1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán

136 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói Toà án chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp, là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học

TS Nguyễn Hồi Loan

Hà Nội, năm 2003

Trang 3

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu nhân cách 6

1.2 Lý luận về nhân cách và phẩm chất nhân cách 10

1.2.1.1 Quan niệm của các nhà tâm lý học phương Tây 10

1.2.1.2 Quan niệm của các nhà tâm lý học Liên xô 13

1.2.1.3.Quan niệm của các nhà tâm lý học Việt Nam 14

1.3.1 Khái niệm, vị trí, quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán 20

1.3.2 Những đặc điểm đặc thù về hoạt động xét xử của Thẩm phán 24

1.3.3.6 Phẩm chất liên quan đến việc thiết lập quan hệ với những

người tiến hành tố tụng khác và những người tham gia tố tụng 40

Trang 4

Chương 2: Tổ chức nghiên cứu 43 2.1 Vài nét về quá trình tổ chức thực hiện và khách thể nghiên cứu 43

3.1 Hiện trạng nhận thức của Thẩm phán, Chánh án, Phó chánh án,

Thư ký về phẩm chất nhân cách Thẩm phán 50 3.1.1 Hiện trạng nhận thức về vị trí của các nhóm phẩm chất nhân

3.1.2 Hiện trạng nhận thức về các phẩm chất cần có của Thẩm phán 59 3.1.2.1 Nhóm phẩm chất chính trị – tư tưởng 60

3.1.2.5 Nhóm phẩm chất về năng lực tổ chức hoạt động xét xử 73 3.1.2.6 Nhóm phẩm chất liên quan đến việc thiết lập quan hệ với những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng 76 3.2 Đánh giá và tự đánh giá về các phẩm chất nhân cách Thẩm phán 84 3.2.1 Đánh giá và tự đánh giá về các nhóm phẩm chất nhân cách

3.2.2 Đánh giá và tự đánh giá về các phẩm chất nhân cách

của Thẩm phán hiện có trong từng nhóm phẩm chất 92 3.2.2.1 Nhóm phẩm chất chính trị – tư tưởng 92

3.2.2.5 Nhóm phẩm chất về năng lực tổ chức hoạt động xét xử 104 3.2.2.6 Nhóm phẩm chất liên quan đề việc thiết lập quan hệ với những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng 107

Phụ lục

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền XHCN Đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Một trong những yêu cầu cấp bách của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là đổi mới hệ thống tư pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án các cấp nói riêng Có thể nói Toà án chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp, là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những vụ việc khác theo qui định của pháp luật

Trước đòi hỏi của thực tế khách quan, Đảng và Nhà nước đã có nhiều quan tâm đến việc đổi mới hệ thống các cơ quan tư pháp và kiện toàn lại đội ngũ cán bộ ngành tư pháp Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: "Củng

cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp Phân định lại thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân Từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Toà án nhân dân huyện Xây dựng đội ngũ thẩm phán, thư ký toà án, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, chí công vô tư, có nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạnh, vững mạnh" Nghị quyết trung ương III (khoá 8) xác định rõ "Nghiên cứu phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm Thẩm phán Toà án cấp tỉnh và Toà án cấp huyện, đồng

Trang 6

tuyển chọn cho phù hợp để kịp thời bổ sung đủ Thẩm phán cho Toà án cấp huyện và Toà án cấp tỉnh ", "Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chuyên môn Lập quy hoạch tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ tư pháp theo từng loại chức danh với tiêu chuẩn cụ thể "[12.116,117] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục xác định: "Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử, thi hành án, không để xảy

ra những trường hợp oan sai Tăng cường đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cả về số lượng và chất luợng ".[59]

Nhìn trong tổng thể hệ thống tư pháp, đội ngũ thẩm phán có vị trí quan trọng- là người đại diện cho Nhà nước bảo vệ sự công bằng xã hội cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người Hoạt động của họ có ảnh lớn tới tính công minh của pháp luật, uy tín và nền công lý của một quốc gia, đồng thời góp phần giáo dục công dân có ý thức pháp luật.Vậy mà hiện nay khi nhận định về đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung, đội ngũ thẩm phán nói riêng, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm

công tác tư pháp trong thời gian tới nêu rõ: “Công tác cán bộ của các cơ quan

tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay Đội ngũ cán bộ

tư pháp còn thiếu về số lượng, yếu về trình độ và năng lực nghiệp vụ, một bộ phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, sa sút về đạo đức" Bên cạnh

đó xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi hơn lúc nào hết công tác bồi dưỡng đào tạo cán

bộ phải được chú trọng Chính vì vậy, việc khảo sát đánh giá đúng thực trạng về phẩm chất nhân cách của đội ngũ thẩm phán là một yêu cầu cấp bách và cần thiết không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn có ý nghĩa về thực tiễn

Trang 7

Xuất phát từ những lý do trên và với tư cách là cán bộ giảng dạy môn tâm

lý học tại trường Đại học Luật Hà Nội, trực tiếp giảng dạy chuyên đề tâm lý học

tư pháp cho các lớp đào tạo nguồn thẩm phán, chúng tôi chọn đề tài "Tìm hiểu

thực trạng về phẩm chất nhân cách của Thẩm phán " Việc nghiên bước đầu

đã đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nguồn thẩm phán và nghiên cứu khoa học của trường Đại học Luật Hà Nội cũng như góp phần nâng cao công tác xét xử của Toà án nhân dân, đồng thời góp phần vào quá trình hoàn thiện chương trình đào tạo của khoa Tâm lý học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu những cơ sở lý luận về:

a> Khái niệm, vị trí, quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán

b> Những đặc điểm đặc thù về hoạt động nói chung và hoạt động xét xử nói riêng của Thẩm phán

c> Các phẩm chất nhân cách cơ bản của Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay 3.2 Khảo sát về thực trạng phẩm chất nhân cách của Thẩm phán đang công tác ở Toà án nhân dân các địa phương Đưa ra hệ thống các phẩm chất nhân cách cần thiết của của Thẩm phán, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các phẩm chất nhân cách này cho đội ngũ thẩm phán

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Trang 8

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Những phẩm chất nhân cách của Thẩm phán Toà án nhân dân địa phương

4.2 Khách thể nghiên cứu:

- 300 Thẩm phán ở TAND các địa phương

Miền Bắc gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Vĩnh Phú

Miền Trung bao gồm: Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Khánh Hoà

Miền Nam bao gồm: An Giang, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh

- 66 Chánh án, Phó chánh án, Chánh toà, Phó chánh toà ở các địa phương nêu trên

- 200 Thư ký các TAND ở các địa phương trên

5 Giả thuyết khoa học

Xuất phát từ hoạt động đặc thù của Thẩm phán có thể xác định hệ thống các phẩm chất nhân cách cơ bản của Thẩm phán theo 6 nhóm phẩm chất sau:

xử của Thẩm phán

6 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 9

Với đề tài này, chúng tôi chỉ có điều kiện nghiên cứu những phẩm chất nhân cách cơ bản của Thẩm phán đang công tác tại các Toà án nhân dân địa phương như đã nêu trong phần khách thể nghiên cứu, mà không có điều kiện nghiên cứu phẩm chất nhân cách của Thẩm phán ở Toà án nhân dân tối cao và Toà án quân sự các cấp

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp này nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về phẩm chất nhân cách như lịch sử nghiên cứu vấn đề phẩm chất nhân cách, các quan niệm của các nhà tâm lý học phương Tây, Liên Xô , Việt Nam về nhân cách và phẩm chất nhân cách

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp này nhằm mục đích nghiên cứu khái niệm, vị trí, quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán

Các kết quả nghiên cứu của phương pháp này chủ yếu nhằm xây dựng cơ

sở lý luận và xác định phương pháp nghiên cứu

Trang 10

trên mẫu phiếu 1 Mục đích thu thập ý kiến đánh giá của các khách thể về những phẩm chất đang có và cần có hiện nay của Thẩm phán

+ Điều tra trên khách thể Thư ký Đối với khách thể này chúng tôi tiến hành điều tra trên mẫu phiếu 2 Mục đích thu thập ý kiến đánh giá của khách thể

về những phẩm chất đang có và cần có hiện nay của Thẩm phán

7.5.Phương pháp thống kê toán học

Bằng phương pháp thống kê SPPS chúng tôi tiến hành xử lý những kết quả thu được để tìm ra những chỉ số cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu nhân cách

Về vấn đề “phẩm chất nhân cách” trong các hoạt động nghề nghiệp khác nhau đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên cần được kể đến là tổng kết của R.M.Stogdill, đánh giá 124 nước về lãnh đạo theo phẩm chất trong thời kỳ 1904-1948 Kết quả

là đưa ra những phẩm chất có liên quan đến việc thực hiện vai trò của người lãnh đạo như thông minh, hiểu biết nhu cầu của người khác, hiểu biết nhiệm vụ, chủ động và kiên trì trong việc giải quyết, tự tin, có trách nhiệm, mong muốn nắm giữ vị trí thống trị và kiểm soát Tổng kết lần thứ hai của R.M.Stogdill năm

1974, nghiên cứu 163 đề tài về phẩm chất và kỹ năng người lãnh đạo trong thời

kỳ 1949-1970 Với các nghiên cứu của mình, ông đã xác định về phẩm chất của người lãnh đạo như thích ứng, am hiểu môi trường xã hội, tham vọng và định hướng thành tựu, quyết đoán, có tinh thần hợp tác, kiên quyết, đáng tin cậy, thống trị, xông xáo, kiên trì, tự tin, chịu đựng sự căng thẳng, sẵn lòng nhận trách nhiệm , về kỹ năng như tài giỏi, thông minh, nhận thức, sáng tạo, ngoại giao và lịch thiệp, diễn đạt thông tin, kỹ năng tổ chức, kỹ năng thuyết phục

Trang 11

Ở Liên Xô vào những năm 20, đầu những năm 30 của Thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm xác định những phẩm chất, đặc điểm cơ bản của người lao động trong một nghề (như các công trình nghiên cứu của T.Marcarian, R.Cuchepov, M.P.Xôcôlov, T.C.Chuguev) Đến năm 60-70 nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu sự thành nghề và sự phát triển nhân cách nghề trên

cơ sở sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu về họa đồ nghề nghiệp, đặc biệt là đi sâu nghiên cứu về mặt động cơ và thao tác của hoạt động nghề

Kết quả nghiên cứu của các tác giả như N.V.Cuzmin (1961,1967, 1970), A.I.Serbacov, V.A.Xlatvenin (1978) về quá trình hình thành nhân cách người giáo viên, sự phát triển năng lực sư phạm và trình độ tay nghề Ph.N.Gônôbin (1977) với “những phẩm chất tâm lý của giáo viên” có đề cập tới các đặc điểm tâm lý phù hợp với hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh Đó là các phẩm chất như đạo đức, chí hướng, hứng thú, năng lực, quá trình nhận thức, những đặc điểm trí tuệ, tình cảm lao động, phẩm chất ý chí của người thầy giáo trong quá trình dạy học và giáo dục.[17]

Vấn đề phẩm chất nhân cách người cán bộ lãnh đạo quản lý đã được các nhà tâm lý học và xã hội học nghiên cứu như E.E.Vendtrôv, X.G.Xtruminlin Sêpen, V.L.Lêbêđev Các tác giả đã đưa ra 150 phẩm chất mà người cán bộ lãnh đạo cần phải có.[49]

Một số tác giả của trường Đại học tổng hợp Lêningrát (Liên Xô), trong phương án thử nghiệm đã đưa ra 109 yêu cầu về phẩm chất nhân cách người kỹ

sư thiết kế theo 8 nhóm: Các nhóm phẩm chất biểu hiện thái độ đối với công việc (yêu lao động, thái độ quan tâm đến công việc, sáng tạo ); các phẩm chất đặc trưng cho phong cách chung của hành vi và hoạt động (tính chấp hành, tính độc lập, tính năng động ); kiến thức (kiến thức kỹ thuật theo chuyên ngành của mình, kiến thức toán học, văn hoá nói chung ); các phẩm chất trí tuệ (tính mềm

Trang 12

dẻo, tính phê phán, độ sâu, tầm rộng ); các kỹ năng tổ chức-kỹ thuật (kỹ năng giải quyết nhiệm vụ kỹ thuật, kỹ năng làm việc với tài liệu và sổ tay kỹ thuật, kỹ năng thực hiện tác động qua lại đối với các bộ phận khác ); các kỹ năng tổ chức-hành chính (kỹ năng thiết lập bầu không khí lao động, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng thuyết phục người khác ); các phẩm chất đặc trưng thái độ đối với bản thân (khiêm tốn, tự tin, tự hoàn thiện ).[24.218]

A.V.Đulov trong cuốn “Tâm lý học tư pháp” đã khẳng định tầm quan trọng vị trí của Thẩm phán trong hoạt động xét xử Ông nêu lên một số phẩm chất cơ bản đối với Thẩm phán là: Đạo đức, khả năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, những đặc điểm hoạt động trí tuệ, các kỹ năng tổ chức hoạt động xét xử, phẩm chất ý chí [63]

Ở Lào, tác giả Khăm Kẹo Vông Phi La (1996) trong “Nghiên cứu phẩm chất nhân cách người hiệu trưởng tiểu học” đã xác định hệ thống những phẩm chất nhân cách của người hiệu trưởng theo 3 nhóm phẩm chất: Phẩm chất đạo đức, phẩm chất tư tưởng-chính trị và phẩm chất công việc.[30]

Ở Việt Nam một số tác giả đã đề cập tới vấn đề này như:

Tác giả Đỗ Thị Hoà (1993) trong đề tài “Tuyển chọn những phẩm chất tâm-sinh lý học sinh học nghề lái xe” đã đưa ra 5 đặc điểm tâm lý cơ bản, cần thiết cho nghề lái xe là: Có khả năng phản ứng nhanh, nhạy bén trước tình huống bất ngờ, có khả năng phối hợp thao tác, động tác tốt; có độ bền vững và phân phối chú ý tốt; có khả năng tập trung và di chuyển chú ý tốt; có khả năng phân tích tổng hợp sự kiện tốt; có khả năng phán đoán tình huống chính xác.[29]

Tác giả Nguyễn Thị Kim Luân (1993) trong “Nghiên cứu một số phẩm chất tâm lý đặc trưng ở vận động viên bóng bàn trẻ Việt Nam” đã đưa ra 6 nhóm phẩm chất tâm lý đặc trưng của vận động viên bóng bàn là: năng lực chú ý; tri

Trang 13

giác không gian; cảm giác vận động cơ; đặc điểm hoạt động thần kinh; tư duy trực quan hình ảnh- hành động; trạng thái tâm lý thi đấu.[33]

Tác giả Nguyễn Thị Phương Anh (1996) trong đề tài “Một số đặc điểm tâm lý-xã hội của nhà doanh nghiệp” đã đưa ra 14 đặc điểm tâm lý của các nhà doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động kinh doanh là: Bền bỉ, cần cù, có chí, dám mạo hiểm, có đầu óc tính toán kinh doanh, ham học hỏi, hiểu biết, linh hoạt, năng động, nhạy bén, óc sáng tạo, quảng giao, quyết đoán, thạo việc, có kinh nghiệm về lĩnh vực mình kinh doanh, thận trọng, thông minh, tự tin,.[2]

Tác giả Nguyễn Thị Kim Phương (1996) trong “Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý-xã hội của giới doanh nghiệp trẻ Việt Nam” đã khảo sát 60 phẩm chất theo 3 nhóm: Những khả năng, những kỹ năng và những phẩm chất đặc trưng hiện có ở giới doanh nghiệp trẻ Việt Nam.[48]

Tác giả Nguyễn Sinh Phúc đi sâu nghiên cứu vị trí của “đức” và “tài” trong cấu trúc nhân cách của bác sĩ quân y.[47]

Tác giả Hoàng Cao (1998) trong “Những phẩm chất nhân cách người hiệu trưởng trường tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay” đã khảo sát 21 phẩm chất theo 6 nhóm: Phẩm chất tư tưởng-chính trị, phẩm chất đạo đức, phẩm chất chuyên môn, phẩm chất ý chí, các phẩm chất liên quan đến việc thiết lập và duy trì quan hệ với người khác, năng lực tổ chức hành chính.[13]

Tác giả Hồ Thị Song Quỳnh (2000) trong đề tài “Thực trạng về nhân cách của cán bộ chủ chốt cấp phường, xã tỉnh Bến Tre” đã xác định hệ thống các phẩm chất nhân cách của người cán bộ chủ chốt cấp phường, xã theo 3 nhóm phẩm chất: Phẩm chất chính trị- tư tưởng, phẩm chất tâm lý-đạo đức, phẩm chất

Trang 14

nhóm phẩm chất tâm lý-đạo đức chiếm vị trí hàng đầu, sau đó là nhóm phẩm chất công tác.[49]

Ở mức độ nghiên cứu sâu hơn, GS TS Nguyễn Ngọc Phú còn đi sâu phân tích cấu trúc của ý thức bảo vệ Tổ quốc- Một phẩm chất chính trị- tinh thần- đạo đức Theo tác giả, phẩm chất này bao hàm ý thức giác ngộ giai cấp, dân tộc sâu sắc, có nhu cầu sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc và được thể hiện bằng những hành động tích cực cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.[44.132]

Tác giả Nguyễn Mai Lan (2000) đi sâu nghiên cứu: “Những phẩm chất tâm lý đặc trưng của mã dịch viên” Trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò và nhiệm

vụ của mã dịch viên, tác giả đã đưa ra 22 phẩm chất tâm lý thuộc 4 nhóm xu hướng, năng lực, tính cách, khí chất.[31]

Tóm lại, vấn đề phẩm chất nhân cách đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Những nghiên cứu này đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển tâm lý học nói chung và tâm lý học nhân cách nói riêng Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ

đề cập đến một số khía cạnh cụ thể của phẩm chất nhân cách, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu một cách toàn diện, có hệ thống về phẩm chất nhân cách, đặc biệt là làm rõ những phẩm chất nhân cách của Thẩm phán Chính vì vậy chúng tôi chọn nghiên cứu phẩm chất nhân cách với khách thể hoàn toàn mới là những Thẩm phán công tác tại các TAND địa phương

1.2 Lý luận về nhân cách và phẩm chất nhân cách

1.2.1 Lý luận về nhân cách

Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như xã hội học, triết học, đạo đức học, giáo dục học, tâm lý học Bất cứ khoa

Trang 15

Trong tâm lý học, khái niệm nhân cách là một vấn đề khá phức tạp Có thể nói nhân cách là một vấn đề đã được tranh luận từ lâu, cho tới nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về nó Đã có rất nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về nhân cách Ngay từ năm 1949 G.Allport đã dẫn ra trên 50 định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về nhân cách, đến nay con số này đã lên tới hàng trăm theo một số tác giả nhận định

1.2.1.1 Quan niệm của các nhà tâm lý học phương Tây

Trong tâm lý học phương Tây hiện đại đang tồn tại nhiều quan niệm rất đa dạng, mâu thuẫn và đối lập nhau về nhân cách Chẳng hạn:

S.Freud là một thầy thuốc tâm thần người Áo cho rằng: Bản chất của nhân cách phát sinh từ các quá trình nội tại Sự xung đột này xảy ra giữa sự thúc đẩy

của “cái nó” (“id”), “cái tôi” (“ego”) và “cái siêu tôi” (“super”) Trong ba khối

thì “cái nó” là cốt lõi của nhân cách, là động lực chi phối mọi hành vi của con người Đây chính là những sai lầm của thuyết phân tâm học S.Freud đã tách rời điều kiện xã hội với việc hình thành nhân cách và cho rằng cái sinh vật và cái vô thức là yếu tố quyết định hình thành nhân cách, đồng thời đã tuyệt đối hoá bản năng tình dục của con người

G.Allport đã bỏ qua vai trò của xã hội, xem nhân cách là sản phẩm phát triển của hoạt động nhưng là hoạt động có chứa đựng khả năng tự phát triển chứ không bị qui định của xã hội Ông đã nêu lên một định nghĩa rất chung về nhân cách: Nhân cách là một tổ chức động của các hệ thống tâm sinh lý trong cá nhân chúng qui định sự thích ứng cá nhân đối với môi trường xung quanh

A.Maslow nhà tâm lý học Mỹ cho rằng: Nhân cách của con người được hình thành và phát triển là do sự xuất hiện theo thứ tự các nhu cầu Có thể chia ra năm loại nhu cầu, đó là nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu yêu thương, nhu cầu được thừa nhận, nhu cầu tự thực hiện Tuy nhiên những nhu cầu này

Trang 16

không bị sự kiểm soát của xã hội mà nó đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định, còn tính xã hội lại nằm trong chính bản tính của con người

Carl Roger nhà tâm lý học Mỹ cho rằng: Nhân cách là con người có ý thức

về bản thân và do đó nó cũng gắn luôn với bản ngã, “cái tôi”

G.H.Mead cho rằng: Sự phát triển của nhân cách được thực hiện trong quá trình giao tiếp của cá nhân với các thành viên khác của một nhóm xã hội nhất định, sự giao tiếp này được thực hiện trong quá trình hoạt động cùng nhau Trong quá trình tương tác xã hội thì cái quyết định là xã hội, tập thể, chứ không phải nhân cách

R.Sears đã xem nhân cách là thực thể của giao tiếp và hoạt động và các thuộc tính của nhân cách được hình thành trong các “tình huống hai người” Tuy nhiên, sự giải thích chỉ dừng lại “hệ thống hai người” là một cấu trúc độc lập, tự xác định bên trong là không đúng Trong thực tế, sự tác động qua lại giữa các cá nhân được diễn ra trong một hệ thống rộng lớn hơn đó là trong các quan hệ xã hội, trong nhóm xã hội, trong giai cấp, trong hình thái xã hội

K.Horney nhà tâm lý học Mỹ cho rằng: Khi con người tiếp xúc với hoàn cảnh xã hội sẽ nảy sinh sự lo lắng và quá trình tìm cách làm giảm bớt sự lo lắng bằng phương pháp lần mò- phương pháp “thử và sai” sẽ qui định sự hình thành

và phát triển nhân cách của người đó

R.B.Cattel coi nhân cách là hành vi của một người trong những tình huống nhất định nào đó

Kurt Lewin đưa ra khái niệm “không gian sống” để giải thích hành vi của nhân cách- không gian sống bao gồm cả trường tâm lý Không gian sống- đó là nhân cách và hoàn cảnh trong mối tác động qua lại lẫn nhau tạo nên hành vi trong một thời điểm nào đó

R.Meili lại cho rằng: Nhân cách là tổng hoà các phẩm chất tâm lý, nói lên đặc điểm của từng người riêng biệt

Trang 17

Theo H.Thomac, nhân cách là cái tạo ra cái nhận diện, bản sắc, cái độc đáo, cái độc nhất vô nhị của cá nhân

Tóm lại, các quan niệm về nhân cách trong tâm lý học phương Tây rất đa dạng, phong phú Các quan niệm này có những yếu tố tích cực nhất định, như:

+ Xu hướng ngày càng phủ định nguyên nhân sinh vật của sự thù địch giữa nhân cách và xã hội, nhấn mạnh những nhu cầu “nhân văn” của con người;

+ Sự cố gắng, chứng minh khả năng phát triển không ngừng của nhân cách; + Phát hiện những hiện tượng, những sự kiện phong phú trong đời sống tâm lý thực của con người (động cơ vô thức, sự dồn nén, cơ chế tự vệ, sự đồng nhất hoá, sự bù trừ, vai trò của hoạt động giao tiếp, sự chuyển hoá hoạt động, tính trọn vẹn của nhân cách, tính có một không hai của nhân cách);

+ Chú ý tới tính chất đặc trưng và tính chất cơ động của nhân cách

Tuy nhiên các quan điểm này có những hạn chế nhất định Đó là:

+ Hiểu nhân cách nếu không phải là hiện tượng thứ nhất đối với xã hội, thì trong mọi trường hợp cũng xem nó như là một thực thể tồn tại song song với xã hội Kết quả nhân cách không tránh khỏi bị nhân chủng hoá và tâm lý hoá;

+ Nhiều lý thuyết về nhân cách giải thích các quan hệ xã hội như là những quan hệ liên nhân cách thuần tuý có tính chất cá nhân của con người (điều này thể hiện rõ trong thuyết “tương tác xã hội” hay thuyết “liên nhân cách”);

+ Cắt nghĩa hành vi xã hội của con người bằng những thuộc tính đóng kín trong mình của nhân cách hoặc của môi trường, phủ nhận những qui luật phát triển thực tế của xã hội, của các nhóm xã hội, của nhân cách [52.57-58]

1.2.1.2 Quan niệm của các nhà tâm lý học Liên Xô

Các nhà tâm lý học Liên Xô khi nghiên cứu về nhân cách đều dựa trên ba nguyên tắc: Nguồn gốc triết học Mác-Lê nin, tâm lý học và giáo dục học Họ xem xét nhân cách trong mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và môi trường Nhân

Trang 18

cách không phải là con người mang những thuộc tính tâm lý đơn giản và càng không phải là cá nhân mang những nét riêng biệt của nó Nhân cách được xem xét như một chủ thể có ý thức, mang những đặc điểm tâm lý tổng hoà các mối quan hệ mà trong đó con người sống và hoạt động

Mặc dù có sự thống nhất chung về phương pháp luận, nhưng trong tâm lý học Xô Viết vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nhân cách:

B.G.Ananiev cho rằng: Nhân cách là cá thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của bước tiến lịch sử Nhân cách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch sử cá nhân [9.123]

A.G.Côvalev xem nhân cách như một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định [58.167]

E.V.Sôrôkhôva thì quan niệm nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, qui định của hình thức hoạt động

X.L.Rubinstein đã viết: Con người là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt, không lặp lại, con người là nhân cách do nó xác định được quan hệ của mình với những nhân cách xung quanh một cách có ý thức [50.245]

Tóm lại, các quan niệm trên đều cho rằng: Chỉ có thể nói đến con người như là một nhân cách bắt đầu từ một thời kỳ nào đó trong quá trình phát triển của

nó Nói cách khác, không phải mọi cá thể người, với cá tính của mình, đều là nhân cách cả Nhân cách không phải được sinh ra, mà là được hình thành, phát

Trang 19

triển trong hoạt động xã hội của con người Hoạt động của cá nhân mới là con đường quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của nó Hoạt động để lại dấu ấn của mình lên chính bản thân con người Nhân cách không chỉ được thể hiện, mà còn được hình thành trong hoạt động Nhân cách là những đặc điểm, phẩm chất tâm lý cá nhân nói lên giá trị xã hội của con người

và nó điều khiển hành vi của con người khi quan hệ với người khác và xã hội

1.2.1.3 Quan niệm của các nhà tâm lý học Việt Nam

Về khái niệm nhân cách có nhiều ý kiến khác nhau, bởi mỗi tác giả khi đưa ra khái niệm nhân cách đã nhìn nhận, nghiên cứu nhân cách ở những góc độ khác nhau

Trong cuốn sổ tay tâm lý học đã đưa ra khái niệm: Nhân cách là toàn bộ các đặc điểm phẩm chất tâm lý của cá nhân đã hình thành và phát triển trong các quan hệ xã hội Một mặt nhân cách là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội, mặt khác nhân cách cũng sáng tạo ra hoàn cảnh xã hội, sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội.[28.80]

Trong Từ điển tâm lý học của Bác sỹ Nguyễn khắc Viện đã đưa ra khái niệm: Nhân cách là toàn bộ những gì hợp thành một con người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét, với các đặc điểm thể chất (tạng) tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức, vai trò xã hội Và là cá nhân có ý thức về bản thân đã tự khẳng định được, giữ được một phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi.[60.246]

PGS.TS Nguyễn Ngọc Bích đã định nghĩa: nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân thể hiện những phẩm chất bên trong của cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai.[9.223]

Từ các công trình nghiên cứu con người (1991-1995) GS.TS Phạm Minh Hạc đi đến định nghĩa: Nhân cách của con người là mức độ phù hợp giữa thang

Trang 20

giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thước đo của cộng đồng và xã hội.[22.157]

PGS.TS Lê Đức Phúc đã định nghĩa: Nhân cách là nét tâm lý cơ bản qui định phương thức hành vi, thái độ độc đáo riêng biệt trong hoạt động của cá nhân với những quan hệ đa dạng trong những điều kiện thực tế tạo nên sức mạnh nhân tính.[46]

TS.Trương Thành Trung đã định nghĩa: Nhân cách là tổng hoà các phẩm chất xã hội, được cá nhân lĩnh hội trong hoạt động và giao tiếp, phản ánh giá trị

xã hội của cá nhân đó trong cộng đồng [43.110]

Như vậy, khi bàn về khái niệm nhân cách, chúng ta thấy nó rất phức tạp,

đa dạng Nhưng chúng tôi sử dụng định nghĩa nhân cách của các tác giả GS.TS Phạm Minh Hạc, PGS.TS Phạm Hoàng Gia, PGS.Trần Trọng Thuỷ, GS.TS Nguyễn Quang Uẩn, PGS TS Lê Khanh làm khái niệm công cụ để nghiên cứu

đề tài này Nói về nhân cách các tác giả cho rằng: Nhân cách là tổ hợp những

thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của con người.[21.64], [54.76], [58.167]

Nhìn chung, các nhà tâm lý học Mác xít và phần lớn các nhà tâm lý học Việt nam đều cho rằng nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của con người, mà chỉ là những đặc điểm qui định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý - xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân

Xét về mặt xã hội thì nhân cách chính là những chủ thể đại diện cho các mối quan hệ xã hội Đó là quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Với con người những mối quan hệ này vừa có ý nghĩa khách quan, vừa mang màu sắc chủ quan Khách quan ví như Mác nói rằng xét về mặt tự nhiên con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Khi sinh ra con người đã mang những mối

Trang 21

quan hệ xã hội nhất định Chủ quan ở chỗ con nguời chủ động trong việc xác lập các mối quan hệ xã hội nhất định

Xét về mặt tâm lý thì nhân cách bao gồm những đặc điểm tâm lý điển hình, ổn định và bền vững, chứ không phải cái nhất thời, ngẫu nhiên và bất ngờ Nhờ tính ổn định và bền vững mà chúng ta mới nhận xét, đánh giá được nhân cách của từng người và dự đoán hành vi của họ trong tình huống, hoàn cảnh cụ thể nào đó Những nét tính cách phải được thể hiện trong các hoạt động và giao tiếp, trong hành vi cử chỉ của cá nhân dưới hình thức này hay hình thức khác Đồng thời thông qua hoạt động và giao tiếp, nhân cách được nảy sinh và phát triển Giá trị của các đặc điểm cũng như toàn bộ nhân cách thường được qui định bởi các điều kiện xã hội lịch sử cụ thể

1.2.2 Lý luận về phẩm chất nhân cách

Khái niệm “phẩm chất” trong tâm lý học thường dùng để khảo sát ở các đối tượng khác nhau và được xếp thứ hạng nhất định trong hàng loạt các phẩm chất do hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi và hình thành Trong Từ điển tâm lý học

do A.V.Petrovxki và I.M.Iarôsepxki Chủ biên không có từ “phẩm chất” mà chỉ

có từ “nét tính cách” Trong Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 1997 có viết “đặc điểm: Nét riêng biệt” còn “phẩm chất: Cái làm nên giá trị ở người hay vật” Trong Từ điển tiếng Việt của Nxb Văn hoá-Thông tin 1998 có định nghĩa “đặc điểm: nét vẽ làm nên diện mạo của người, sự vật, hiện tượng” và “phẩm chất: Giá trị và tính chất tốt đẹp của con người hay vật gì”

Phẩm chất nhân cách là những đặc điểm tâm lý biểu hiện về mặt đạo đức, trí tuệ, năng lực của con người Nó qui định hành vi, cách ứng xử có ý nghĩa xã hội của người đó trong những tình huống khác nhau

Trang 22

Các nhà tâm lý học (kể cả các nhà tâm lý học phương Tây và tâm lý học Mác xít) đều cho rằng: Nhân cách của con người được cấu tạo từ những thành tố cấu trúc nhất định Chẳng hạn:

Quan niệm thứ nhất coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản: Nhận thức

(bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ), rung cảm (tình cảm và thái độ) và ý chí (phẩm chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen) (PGS.TS.Phạm Hoàng Gia)

Quan niệm thứ hai coi nhân cách bao gồm bốn tiểu cấu trúc: Xu hướng

(thế giới quan, lý tưởng, hứng thú, tâm thế ), kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ

xảo, thói quen), đặc điểm của các quá trình tâm lý (các phẩm chất trí tuệ, ý chí, đặc điểm của cảm xúc, tình cảm), các thuộc tính sinh học quan trọng (khí chất, giới tính, lứa tuổi, các đặc điểm bệnh lý ).(K.K.Platonov)

Quan niệm thứ ba cho rằng nhân cách có nhiều tầng: Tầng “nổi”, sáng tỏ

(bao gồm ý thức và ý thức nhóm) và tầng “sâu”, tối tăm (bao gồm tiềm thức và

vô thức).(Thuyết phân tâm học của S.Freud)

Quan niệm thứ tư coi nhân cách bao gồm bốn thuộc tính phức hợp của

nhân cách là xu hướng, tính cách, năng lực và khí chất.(A.G.Kovalev)

Quan niệm thứ năm xem nhân cách con người bao gồm bốn khối hay bộ

phận: Xu hướng của nhân cách, những khả năng của nhân cách, phong cách hành

vi của nhân cách, hệ thống điều khiển của nhân cách.(GS.TS.Phạm Minh Hạc, PGS Trần Trọng Thuỷ).[19]

Ở Việt Nam người quan tâm nhất đến phẩm chất nhân cách của người cán

bộ cách mạng và người có những suy nghĩ đúng đắn, cách mạng về vấn đề này là Chủ tịch

Hồ Chí Minh Qua nghiên cứu các tác phẩm và những bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy những tư tưởng của Người về nhân cách đó là tư cách làm người và đã được đề cập tới trong cuốn “Đường kách mệnh” Nội dung tư cách cũng là thành phần cấu trúc nhân cách bao gồm:

Trang 23

+ Thành phần thứ nhất là những thuộc tính tâm lý ổn định như cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đối với tự mình” Đó là: Phải có tri thức, luôn luôn phải xem xét, nghiên cứu, học hỏi, có tình cảm cách mạng, có ý chí cách mạng,

cả quyết, nhẫn nại, phải có nhu cầu phù hợp, ít lòng ham muốn vật chất, phải có lập trường, phải có nét tính cách tốt như cẩn thận, cần kiệm, liêm chính, chí công

vô tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo

+ Thành phần thứ hai bao gồm mối quan hệ cá nhân với xã hội với người khác như cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đối với người” Tức là quan hệ đối với mọi người là phải đem lòng chí công vô tư, đối với người thì khoan thứ, giúp đỡ, trung thực, đối với Đảng và Chính phủ thì trung thành, đối với nhân dân phải kính trọng

+ Thành phần thứ ba là quan hệ cá nhân với công việc Đó là: Phải có năng lực xem xét cụ thể, phải có ý chí, khó mấy cũng phải làm, phải tận tụy siêng năng

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì đức và tài là hai nội dung cơ bản trong cấu trúc tổng quát của nhân cách người cách mạng, trong đó đạo đức là cái gốc của nhân cách Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[36.252-253]

Đạo đức cách mạng trong nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cả một

hệ thống tư tưởng rất phong phú và chặt chẽ được tóm tắt trong 5 điều: Nhân,

nghĩa, trí, dũng, liêm và năm điều này được xem là những phẩm chất nhân cách

cốt lõi của người cán bộ cách mạng

Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí đồng bào, sẵn sàng

chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ

Trang 24

Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc

gì phải giấu đoàn thể, ngoài lợi ích của đoàn thể, không có lợi ích riêng phải lo toan

Trí là không có việc gì tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch

sáng suốt, dễ hiểu lý, dễ tìm phương hướng, biết xem người, biết xét việc

Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc gì phải có gan làm, thấy khuyết điểm

phải có gan sửa chữa, cực khổ khó khăn có gan chịu đựng

Liêm là không tham địa vị, không tham tiền, không tham sung sướng,

không ham người tâng bốc.[35.34-35]

Tuy coi đạo đức là cái “gốc” của người cán bộ nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không xem nhẹ “tài” Theo quan điểm của Người thì “tài” ở đây là năng lực của người cán bộ, tức là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu, đặc trưng của một hoạt động nhất định, là điều kiện để hoàn thành tốt đẹp hoạt động đó, là trí tuệ, những hiểu biết và kinh nghiệm của con người có được trong quá trình hoạt động rèn luyện và lao động sáng tạo

Khi đánh giá vai trò của từng mặt “đức” và “tài” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “đức là cái gốc”, nếu không có đạo đức thì tài cũng vô dụng Tuy nhiên đạo đức không tách rời tài năng, Người nói “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”.[35.74]

Như vậy, nhân cách phải là sự thống nhất giữa mặt đức và tài Về thực chất việc đánh giá nhân cách con người là nói về mặt phẩm chất, phẩm giá trong

đó đã bao hàm mặt năng lực của con người Có thể kể ra gồm các phẩm chất sau:

+ Phẩm chất chính trị, tư tưởng: lý tưởng, lập trường, niềm tin, thế giới quan

Trang 25

+ Phẩm chất đạo đức, tác phong: Các thái độ đối với xã hội, đối với người khác và thái độ đối với bản thân, tính khí, lối sống, tính nết, thói quen, đạo đức

+ Phẩm chất ý chí: Tính kỷ luật, tính tự chủ, tính quả quyết, tính phê phán + Các năng lực và sở trường, năng khiếu

Trong đề tài này, chúng tôi xem nhân cách của người cán bộ được hiểu là toàn bộ các thuộc tính tâm lý biểu thị những đặc trưng chung của người cán bộ

và cấu trúc nhân cách được xem ở hai mặt “phẩm chất” và “năng lực”, bao gồm các nhóm phẩm chất:

1.3.1 Khái niệm, vị trí, quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán

Điều 1 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND qui định: „Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo qui định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét

xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án”

Trong hoạt động xét xử của Toà án, Thẩm phán là nhân tố hạt nhân, cùng Hội đồng xét xử làm nhiệm vụ xét xử và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và các vụ việc khác theo qui định của pháp luật Bằng hoạt động của mình Thẩm phán ra các phán quyết bảo

vệ lợi ích Nhà nước, các tổ chức xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự

do, nhân phẩm của công dân

Trang 26

Điều 128 Hiến pháp 1992 và Điều 3 Luật tổ chức TAND 1992 qui định:

“Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Toà án các cấp” đã thay cho chế độ bầu Thẩm phán trước đây

Theo qui định của Điều 4 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, một người có thể trở thành Thẩm phán thì phải là: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế XHCN, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao”

Công dân Việt Nam có đủ tiêu chuẩn qui định tại Điều 4 của Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND, có trình độ Cao đẳng Toà án hoặc Đại học Luật,

có thời gian làm công tác pháp luật (8 năm trở lên đối với cấp tối cao, 6 năm đối với cấp tỉnh, 4 năm đối với cấp huyện), có năng lực xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án các cấp tương đương, thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân huyện (Điều 16, 17, 18 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Thẩm phán có những quyền hạn sau đây:

+ Thẩm phán có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân thi hành quyết định có liên quan đến việc giải quyết theo qui định của pháp luật tố tụng (Điều 10 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán nhân danh Nhà nước chứ không phải với danh nghĩa cá nhân để giải quyết Phán quyết của Thẩm phán phải được các tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh thi hành (các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời, kê biên tài sản, lệnh bắt, giam, tha ) Các bản án,

Trang 27

quyết định có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành và phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành

+ Thẩm phán được hưởng lương, phụ cấp và các quyền lợi khác theo qui định của Nhà nước, ngoài ra Thẩm phán còn được cấp trang phục, giấy chứng minh thư thẩm phán để làm nhiệm vụ (Điều 13, 14 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân)

Lao động của Thẩm phán là lao động có tính đặc thù nghề nghiệp, do đó, thang bảng lương của Thẩm phán có cao hơn một số ngạch hành chính tương đương, ngoài chế độ đối với công chức Nhà nước nói chung, Thẩm phán còn được hưởng chế độ chính sách riêng như được cấp trang phục xét xử, được hưởng chế độ phụ cấp phiên toà

+ Thẩm phán được bồi dưỡng nghiệp vụ xét xử (Điều 7 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Toà án nhân dân Tối cao cùng với các Toà án các cấp vẫn tiến hành thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ ngành toà án

Ngoài những quyền lợi trên, Thẩm phán phải có nghĩa vụ như:

+ Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án (Điều 9 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Trong nội bộ cơ quan Toà án thì giữa Chánh án và Thẩm phán tồn tại hai mối quan hệ Mối quan hệ thứ nhất là mối quan hệ hành chính giữa thủ trưởng (Chánh án) và công chức cấp dưới (Thẩm phán) Mối quan hệ thứ hai là mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và Thẩm phán- Chánh án (vì Chánh án tất nhiên cũng là Thẩm phán) Trong hai mối quan hệ trên, thì ở mối quan hệ thứ nhất, Thẩm phán phải phục tùng và tuân theo sự phân công, điều hành của Chánh án, còn trong mối quan hệ thứ hai, quan hệ tố tụng “khi xét xử, Thẩm phán độc lập

Trang 28

và chỉ tuân theo pháp luật” Phán quyết của Thẩm phán trong quá trình giải quyết

vụ án chỉ căn cứ trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ và được xem xét tại phiên toà, Thẩm phán không phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Chánh án

+ Thẩm phán từ chối nhiệm vụ hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ cho thấy có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ (Điều 12 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Nhiệm vụ của Thẩm phán không chỉ nhận nhiệm vụ một cách thụ động theo sự phân công của Chánh án, mà Thẩm phán còn có trách nhiệm đề xuất với Chánh án về việc không nhận giải quyết các vụ án nếu thấy mình khó giữ được

sự vô tư, khách quan Chẳng hạn có quan hệ thân thiện, tình cảm thân thiết hoặc

có quan hệ tài chính với bị cáo, đương sự, có định kiến trước với những người tham gia tố tụng

+Thẩm phán phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật Điều này có ý nghĩa là “Đối với Quan toà (Thẩm phán) không có cấp trên nào ngoài pháp luật” Thẩm phán dựa trên các qui định của pháp luật và bằng những kinh nghiệm sống của mình giải quyết vụ án đúng pháp luật, không chịu sự can thiệp

từ bên ngoài

+Thẩm phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ sai phạm và hậu quả mà xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 5 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND) Vấn đề này còn được qui định tại Điều 295 BLHS: “Thẩm phán nào cố ý ra bản án mà biết rõ là trái pháp luật thì bị tù từ một năm đến năm năm; phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì phạt tù từ ba năm đến mười năm”

Như vậy, điều luật này được áp dụng chung cho tất cả các Thẩm phán thuộc các cấp toà án khác nhau khi thực hiện nhiệm vụ của mình Trách nhiệm

Trang 29

này chỉ truy cứu trong trường hợp Thẩm phán cố ý thực hiện hành vi ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật và mong muốn điều đó xảy ra

+ Thẩm phán có quyền quyết định tạm giam, giữ bị cáo theo những qui định của pháp luật Nhưng nếu lạm dụng chức vụ, quyền hạn mà làm trái pháp luật như tha người bị giam, giữ trái pháp luật thì bị truy tố theo Điều 302 BLHS năm 1999

+ Thẩm phán không được tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc dịch

vụ khác (Điều 11 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Việc qui định như vậy là cần thiết vì khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, dù muốn hay không Thẩm phán cũng phải quan hệ và ràng buộc với nhiều chủ thể khác nhau, điều này dẫn đến việc không thể vô tư, khách quan trong công tác của mình được

+ Thẩm phán phải giữ bí mật trong công tác theo qui định của pháp luật (Điều 6 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Việc giữ bí mật ở đây được hiểu là trước khi mở phiên toà, Thẩm phán phải giữ bí mật ý kiến quan điểm của mình về đường lối giải quyết vụ án Trong mọi trường hợp, Thẩm phán không được tiết lộ cho bất kỳ ai các thông tin chưa được phép công bố của vụ án đang giải quyết hoặc các thông tin trong quá trình nghị án của bất cứ vụ án nào

Qua việc phân tích khái niệm, quyền hạn và nghĩa vụ cơ bản của Thẩm phán, chúng tôi thấy rằng trong số những công chức nhà nước thuộc các cơ quan bảo vệ pháp luật, Thẩm phán là người chiếm vị trí đặc biệt Thẩm phán là một chức danh thực hiện nghề nghiệp đặc thù

1.3.2 Những đặc điểm đặc thù về hoạt động xét xử của Thẩm phán.

Hoạt động xét xử của Thẩm phán có những đặc điểm đặc thù mà các lĩnh

Trang 30

vực hoạt động khác không có được Theo chúng tôi, những đặc điểm đặc thù trong nghề của Thẩm phán được thể hiện như sau:

Thứ nhất, lao động của Thẩm phán là lao động rất khó khăn, phức tạp đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, của công dân

Thẩm phán là người nhân danh Nhà nước thực hiện việc xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Như vậy, Thẩm phán phải có trách nhiệm xem xét các chứng cứ của vụ án và áp dụng vào từng trường hợp cụ thể Áp dụng ở đây không phải là cứng nhắc mà là quá trình

tư duy phức tạp, phải huy động toàn bộ những hiểu biết không chỉ về pháp luật

mà còn cả những hiểu biết về cuộc sống xã hội, cân nhắc để đưa ra quyết định đúng đắn, thấu tình, đạt lý

Hoạt động của Thẩm phán phải chịu sự giám sát chặt chẽ của xã hội từ góc độ Nhà nước cũng như công dân Không phải ngẫu nhiên mà trong Điều 131 Hiến pháp 1992 và Điều 7 Luật tổ chức TAND năm 1992 đã ghi nhận nguyên tắc Toà án xét xử công khai Nguyên tắc này góp phần vào việc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và các qui tắc của cuộc sống xã hội, thu hút đông đảo nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Mặt khác, nguyên tắc này tạo điều kiện cho nhân dân tham dự phiên toà, giám sát hoạt động của Toà án, nâng cao ý thức trách nhiệm của Thẩm phán Qua việc xét xử trực tiếp, qua hệ thống truyền hình, nhân dân có thể biết được mọi diễn biến phiên toà, mỗi cử chỉ, lời nói của Thẩm phán Đây là sự giám sát của xã hội từ phía ngoài, sự giám sát từ bên trong phiên toà chính là các Hội thẩm nhân dân Nguyên tắc “Việc xét xử của Toà án có Hội thẩm nhân dân (hoặc Hội thẩm quân nhân) tham gia” được ghi nhận từ năm 1946 đến nay trong các Hiến pháp và Luật tổ chức TAND của nước ta năm 1960, 1981, 1992 Hội thẩm nhân dân ngoài việc mang đến Toà án hơi thở từ cuộc sống, từ bầu không khí đời thường,

Trang 31

bổ sung những vốn quí về các lĩnh vực của cuộc sống, những quan niệm về đạo đức, truyền thống cho Thẩm phán Hội thẩm còn đại diện cho nhân dân giám sát các hoạt động của Toà án, làm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật, bảo đảm pháp chế

Thứ hai, hoạt động của Thẩm phán liên quan trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Hoạt động xét xử của Thẩm phán có thể dẫn đến chỗ công dân, pháp nhân,

tổ chức được hưởng các quyền và lợi ích hoặc gánh chịu các nghĩa vụ nhất định Đặc biệt là việc xét xử trên lĩnh vực hình sự thì kết quả của hoạt động xét xử vụ

án hình sự dẫn đến những hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng đối với người bị kết

án (như người bị kết án tử hình ) Ở đây, mỗi sai lầm khi thực hiện nhiệm vụ đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khó lường Sai lầm của nghề xét xử của Thẩm phán không chỉ làm thiệt hại một cá nhân cụ thể mà còn gây nên sự mất lòng tin của nhân dân vào sự công bằng của xã hội

Thứ ba, độc lập xét xử là nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động của Thẩm phán

Khác với những cơ quan hành chính khác, cơ quan cấp dưới phải phục tùng và chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành chính cấp trên, cơ quan Toà án cấp dưới quan hệ với Toà án cấp trên là quan hệ tố tụng Mối quan hệ này cho phép Toà án cấp trên hướng dẫn Toà án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử nhưng không quyết định trước về chủ trương xét xử một vụ án

cụ thể, buộc Toà án cấp dưới phải tuân theo Độc lập ở đây còn được hiểu, Thẩm phán khi xét xử không bị phụ thuộc vào quyết định hoặc kết luận của cơ quan điều tra (độc lập với hồ sơ vụ án), độc lập với kết luận của Viện kiểm sát (độc lập với bản cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát) Bản án của Toà

án chỉ căn cứ vào những chứng cứ được xem xét tại phiên toà Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả phiên toà, đối chiếu với các qui định của pháp luật để xử lý

Trang 32

vụ án và có quyền kết luận khác với ý kiến của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.[47.18,19]

Thứ tư, hoạt động xét xử của Thẩm phán được thực hiện theo các qui định chặt chẽ của pháp luật, đặc biệt là pháp luật tố tụng

Trong hoạt động xét xử của Toà án, Thẩm phán là nhân tố hạt nhân Thẩm phán phải chịu trách nhiệm về các phán quyết của mình Các phán quyết (bản án, quyết định) của Thẩm phán nhân danh Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và tổ chức Cho nên hoạt động xét xử của Toà án có tính tổ chức rất chặt chẽ Thẩm phán khi thực hiện xét xử một vụ án cụ thể phải tuân theo trình tự, thủ tục, luật định một cách nghiêm ngặt, đó là các vấn đề chuẩn bị xét xử, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các thủ tục tại phiên toà, thủ tục kháng cáo, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Việc qui định như vậy tránh sự tuỳ tiện, lạm quyền của Thẩm phán và cơ quan tố tụng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Nếu vi phạm nghiêm trọng những qui định của pháp luật tố tụng thì quyết định của Toà

án sẽ bị kháng cáo hoặc kháng nghị và sẽ bị Toà án cấp trên xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm để cải, sửa, huỷ

Thứ năm, khi xét xử, hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước để ra bản

án, quyết định

Bản án, quyết định của Toà án do hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước để tuyên đối với bị cáo và các đương sự khác Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được mọi cơ quan, tổ chức và mọi công dân có liên quan thi hành một cách nghiêm chỉnh Bởi tính hiệu quả cao của bản án, quyết định của cơ quan Toà án như vậy cho nên pháp luật tố tụng qui định việc sửa đổi, huỷ

bỏ các văn bản đó không phải như những văn bản hành chính đơn thuần mà phải thông qua trình tự tố tụng nghiêm ngặt bằng thủ tục kháng cáo hoặc kháng nghị

Trang 33

Qua việc phân tích những đặc điểm đặc thù về hoạt động xét xử ở phần trên mà chúng ta thấy để trở thành Thẩm phán phải có những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, ý chí Khi xét xử Thẩm phán nhân danh Nhà nước nên Thẩm phán phải do Chủ tịch nước bổ nhiệm

1.3.3.Phẩm chất nhân cách của Thẩm phán

Chúng ta đều biết hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, hoạt động có tính chất xã hội, tính chất tập thể được thực hiện bằng những thao tác và công cụ nhất định Vì vậy, mỗi loại hoạt động đều đề ra cho con người những yêu cầu nhất định, đòi hỏi ở con người những phẩm chất nhất định Quá trình tham gia hoạt động làm cho con người hình thành và phát triển được những phẩm chất và năng lực đó Chính nhân cách của con người cũng được hình thành

và phát triển trong hoạt động Trong thực tế, khi quan sát những người sống quanh ta, ta sẽ thấy rằng hoạt động nghề nghiệp đã làm thay đổi vẻ bề ngoài và thế giới tinh thần của họ như thế nào Đồng thời qua cung cách cư xử, qua lời ăn tiếng nói của họ, ta cũng có thể biết được họ làm nghề gì

Từ mối quan hệ giữa hoạt động và nhân cách như vậy, chúng ta thấy rằng: Nhân cách của Thẩm phán được hình thành trong hoạt động xét xử Hoạt động xét xử của Thẩm phán là lao động trí tuệ, áp dụng pháp luật đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, của công dân Hoạt động xét xử của Thẩm phán liên quan đến số phận, danh dự, uy tín, tài sản và thậm chí liên quan đến tính mạng của con người Trong hoạt động xét xử của Toà án, Thẩm phán nhân danh Nhà nước cộng hoà XHCN Việt Nam để đưa phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả mọi cơ quan Nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải tuân thủ chấp hành Thẩm phán phải chịu trách nhiệm về các phán quyết của mình Bằng hoạt động xét xử, Thẩm phán là người tuyên truyền ý thức pháp luật cho công dân và động viên họ tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng,

Trang 34

chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác Do tính đặc thù của nghề nghiệp, đòi hỏi Thẩm phán phải có một số phẩm chất nhân cách cơ bản

Từ việc phân tích những đặc điểm đặc thù hoạt động của Thẩm phán, cần phải tiến hành tìm hiểu và xây dựng các nhóm phẩm chất nhân cách của Thẩm phán Để có thể tìm hiểu, phát hiện và xây dựng được các nhóm phẩm chất nhân cách của Thẩm phán chúng tôi tiến hành các công việc sau:

+ Khảo sát hoạt động thực tiễn của Toà án nói chung và của Thẩm nói riêng + Trao đổi với các đồng chí cán bộ quản lý Toà án; các đồng chí cán bộ lãnh đạo Toà án như Chánh án, Phó chánh án, Chánh toà, Phó chánh toà Ngoài

ra chúng tôi còn gặp gỡ, trao đổi với các đồng chí Thẩm phán có thâm niên công tác lâu năm trong nghề

+ Tiến hành phát phiếu phỏng vấn để mở, hỏi về những phẩm chất nhân cách nổi bật của Thẩm phán trong hoạt động xét xử

Trên cơ sở đó chúng tôi tổng kết, phát hiện và giả thiết trong hoạt động xét

xử, Thẩm phán cần thể hiện các phẩm chất nhân cách sau đây:

1.3.3.1 Phẩm chất chính trị - tư tưởng

Đây là phẩm chất nhân cách cần có đối với những người làm công tác xét

xử Thẩm phán là cán bộ của Đảng, được Đảng và nhân dân tin yêu giao cho trọng trách là người “cầm cân nảy mực”, là người đem lại sự công bằng cho xã hội Do đó, Thẩm phán phải có phẩm chất chính trị tư tưởng vững vàng cũng như phải có thế giới quan của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Nghề thẩm phán là một nghề đặc thù nên đòi hỏi Thẩm phán phải thể hiện

sự giác ngộ chính trị cao, thấu hiểu sâu sắc các mục đích nhiệm vụ, chức trách được giao phó Thẩm phán phải tin tưởng tuyệt đối vào sự nghiệp đổi mới của Đảng Đồng thời còn thể hiện ở lòng yêu Tổ quốc, trung thành với Nhà nước XHCN Việt Nam, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, sẵn sàng vượt qua mọi khó

Trang 35

khăn gian khổ, kiên quyết bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế XHCN Một người không thể thi hành pháp luật trong cuộc sống, không thể đem lại sự công bằng cho xã hội khi chính người đó không tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Vì lẽ đó, Thẩm phán phải là người có lập trường cách mạng vững chắc, kiên định với đường lối chính sách mà Đảng đã đề ra nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xét xử, chống hiện tượng “máy móc, pháp lý đơn thuần, vô chính trị” trong quá trình giải quyết các vụ án

1.3.3.2 Phẩm chất đạo đức

Trong cuộc sống, Thẩm phán cũng là một công dân, cho nên những phẩm chất đạo đức chung mà bất cứ ai trong xã hội cũng phải có thì người thẩm phán đương nhiên phải có Đó là các phẩm chất: Giản dị, tiết kiệm, trung thực, siêng năng, hướng thiện, khoan dung, độ lượng, lễ độ, tế nhị, có tinh thần trách nhiệm cao, có lương tâm, liêm khiết, tôn trọng lẽ phải Nhưng do đặc điểm, yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp nên Thẩm phán trước hết cần phải có những phẩm

chất cơ bản như: công bằng, vô tư, khách quan, tính trung thực, lương tâm và

tính nhân đạo, tinh thần trách nhiệm

Công bằng, vô tư và khách quan là những yếu tố hiện thân của Toà án

Một bản án thấu tình đạt lý là một bản án hàm chứa trong nó sự công bằng, vô tư

và khách quan của người làm công tác xét xử mà biểu hiện cụ thể trong từng suy nghĩ và hành động của mỗi Thẩm phán nói riêng và của các thành viên trong hội đồng xét xử nói chung[25.40] Nghĩa là khi xét xử, Thẩm phán phải làm theo lẽ phải, không thiên lệch về bên nào Tất cả các đương sự, bị cáo không phân biệt thành phần xuất thân, địa vị xã hội, điều kiện kinh tế, ngôn ngữ đều được Thẩm phán xem xét như nhau, các hành vi, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ được Thẩm phán xét xử dưới lăng kính pháp luật Như trong xét xử các vụ án hình sự, công bằng là sự đánh giá tương xứng giữa hành vi phạm tội và trách nhiệm trước

Trang 36

pháp luật của người phạm tội Định tội danh đúng là tiền đề quan trọng trong việc quyết định hình phạt công bằng Tức là hình phạt áp dụng đối với bị cáo phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Có như vậy mới củng cố niềm tin, xoá bỏ những mặc cảm, những khuynh hướng cực đoan dễ xảy ra trong tâm lý của quần chúng nhân dân , đồng thời mang lại hiệu quả giáo dục tích cực

Điều 12 Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm TAND qui định “Thẩm phán phải từ chối nhiệm vụ hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ cho thấy có thể không

vô tư trong khi làm nhiệm vụ đó” Vì vậy, vô tư và khách quan là những phẩm chất không thể thiếu đối với Thẩm phán Những phẩm chất đó đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện nguyên tắc “cáo trị, hồi tị” trong pháp luật tố tụng Nghĩa

là, Thẩm phán không chỉ nhận nhiệm vụ một cách thụ động từ Chánh án mà Thẩm phán còn có trách nhiệm đề xuất với Chánh án về việc không nhận giải quyết các vụ án nếu thấy mình khó giữ được vô tư, khách quan Chẳng hạn giữa Thẩm phán và bị cáo, đương sự có mối quan hệ thân thiện, tình cảm thân thiết (vợ, chồng , con, cha mẹ ) hoặc có quan hệ tài chính với bị cáo, đương sự Ngoài ra, sự vô tư, khách quan của Thẩm phán còn thể hiện ở chỗ không bị mặc cảm bởi những ấn tượng ban đầu về vụ án hay nhân thân của bị cáo cũng như các đương sự khác có lợi ích trong vụ án Thẩm phán cần gạt bỏ những định kiến của mình, giải quyết vụ án trên cơ sở xem xét các chứng cứ

Thẩm phán phải lấy pháp luật và công bằng làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp, kiên quyết đấu tranh với mọi sự can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử, không để tình cảm cá nhân và quan hệ hành chính, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp hoặc các quan hệ khác làm ảnh hưởng đến hoạt động xét xử (Điều 3 dự thảo qui chế Thẩm phán) Nếu Thẩm phán không kiên quyết đấu tranh với những tình cảm cá nhân, với những lợi ích tầm thường thì chắc chắn họ không

Trang 37

thể vô tư, khách quan trong việc đánh giá chứng cứ, trong việc đảm bảo quyền

và nghĩa vụ tố tụng của bị cáo, đương sự cũng như trong việc ra bản án, quyết định đúng người, đúng việc, đúng tội, đúng pháp luật

Trong các hoạt động xã hội, một trong những yêu cầu cần thiết đối với mỗi người nói chung và đối với Thẩm phán nói riêng là phẩm chất trung thực

Trung thực, trước hết là tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải và chân lý trong các

quan hệ xã hội, trong cách ứng xử với mọi người, với tập thể và xã hội

Yêu cầu chung của sự trung thực đòi hỏi Thẩm phán phải cư xử, hành động phù hợp với sự thật, lẽ phải và chân lý Giá trị của sự trung thực càng cao khi mà vì sự trung thực ấy Thẩm phán phải hứng chịu những nguy hiểm, những mối đe doạ nhằm vào bản thân hoặc gia đình họ Do đó, trung thực nghĩa là lòng dũng cảm và sự ngay thẳng mà không cứng nhắc, bảo thủ.Trung thực không có nghĩa là khờ dại Người khờ dại thường nói, hành động dưới ảnh hưởng của người khác Ngược lại, người trung thực hành động xuất phát từ sự thúc bách của tinh thần trách nhiệm, ý thức nghĩa vụ, ý thức danh dự và sự lựa chọn có tính chất trí tuệ Đức tính trung thực gúp cho Thẩm phán xây dựng lòng tin, tinh thần kiên quyết và tự chủ, sự thanh thản của lương tâm

Mỗi một con người dù làm bất kỳ ngành, nghề nào cũng phải có lương

tâm nghề nghiệp Lương tâm nghề nghiệp của mỗi Thẩm phán là yếu tố nội tâm

tạo cho họ khả năng tự đánh giá hành vi của mình về mặt đạo đức, và tự điều chỉnh hành vi của mình Lương tâm của mỗi Thẩm phán đòi hỏi họ lựa chọn quyết định một cách trong sáng, mạnh dạn nhận và sửa chữa những sai sót của mình[25.41] Một thẩm phán có lương tâm đối với nghề nghiệp chắc chắn sẽ vô

tư, khách quan khi ra bản án, quyết định Nếu “tâm” của họ không trong sáng thì

sẽ luôn bị lợi ích vật chất cám dỗ chắc chắn dẫn đến làm trái với những qui định của pháp luật

Trang 38

Lương tâm của Thẩm phán còn đòi hỏi ở họ tính nguyên tắc của nghề nghiệp, bởi vì không giống với bất cứ nghề nào, hoạt động xét xử của Thẩm phán được thực hiện theo một trình tự pháp lý chặt chẽ của pháp luật, đặc biệt là pháp luật

tố tụng, đồng thời kết quả hoạt động xét xử của Thẩm phán thể hiện nền công lý của mỗi quốc gia nên mỗi “đường đi, nước bước” của họ đều chịu sự giám sát chặt chẽ của xã hội từ góc độ Nhà nước cũng như công dân

Sống, hoạt động có nguyên tắc là một đức tính quan trọng đối với Thẩm phán, nó có ý nghĩa định hướng sự hoạt động cũng như trong quá trình giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày

Trong cuộc sống, Thẩm phán luôn luôn giải quyết những mối quan hệ hết sức đa dạng và phức tạp Các quan hệ đó luôn đặt trước họ những mâu thuẫn khác nhau, đòi hỏi phải lựa chọn, giải quyết và có những định hướng chủ yếu thể hiện những nguyên tắc cơ bản của mình Những nguyên tắc đó được xây dựng trên cơ sở của những quan điểm cơ bản của Thẩm phán về pháp luật và về cuộc sống của con người Ngoài ra, tính nguyên tắc của nghề nghiệp được xây dựng trên sơ sở của ý thức trách nhiệm của Thẩm phán trước xã hội và con người Thẩm phán có tính nguyên tắc cao là những người phải tự vượt qua chính mình, vượt qua những lệ thuộc về gia đình, bạn bè hoặc kinh tế để giữ vững những nguyên tắc sống, quan điểm sống của mình Họ coi những nguyên tắc đó

là cơ sở của nhân sinh quan

Để có tính nguyên tắc nghề nghiệp đúng thì trước hết mỗi Thẩm phán phải

có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, tầm hiểu biết sâu sắc về xã hội

và lòng nhân hậu bao dung Có như vậy, Thẩm phán mới có được những giải pháp, những cách ứng xử linh hoạt, đa dạng và phong phú trong hoạt động xét

xử, nhưng lại không xa rời những nguyên tắc nghề nghiệp của mình Vì thế, Thẩm phán có tính nguyên tắc thường tự tin, có bản lĩnh và vững vàng trước mọi

Trang 39

cám dỗ Họ không bao giờ để mình rơi vào lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm, nhưng không tự vây hãm mình trong cách sống và làm việc một cách cứng nhắc, thờ ơ, lãnh đạm Ngược lại, họ là những người thường có phong cách sống lành mạnh, suy nghĩ trong sáng, thái độ thân thiện đối với tất cả các thành viên trong cộng đồng xã hội và công việc

Bên cạnh lương tâm đối với nghề nhiệp, Thẩm phán còn phải có tính nhân

đạo Tính nhân đạo của Thẩm phán xuất phát từ chủ nghĩa nhân đạo XHCN

Nhưng nó không đồng nghĩa với việc không xử hoặc xử nhẹ người phạm tội so với hành vi nghiêm trọng của họ, mà xét xử một cách công bằng, tội đến đâu thì trách nhiệm hình sự phải gánh chịu đến đó Ngoài ra, tính nhân đạo của Thẩm phán còn thể hiện thông qua việc họ biết đấu tranh với điều ác, bảo vệ điều thiện

Tinh thần trách nhiệm là một phẩm chất cần thiết trong mọi lĩnh vực hoạt

động, đặc biệt đối với những hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, nghĩa

vụ, sinh mạng của con người Do đó, tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán cần phải được đề cao trong hoạt động xét xử Người ta so sánh Thẩm phán cũng như người thầy thuốc Phải tận tâm với công việc của mình một cách vô điều kiện, tuyệt đối trung thành với lý tưởng đã chọn Đối với người thẩm phán điều quan trọng là phải biết khắc phục những mất mát trong nghề của mình, khắc phục sự phiến diện trong suy luận, thói hình thức, thói quen buộc tội[1.170,171]

Tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán được thể hiện qua sự tận tụy, qua sự

tự giác thực hiện các công việc được giao theo đúng lương tâm, đúng pháp luật Trách nhiệm nghề nghiệp của Thẩm phán còn thể hiện sự chu đáo, thận trọng, tỉ

mỉ khi áp dụng pháp luật trong từng vụ án cụ thể để có quyết định đúng Nếu Thẩm phán có tính dễ dãi, cẩu thả sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật một cách tuỳ tiện, thiếu trách nhiệm, dẫn đến vi phạm các nguyên tắc pháp chế trong hoạt động xét xử Thẩm phán có trách nhiệm là người ý thức được công việc của

Trang 40

mình làm, dám chịu trách nhiệm về hành vi của mình và quan trọng là tự giác thực hiện các công việc được giao theo đúng lương tâm, không có thái độ chây lười, ỷ lại, phụ thuộc vào người khác

Như vậy, tính công bằng, vô tư, khách quan, lương tâm, tinh thần trách nhiệm cũng như phẩm chất trung thực luôn luôn hoà quyện vào nhau tạo nên phẩm chất đạo đức của Thẩm phán, đồng thời giúp họ đưa ra phán quyết đúng pháp luật

1.3.3.3 phẩm chất chuyên môn

Lao động của Thẩm phán là lao động trí tuệ đầy khó khăn, phức tạp và đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, của công dân Do đó, mỗi Thẩm phán phải có kiến thức chuyên môn giỏi, có trình độ nghiệp vụ vững vàng Thẩm phán không thể ra bản án thấu tình đạt lý khiến cho các bên “tâm phục khẩu phục” khi mà thiếu kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ Sự thiếu hiểu biết

về pháp luật của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sẽ gây nên hậu quả vô cùng nghiêm trọng, nó có thể thay đổi quyền và nghĩa vụ của bị cáo, của các đương sự hoặc trong một số trường hợp còn có thể ảnh hưởng đến tính mạng của con người (đối với bị cáo bị tuyên hình phạt tử hình) Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng oan sai trong công tác giải quyết các vụ án ở nước ta là do năng lực trình độ của Thẩm phán còn hạn chế, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn xét xử Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ tư pháp trước Quốc hội khoá VIII thì năm 1999 cả nước có 48 Thẩm phán cấp tỉnh và 170 Thẩm phán cấp huyện không được tái bổ nhiệm vì không đủ tiêu chuẩn chuyên môn và những lý

do khác (bị kỷ luật, bị giảm sút uy tín) Trình độ năng lực nghiệp vụ hạn chế là tiền đề của những hành vi, quyết định không đúng đắn, trái pháp luật và tất yếu dẫn đến hậu quả cuối cùng là xâm phạm quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội.[6]

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Dự thảo “Quy chế đạo đức Thẩm phán”. Bộ tư pháp. Hà Nội 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế đạo đức Thẩm phán
52. Phạm Công Tuyên “Về thực trạng đội ngũ Thẩm phán TAND cấp huyện”. Báo Pháp luật số 96. Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thực trạng đội ngũ Thẩm phán TAND cấp huyện
63. Ôúởợõ.Ă.Đ. ẹúọồỏớăÿ ùủốừợởợóốÿ. ẩỗọăũồởỹủũõợ "Đỷứýộứăÿ ỉờợởă". èốủờ 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỷứýộứăÿ ỉờợởă
65. ẽồũđợõủờốộ.À.Â. ấđàũờốộ ùủốừợởợóốữồủờốộ ủởợõàđỹ. "ẽợởốũốữồủờàỮ ởốũồđàũúđà". èợủờõà 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ẽợởốũốữồủờàỮ ởốũồđàũúđà
1. Alexeev.S.S. Pháp luật trong cuộc sống của chúng ta. Đồng Ánh Quang dịch, Nguyễn Đình Lộc hiệu đính. Nxb Pháp lý. Hà Nội 1986 Khác
2. Nguyễn Thị Phương Anh. Một số đặc điểm tâm lý- xã hội của nhà doanh nghiệp. Luận án PTS. Hà Nội 1996 Khác
3. Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 1996 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1997 Khác
4. Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 1997 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1998 Khác
5. Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 1998 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 1999 Khác
6. Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 1999 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2001 Khác
7. Báo cáo tổng kết ngành Toà án năm 2000 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2001 Khác
9. Nguyễn Ngọc Bích. Tâm lý học nhân cách. Nxb Giáo dục. Hà Nội 1998 Khác
10. Bộ luật hình sự 1999. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội 2000 Khác
11. Bộ luật tố tụng hình sự. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội 1993 Khác
12. Các Nghị quyết Trung ương Đảng 1996-1999. Nxb Chính trị Quốc gia 2000 Khác
13. Hoàng Văn Cao. Những phẩm chất nhân cách người hiệu trưởng tiểu học ở Thanh Hoá hiện nay. Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học. Hà Nội 1998 Khác
14. Phạm Tất Dong. Nhân cách và hướng nghiệp. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục. Số 2/1982 Khác
15. Vũ Dũng (Chủ biên). Tâm lý học xã hội. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội 2000 Khác
17. Gônôbôlin. Ph.N. Những phẩm chất tâm lý của giáo viên Tập 1,2. Nxb Giáo dục. Hà Nội 1979 Khác
18. Phạm Hoàng Gia. Một số vấn đề tâm lý học nhân cách. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. Năm 1985 – 1986 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Độ tin cậy của các phép đo trên mẫu thử - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 1 Độ tin cậy của các phép đo trên mẫu thử (Trang 53)
Bảng 3: So sánh giữa các khách thể nghiên cứu. - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 3 So sánh giữa các khách thể nghiên cứu (Trang 57)
Bảng 4: So sánh sự khác biệt ý kiến giữa nam – nữ Thẩm phán về vị trí các  nhóm phẩm chất nhân cách của Thẩm phán - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 4 So sánh sự khác biệt ý kiến giữa nam – nữ Thẩm phán về vị trí các nhóm phẩm chất nhân cách của Thẩm phán (Trang 62)
Bảng  6:  Tương  quan  về  mức  độ  cần  thiết  của  các  nhóm  phẩm  chất  nhân  cách  trên mẫu TP (N = 258) - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
ng 6: Tương quan về mức độ cần thiết của các nhóm phẩm chất nhân cách trên mẫu TP (N = 258) (Trang 65)
Bảng 7: So sánh sự khác biệt ý kiến giữa Chánh án, Phó chánh án – Thẩm  phán – Thƣ ký về mức độ cần thiết của các nhóm phẩm chất nhân cách của  Thẩm phán - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 7 So sánh sự khác biệt ý kiến giữa Chánh án, Phó chánh án – Thẩm phán – Thƣ ký về mức độ cần thiết của các nhóm phẩm chất nhân cách của Thẩm phán (Trang 66)
Bảng 8: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể về mức độ cần thiết của các phẩm  nhân cách  Thẩm phán trong nhóm A - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 8 Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể về mức độ cần thiết của các phẩm nhân cách Thẩm phán trong nhóm A (Trang 67)
Bảng 9: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể về mức độ cần thiết của các phẩm  nhân cách Thẩm phán trong nhóm B - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 9 Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể về mức độ cần thiết của các phẩm nhân cách Thẩm phán trong nhóm B (Trang 70)
Bảng  10:  Ý  kiến  tổng  hợp  03  loại  khách  thể  về  mức  độ  cần  thiết  của  các  phẩm nhân cách Thẩm phán trong nhóm C - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
ng 10: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể về mức độ cần thiết của các phẩm nhân cách Thẩm phán trong nhóm C (Trang 73)
Bảng  12:  Ý  kiến  tổng  hợp  03  loại  khách  thể  về  mức  độ  cần  thiết  của  các  phẩm nhân cách Thẩm phán trong nhóm E - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
ng 12: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể về mức độ cần thiết của các phẩm nhân cách Thẩm phán trong nhóm E (Trang 80)
Bảng  13:  Ý  kiến  tổng  hợp  03  loại  khách  thể  về  mức  độ  cần  thiết  của  các  phẩm nhân cách trong nhóm G - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
ng 13: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể về mức độ cần thiết của các phẩm nhân cách trong nhóm G (Trang 83)
Bảng 15: So sánh  giữa các khách thể nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 15 So sánh giữa các khách thể nghiên cứu (Trang 92)
Bảng 16: So sánh tỉ lệ trung bình các mức độ đánh giá của 3 khách thể về 6  nhóm phẩm chất nhân cách của Thẩm phán hiện có - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 16 So sánh tỉ lệ trung bình các mức độ đánh giá của 3 khách thể về 6 nhóm phẩm chất nhân cách của Thẩm phán hiện có (Trang 93)
Bảng 19: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể đánh giá và tự đánh giá  về các  phẩm nhân cách của Thẩm phán trong nhóm B - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 19 Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể đánh giá và tự đánh giá về các phẩm nhân cách của Thẩm phán trong nhóm B (Trang 103)
Bảng 21: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể đánh giá và tự đánh giá  về các  phẩm nhân cách của Thẩm phán trong nhóm D - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 21 Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể đánh giá và tự đánh giá về các phẩm nhân cách của Thẩm phán trong nhóm D (Trang 109)
Bảng 23: Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể đánh giá và tự đánh giá  về các  phẩm nhân cách của Thẩm phán trong nhóm G - Tìm hiểu thực trạng về phẩm chất nhân cách của thẩm phán
Bảng 23 Ý kiến tổng hợp 03 loại khách thể đánh giá và tự đánh giá về các phẩm nhân cách của Thẩm phán trong nhóm G (Trang 116)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w