Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên

Một phần của tài liệu Quan điểm về tự do trong bàn về tự do của John Stuart Mill (Trang 67 - 106)

Chương 3. MỘT SỐ DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP

3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên

3.2.1. Nắm vững và thống nhất các quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng tại Tây Nguyên.

Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước:

Tây Nguyên được xác định là một trong những vùng chiến lược giàu tiềm năng phát triển kinh tế, và có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh - quốc phòng của đất nước. Đây cũng là một trong những mục tiêu trọng điểm mà các thế lực thù địch tập trung chống phá. Sự ổn định của Tây Nguyên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của cả nước. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với đảm bảo an ninh - quốc phòng ở các vùng chiến lược, trong đó có Tây Nguyên, là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta. Vì phát triển kinh tế - xã hội là tạo nền tảng vững chắc cho đảm bảo an ninh - quốc phòng; ngược lại, an ninh - quốc phòng được tăng cường, chính trị - xã hội ổn định là điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Trong nhiều năm qua, địa bàn Tây Nguyên được Đảng, Nhà nước và cả nước quan tâm, tạo nhiều điều kiện về các mặt để phát triển, nên đã có sự chuyển biến rõ rệt về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Tuy nhiên, sự phát triển đó chưa tương xứng với sự

đầu tư của cả nước và tiềm năng của địa bàn này. Tây Nguyên vẫn là một trong những vùng chiến lược chậm phát triển nhất của cả nước. Đời sống mọi mặt của nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên nói chung còn thấp kém, có nơi quá lạc hậu, tình hình an ninh, trật tự có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định.

Để phát triển toàn diện Tây Nguyên, đưa Tây Nguyên tiến kịp sự phát triển chung của cả nước, xứng đáng với vị trí và tiềm năng của địa bàn này, thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn, quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng ở nơi đây.

Ngày 15/1/2002, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10/NQ - TƯ “Về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010”. Thủ tướng Chính phủ cũng ra Quyết định số 168, ngày 30/10/2001 “Về định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001- 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên”. Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về Tây Nguyên trong những năm tới là:

đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đoàn kết một lòng cùng với cả nước, xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững về chính trị, phát triển nhanh về văn hoá - xã hội, mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tới xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế động lực [72, tr. 42].

Cụ thể hoá quan điểm của Đảng, Nhà nước, các cấp Bộ, Ngành có liên quan cũng đã có những quy định cụ thể, góp phần vào phát triển Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010.

Về các giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội:

Mục tiêu tổng quát: Phát huy tiềm năng, lợi thế vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tạo sự phát triển năng động, có tốc độ phát triển cao và bền vững, tiến tới trở thành vùng giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng -

an ninh. Từng bước cải thiện đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, tạo động lực tăng trưởng cao, để có điều kiện xóa đói giảm nghèo. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 8 - 8,5%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 600 - 650 USD.

Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 52% năm 2005 xuống 37-38% năm 2010. Các giải pháp cụ thể là:

- Tiếp tục phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa một cách vững chắc trên cơ sở đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp. Phát triển lâm nghiệp toàn diện nhằm xây dựng thành vùng trọng điểm phát triển lâm nghiệp của cả nước. Quy hoạch sử dụng đất một cách hợp lý, chuyển giao quỹ đất của một số nông, lâm trường để giải quyết đất ở, đất sản xuất gắn với tổ chức lại sản xuất nhằm giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số.

- Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp phù hợp và có lợi thế;

phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến quặng, cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản. Đa dạng hóa phương thức đầu tư để phát triển công nghiệp. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm trong vùng. Thu hút các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp hiện có, xây dựng thêm các cụm công nghiệp trên địa bàn vùng.

- Phát triển mạng lới thương mại đa dạng phù hợp với địa bàn Tây Nguyên, phát triển mạnh kinh doanh du lịch, nhất là các trung tâm du lịch sinh thái.

- Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là các tuyến quốc lộ quan trọng. Chú trọng xây dựng mạng lưới giao thông nông thôn, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa. Hoàn thành các hệ thống cấp nớc ở các thành phố, thị xã trong vùng.

- Tiếp tục đầu tư nâng cấp và xây dựng hệ thống trường học, bệnh viện, trạm xá, điểm sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí. Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc Tây Nguyên.

Về các giải pháp cơ bản để đảm bảo an ninh - quốc phòng:

Đối với địa bàn Tây Nguyên, vấn đề đặt ra là phải kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, với giữ vững ổn định chính trị - xã hội; đảm bảo an ninh - quốc phòng. Vì vậy, cùng với các giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội, các giải pháp về đảm bảo an ninh - quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên được xác định là:

- Làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, của bọn phản động người Việt Nam lưu vong và trong nội địa; trong đó, coi đấu tranh xóa bỏ “tổ chức FULRO” là yếu tố quyết định đảm bảo sự ổn định chính trị, an ninh trật tự lâu dài ở Tây Nguyên.

- Vừa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng của quần chúng nhân dân các dân tộc trên địa bàn; vừa kiên quyết đấu tranh xóa bỏ tổ chức “Tin lành Đê Ga”, đấu tranh với các họat động lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia.

- Đấu tranh, vô hiệu hóa các âm mưu, họat động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên, vấn đề người Thượng... xâm phạm an ninh quốc gia, gây mất ổn định ở Tây Nguyên.

- Tăng cường các công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ Đảng, chính quyền đối với công tác đảm bảo an ninh trật tự ở địa bàn Tây Nguyên.

- Xây dựng, triển khai các kế hoạch, phương án xử lý các điểm nóng về dân tộc, tôn giáo, phòng chống biểu tình, gây rối, gây bạo loạn... [72, tr. 72 - 79].

Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ANTT ở địa bàn Tây Nguyên là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt, đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp các lực lượng, các biện pháp, sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và các cấp chính quyền, trong đó, lực lượng Công an, Quân đội làm nòng cốt.

Như vậy, các quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về phát triển toàn diện Tây Nguyên là những định hướng cơ bản để các ngành, các cấp hoạch định và triển khai các mặt công tác cụ thể. Việc xây dựng, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên phải dựa trên những định hướng cơ bản đó. Nói cách khác, để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên, một mặt phải nắm vững những đặc điểm đặc thù của Tây Nguyên, mặt khác, phải đặt Tây Nguyên trong mối quan hệ với tổng thể của cả nước, phải nắm vững các quan điểm, chủ trương, biệ pháp mang tầm chiến lược của Đảng, Nhà nước.

3.2.2. Tăng cường công tác xây dựng Đảng, gắn công tác xây dựng Đảng với củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên.

Từ sau khi có nghị quyết TƯ 5 (khóa IX) Về đổi mới và nâng cao hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn, Tỉnh uỷ các tỉnh Tây Nguyên có nhiều nghị quyết, xây dựng nhiều chương trình để chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ về xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Trong đó đặc biệt coi trọng nội dung công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng cơ sở và phát triển đảng viên nhằm xoá bỏ tình trạng “trắng” cơ sở Đảng ở một số địa phương. Tỉnh uỷ Kon Tum có Kế hoạch 25/KH –TU (2002), Chỉ thị 08/CT- TU (2004); Tỉnh uỷ Đắk Lắk có Nghị quyết 07/NQ –TU ngày

03/03/2003; Tỉnh uỷ Đăk Nông có Nghị quyết 02/NQ –TU ngày 13/5/2004;

Tỉnh ủy Lâm Đồng có Nghị quyết 13/NQ –TU ngày 18/07/2002...

Trên cơ sở các nghị quyết đã ban hành, các tỉnh Tây Nguyên đã triển khai nhiều hình thức, biện pháp như tăng cường đưa đảng viên xuống cơ sở, giao cho cấp ủy các ban ngành phụ trách, kết nghĩa với các cơ sở thôn, buôn, giúp cho các cơ sở (đặc biệt là những buôn, thôn có tình hình an ninh chính trị phức tạp) củng cố tổ chức cơ sở Đảng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng, phát triển đảng viên mới…

Để kiện toàn củng cố tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao trình độ, năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên, các đảng bộ ở Tây Nguyên đã đề ra mục tiêu, chỉ tiêu và những biện pháp cụ thể như: đẩy mạnh công tác kết nạp đảng viên mới là người dân tộc tại chỗ; tích cực tạo nguồn, mở nhiều lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho số cảm tình, đối tượng Đảng; điều động cán bộ, đảng viên ở huyện về cơ sở để vừa làm hạt nhân, vừa giúp cơ sở phát triển đảng viên mới;

phân công đảng viên phụ trách, giao chỉ tiêu phấn đấu hàng năm cho các cơ sở Đảng, đoàn thể chính trị…Trên cơ sở xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở Đảng, tăng cường phát triển đảng viên, các tỉnh uỷ Tây Nguyên còn thực hiện đồng bộ các biện pháp chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các cấp gắn kết giữa xây dựng Đảng với xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ tại các cơ sở, như bố trí các đảng viên tham gia các chức danh, vị trí lãnh đạo Đảng, HĐND, UBND, các ban ngành, đoàn thể cơ sở...

Thực tế cho thấy, nhờ có các nghị quyết, chủ trương, biện pháp đúng đắn, những năm qua, công tác xây dựng Đảng ở cơ sở gắn với kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị cơ sở đã đem lại kết quả tích cực. Cuối năm 2003, toàn vùng có 82378 đảng viên thì đến cuối năm 2004 đã có 91263 đảng viên (tăng

8525 đảng viên). Tình trạng “trắng” đảng viên và “trắng” cơ sở Đảng ở các thôn, buôn đã dần dần thu hẹp. Số thôn, buôn “trắng” đảng viên giảm từ 603 năm 2003 xuống còn 475 năm 2004 và quý I/2005 chỉ còn 449 thôn, buôn

“trắng” đảng viên. Trong đó, một số địa phương như Lâm Đồng còn 41/1260 thôn, buôn (chiếm 3,25%), Đắk Nông còn 37/617 thôn, buôn (chiếm 5,99%).

Số lượng đảng viên mới kết nạp hàng năm tăng nhanh, chất lượng ngày càng được nâng cao; đa số đảng viên mới được kết nạp đều phát huy tác dụng tốt, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, góp phần bảo vệ an ninh trật tự, ổn định chính trị – xã hội trên địa bàn cơ sở.

Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng thời gian qua trên địa bàn Tây Nguyên còn bộc lộ những bất cập, làm ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và làm cho tình hình chính trị – xã hội ở địa bàn cơ sở Tây Nguyên thêm phức tạp. Mặc dù trong các nghị quyết, chủ trương, kế hoạch của Tỉnh ủy các tỉnh Tây Nguyên đều xác định: công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng (đặc biệt là ở các tổ chức cơ sở Đảng) là khâu then chốt, quyết định sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở và đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị ở từng cơ sở, song trong thực tế vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, đó là:

Thứ nhất, nhận thức về trách nhiệm của một số cấp ủy cơ sở Đảng chưa đầy đủ, sâu sắc; các biện pháp tổ chức thực hiện còn thụ động, chưa quyết liệt.

Do vậy, chưa giải quyết dứt điểm được tình trạng “trắng” đảng viên và cơ sở đảng tại một số địa bàn, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Thực tế cho thấy, đến cuối năm 2004, số thôn, buôn, làng “trắng” đảng viên trên toàn địa bàn Tây Nguyên còn 7,05%, trong đó tập trung chủ yếu là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào theo đạo và vùng đồng bào di

cư tự do, công tác phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ thấp cao so với tỉ lệ dân cư và so với số đảng viên người Kinh.

Thứ hai, chưa kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, phát triển Đảng với kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, chưa chủ động trong xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, phát triển đảng viên vào hệ thống chính trị cơ sở; còn một bộ phận khá đông cán bộ chuyên trách và cán bộ công chức xã chưa phải là đảng viên.

Trong tổng số 11336 cán bộ chuyên trách và công chức xã của các tỉnh Tây Nguyên, đảng viên mới chỉ chiếm 50,6%. Điều này đàyphần nào hạn chế vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương.

Thứ ba, trong công tác xây dựng Đảng, một số tổ chức cơ sở Đảng, chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên; công tác quản lý cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức. Điều này đã dẫn đến tình hình là: Một số cán bộ, đảng viên là người dân tộc thiểu số bản lĩnh chính trị không vững vàng, bị các thế lực thù địch và phần tử xấu tác động, kích động nên đã xuất hiện tư tưởng dân tộc hẹp hòi, li khai, tự trị; Một số đảng viên ngấm ngầm ủng hộ, tiếp tay cho bọn phản động, thậm chí có đảng viên có biểu hiện “lá mặt, lá trái”. Cá biệt có cán bộ, đảng viên tham gia tổ chức phản động

“Nhà nước Đê Ga độc lập”, tham gia biểu tình, bạo loạn…

Thứ tư, chưa chú trọng đúng mức công tác bảo vệ đảng, bảo vệ chính trị nội bộ tại các cơ sở.

Qua việc tiến hành các biện pháp công tác, cơ quan an ninh và các cơ quan bảo vệ đảng, bảo vệ chính trị nội bộ ở các tỉnh Tây Nguyên đã phát hiện một số trường hợp cán bộ đảng viên ở cơ sở có lịch sử chính trị phức tạp, như ở Chư Sê, Đăk Đoa (Gia Lai)…, trước đây số này đã từng tham gia hoạt động FULRO, thời gian gần đây lại có biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia

hoạt động cùng với số đối tượng FULRO lưu vong và “Tin lành Đê Ga”. Một số đảng viên bị các đối tượng xấu móc nối, lôi kéo tham gia hoạt động biểu tình, bạo loạn. Từ năm 2001 – 2004, các cơ quan, đơn vị chức năng đã phát hiện, tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền phát hiện xử lý 157 cán bộ, đảng viên ở cơ sở tham gia biểu tình, tổ chức người trốn đi Campuchia.

Những tồn tại, yếu kém trong công tác xây dựng củng cố tổ chức Đảng cơ sở ở Tây Nguyên thời gian qua là một trong những nguyên nhân quan trọng làm suy giảm sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở. Để khắc phục những tồn tại, yếu kém nói trên, công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng trên địa bàn Tây Nguyên cần tập trung giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau:

Một là, phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng với việc củng cố, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.

Thực chất đây là giải quyết mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng với việc xây dựng củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Trong đó, công tác xây dựng Đảng là khâu then chốt mang tính chất quyết định. Có làm tốt công tác xây dựng cơ sở Đảng mới có tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, đảng viên tốt làm hạt nhân cho các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, qua đó, tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và góp phần đảm bảo an ninh trật tự ở từng địa phương.

Thực tế trên địa bàn Tây Nguyên thời gian qua đã chứng minh rằng, ở những địa bàn làm tốt công tác xây dựng Đảng, tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, đảng viên tốt, gương mẫu, kiên định, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực vận động quần chúng. Chính tại những địa bàn đó, hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, chính quyền và các đoàn thể quần chúng vững mạnh, phát huy vai trò tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương,

Một phần của tài liệu Quan điểm về tự do trong bàn về tự do của John Stuart Mill (Trang 67 - 106)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)