Trình bày quan điểm về tác động của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội. Liên hệ tại Việt Nam Trình bày quan điểm về tác động của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội. Liên hệ tại Việt Nam Trình bày quan điểm về tác động của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội. Liên hệ tại Việt Nam Trình bày quan điểm về tác động của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội. Liên hệ tại Việt Nam Trình bày quan điểm về tác động của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội. Liên hệ tại Việt Nam Trình bày quan điểm về tác động của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội. Liên hệ tại Việt Nam Trình bày quan điểm về tác động của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội. Liên hệ tại Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MXH TRỰC TUYẾN VÀ MỨC ĐỘ DÂN CHỦ 5
1.1 Một số khái niệm và vấn đề liên quan 5
1.1.1 Mạng xã hội trực tuyến 5
1.1.2 Dân chủ 5
1.1.2.1 Khái niệm dân chủ 5
1.1.2.2 Biểu hiện của dân chủ trong các lĩnh vực 6
1.1.3 Dân chủ điện tử 7
1.1.3.1 Khái niệm về dân chủ điện tử 7
1.1.3.2 Cấu trúc của dân chủ điện tử 7
1.2 Những vai trò của MXH trực tuyến hỗ trợ nâng cao mức độ dân chủ trong XH. 8
1.2.1 Mở rộng nâng cao mức độ dân chủ 8
1.2.2 Tăng cường tham gia chính trị 9
1.2.3 Trao quyền cho phụ nữ 9
PHẦN 2: LIÊN HỆ VẤN ĐỀ TÁC ĐỘNG CỦA MXH TRỰC TUYẾN TỚI MỨC ĐỘ DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM 10
2.1 Thực trạng MXH và dân chủ tại Việt Nam 10
2.1.1 Thực trạng của việc sử dụng MXH trực tuyến tại Việt Nam 10
2.1.2 Mức độ dân chủ tại Việt Nam 12
2.2 Tác động của MXH trực tuyến tới mức độ dân chủ tại VN 14
2.2.1 Những tác động tích cực của MXH trực tuyến tới mức độ dân chủ tại VN 14
2.2.1.1 Mức độ dân chủ của VN trước khi MXH trực tuyến trở thành một kênh thông tin, địa chỉ cung cấp dịch vụ công 14
2.2.1.2 Hiệu quả của việc ứng dụng MXH trực tuyến vào mức độ dân chủ tại VN 15
2.2.2 Những tác động tiêu cực của MXH trực tuyến tới mức độ dân chủ tại VN 18
2.3 Đánh giá thực trạng tác động của MXH trực tuyến tới mức độ dân chủ tại Việt Nam 20
2.3.1 Thành tựu và nguyên nhân 20
Trang 2KẾT LUẬN 28
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài
Vấn đề dân chủ là vấn đề thường được bắt gặp tại các quốc gia theo chế độ xã hôichủ nghĩa Theo như C.Mác và Ăng-ghen đã khẳng định rằng: dân chủ là hình tháibiểu hiện của quyền lực nhà nước mà nhân dân phải tổ chức và kiểm soát được Là thế
hệ học trò, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói rằng: “Dân chủ có nghĩa là dân làchủ và dân làm chủ” Và bác cũng đà định hướng sự phát triển của dất nước ta trên cơ
sở dân chủ - dân là chủ và dân làm chủ, lấy dân làm gốc Chính vì vậy mà ở nước ta,địa vị cao nhất là thuộc về nhân dân, vì nhân dân là chủ
Với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đã tạo ra nhiều cuộcchuyển đổi số, cuộc cách mạng của cải biến phương thức hoạt động của các đơn vị, tổchức, doanh nghiệp Mà một trong những hệ quả của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 là
sự cải tổ, phát triển vượt bậc của mạng xã hội trực tuyến trên nhiều nền tảng khác nhau
đã có tác động to lớn đến nhiều mặt trong đời sống, kinh tế, xã hội ở hầu hết các quốcgia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam Mạng xã hội trực tuyến đã trở thành mộtthuật ngữ phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ,tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả, Nhưng đi liền với đó cũng cónhững ảnh huwognr tiêu cực của MẠNg xã hội trực tuyến tới xã hội có thể kể tới như:việc nắm bắt thông tin sai sự thật, bị dẫn dắt tư tưởng sai trái, phản động chínhquyền,
Với những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của mạng xã hội trực tuyến tới đờisống xã hội như vậy thì câu hỏi đặt ra là mạng xã hội trực tuyến có những ảnh hưởngtích cực hay tác động tiêu cực đến Việt Nam và ở mức độ như thế nào, mà đặc biệt là
nó có tác động như thế nào đối với mức độ dân chủ tại Việt Nam? Và để trả lời chocâu hỏi này thì nhóm 04 đã quyết định nghiên cứu đề tài: “Trình bày quan điểm về tácđộng của mạng xã hội trực tuyến đến mức độ dân chủ trong xã hội Liên hệ tại ViệtNam.”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Chỉ ra thực trạng của mạng xã hội trực tuyến và mức độ dân chủ ở Việt Nam
- Chỉ ra những tác động của mạng xã hội trực tuyến tới mức độ dân chủ ở ViệtNam
Trang 4-Đưa ra những giải pháp nâng cao mức độ dân chủ qua mạng xã hội trực tuyếntại Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu
Các nhân tố của mạng xã hội trực tuyến ảnh hưởng đến mức độ dân chủ ở ViệtNam
4 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: tại Việt Nam
- Đối tượng: người dân Việt Nam
- Thời gian: từ ngày 1/3 đến ngày 30/3
5 Kết cấu của bài thảo luận
Trang 5PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MXH TRỰC TUYẾN
Hiện nay, mạng xã hội trực tuyến có thể được cung cấp miễn phí hoặc có thu phí.Các dịch vụ mạng xã hội phổ biến hiện nay như Facebook, Youtube, Twitter,Instagram… Ở Việt Nam, ngoài các dịch vụ mạng xã hội trên, chúng ta còn biết đếncác dịch vụ như Zalo, Lotus, Gapo… Ngày càng nhiều tổ chức, doanh nghiệp quantâm đến dịch vụ mạng xã hội trực tuyến
1.1.2 Dân chủ
1.1.2.1 Khái niệm dân chủ
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu thì dân chủ là việc quyền lực thuộc vềnhân dân Nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử Nhân dân tự quy định, tự quyết địnhlấy cuộc sống và vận mệnh của mình C.Mác và Ph.Ăng-ghen cho rằng, dân chủ làhình thái biểu hiện của quyền lực nhà nước mà nhân dân phải tổ chức và kiểm soátđược V.I.Lê-nin đặc biệt nhấn mạnh sự tham gia của quần chúng vào công việc quản
lý nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một luận đề rất ngắn gọn, cô đọng, lột tả được thựcchất, bản chất của dân chủ Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,“dân chủ có nghĩa là dân làchủ và dân làm chủ” Người khẳng định đồng thời vị thế và năng lực của nhân dântrong tư cách chủ thê, là người chủ xã hội, chủ nhà nước Chỉ với luận điểm này,Người đã thực hiện một cuộc cách mạng trong nhận thức về dân chủ, so với tư tưởngdân chủ thời phong kiến và cả dân chủ tư sản Các nhà tư tưởng với ý thức hệ phongkiến quan niệm dân chủ là chủ của dân Dưới chế độ phong kiến quyền lực và quyền
Trang 6uy đều tập trung trong tay nhà vua Dân chỉ là thần dân, thảo dân, là bề tôi tự nhiênchịu ơn huệ và bị trói buộc bởi luật lệ và quyền lực cho một thiểu số người giàu có.
1.1.2.2 Biểu hiện của dân chủ trong các lĩnh vực
a Dân chủ trong chính trị
Trong quốc gia dân chủ, địa vị cao nhất thuộc về nhân dân, vì nhân dân là chủ.Bởi thế, thực hiện dân chủ chính trị thì phải bảo đảm phát hụy quyền làm chủ của nhândân Phải thể chế hóa quyên dân chủ chính trị quyền làm chủ của dân qua Hiến pháp
và các đạo luật, qua thể chế bầu cử để dân được tự do lựa chọn người xứng đáng làmđại diện cho mình, Ủy quyền kèm theo kiểm tra, giám sát thực hiện quyền Dân là chủthì từ Chủ tịch nước, các bộ trưởng cho đến tất cả các công chức, viên chức phải làngười phục vụ dân, chịu sự kiểm tra, giám sát, đánh giá, bãi miễn của dân theo luậtđịnh
b Dân chủ trong kinh tế
Quan trọng nhất là bảo đảm công ăn việc làm cho mỗi người dân, phải tôn trọnglợi ích, trước hết là lợi ích vật chất để ai ai cũng có cơm ăn, có áo mặc, có nhà ở, đượchọc hành, được chăm sóc sức khỏe Lợi ích phải được phân phối công bằng, khôngchia đều theo lỗi bình quân Nhà nước phải có kế hoạch, chính sách lo công ăn việclàm cho người dân, khuyến khích người dân chủ động tự lo việc làm, quan tâm xóađói, giảm nghèo và khuyến khích người dân làm giàu, miễn là làm giàu chính đángbằng sức lao động của mình, được pháp luật cho phép Dân chủ trong kinh tế phải gắnliền với dân chủ trong chính trị, phải tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát để khôngxảy ra tình trạng quan liêu, lãng phí, tham ô, gây tổn hại tới lợi ích của người dân vàlợi ích chung của xã hội
c Dân chủ trong xã hội
Dân chủ còn phải được thể hiện trong quản lý xã hội, giải quyết các vấn đề xãhội, thực thi các chính sách xã hội và an sinh xã hội cho người dân Phải bảo đảm chongười dân được an sinh và an ninh Dân chủ trong lĩnh vực xã hội đòi hỏi ở Chính phủtrách nhiệm rất nặng nề, phải thường xuyên quan tâm giải quyết một cách thiết thực,
cụ thể, vì nhân dân
d Dân chủ trong văn hóa, tinh thân
Theo nghĩa rộng, văn hóa tinh thần bao gồm cả giáo dục, khoa học kỹ thuật công nghệ Muốn có dân chủ trong văn hoá phải thực hiện giải phóng tư tưởng, giải
Trang 7-phóng ý thức xã hội, bảo đảm tự do tư tưởng có như vậy thì con người ta mới nghĩthật, nói thật, tránh rơi vào tình trạng phân thân sống giả dối
1.1.3 Dân chủ điện tử
1.1.3.1 Khái niệm về dân chủ điện tử
Dân chủ điện tử hay dân chủ số là thuật ngữ được sử dụng khi áp dụng công nghệthông tin để tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình dân chủ
Khó có thê đưa ra một định nghĩa rõ ràng và toàn diện về dân chủ điện tử Thuậtngữ này bao gồm hai thành phần: “điện tử” có nghĩa các thành phân trực tuyến và "dânchủ" đề cập đến một học thuyết và hệ thống quản trị
Dân chủ điện tử là một khái niệm tương đối mới và vẫn còn khá lỏng lẻo do mốiquan hệ cơ bản của nó với công nghệ và Internet – lĩnh vực luôn thay đổi và có phầnthất thường Do đó, bất kỳ mô tả chính xác nào những gì cấu thành "điện tử" của dânchủ điện tử có nguy cơ bị lỗi thời trong một khung thời gian ngắn Hơn nữa, "dân chủ"
là một khái niệm rộng, theo đó một số lý thuyết có thê được kết hợp lại
Dân chủ điện tử và chính phủ điện tử không đồng nghĩa Trên thực tế, sẽ là thíchhợp hơn nếu xem xét chính phủ điện tử như một phần của dân chủ điện tử
Chính phủ điện tử chủ yếu liên quan tới hiệu quả cung cấp các thông tin và dịch
vụ công cho người dân Theo truyền thông, tương tác chính phủ - công dân dựa trêntrật tự phân cấp, tử trên xuông dưới Ngược lai, dân chủ điện tử xây dựng dựa trên cácsáng kiến chính phủ điện tử, chẳng hạn như cung cấp dịch vụ trực tuyến và tiếp cậnthông tin, kết hợp với sự tham gia của công dân và giáo dục công dân Nó liên quanđến việc phân phối, kiểm soát và ra quyết định quyền lực thông qua duy trì kết nốingang, đa chiều giữa công dân, khu vực thứ ba và chính phủ,…
1.1.3.2 Cấu trúc của dân chủ điện tử
Dân chủ điện tử có thể được chia thành hai phần: phần “chiến thuật" hay ngắnhạn và phần "chiến lược" hay dài hạn Các biện pháp ngắn hạn làm thay đổi chút ít ởphần ngoài, bề nổi thay vì đưa ra những thay đối phổ biến và cơ bản hơn, tạo thành cáckhía cạnh chiến lược, dài
hạn của dân chủ điện tử
Chính phủ điện tử phần lớn là việc duy trì tính chất từ trên xuống dưới của sựtương tác giữa chính phủ và công dân, mặc dù cải thiện chất lượng tương tác một cách
Trang 8đáng kể Cải cách chính phủ điện tử thường có thể được biện minh bằng các lợi ích dễdàng định lượng.
1.2 Những vai trò của MXH trực tuyến hỗ trợ nâng cao mức độ dân chủ trong XH.
1.2.1 Mở rộng nâng cao mức độ dân chủ.
Chính phủ có trách nhiệm trong việc đảm bảo mọi người dân, cộng đồng, doanhnghiệp và xã hội đều được cung cấp thông tin đầy đủ để họ có thể đưa ra các quyếtđịnh chính xác và kịp thời trong cuộc sống của mình Đề nâng cao sự tiếp cận tới cácdịch vụ và thông tin công cộng của người dân, chính phủ phải đảm bảo sự bình đẳngtrong tiếp cận công nghệ thông tin và tránh những giãn cách lớn về công nghệ số giữacác vùng miễn hoặc giữa các đối tượng xã hội khác nhau Thông qua công nghệ thôngtỉn, theo định nghĩa mở bao gồm cả ti-vi, đài và điện thoại - công chúng có thê dễdàng truy cập đến các thông tin dịch vụ công Qua việc cung cấp cho dân chúng cácthông tin chi tiết về các hoạt động của ching phủ cũng như địa điểm của người dân cóthể tích cực tham gia các hoạt động này
Trang 91.2.2 Tăng cường tham gia chính trị
Công nghệ thông tin làm cho người dân trên toàn thế giới có thể tham gia vàotiến trình chính trị, có quyền phát biểu ý kiến của mình, tham gia vào quá trình pháttriển chính trị và cuối cùng là gây ảnh hưởng đến quá trình đưa ra các quyết định,Công nghệ thông tin đã mở ra rất nhiều kênh tham gia mà thường không có công bốvới cộng đồng dân cư Nhiều ví dụ trên khắp thế giớiddax ch thấy tiềm năng của côngnghệ thông tin trong việc thay đổi xã hội qua việc tham gia của nhiểu người khác nhau từcác thành phần văn hoá và xã hội khác nhau, các tầng lớp xã hội và tôn giáo khác nhauViệc tích hợp công nghệ Việc tích hợp công nghệ thông tin trong các thủ tục quytrình của chính phủ hỗ trợ hơn nữa tính mở, tính minh bạch độ tin cậy của chính phủ
Vì ngày càng có nhiều thông tin được cung cấp cho người dân ngày càng có thể thamgia nhiều hơn vào quá trình hoạch định chính sách tổng thể Đây được xem như là sựcây cần thiết đối với các quan chức chính phủ
1.2.3 Trao quyền cho phụ nữ
Chính phủ phải đặc biệt quan tâm tạo điều kiện cho phụ nữ không chỉ tiếp cậncông nghệ thông tin, mà còn được giáo dục và đào tạo về công nghệ thông tin Côngnghệ thông tin đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao tiếng nói của phụ nữ tại cácnước đang phát triển, những người trong quá khử thường bị cô lập, thường ít xuất hiện
và ít phát ngôn Công nghệ thông tin tạo ra nhiều cơ hội mới cho người phụ nữ cảithiện cuộc ,sống của mình về mặt kinh tế, chính trị và xã hội
Ngoài ra, các chính sách nhằm cung cấp tín dụng cho phụ nữ cũng đóng một vaitrò quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo Chính phủ điện tử có thể cung cấp cácdịch vụ marketing và khuyến mãi cho công việc kinh doanh của phụ nữ như làm hàngthủ công, dệt may và mỹ nghệ truyền thống Những phụ nữ làm nghề nông có thể tăngnăng suất và lợi nhuận của mình thông qua việc truy cập thông tin về các Kỹ thuậtnông nghiệp tiên tiến
Chính phủ điện tử cũng có thể được sử dụng để tăng cường sự tham gia của phụ
nữ trong tiến trình chính trị, giúp phụ nữ thực thi các quyền cơ bản của mình, nâng caochất lượng hoạt động của các cán bộ nữ giới và phổ biến kiến thức cung cấp các kênh
để phụ nữ có thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách với việc chú trọng vàocác mối quan tâm của phụ nữ là một trong những phần quan trọng của chính phủ điệntử
Trang 10PHẦN 2: LIÊN HỆ VẤN ĐỀ TÁC ĐỘNG CỦA MXH TRỰC TUYẾN TỚI MỨC
ĐỘ DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM
2.1 Thực trạng MXH và dân chủ tại Việt Nam
2.1.1 Thực trạng của việc sử dụng MXH trực tuyến tại Việt Nam
Trong thời đại bùng nổ công nghệ số 4.0, các nền tảng mạng xã hội trực tuyếntrở nên phổ biến hơn bao giờ hết Do sự tiện lợi, mạng xã hội đã trở thành một phần tấtyếu trong đời sống và được sử dụng như một tiện ích được ưa chuộng nhất Mạng xãhội khiến mọi thứ chuyển dịch dần từ offline sang online Hầu hết các thống kê đềucho rằng giới trẻ là thành phần chính sử dụng mạng xã hội, hoặc thậm chí là thực trạngnghiện mạng xã hội, sống ảo của những người trẻ Tuy nhiên, đó là thống kê từ nhữngnăm trước Hiện tại đã là năm 2021, nhìn chung ta có thể nhận ra rằng thói quen sửdụng mạng xã hội hiện nay của người lớn, các ông bà, bố mẹ cũng đang tăng nhanhmột cách đáng kể
Theo báo cáo Digital 2020 của We are social, Việt Nam có 96,9 triệu dân; sốlượng thuê bao di động là 145,8 triệu thuê bao (chiếm tỷ lệ 150% so với tổng dân số cảnước, tăng 6,2 triệu người tương ứng 10% so với năm 2019); số lượng người dùnginternet là 68,17 triệu người (chiếm tỷ lệ 70% số dân); số lượng người dùng mạng xãhội là 65 triệu người (chiếm tỷ lệ 67% số dân) Bình quân mỗi người dùng 2,1 thiết bị
di động
Trang 11Mạng xã hội xuất hiên ở Việt Nam vào khoảng 2005-2006 với sự thâm nhập vàphát triển của các mạng xã hội nước ngoài và sự hình thành, phát triển của mạng xãhội do người Việt tạo ra Cho tới hiện nay những nền tảng mạng xã hội phổ biến ở ViệtNam có thể kể đến như:
Facebook – mạng xã hội lớn nhất hiện nay (2004)
Zalo - ứng dụng đa chức năng (2012)
Instagram – mạng xã hội chia sẻ hình ảnh (2010)
Youtube – mạng xã hội nền tảng video trực tuyến (2005)
Pinterest – mạng xã hội post, phân loại dưới dạng các tấm bảng dán ảnh (2009)
Tiktok – mạng xã hội nền tảng video âm nhạc (2016)
Twitter – mạng xã hội trực tuyến miễn phí (2006)
Snapchat – mạng xã hội gửi nội dung hình ảnh, video (2011)
Gapo – mạng xã hội của G- group (7/2019)
Lotus – mạng xã hội Việt của Vccorp (cuối 2019),…
Với Việt Nam, theo số liệu thống kê mới nhất của We are social, tính đến tháng1/2020, Facebook hiện có 61 triệu người sử dụng tại Việt Nam Điều này cũng cónghĩa, với 60 triệu người dùng thường xuyên, Zalo đã gần như đuổi kịp Facebook về
số lượng người sử dụng
Trang 12Trên cơ bản, những nền tảng MXH trực tuyến được phát triển rộng rãi ở ViệtNam là những MXH được phủ khắp trên quốc tế Ngoài ra từ năm 2019 trở lại đây,một vài nền tảng MXH trực tuyến của Việt Nam đã được hình thành và phát triển cóthể kể tới như: Mocha của Viettel với 12 triệu thành viên, Gapo của G-Group với 6triệu thành viên và Lotus VCCorp với 2,5 triệu thành viên Như vậy, chỉ từ năm 2018đến năm 2020, Việt Nam giờ đây đã có 4 nền tảng mạng xã hội có trên 1 triệu thànhviên (thêm cả zalo với hơn 60 triệu thành viên) Đây là quy mô tối thiểu để một mạng
xã hội trong nước được xem là có đủ tiềm lực cạnh tranh với các nền tảng ngoại
Nhìn chung, thị trường luôn biến động trong mọi hoàn cảnh, nhiều người ở thế hệtrước chúng ta tưởng chừng sẽ bị cuộc cách mạng công nghệ 4.0 bỏ xa Tuy nhiên,những năm gần đây, người lớn tuổi ở ở Việt Nam cũng đã tăng một lượng đáng kểtrong việc sử dụng mạng xã hội Tình trạng “sống ảo”, nghiện online thậm chí cũng cóthể xảy ra với người ở độ tuổi này Vậy nên, chính phủ luôn phải cập nhật xu thế tìnhhình và nắm bắt thời cơ đối với các sự thay đổi không lường được của xã hội
2.1.2 Mức độ dân chủ tại Việt Nam
Hiện nay, Chính phủ và Nhà nước đang ngày càng chú trọng tới việc đảm bảoquyền dân chủ cho người dân, nâng cao mức độ dân chủ tại Việt Nam Người dân cóthể đưa ra ý kiến đóng góp phản hồi trên các phương tiện truyền thông (có quyền tự dongôn luận) về các vấn đề kinh tế chính trị văn hóa xã hội của quốc gia, được tham giaứng cử, bầu cử, được đảm bảo các quyền công dân, Trong xu hướng bùng nổ côngnghệ thông tin mạng xã hội, Việt Nam đã xúc tiến chương trình tham gia điện tử cho
Trang 13công dân nhằm mục đích tạo sự thuận lợi hơn cho công dân trong tham gia góp ý,phản biện chính sách, giảm thời gian, chi phí và tạo liên kết mạng lưới rộng khắp cho
sự tham gia đa chiều của tất cả các lực lượng xã hội trong việc xây dựng, thực hiệnchính sách để đạt đến mục tiêu xây dựng một nền dân chủ điện tử
Thực hành dân chủ là thực hiện “dân là chủ và dân làm chủ”; “dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra”, là một xu thế vận động phát triển tất yếu của xã hội Xã hộicàng phát triển, dân chủ càng được mở rộng, thực hành dân chủ càng được đề cao.Mâu thuẫn, bức xúc của nhân dân xuất hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội khi
có sự đối lập về lợi ích, đòi hỏi phải được nắm bắt, xử lý, hóa giải kịp thời, không đểtích tụ, bùng phát, lan rộng thành xung đột, gây mất ổn định xã hội Dân chủ phải đượcthực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Bảo đảm đểnhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quanđến lợi ích, cuộc sống của nhân dân
Hiện nay, Nhà nước đã tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dân nắm bắt cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nắm được các thủ tục hành chính giảiquyết các công việc liên quan với nhân dân, biết được quy hoạch, kế hoạch của Nhànước về sử dụng đất đai, về dự toán, quyết toán ngân sách, v.v Đồng thời, cùng vớiviệc dân biết, dân còn được bàn bạc nhiều việc quan trọng, như những dự án, mứcđóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương, các kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội, quy hoạch dân cư, điều chỉnh địa giới hành chính, phương án đền bù giải phóngmặt bằng, v.v Nhà nước đều hỏi ý kiến nhân dân Nhân dân được cảm nhận bầukhông khí dân chủ hơn, cởi mở hơn trong xã hội Ở cơ sở, người dân đã chủ động bànbạc, tham gia ý kiến, thực hiện quyền làm chủ, bày tỏ chính kiến của mình; đồng thời,tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng, chính quyền, thể hiện tốt vai trò giám sátđối với cán bộ, đảng viên, thẳng thắn góp ý kiến về hoạt động của các cơ quan nhànước ở địa phương Trong 30 năm đổi mới vừa qua, việc thực hành dân chủ trong xãhội đã có những bước tiến căn bản trong các lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa
và xã hội Quyền công dân, quyền con người được khẳng định rõ ràng trong Hiến phápnăm 2013 Có thể nói, một trong thành tựu quan trọng của đổi mới là nền dân chủđang được hình thành, đang đóng vai trò là động lực của sự phát triển xã hội
Tuy nhiên, dân chủ trong xã hội vẫn còn mắc phải một số hạn chế như:
Trang 14- Nhiều chủ trương về thực hành dân chủ trong xã hội chưa được thể chế hóa,nên chủ trương thì đúng và hay, nhưng thực tế thực hành dân chủ trong xã hội chưatốt, quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ, thậm chíquyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm.
- Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ
để gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.Việc giải quyết yêu cầu phát huy dân chủ, tự do ngôn luận, lắng nghe các ý kiến khácbiệt, tư duy phản biện trong xã hội với việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương, phép nước cònnhiều bất cập
- Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, dân chủ và phápluật còn xuất hiện ở không ít người Trong xã hội còn không ít hiện tượng vừa chuyênquyền, độc đoán, mất dân chủ hay dân chủ hình thức, lại vừa dân chủ quá trớn, cựcđoan
- Chưa có cơ chế bảo đảm để nhân dân thực hiện vai trò chủ thể của quyền lực,trên thực tế, quyền lực vẫn thuộc về các cơ quan nhà nước Việc nhân dân giám sátchính quyền cũng chưa có cơ chế rõ ràng, trên thực tế, việc giám sát này còn rất mờnhạt Tình trạng quan liêu của bộ máy hành chính làm cho yêu cầu quản lý các quátrình kinh tế - xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa thật nhanh, nhạy
và hiệu quả cao Trong nhiều trường hợp, “hành chính” trở thành “hành dân là chính”.Tóm lại, so với thời kỳ trước đổi mới thì hiện nay vấn đề dân chủ đã có nhiềutiến bộ nhưng một số vấn đề vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và lý giải một cách nghiêmtúc, khoa học, như: vấn đề nhân dân làm chủ như thế nào? Hoàn thiện Nhà nước phápquyền như thế nào để tạo cơ sở cho dân chủ phát triển? hay như việc thể chế hóa cácchủ trương của Đảng về dân chủ còn chậm, không kịp thời, không rõ ràng, không đầy
đủ, không nhất quán nên việc thực hành dân chủ trong xã hội còn nhiều khó khăn,hoặc rơi vào tình trạng dân chủ hình thức hoặc rơi vào tình trạng dân chủ quá trớn
Trang 152.2 Tác động của MXH trực tuyến tới mức độ dân chủ tại VN
2.2.1 Những tác động tích cực của MXH trực tuyến tới mức độ dân chủ tại VN.
2.2.1.1 Mức độ dân chủ của VN trước khi MXH trực tuyến trở thành một kênh thông tin, địa chỉ cung cấp dịch vụ công
- Trước đây, các hình thức cung cấp thông tin tại Việt Nam bao gồm:
+ Cung cấp thông tin trên báo và tạp chí
+ Cung cấp thông tin trên radio
+ Cung cấp thông tin trên truyền hình
+ Cung cấp thông tin tại các địa điểm công cộng
+ …
- Cung cấp dịch vụ công trước đây
+ Đặc điểm: Bao gồm các dịch vụ nhằm phục vụ lợi ích chung trong các lĩnh vựcnhư: Y tế, Giáo dục, Văn hóa, Xây dựng,… ; Được nhà nước đảm bảo thực hiện; Đápứng được các nhu cầu, quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức cá nhân trong xãhội; Đảm bảo được sự công bằng, hiệu quả của các hoạt động cung cấp dịch vụ côngđến công dân
+ Cách thức: Nhà nước cung ứng tài chính, tổ chức thực hiện, đồng thời cũnggiao cho các cấp chính quyền, địa phương thực hiện
- Với các hình thức cung cấp thông tin nêu trên, kết quả đạt được sẽ có một sốhạn chế như sau:
+ Đối tượng tiếp nhận: Nhóm đối tượng đại chúng, khó phân khúc, chọn lọc:Không phải ai cũng có khả năng tiếp nhận thông tin như nhau
+ Thời gian: Tần suất xuất hiện không thường xuyên, nhất là các hình thức cungcấp thông tin trên truyền hình
+ Không gian: Giới hạn về không gian địa lí trong 1 tỉnh, thành nhất định
+ Tương tác: Khả năng tương tác với người dân thấp
+ Lưu trữ thông tin: Bị giới hạn, khó khăn trong việc tìm kiếm, tra cứu
-> Mức độ dân chủ của VN trước khi MXH trực tuyến trở thành một kênh thôngtin, địa chỉ cung cấp dịch vụ công chưa thực sự cao và còn đó nhiều vấn đề đang tồntại