Các nhân tố tác động đến tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị

Một phần của tài liệu Quan điểm về tự do trong bàn về tự do của John Stuart Mill (Trang 22 - 37)

1.2.1. Nhân tố địa – kinh tế: Tây Nguyên là địa bàn có nhiều tiềm năng và khả năng để phát triển các ngành kinh tế có giá trị cao, phục vụ dân sinh và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tây Nguyên, hay còn gọi là cao nguyên Trung Bộ, gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Số dân là 4.596.000 người (tính đến 5/2005), bao gồm dân tộc Việt (Kinh), các dân tộc thiểu số bản địa và các dân tộc thiểu số từ nơi khác đến, như miền núi phía Bắc, ven biển Trung Bộ, Nam Trường Sơn và Đông Nam Bộ [28, tr. 5].

Với diện tích tự nhiên là 56.129 km2, nằm ở 110 13‟ – 150 15‟ vĩ độ Bắc, 1070 02‟ – 1090 05‟ kinh độ Đông, chiếm gần 17% diện tích cả nước, Tây Nguyên là một vùng có điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đa đạng và phong phú. Tây Nguyên là một sơn nguyên có tính đặc thù, với các dãy núi cao phía Bắc (Ngọc Linh: 2598 m) và phía Nam (Chư Yang Sin: 2406 m), nối tiếp là những dãy núi thấp khoảng 200 m và các cao nguyên (Kon Hà Nừng, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đắk nông, Di Linh – Bảo Lộc) có độ cao từ 300 – 1000 m. Vùng núi chiếm khoảng 2.930.000 ha, vùng cao nguyên hơn 2.000.000 ha, vùng bình nguyên và thung lũng khoảng 570.000 ha.

Tây Nguyên là vùng có diện tích đất đỏ bazan lớn nhất nước, khoảng 1.400.000 ha, rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su, hồ tiêu và các loại cây ăn quả cao cấp, với năng suất, chất lượng cao, sản lượnglớn. Ngoài ra, ở đây còn có khoảng 240.000 ha đất phù sa được bồi do các con sông, suối.

Tài nguyên rừng đang là một thế mạnh của Tây Nguyên, với rất nhiều loại (rừng lá rộng, rừng lá rụng vào mùa khô, rừng thông, tre nứa…) và trữ

lượng gỗ lớn, chiếm khoảng 45% trữ lượng gỗ của cả nước. Rừng Tây Nguyên có nhiều loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, như các loại gỗ quý, các loại cây dược liệu; có nhiều loại động vật, nhất là động vật hoang dã, vừa có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho du lịch, xuất khẩu, vừa phục vụ cho nghiên cứu khoa học.

Tây Nguyên cũng là nơi giàu về các loại khoáng sản, với trữ lượng lớn, và chất lượng khá, như quặng bô xít có trữ lượng khoảng 3,05 tỉ tấn; quặng vàng và vàng sa khoáng khoảng 8,82 tấn; quặng thiếc: 400.000 tấn; quặng sắt:

470 triệu tấn; than: 300 triệu tấn; đá xây dựng: 3 tỉ m3 …

Tây Nguyên cũng là nơi giàu về tài nguyên nước và năng lượng thủy điện. Với lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.900 mm, như vậy, mỗi năm cả Tây Nguyên hứng được khoảng 106 m3 nước mưa và chuyển vào các dòng chảy sông, suối khoảng 48 tỉ m3. Nguồn nước ngầm ở đâycó thể thoả mãn tốt cho các nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp chế biến, chăn nuôi và tưới. Các sông, suối ở Tây Nguyên có độ dốc lớn, tạo ra tiềm năng thuỷ điện, với trữ lượng khoảng 57 tỉ kwh, chiếm khoảng 21% trữ lượng thuỷ điện cả nước [39, tr. 55-56].

Với những đặc thù về cảnh quan thiên nhiên và các truyền thống văn hóa lâu đời, mang bản sắc độc đáo, cũng như có nhiều địa danh nổi tiếng, Tây Nguyên là nơi có tiềm năng lớn về phát triển ngành du lịch, nơi hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.

Những tiềm năng lớn mà thiên nhiên ưu đãi, ban tặng cho Tây Nguyên, đó chính là những điều kiện, tiền đề vô cùng quan trọng, không chỉ cho riêng Tây Nguyên, mà còn cho cả nước, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu. Với những tiềm năng đó, không chỉ cho

phép Tây Nguyên phát triển một nền kinh tế đa dạng, toàn diện, mà còn cho phép phát triển nhiều ngành kinh tế mũi nhọn, những thế mạnh riêng có của Tây Nguyên.

Tây Nguyên còn là địa bàn giải quyết tình trạng thừa lao động quá mức ở nhiều địa phương trong cả nước, cũng như khắc phục sức ép về sự gia tăng dân số quá lớn của nước ta trong hơn hai thập kỷ qua. Tính đến 5/2005, dân số Tây Nguyên 4.596.000 người, bình quân 82 người/km2. So với mật độ dân số cả nước hiện nay gần 260 người/km2, thì mật độ dân số ở Tây Nguyên còn rất thấp. Trong thời gian từ 1976 – 2005, dân số Tây Nguyên tăng hơn 3,6 lần, chủ yếu là tăng cơ học. Riêng số di dân tự do đến Tây Nguyên trong thời gian đó là khoảng 1 triệu người. Di dân, phân bố lại lao động trên phạm vi cả nước và Tây Nguyên, không thuần túy là vấn đề kinh tế - xã hội, vấn đề đời sống, mà còn là do yêu cầu bảo vệ kinh tế và các yêu cầu về tăng cường quốc phòng và an ninh trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước [40, tr. 15-16].

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, điều kiện địa lý – tự nhiên ở Tây Nguyên cũng đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở vùng này. Do địa hình hiểm trở, núi rừng trùng điệp, hoang vu, giao thông vận tải, đi lại khó khăn..., nên nhiều vùng dân cư tách biệt với bên ngoài, hạn chế giao lưu, trao đổi nên đời sống kinh tế – xã hội trì trệ, đời sống văn hoá tinh thần thấp kém... Khí hậu ở Tây Nguyên rất khắc nghiệt, hàng năm có 2 mùa rõ rệt:

mùa khô nắng hạn kéo dài, cỏ cây trụi lá; mùa mưa ngút ngàn, các sông suối ngăn cách các con đường giao lưu. Từ sau 1975, do sự tàn phá của con người, tài nguyên thiên nhiên ở Tây nguyên bị sử dụng lãng phí, mất mát nghiêm trọng: rừng bị tàn phá và xuống cấp, đất ba zan bị xói mòn, thoái hoá, môi trường sinh thái bị phá vỡ... Người dân Tây Nguyên đang phải đương đầu với sự “trả thù ” của thiên nhiên.

1.2.2. Nhân tố địa – chính trị: Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh và là một mắt xích quan trọng trong âm mưu của các thế lực thù địch đối với Việt Nam.

Tây Nguyên đã từng được ví như “nóc nhà của Đông Dương”, ai nắm được Tây nguyên thì người đó sẽ khống chế được cả Đông Dương, khống chế cả vùng duyên hải miền Trung, cửa ngõ vào Sài Gòn và Đông Nam Bộ, khu vực ngã ba biên giới Việt Nam – Campuchia - Lào. Do vậy, vùng Tây Nguyên có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu với nhiều vùng trong nước và quốc tế.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Tây Nguyên là một trong những địa bàn, căn cứ địa quan trọng, góp phần cùng cả nước lập nên những chiến công hiển hách. Trong quá trình xâm lược và chiếm đóng Tây Nguyên, thực dân Pháp đã gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân các dân tộc nơi đây. Tiêu biểu cho tinh thần bất khuất chống Pháp của các dân tộc Tây Nguyên là các cuộc khởi nghĩa của đồng bào vùng Krông Ana, Krông Knô (1900) do N‟Gưh lãnh đạo, của đồng bào Xơ đăng (1901), của đồng bào An Khê (1905); đặc biệt, cuộc khởi nghĩa của N‟Trang Lơng (dân tộc M‟Nông) kéo dài 23 năm ở Đắk Lắk (1912 - 1935), trong một thời gian dài đã giải phóng cả vùng cao nguyên rộng hàng vạn cây số vuông, tiêu diệt nhiều sĩ quan, binh lính Pháp.

Thời kỳ kháng chiến 9 năm chống Pháp, Tây Nguyên nổi tiếng với anh hùng Núp. Thời kỳ chống Mỹ, những chiến công chói lọi, như Plei Me, Đức Cơ, Đắk Tô - Tân Cảnh...đã khẳng định tinh thần bất khuất của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, Tây Nguyên được chọn làm chiến dịch mở màn, làm đột phá điểm, càng khẳng định điều đó.

Tây Nguyên hiện nay, ở phía Tây giáp tỉnh Atôpư của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, và Tây Nam giáp tỉnh Môndunkiri và Ratanakiri của Vương quốc Campuchia, với đường biên giới dài 590km. Dọc biên giới Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Lào, từ 1975 đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, liên quan đến ANQG và độc lập chủ quyền của Việt Nam. Các thế lực cực hữu phản động ở Campuchia trong đảng Fulcipec, đảng Samrainsy, tàn quân Khơ me đỏ..., được sự giúp đỡ tiền bạc, phương tiện hoat động của tình báo quân đội Thái Lan, tình báo Mỹ... đang tích cực xây dựng căn cứ tại Đông Bắc Campuchia, không xa biên giới với Việt Nam. Chính phủ Campuchia cũng đã đưa hàng ngàn tên Khơ me đỏ (đã về hàng) đến định cư dọc biên giới Việt Nam – Campuchia. Mặt khác, các lực lượng cực hữu ở Thái Lan cũng đang tích cực giúp đỡ mọi mặt cho cho các lực lượng phản động cực hữu ở Lào, lập căn cư ở vùng Nam Lào, sát biên giới Lào – Việt Nam. Chính quyền Campuchia trước đây đã từng giúp đỡ FULRO, là địa bàn đứng chân của tàn quân FULRO khi chúng bị ta truy quét gắt gao ở Tây Nguyên. Hiện nay, Campuchia lại là địa bàn để các phần tử FULRO, phản động người dân tộc thiểu số lưu vong trở về Tây Nguyên móc nối cơ sở, gây dựng lực lượng chống phá cách mạng. Rõ ràng đây là những nhân tố tiềm tàng đe dọa độc lập, chủ quyền và ANQG của Việt Nam ở vùng Tây Nguyên [39, tr. 58-59].

Nhưng những nhân tố đe dọa độc lập, chủ quyền và ANQG ở Tây Nguyên hiện nay còn xuất hiện ở những hướng khác, đó là những ý đồ, những âm mưu chiến lược của các thế lực đế quốc, phản động quốc tế đối với Việt Nam, mà Tây Nguyên là một mắt xích, một khâu đột phá quan trọng.

Sau khi hoàn thành cơ bản công cuộc xâm lược Việt Nam, để độc chiếm Tây Nguyên, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”, thi hành ở Tây

Nguyên một chế độ cai trị riêng, theo đó Tây Nguyên không thuộc quyền cai quản của triều đình Huế; thi hành nhiều chính sách, biện pháp cấm người Việt lên Tây Nguyên làm ăn, sinh sống...

Cùng với âm mưu chia cắt Tây Nguyên về mặt hành chính, thực dân Pháp ra sức tạo dựng lực lượng tay sai, qua đó, nắm các dân tộc Tây Nguyên. Từ việc cử các giáo sĩ lên truyền đạo, và nắm giữ các chức vụ quan trọng về hành chính (Công sứ, Đại lý tòa hành chính), đến việc mở trường đào tạo các chức sắc tôn giáo, mua chuộc, lôi kéo tầng lớp trên, ngời có uy tín trong dân tộc thiểu số, lựa chọn, đào tạo người dân tộc thiểu số thành lực lượng tay sai trung thành trong bộ máy quân sự, hành chính ở Tây Nguyên...

Khi bị thất bại và buộc phải rút khỏi Tây Nguyên, Pháp vẫn cố nắm giữ và duy trì ảnh hưởng, quyền lợi ở đây, bằng việc xúi giục, giúp đỡ một số trí thức, công chức người Thượng lập ra phong trào BaJaRaKa (tiền thân của phong trào FULRO, một tổ chức chủ trương đấu tranh chống sự có mặt của người Việt ở Tây Nguyên, đòi độc lập cho Tây Nguyên) vào thời kỳ 1957- 1958. Cho đến nay, những toan tính của Pháp đối với Tây Nguyên vẫn còn, thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư, các hoạt động từ thiện, nhân đạo.

Hiện nay, ở Tây Nguyên đang có một số NGO của Pháp hoạt động, như Tổ chức cứu trợ trẻ em Mê Kông (EDM), HOT LUA, CCFD, AUF...

Trong khi thực dân Pháp đang cai trị Việt Nam, thì Mỹ đã tìm cách gây ảnh hưởng đến Tây Nguyên, thông qua việc truyền bá đạo Tin lành vào vùng này. Từ những năm 1929 - 1932, các giáo sĩ thuộc CMA đã đặt chân lên nhiều vùng đất Tây Nguyên để truyền đạo và gây dựng cơ sở.

Cuối những năm 50, thế kỷ XX, để trực tiếp nắm lấy Tây Nguyên, Cục tình báo trưng ương Mỹ (CIA) đã tìm mọi cách nắm lấy những người có uy tín trong phong trào BaJaRaKa, sau này là FULRO, gạt dần ảnh hưởng của Pháp

đối với phong trào này. Dới sự đạo diễn của Mỹ, trực tiếp là các cố vấn, nhân viên CIA, chính quyền Thiệu sau này dần dần thu phục và nắm được các thủ lĩnh FULRO, sử dụng FULRO chống lại cách mạng.

Sau năm 1975, Mỹ tiếp tục thông qua lực lượng phản động ở Campuchia, Thái Lan, giúp đỡ, hỗ trợ lực lượng FULRO, chống phá chính quyền nhân dân ở Tây Nguyên và các tỉnh lân cận. Tháng 10/1992, FULRO đầu hàng UNTAC và tháng 12/1992, gần 400 tên FULRO ở rừng (cả phụ nữ và trẻ em) đã được chính quyền Mỹ cho định cư ở bang Bắc Carôlina [39, tr. 79-81].

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Mỹ càng đặc biệt quan tâm đến Tây Nguyên. Nhiều đoàn chính khách của Chính phủ Mỹ, nhiều người Mỹ đến Tây Nguyên với mục đích thăm viếng, thực hiện các dự án, tham quan du lịch, thăm lại nơi trước năm 1975 đã từng sống, hoạt động... Ngoài một số dự án đầu tư có tính nhỏ giọt, không hiệu quả, Mỹ còn chú trọng đến việc tranh thủ lôi kéo một số trí thức, người có uy tín trong các dân tộc thiểu số, bằng việc tặng quà, mời sang Mỹ hội thảo, tham quan, du học...nhằm tạo ra một đội ngũ trí thức mới, chịu ảnh hưởng, mang ơn Mỹ, gắn bó với Mỹ.

1.2.3. Tác động từ sự phức tạp về vấn đề dân tộc và tôn giáo của địa bàn Tây Nguyên.

Tây Nguyên hiện nay có trên 40 dân tộc sinh sống, có thể phân thành ba nhóm chính:

Nhóm dân tộc Việt (Kinh), chiếm đa số với hơn 70% dân số Tây Nguyên. Từ sau 1975, do chính sách phân bố lại dân cư, lao động trên địa bàn cả nước và tình trạng di dân tự do, đến nay, người Việt ở Tây Nguyên khoảng 3,4 – 3,5 triệu người.

Nhóm các dân tộc thiểu số từ Miền Bắc đến Tây Nguyên, đông nhất là thời kỳ 1952-1954 (đi làm đồn điền cho Pháp), thời kỳ 1979-1988 (chiến tranh biên giới phía Bắc) và thời gian gần đây, tình trạng di dân tự do ồ ạt.

Nhóm các dân tộc thiểu số bản địa có mặt ở Tây Nguyên từ hàng ngàn năm nay, chiếm khoảng 24 - 25 % dân cư Tây Nguyên, với hơn 10 dân tộc khác nhau.

Các dân tộc thiểu số bản địa ở đây thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polinisen và nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, với rất nhiều nhóm địa phương.

Trình độ kinh tế - xã hội của các dân tộc này nói chung còn rất thấp và không đồng đều...[40, tr. 60-61]. Đến đầu thế kỷ XX, xã hội Tây Nguyên đang ở trong giai đoạn tiền phân hoá giai cấp, nhiều nơi còn mang tàn tích của chế độ thị tộc, bộ lạc, nhưng không nguyên vẹn do tác động của chiến tranh, và sự có mặt của các dân tộc khác. Đơn vị xã hội ở đây là các buôn hay plei, những công xã nông thôn với một thiết chế xã hội khá chặt chẽ về ranh giới lãnh thổ, về quyền sở hữu tập thể đất đai, và một bộ máy cai trị với một chủ làng, hay tù trưởng, một hội đồng già làng, trưởng nóc. Luật tục, lễ thức gắn liền với buôn, làng, với nóc, với gia đình. Thiết chế xã hội đó được xác lập trên cơ sở thống nhất bền chặt của những người cùng huyết thống, cùng dân tộc hay nhóm địa phương, cộng cư trên một lãnh thổ, được quy định bởi một ranh giới rõ ràng, cùng sinh sống và sản xuất tập thể, cùng săn bắn, hái lượm. Phần lớn các dân tộc thiểu số Tây Nguyên vẫn theo chế độ mẫu hệ...

Nói chung, con người nơi đây vẫn giữ được đức tính tốt của một xã hội chưa phân hoá giai cấp, chưa chịu sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá và của cơ chế thị trường. Người dân tộc thiểu số ở đây sống bằng kinh tế nông nghiệp kết hợp với thu nhặt lâm thổ sản: sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, hoàn toàn mang tính chất tự cung, tự cấp, với một hệ

thống canh tác sơ khai, công cụ sản xuất thô sơ, còn nhiều tàn tích của nền kinh tế chiếm đoạt, sản xuất hàng hoá chưa phát triển.., vì vậy, đời sống bấp bênh, đói nghèo kéo dài.

Những điều kiện kinh tế - xã hội cộng với sự ưu đãi của thiên nhiên, và những yếu tố tác động khác từ bên ngoài, đã hình thành trong con người các dân tộc thiểu số Tây nguyên những đặc điểm tâm lý có tính đặc thù. Người dân ở đây còn có quan hệ huyết thống sâu đậm, quan hệ dòng tộc, thân tộc bao trùm lên trên mọi quan hệ khác trong buôn làng; họ tin tưởng và bảo vệ người trong dòng họ mình; mọi hành vi phản bội dòng họ đều bị coi khinh và bị xử lý rất nặng. Họ nhìn nhận thực tế rất đơn giản, cụ thể, với tính thật thà, chất phác, nhưng dễ có tự ái cá nhân. Sự hiểu lầm hay va chạm tập quán, phong tục, tín ngưỡng dễ làm họ nổi giận, dễ dẫn đến thù hằn và hành động bột phát, thiếu kiềm chế. Họ cũng rất tự hào, hãnh diện nếu trong dân tộc có người có uy tín lớn, địa vị xã hội cao.

Trước khi thực dân Pháp thống trị Tây Nguyên, nói chung trong người dân tộc thiểu số, ý thức dân tộc hình thành chưa rõ nét, ý thức quốc gia, tư t- ưởng tự trị chưa xuất hiện. Nhưng do chính sách cai trị của phong kiến nhà Nguyễn và nhất là chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đã hình thành trong các dân tộc thiểu số ở đây tư tưởng hẹp hòi, kỳ thị dân tộc.

Đặc biệt sau 1954, khi chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành nhiều chính sách mang tính “đồng hóa”, mâu thuẫn giữa các dân tộc thiểu số với chính quyền Ngô Đình Diệm càng trở nên sâu sắc.

Những tư tưởng, thái độ trên còn bắt nguồn từ một nguyên nhân quan trọng hơn, đó là chính sách cai trị, thống trị và các thủ đoạn khác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Để độc chiếm và khai thác Tây nguyên, thực dân Pháp đã từng thi hành ở đây chế độ cai trị trực tiếp, cấm người Việt lên lập nghiệp

Một phần của tài liệu Quan điểm về tự do trong bàn về tự do của John Stuart Mill (Trang 22 - 37)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(120 trang)