xuống cấp, đất ba zan bị xói mòn, thoái hoá, môi trường sinh thái bị phá vỡ Người dân Tây Nguyên đang phải đương đầu với
sự “trả thù ” của thiên nhiên
Trang 251.2.2 Nhân tố địa – chính trị: Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh và là một mắt xích quan trọng trong
âm mưu của các thế lực thù địch đối với Việt Nam
được Tây nguyên thì người đó sẽ khống chế được cả Đông Dương, khống chế cả vùng duyên hải miền Trung, cửa ngõ vào Sài Gòn và Đông Nam Bộ, khu vực ngã ba biên giới Việt Nam – Campuchia - Lào Do vậy, vùng Tây Nguyên có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu với nhiều vùng trong nước và quốc tế
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Tây Nguyên là một trong những địa bàn, căn cứ địa quan trọng, góp phần cùng cả nước lập nên những chiến công hiển hách Trong quá trình xâm lược và chiếm đóng Tây Nguyên, thực dân Pháp đã gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân các dân tộc nơi đây Tiêu biểu cho tinh thần bất khuất chống Pháp của các dân tộc Tây Nguyên là các cuộc khởi nghĩa của đồng bào vùng Krông Ana, Krông Knô (1900) do N‟Gưh lãnh đạo, của đồng bào Xơ đăng (1901), của đồng bào An Khê (1905); đặc biệt, cuộc khởi nghĩa của N‟Trang Lơng (dân tộc M‟Nông) kéo dài 23 năm ở Đắk Lắk (1912 - 1935), trong một thời gian dài đã giải phóng cả vùng cao nguyên rộng hàng vạn cây số vuông, tiêu diệt nhiều sĩ quan, binh lính Pháp
Thời kỳ kháng chiến 9 năm chống Pháp, Tây Nguyên nổi tiếng với anh hùng Núp Thời kỳ chống Mỹ, những chiến công chói lọi, như Plei
Me, Đức Cơ, Đắk Tô - Tân Cảnh đã khẳng định tinh thần bất khuất của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên Trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân
1975, Tây Nguyên được chọn làm chiến dịch mở màn, làm đột phá điểm, càng khẳng định điều đó
Trang 26Tây Nguyên hiện nay, ở phía Tây giáp tỉnh Atôpư của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, và Tây Nam giáp tỉnh Môndunkiri và Ratanakiri của Vương quốc Campuchia, với đường biên giới dài 590km Dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Lào, từ 1975 đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều vấn
đề phức tạp, liên quan đến ANQG và độc lập chủ quyền của Việt Nam Các thế lực cực hữu phản động ở Campuchia trong đảng Fulcipec, đảng Samrainsy, tàn quân Khơ me đỏ , được sự giúp đỡ tiền bạc, phương tiện hoat động của tình báo quân đội Thái Lan, tình báo Mỹ đang tích cực xây dựng căn cứ tại Đông Bắc Campuchia, không xa biên giới với Việt Nam Chính phủ Campuchia cũng đã đưa hàng ngàn tên Khơ me đỏ (đã về hàng) đến định cư dọc biên giới Việt Nam – Campuchia Mặt khác, các lực lượng cực hữu ở Thái Lan cũng đang tích cực giúp đỡ mọi mặt cho cho các lực lượng phản động cực hữu ở Lào, lập căn cư ở vùng Nam Lào, sát biên giới Lào – Việt Nam Chính quyền Campuchia trước đây đã từng giúp đỡ FULRO, là địa bàn đứng chân của tàn quân FULRO khi chúng bị ta truy quét gắt gao ở Tây Nguyên Hiện nay, Campuchia lại là địa bàn để các phần tử FULRO, phản động người dân tộc thiểu số lưu vong trở về Tây Nguyên móc nối cơ sở, gây dựng lực lượng chống phá cách mạng Rõ ràng đây là những nhân tố tiềm tàng đe dọa độc lập, chủ quyền và ANQG của Việt Nam ở vùng Tây Nguyên [39, tr 58-59]
Nhưng những nhân tố đe dọa độc lập, chủ quyền và ANQG ở Tây Nguyên hiện nay còn xuất hiện ở những hướng khác, đó là những ý đồ, những
âm mưu chiến lược của các thế lực đế quốc, phản động quốc tế đối với Việt Nam, mà Tây Nguyên là một mắt xích, một khâu đột phá quan trọng
Sau khi hoàn thành cơ bản công cuộc xâm lược Việt Nam, để độc chiếm Tây Nguyên, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”, thi hành ở Tây
Trang 27Nguyên một chế độ cai trị riêng, theo đó Tây Nguyên không thuộc quyền cai quản của triều đình Huế; thi hành nhiều chính sách, biện pháp cấm người Việt lên Tây Nguyên làm ăn, sinh sống
Cùng với âm mưu chia cắt Tây Nguyên về mặt hành chính, thực dân Pháp
ra sức tạo dựng lực lượng tay sai, qua đó, nắm các dân tộc Tây Nguyên Từ việc cử các giáo sĩ lên truyền đạo, và nắm giữ các chức vụ quan trọng về hành chính (Công sứ, Đại lý tòa hành chính), đến việc mở trường đào tạo các chức sắc tôn giáo, mua chuộc, lôi kéo tầng lớp trên, ngời có uy tín trong dân tộc thiểu số, lựa chọn, đào tạo người dân tộc thiểu số thành lực lượng tay sai trung thành trong bộ máy quân sự, hành chính ở Tây Nguyên
Khi bị thất bại và buộc phải rút khỏi Tây Nguyên, Pháp vẫn cố nắm giữ
và duy trì ảnh hưởng, quyền lợi ở đây, bằng việc xúi giục, giúp đỡ một số trí thức, công chức người Thượng lập ra phong trào BaJaRaKa (tiền thân của phong trào FULRO, một tổ chức chủ trương đấu tranh chống sự có mặt của người Việt ở Tây Nguyên, đòi độc lập cho Tây Nguyên) vào thời kỳ 1957-
1958 Cho đến nay, những toan tính của Pháp đối với Tây Nguyên vẫn còn, thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư, các hoạt động từ thiện, nhân đạo
Hiện nay, ở Tây Nguyên đang có một số NGO của Pháp hoạt động, như Tổ chức cứu trợ trẻ em Mê Kông (EDM), HOT LUA, CCFD, AUF
Trong khi thực dân Pháp đang cai trị Việt Nam, thì Mỹ đã tìm cách gây ảnh hưởng đến Tây Nguyên, thông qua việc truyền bá đạo Tin lành vào vùng này Từ những năm 1929 - 1932, các giáo sĩ thuộc CMA đã đặt chân lên nhiều vùng đất Tây Nguyên để truyền đạo và gây dựng cơ sở
Cuối những năm 50, thế kỷ XX, để trực tiếp nắm lấy Tây Nguyên, Cục tình báo trưng ương Mỹ (CIA) đã tìm mọi cách nắm lấy những người có uy tín trong phong trào BaJaRaKa, sau này là FULRO, gạt dần ảnh hưởng của Pháp
Trang 28đối với phong trào này Dới sự đạo diễn của Mỹ, trực tiếp là các cố vấn, nhân viên CIA, chính quyền Thiệu sau này dần dần thu phục và nắm được các thủ lĩnh FULRO, sử dụng FULRO chống lại cách mạng
Sau năm 1975, Mỹ tiếp tục thông qua lực lượng phản động ở
quyền nhân dân ở Tây Nguyên và các tỉnh lân cận Tháng 10/1992, FULRO đầu hàng UNTAC và tháng 12/1992, gần 400 tên FULRO ở rừng (cả phụ nữ
và trẻ em) đã được chính quyền Mỹ cho định cư ở bang Bắc Carôlina [39,
tr 79-81]
Kể từ khi bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Mỹ càng đặc biệt quan tâm đến Tây Nguyên Nhiều đoàn chính khách của Chính phủ Mỹ, nhiều người
Mỹ đến Tây Nguyên với mục đích thăm viếng, thực hiện các dự án, tham quan
du lịch, thăm lại nơi trước năm 1975 đã từng sống, hoạt động Ngoài một số
dự án đầu tư có tính nhỏ giọt, không hiệu quả, Mỹ còn chú trọng đến việc tranh thủ lôi kéo một số trí thức, người có uy tín trong các dân tộc thiểu số, bằng việc tặng quà, mời sang Mỹ hội thảo, tham quan, du học nhằm tạo ra một đội ngũ trí thức mới, chịu ảnh hưởng, mang ơn Mỹ, gắn bó với Mỹ
1.2.3 Tác động từ sự phức tạp về vấn đề dân tộc và tôn giáo của địa bàn
Trang 29Nhóm các dân tộc thiểu số từ Miền Bắc đến Tây Nguyên, đông nhất là thời kỳ 1952-1954 (đi làm đồn điền cho Pháp), thời kỳ 1979-1988 (chiến tranh biên giới phía Bắc) và thời gian gần đây, tình trạng di dân tự do ồ ạt
Nhóm các dân tộc thiểu số bản địa có mặt ở Tây Nguyên từ hàng ngàn năm nay, chiếm khoảng 24 - 25 % dân cư Tây Nguyên, với hơn 10 dân tộc khác nhau
Các dân tộc thiểu số bản địa ở đây thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polinisen và nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, với rất nhiều nhóm địa phương Trình độ kinh tế - xã hội của các dân tộc này nói chung còn rất thấp và không đồng đều [40, tr 60-61] Đến đầu thế kỷ XX, xã hội Tây Nguyên đang ở trong giai đoạn tiền phân hoá giai cấp, nhiều nơi còn mang tàn tích của chế độ thị tộc, bộ lạc, nhưng không nguyên vẹn do tác động của chiến tranh, và sự có
mặt của các dân tộc khác Đơn vị xã hội ở đây là các buôn hay plei, những
công xã nông thôn với một thiết chế xã hội khá chặt chẽ về ranh giới lãnh thổ,
về quyền sở hữu tập thể đất đai, và một bộ máy cai trị với một chủ làng, hay tù trưởng, một hội đồng già làng, trưởng nóc Luật tục, lễ thức gắn liền với buôn, làng, với nóc, với gia đình Thiết chế xã hội đó được xác lập trên cơ sở thống nhất bền chặt của những người cùng huyết thống, cùng dân tộc hay nhóm địa phương, cộng cư trên một lãnh thổ, được quy định bởi một ranh giới rõ ràng, cùng sinh sống và sản xuất tập thể, cùng săn bắn, hái lượm Phần lớn các dân tộc thiểu số Tây Nguyên vẫn theo chế độ mẫu hệ
Nói chung, con người nơi đây vẫn giữ được đức tính tốt của một xã hội chưa phân hoá giai cấp, chưa chịu sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá và của cơ chế thị trường Người dân tộc thiểu số ở đây sống bằng kinh tế nông nghiệp kết hợp với thu nhặt lâm thổ sản: sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, hoàn toàn mang tính chất tự cung, tự cấp, với một hệ
Trang 30thống canh tác sơ khai, công cụ sản xuất thô sơ, còn nhiều tàn tích của nền kinh tế chiếm đoạt, sản xuất hàng hoá chưa phát triển , vì vậy, đời sống bấp bênh, đói nghèo kéo dài
Những điều kiện kinh tế - xã hội cộng với sự ưu đãi của thiên nhiên, và những yếu tố tác động khác từ bên ngoài, đã hình thành trong con người các dân tộc thiểu số Tây nguyên những đặc điểm tâm lý có tính đặc thù Người dân
ở đây còn có quan hệ huyết thống sâu đậm, quan hệ dòng tộc, thân tộc bao trùm lên trên mọi quan hệ khác trong buôn làng; họ tin tưởng và bảo vệ người trong dòng họ mình; mọi hành vi phản bội dòng họ đều bị coi khinh và bị xử lý rất nặng Họ nhìn nhận thực tế rất đơn giản, cụ thể, với tính thật thà, chất phác, nhưng dễ có tự ái cá nhân Sự hiểu lầm hay va chạm tập quán, phong tục, tín ngưỡng dễ làm họ nổi giận, dễ dẫn đến thù hằn và hành động bột phát, thiếu kiềm chế Họ cũng rất tự hào, hãnh diện nếu trong dân tộc có người có uy tín lớn, địa vị xã hội cao
Trước khi thực dân Pháp thống trị Tây Nguyên, nói chung trong người dân tộc thiểu số, ý thức dân tộc hình thành chưa rõ nét, ý thức quốc gia, tư t-ưởng tự trị chưa xuất hiện Nhưng do chính sách cai trị của phong kiến nhà Nguyễn và nhất là chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đã hình thành trong các dân tộc thiểu số ở đây tư tưởng hẹp hòi, kỳ thị dân tộc Đặc biệt sau 1954, khi chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành nhiều chính sách mang tính “đồng hóa”, mâu thuẫn giữa các dân tộc thiểu số với chính quyền Ngô Đình Diệm càng trở nên sâu sắc
Những tư tưởng, thái độ trên còn bắt nguồn từ một nguyên nhân quan trọng hơn, đó là chính sách cai trị, thống trị và các thủ đoạn khác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Để độc chiếm và khai thác Tây nguyên, thực dân Pháp
đã từng thi hành ở đây chế độ cai trị trực tiếp, cấm người Việt lên lập nghiệp
Trang 31sinh sống; vừa dùng chính sách “dùng người Thượng trị người Thượng”, vừa dùng chính sách “dùng người Việt trị người Thượng” và ngược lại Với chính sách “ngu dân”, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã đẩy các dân tộc ở đây vào con đường thất học và bệnh tật, không có chữ viết, nạn mù chữ nặng nề, trình độ học vấn thấp, bệnh tật phổ biến
Trong quá trình cai trị Tây Nguyên, cả Pháp, Mỹ đã ra công đào tạo nuôi dưỡng một đội ngũ tay sai là người dân tộc thiểu số, có lợi ích gắn bó với Pháp, Mỹ Gần đây, được sự giúp đỡ, khuyến khích của Mỹ, những người này
đã lập ra các tổ chức phản động lưu vong như Hội ng ư ời Th ư ợng Đê Ga
(MDA), Hội những ng ư ời miền núi (MFI), Hội bảo vệ nhân quyền Th ư ợng Đê
với tôn chỉ là đấu tranh đòi “độc lập”, “tự trị” cho Tây Nguyên, tách Tây Nguyên khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam [39, tr 65-66; 69]
Tôn giáo truyền thống của các dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên là thờ cúng đa thần Họ cho rằng vạn vật hữu linh, có linh hồn, và tin vào các
loại thần linh, ma quỷ Đặc biệt, họ tin nhất là các loại Giàng (thần) và tổ chức cúng quanh năm Ngoài ra, đồng bào các dân tộc thiểu số còn duy trì việc cúng Boo ng bpao, Xa cà pô (lễ ăn trâu), cúng Bthi (bỏ mả), cúng máng nước, cúng năm mới, cúng ma
Tôn giáo truyền thống hình thành và duy trì trong cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Nguyên là một cách giải thích về thế giới bên ngoài, đồng thời là chỗ dựa về tinh thần của họ khi họ phải đối mặt với các thế lực thiên nhiên và
xã hội, có tác dụng liên kết cộng đồng, gắn bó cá nhân với gia đình, dòng họ, cộng đồng Nhưng tôn giáo truyền thống đã bắt đầu bộc lộ những tiêu cực, hạn chế, như sự tốn kém, lãng phí tiền của, công sức, thời gian; trở thành một gánh nặng cho đồng bào, mà nó vẫn không giải quyết được vấn đề họ
Trang 32mong muốn
Một khi tôn giáo truyền thống đã bộc lộ những tiêu cực, hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu đời sống tâm linh của quần chúng dân tộc thiểu số, bắt buộc họ phải tìm đến những tôn giáo hợp thời hơn Hiện nay ở Tây Nguyên có mặt 5 tôn giáo lớn là Công Giáo, Tin lành, Phật Giáo, Hồi Giáo và Cao Đài
Sự có mặt của các tôn giáo lớn trên địa bàn Tây Nguyên trong những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể đã gây ra những tác động, ảnh hưởng to lớn đến các mặt của đời sống xã hội, đến tình cảm, tín ngưỡng tâm linh của quần chúng Tính chất phức tạp của vấn đề tôn giáo ở địa bàn Tây Nguyên được thể hiện qua sự mâu thuẫn, xung khắc giữa tôn giáo truyền thống với tôn giáo du nhập, nhất là với Công Giáo và Tin lành
Tính chất phức tạp của vấn đề tôn giáo ở Tây Nguyên còn ở chỗ các tôn giáo Công Giáo, Tin lành du nhập và đứng chân ở Tây Nguyên gắn với các âm mưu của Pháp, Mỹ đối với địa bàn này Vì vậy, sau khi thất bại, buộc phải rút khỏi Việt Nam và Tây Nguyên, cả Pháp và Mỹ đều sử dụng Công Giáo và Tin lành như một thứ vũ khí lợi hại để thực hiện mưu đồ chiến lược của họ đối với vùng đất này
Gần đây, các thế lực thù địch cho ra đời cái gọi là “Tin lành Đê Ga”, thực chất là lợi dụng chiêu bài tôn giáo ở Tây Nguyên để phá hoại sự đoàn kết, thống nhất các dân tộc trên địa bàn này, để “tôn giáo hoá” các dân tộc ở đây
“Tin lành Đê Ga”, một tổ chức phản động dưới danh nghĩa tôn giáo, là ngọn cờ
tư tưởng của cái gọi là “Nhà nước Đê Ga độc lập”
Gắn chặt lợi dụng vấn đề tôn giáo với lợi dụng vấn đề dân tộc, âm
m-ưu “tôn giáo hóa” dân tộc là một khâu quan trọng trong chiến lược của các thế lực thù địch đối với Tây Nguyên Tự thân vấn đề dân tộc, vấn đề tôn
Trang 33giáo ở Tây Nguyên đã phức tạp Nó lại càng phức tạp, nghiêm trọng hơn khi các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, kết hợp với lợi dụng vấn
đề tôn giáo
1.2.4 Tác động từ sự chậm phát triển, sự lạc hậu, thấp kém về nhiều mặt của địa bàn Tây Nguyên
So với nhiều nơi khác, Tây Nguyên là một trong những địa bàn có trình độ kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, đời sống mọi mặt còn rất thấp kém
Từ đầu những năm 90 trở lại đây, các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa ở Tây Nguyên đã có bước phát triển vợt bậc, mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt từ 9 - 11%
Tuy nhiên, nhìn tổng thể và so với mặt bằng chung của cả nước, Tây Nguyên vẫn là địa bàn chậm phát triển; cơ sở hạ tầng còn quá thiếu, trình độ
kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu; trình độ dân trí và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc còn rất thấp Năm 2003, bình quân GDP theo đầu người vùng Tây Nguyên đạt khoảng 3,58 tr.VND, bằng 49,85%, mức bình quân của cả nước (7,54 tr VND) [28, tr 23] Để đưa Tây Nguyên tiến kịp
cả nước, và bảo đảm cho Tây Nguyên luôn ổn định về ANTT, Nhà nước cần tăng cường sự đầu tư và đầu tư có hiệu quả hơn nữa để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trên địa bàn này Muốn cho Tây Nguyên phát triển với tốc độ 11 - 12%/năm, từ nay đến năm 2010, Nhà nước cần đầu tư khoảng 9 - 10 ngàn tỷ đồng/năm.[17, tr 35]
ở Tây Nguyên, hàng năm, ngành nông-lâm nghiệp tạo ra một khối ợng sản phẩm hàng hoá lớn, nhưng mới chỉ một số ít qua chế biến (lâm sản mới có khoảng 11 - 15%) Số được chế biến thì tập trung chủ yếu vào lương thực, cà phê, cao su, chè , nhưng chất lượng chưa cao Vì vậy, cần đầu tư thêm công nghệ, trang thiết bị cho các cơ sở chế biến, nhất là đối với các
Trang 34lư-loại mặt hàng có số lượng lớn, chất lượng cao, để phục vụ cho xuất khẩu, và giải quyết việc làm tại chỗ
Đối với nhiều dân tộc thiểu số Tây Nguyên (nhất là ở vùng sâu, vùng xa), du canh, du cư là một tập quán có từ lâu đời Người dân sống chủ yếu dựa vào rừng, đốt rừng làm nương, canh tác theo lối chọc - trỉa, sản xuất tự cung,
tự cấp Cho đến năm 2004, toàn Tây Nguyên còn 32,7% hộ nghèo (bình quân
số hộ nghèo cả nước là 24,1%); thu nhập bình quân phúc lợi xã hội đạt 69.000 VND/người (bình quân cả nước là 181.000 VND) Rõ ràng, để hoàn thành công tác định canh, định cư về cơ bản, Nhà nước cần đầu tư một khoản kinh phí từ 580 - 600 tỷ đồng/năm [18, tr 46]
Kết quả khảo sát của TS Trần Xuân Dung năm 2001 cho thấy: khả năng đáp ứng các nhu cầu về văn hóa tinh thần cho quần chúng các dân tộc thiếu số
ở Tây Nguyên còn rất thấp, do chúng ta còn thiếu quá nhiều phương tiện, điều kiện vật chất cho các hoạt động văn hóa, nhằm thỏa mãn chu cầu của quần chúng [41, tr 23 – 24; xem thêm Phụ lục 3]
Một điều cần đặc biệt chú ý trong vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên nhiều năm qua là “ chất lượng giáo dục giảm sút nghiêm trọng, nhất là lĩnh vực giáo dục phổ thông Thậm chí nhiều học sinh lớp 3, lớp 4 còn chưa đọc thông viết thạo Đấy là chưa kể tình trạng biết chữ nhng mù nghĩa do không nắm vững tiếng phổ thông Chính vì thế, nhiều người sau một thời gian rời ghế nhà trường đã bị mù chữ trở lại” Một số dân tộc tỷ lệ người mù chữ khá cao, như Bana là 80,6%, Ê đê: 58,4%, Gia rai: 79,6%, Brâu: 83,8%,
Rơ măm: 86,3% Tỉ lệ người có trình độ đại học, cao đẳng, ở dân tộc Bana: 0,15%, Ê đê: 0,15%, Gia rai: 0,05% Tỉ lệ học sinh tiểu học không tốt
nghiệp: 71,7% đối với nam và 73% đối với nữ Trong khi đó, một số dân
tộc thiểu số phía Bắc, các tỉ lệ là: Thái 17,25 và 0,96%; Mường 18,7% và
Trang 350,34%; Thổ 17,4% và 0, 31%.[14;16]
Sự lạc hậu, thấp kém về dân trí của một bộ phận khá lớn quần chúng các dân tộc thiểu số, trong đó có cả đội ngũ cán bộ cơ sở, không chỉ làm cho họ có nhiều khó khăn trong việc tiếp thu ánh sáng văn hóa, khoa học kỹ thuật để phát triển kinh tế và hòa nhập vào thế giới hiện đại; mà còn làm cho họ dễ bị các thế lực thù địch lừa gạt, lôi kéo, lợi dụng vào các hoạt động chống lại chính quyền nhân dân
Kết luận chương 1
Hệ thống chính trị cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị ở nước ta, đó chính là hệ thống chính trị cấp xã, phường, thị trấn Cho đến nay,
hệ thống chính trị cơ sở đã được thiết lập rộng rãi ở khắp mọi vùng, miền trong
cả nước Ngoài cấu trúc và đặc điểm chung của hệ thống chính trị, hệ thống chính trị cơ sở còn có những đặc điểm riêng
Hệ thống chính trị cơ sở là cấp gần dân nhất, được coi là “câu nối” trực tiếp giữa nhân dân với Đảng, là cấp trực tiếp truyền tải và tổ chức cho nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ
sở Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đề ra và thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh trật tự ở cơ sở
Cũng như các vùng miền trong cả nước, hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên đã được thiết lập rộng rãi và đang không ngừng phát huy vai trò của
nó Tuy nhiên, do những đặc điểm có tính đặc thù, tổ chức và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên đang bị tác động, chi phối bởi
hàng loạt nhân tố, cả bên trong và bên ngoài Đó không chỉ là những nhân tố
địa – kinh tế, địa – chính trị của địa bàn Tây Nguyên, mà còn có những nhân tố bắt nguồn từ tính chất phức tạp của vấn đề dân tộc, tôn giáo, từ tình trạng lạc hậu, thấp kém về kinh tế – xã hội – văn hoá của địa bàn này Những nhân tố
Trang 36tác động này vừa ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên, vừa quy định những đặc điểm có tính đặc thù, khác biệt của hệ thống chính trị cơ sở ở nơi đây
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC, HOAT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở TÂY NGUYÊN 2.1 Đặc điểm và vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên
2.1.1 Đặc điểm hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên
Cũng như các vùng, miền trong cả nước, hệ thống chính trị cơ sở ở địa bàn Tây Nguyên mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị cơ
sở nói chung Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc thù của địa bàn Tây Nguyên, nên ngoài những đặc điểm chung, hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên còn
có những đặc điểm mang tính đặc thù
Một là, khi xây dựng mô hình, phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở ở Tây Nguyên chưa tính toán đầy đủ yếu tố xã hội, văn hoá
cổ truyền của các dân tộc thiểu số, nên nhìn chung thiết chế của hệ thống chính trị cơ sở ở đây không phù hợp, thậm chí còn đối lập với các thiết chế
xã hội cổ truyền
Khi xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên, các cấp bộ Đảng đã áp dụng nguyên xi mô hình của vùng đồng bằn,g mà không tính toán đến điều kiện lịch sử, truyền thống văn hoá của các dân tộc Tây Nguyên Có thể do không am hiểu đầy đủ phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số, hoặc thực hiện quá máy móc các chủ trương, mệnh lệnh của cấp trên nên các chính sách, biện pháp đề ra không phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu và lòng mong đợi của nhân dân Sau giải phóng, do tình trạng thiếu cán bộ, nhiều người nắm các chức vụ chủ chốt ở xã đều do
sự bổ nhiệm từ trên xuống hoặc điều động từ nơi khác đến, nên nhiều người không được sự tín nhiệm của nhân dân, do đó, hiệu quả công tác không cao Nhưng mặt khác, chúng ta lại chưa chú ý đúng mức việc tuyển chọn những
Trang 38trí thức, những già làng, những người có uy tín, am hiểu luật tục, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số
Trong khi đó, có một thực tế là có sự “vênh” giữa pháp luật của Nhà nước và luật tục của nhiều dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Sự “vênh” này xảy
ra thường xuyên ở nhiều làng và nhiều tộc người, đòi hỏi phải sớm có biện pháp xử lý thích hợp Trong khi luật nhà nước chưa được thực hiện triệt để, nghiêm minh (do đồng bào thiếu hiểu biết, do năng lực cán bộ cở sở bị hạn chế…), thì luật lệ buôn làng lại bị buông lỏng, thậm chí bị bài xích, làm cho trật tự an ninh thôn xóm không bảo đảm, trộm cắp phát triển, tệ nạn xã hội phát sinh ngày một nhiều ở một số vùng, do luật tục của làng còn mạnh, luật nhà nước chưa can thiệp sâu vào đời sống buôn làng, thì người dân vẫn tôn trọng luật tục, sống theo luật tục Những nơi này, các thiết chế của hệ thống chính trị chỉ đóng vai trò truyền đạt chỉ thị, chủ trương từ trên xuống chứ không có vai trò thật sự điều khiển, lãnh đạo mọi mặt cuộc sống của người dân Cũng chính những nơi này, đời sống của cộng đồng buôn làng chịu sự chi phối của luật tục cổ truyền, của các thiết chế xã hội truyền thống, tới mức, khi cần phải làm việc gì có tính chất quần chúng rộng rãi, liên quan toàn thể cộng đồng thì đại diện các thiết chế chính thống đều phải tranh thủ ý kiến của các vị chủ làng, các già làng, thầy xử kiện…, những người am hiểu luật tục và giữ gìn luật tục, quản lý và điều hành xã hội cổ truyền, có vị trí, uy tín trong ý thức mỗi người dân
Thực tế cho thấy, nhiều khi các già làng có uy tín và vai trò dẫn dắt đối với dân trội hơn các cán bộ, dù là cán bộ người dân tộc thiểu số hay cán bộ người Kinh Cho đến nay, so với trưởng thôn, buôn do chính quyền chỉ ra thì già làng vẫn có ảnh hưởng lớn trong nhân dân, cho nên, tuy chính quyền buôn, thôn là cánh tay nối dài của xã, nhưng nhiều nơi vẫn dựa vào già làng đề giải
Trang 39quyết nhiều công việc từ sở hữu đất đai đến bảo vệ rừng…ở nhiều nơi, việc vận động nhân dân vào làm việc ở nông – lâm trường, xây dựng các công trình thuỷ lợi, trường học hoặc hợp thức xin nhập cư…, đều phải tranh thủ sự đồng tình của già làng; các vụ xét xử vẫn được thực thi theo luật tục cổ truyền các làng… Nếu được sự ủng hộ của già làng thì mọi việc sẽ được trôi chảy, ngược lại, bị họ phản đối thì sẽ khó khăn, rắc rối
Như vậy, dù đã bị thu hẹp, các thiết chế xã hội cổ truyền vẫn tiếp tục tồn tại và hoạt động bên cạnh hệ thống các thiết chế chính thống và được sử dụng một số yếu tố vào việc điều hành xã hội Có thể thấy rằng, phần đông các buôn làng ở Tây Nguyên hiện nay mang tính nửa tự quản Trong từng buôn làng, dù cho buôn làng đó nằm trong tổ chức kinh tế quốc doanh hay tập thể, cuộc sống người dân vẫn cơ bản diễn ra xoay quanh luật tục, theo tập tục cổ truyền, mà vai trò của các già làng, chủ làng, chủ đất… còn ảnh hưởng rất lớn Họ đang điều hành nhiều mặt trong cuộc sống của dân làng, đặc biệt về phong tục tập quán
- Hai là, bộ máy của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên còn cồng
kềnh, hiệu quả quản lý, lãnh đạo, nhất là về lĩnh vực kinh tế không cao, tính hình thức, sự yếu kém và sự bất cập với yêu cầu và nhiệm vụ là khá phổ biến; nhiều thiết chế đặt ra chỉ có tính hình thức, không hoạt động hoặc hoạt động kém hiệu quả, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể quần chúng ở các tỉnh Tây Nguyên, bình quân số cán bộ chủ chốt cấp xã từ 18 – 26 người, ngoài ra còn có
5 cán bộ là cấp phó các đoàn thể, chưa kể chức danh phó xã đội, phó công an
xã, cán bộ chuyên trách văn hoá, thông tin, thương binh – xã hội…, đều là những cán bộ được hưởng lương hoặc sinh hoạt phí
Một số nơi, mọi việc đều do chủ tịch, bí thư giải quyết, hoặc đợi lệnh của bí thư, chủ tịch điều này phản ánh một thực trạng là nhiều người được cơ
Trang 40cấu vào các thiết chế của hệ thống chính trị nhưng không có uy tín, không có năng lực lãnh đạo nên không phát huy được vai trò và nhiệm vụ được giao Mặt khác, do cơ cấu đặt ra còn mang tính hình thức, có chức nhưng không có thực quyền, nên họ không được tạo điều kiện để phát huy khả năng, vai trò của mình; trong khi đó một số người giữ vai trò chủ chốt trong hệ thống chính trị
đã bao sân, làm thay hoặc giải quyết các công việc không đúng chức năng của mình Hiện tượng bí thư Đảng làm thay công việc của chính quyền; chủ tịch chính quyền làm thay công việc của các đoàn thể quần chúng là khá phổ biến Theo điều tra của TS Nguyễn Hồng Sơn: đội ngũ cán bộ cốt cán ở cơ sở Tây Nguyên có tới 61,8% trình độ văn hoá cấp I, II; trình độ chuyên môn của 4 chức danh chủ chốt thì sơ cấp có 15,6%, trung cấp 53,2% (còn lại chưa được đào tạo); có tới 60,34% cán bộ thiếu kinh nghiệm quản lý và 16,71% cán bộ chưa thật thông suốt chủ trương, chính sách; bộ máy kém hiệu lực (cấp uỷ 16,1%, chính quyền 19%), phân công người và việc chưa hợp lý (cấp uỷ 10,7%, chính quyền 10,1%), phân định quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ giữa cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể không rõ ràng (25,9%)…[62, tr 216]
Do tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở hoạt động kém hiệu lực, nên không nắm được dân, dẫn đến xa rời quần chúng Đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng người dân bị bọn phản động kích động, xúi giục, lôi kéo tham gia cuộc bạo loạn chính trị tháng 2/2001, 4/2004 và nhiều cuộc tranh chấp, khiếu kiện khác…, mà cấp uỷ đảng, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở không biết
- Ba là, đội ngũ cán bộ thuộc hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên có
mặt bằng trình độ thấp hơn các vùng miền khác và không đồng đều giữa cán
bộ là người Kinh với cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ Do hạn chế về trình độ nhận thức các mặt, nhất là về chính sách, pháp luật, về tôn giáo, dân