Khái quát các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự từ năm 1945 đến Chương 2: NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Tuân
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lâm Thị Thanh Nhàn
Trang 41.2 Mối quan hệ của thẩm phán với chánh án và người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng
tụng hoặc người tham gia tố tụng
24
1.3.4 Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết
tội của Toà án đã có hiệu lực của pháp luật
26
Trang 51.3.5 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo
28
1.4 Khái quát các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn
của thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự từ năm 1945 đến
Chương 2: NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2003 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG VIỆC XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ
50
2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong xét xử vụ án hình
sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong xét
xử vụ án hình sự
67
2.2.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự
67
2.2.2 Những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Thẩm phán
71
Trang 62.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong việc thực hiện các quy
định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự HĐXX : Hội đồng xét xử
TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Số bị cáo đã bị cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đưa ra giải
quyết, xét xử và số người bị kết án oan trên toàn quốc từ
năm 2008 đến năm 2013
68
2.2 Tổng số vụ án hình sự mà cấp sơ thẩm đã giải quyết và tỉ
lệ số vụ án bị hủy, sửa từ năm 2008 đến 2013
71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Trong đó, việc xây dựng một nền tư pháp có hiệu lực
và hiệu quả là một yêu cầu cấp bách đáp ứng những đòi hỏi khách quan từ thực tiễn đúng như Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
về "Một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp trong thời gian tới" đã
đề ra và một lần nữa được khẳng định trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020"
Trong hoạt động tư pháp thì hoạt động của Tòa án là trung tâm, hoạt động xét xử là trọng tâm đóng vai trò quan trọng, có thể khẳng định Tòa án là
bộ mặt của nền tư pháp ở mỗi quốc gia Những kết quả trong hoạt động của Tòa án mà trong đó hoạt động xét xử là thước đo cho tính công bằng và mức
độ đảm bảo các quyền dân chủ và quyền con người Hoạt động xét xử vụ án hình sự chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần vào việc thực hiện pháp luật đảm bảo công bằng và giữ gìn trật tự xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, thái độ đánh giá đúng mức của Nhà nước đối với những hành vi bị coi là tội phạm qua đó đưa ra mức hình phạt thích đáng đối với người phạm tội Người thực hiện công việc để đạt được kết quả đó chính
là Thẩm phán người cầm cân nảy mực và nhân danh Nhà nước để ra phán quyết cuối cùng đó là bản án cho thật công bằng mà không làm oan sai người vô tội
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và thực tiễn xét
xử hình sự nói riêng đang đặt ra những vấn đề lý luận cần nghiên cứu để đưa
ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử án hình sự của Thẩm phán, trong đó chủ yếu là nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật, trong thời gian qua có một số công trình nghiên cứu
Trang 10liên quan về áp dụng pháp luật Tuy nhiên các công trình đó mới chỉ nghiên cứu ở cấp độ lý luận về vị trí vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự hoặc nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong Bộ luật tố tụng hình
sự (BLTTHS) chứ chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy
đủ và có hệ thống mang tính chuyên sâu về việc Thẩm phán đã áp dụng nhiệm
vụ quyền hạn của mình để thực hiện việc xét xử vụ án hình sự như thế nào cho đúng và một cách có hệ thống Để làm cơ sở lý luận cho việc đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng và bảo đảm tính thống nhất về áp dụng pháp luật trong việc xét xử án hình sự của Thẩm phán
Thực trạng trên đã đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cả về lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết Tuy nhiên, có thể khẳng định cho đến nay chưa cã một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn
đề lý luận và thực tiễn của Thẩm phán Đây chính là lý do tác giả chọn đề tài:
"Hoàn thiện pháp luật về quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự trước yêu cầu chiến lược cải cách tư pháp" làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán là một trong những vấn đề được giới luật học quan tâm nghiên cứu Sau khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này như:
"Giáo trình luật tố tụng hình sự", của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội;
"Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam", do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004; "Chế định Thẩm phán -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Viện Khoa học pháp lý, Nxb Tư pháp,
Hà Nội, 2004; "Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự", của Mai Thanh Hiếu và Võ Chí Công, Nxb Lao động, Hà Nội; "Cơ sở khoa học của việc xây
dựng đội ngũ Thẩm phán ở nước ta hiện nay", của Đỗ Gia Thư, Luận án tiến
sĩ Luật học; "Về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự trước
Trang 11yêu cầu cải cách tư pháp", của Đặng Mai Hoa, Luận văn thạc sĩ Luật học
Tuy nhiên, các công trình đó mới nhằm đến những khía cạnh nhất định của chế định Thẩm phán, chủ yếu dưới góc độ tổ chức và quản lý Thẩm phán trong hoạt động tố tụng Hơn nữa các công trình này chưa nghiên cứu và hoàn thiện những bất cập mà khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán đã
và đang gặp phải, nhất là trong quá trình cải cách hệ thống tư pháp hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự và thực trạng về chất lượng xét xử án hình sự của Thẩm phán
Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ
án hình sự của Thẩm phán trong thời gian tới
Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong BLTTHS
- Thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán vào xét xử vụ án hình sự trong từng giai đoạn
- Các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán và những vấn
đề trong công tác xét xử và áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án hình sự của Thẩm phán trong cả hai cấp xét xử
Trên cơ sở mục đích, đối tượng nghiên cứu đã xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào những vấn đề tố tụng hình sự liên quan đến nhiêm vụ, quyền hạn của Thẩm phán và thực tiễn áp dụng
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác
Hệ thống các phương pháp trên được sử dụng cụ thể như sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở cả hai chương, trong đó Chương 1 chủ yếu vận dụng phương pháp phân tích và tổng hợp; ở Chương 2, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể là phương pháp được sử dụng chủ yếu để đảm bảo đánh giá thực trạng một cách khách quan và toàn diện
Ngoài ra, các phương pháp thống kê, điều tra xã hội học (phỏng vấn trực tiếp) cũng được sử dụng để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, đảm bảo sự gắn kết và tính liên thông của toàn bộ nội dung luận văn
6 Đóng góp mới của luận văn
Từ kết quả đạt được, luận văn có những điểm mới về mặt khoa học sau: Luận văn lần đầu tiên đưa ra những luận cứ khoa häc để làm sáng tỏ một cách hệ thống vấn đề thực trạng mà Thẩm phán đã và đang xét xử vụ án hình sự trong những năm qua và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự được tốt hơn để từ đó có thể giúp cho Thẩm phán xét xử vụ án hình sự được tốt hơn và đúng trình tự mà Nghị quyết 49-NQ/TW
Trang 137 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn góp phần xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn trong chất lượng xét xử vụ án hình sự của Thẩm phán
Luận văn có thể được xây dựng làm cơ sở hình thành nên các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng xét xử vụ án hình sự của Thẩm phán
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và trong công tác xét xử những vụ án hình sự mà các Thẩm phán của ngành Tòa án đang phải giải quyết
Luận văn giúp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các Thẩm phán trong khi giải quyết những vụ án hình sự phải giải quyết hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm
phán trong xét xử vụ án hình sự
Chương 2: Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và thực tiễn áp dụng trong việc xét xử vụ
án hình sự
Chương 3: Những yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét
xử vụ án hình sự của Thẩm phán
Trang 141.1.1 Khỏi niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phỏn
Trong bộ máy nhà n-ớc, Tòa án nhân dân (TAND) có một vị trí đặc biệt quan trọng- là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế, hành chính, kinh doanh th-ơng mại và giải quyết các công việc khác theo quy định của pháp luật nh- thi hành
án, giải thích pháp luật, Bằng hoạt động của mình, Tòa án bảo vệ pháp chế XHCN, quyền dân chủ của công dân, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, nhân phẩm danh dự của công dân và bảo vệ tài sản của Nhà n-ớc Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công dân ý thức pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống, tham gia cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác
Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán đ-ợc coi là nhân tố, hạt nhân rất quan trọng, nhân vật trung tâm Xét xử đ-ợc hiểu là hoạt động
do Tòa án thực hiện để xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, kinh tế, dân
sự, hành chính với việc tuân thủ nghiêm ngặt các đòi hỏi của pháp luật và trật tự pháp luật, có tính lập luận công bằng và có ý nghĩa bắt buộc chung Xét xử đã có từ rất lâu đời nh-ng sự ra đời của Thẩm phán lại khá muộn màng D-ới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức nhà n-ớc chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng nh- hoạt động lập pháp Hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nụ và phong kiến mà đại diện là nhà vua Nhà vua là ng-ời nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà
Trang 15n-ớc ban hành các đạo luật, quyết định tổ chức thực hiện và là ng-ời có quyền lực cao nhất Đến mãi sau này vào khoảng thế kỷ 17- 18, giai cấp t- sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho ph-ơng thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xóa bỏ Nhà n-ớc phong kiến lỗi thời Trong thời gian này, các học giả t- sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu đã
đ-a ra luận điểm: phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà n-ớc thành ba loại quyền lập pháp, hành phỏp và t- pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại t- t-ởng độc quyền của một ng-ời, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực mhà nước cú thể núi sự tỏch bạch và độc lập giữa Tũa ỏn với hai nhỏnh quyền lực lập pháp, hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà n-ớc làm nhiệm
vụ xét xử từ x-a đến nay ch-a có đó là Thẩm phán Vậy Thẩm phán đ-ợc hiểu nh- thế nào cho đầy đủ và chính xác
Cũng có nhiều khái niệm về Thẩm phán chẳng hạn nh-:
Theo tác giả Đỗ Gia Th-: "Thẩm phán là ng-ời làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định nhân danh Nhà n-ớc" [26, tr 17]
Theo khoản 1 Điều 1 của Phỏp lệnh Thẩm phỏn và Hội thẩm nhõn dõn năm 2002 quy định "Thẩm phỏn là người được bổ nhiệm theo quy định của phỏp luật để làm nhiệm vụ xột xử những vụ ỏn và giải quyết những việc khỏc thuộc thẩm quyền của toà ỏn" [41]
Trải qua sự phát triển của lịch sử cũng nh- sự phát triển của nền lập pháp từ khi ch-a có đội ngũ Thẩm phán đến khi xuất hiện đội ngũ Thẩm phán
để từ đó khái niệm về Thẩm phán dần đ-ợc xuất hiện và ngày càng hoàn thiện hơn Chúng tôi đồng tình với khái niệm về Thẩm phán đ-ợc quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 Đây là khái niệm hoàn chỉnh và đầy đủ về Thẩm phán
Trang 16Theo khái niệm này thì Thẩm phán phải có tiêu chuẩn và đ-ợc bổ nhiệm theo thủ tục do pháp luật quy định Điều 37 Luật Tổ chức TAND quy định tiờu chuẩn để tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phỏn theo đú Thẩm phỏn phải là cụng dõn Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến phỏp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, cú phẩm chất đạo đức tốt, liờm khiết và trung thực, cú tinh thần kiờn quyết bảo vệ phỏp chế XHCN, cú trỡnh độ cử nhõn luật và đó được đào tạo về nghiệp vụ xột xử, cú thời gian cụng tỏc thực tiễn
cú năng lực làm cụng tỏc xột xử và cú sức khoẻ đảm bảo hoàn thành nhiệm
vụ được giao
Chức năng, nhiệm vụ xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua hoạt
động xét xử trong đó Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa tham gia vào việc ra bản án hoặc quyết định nhân danh Nhà n-ớc, thay mặt Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên án hoặc các quyết định nhân danh Nhà n-ớc nh- quyết định
đình chỉ xét xử sơ thẩm, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định trả
tự do cho bị cáo tại phiên tòa
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đ-ợc phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra các quyết định tố tụng nh- quyết
định đ-a vụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ vụ án, quyết định hoãn phiên tòa và Thẩm phán còn tham gia giải quyết vụ án với vai trò là Thẩm phán - thành viên của HĐXX trong tr-ờng hợp xét xử theo trình tự sơ thẩm khi HĐXX là 5 ng-ời hoặc theo trình tự xét xử phúc thẩm
Nói đến Thẩm phán tr-ớc hết phải hiểu đó là ng-ời - chuyên hành nghề xét xử Công việc xét xử của Thẩm phán đ-ợc coi là một nghề -nghề có tính đặc thù vì chỉ có Toà án mới có chức năng xét xử Tính đặc thù của Thẩm phán đ-ợc thể hiện ở chỗ: Nghề này ảnh h-ởng lớn đến tính công minh của pháp luật, uy tín về nền công lý của một quốc gia
Lao động của Thẩm phán chính là lao động trí óc, đầy khó khăn phức tạp d-ới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội và công dân
Trang 17Thẩm phán là ng-ời đại diện cho Nhà n-ớc trực tiếp áp dụng pháp luật
do vậy sự công bằng khách quan, tình ng-ời là không thể thiếu đ-ợc của ng-ời Thẩm phán
Hoạt động của Thẩm phán gắn liền với việc áp dụng các biện pháp c-ỡng chế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức
Độc lập xét xử là nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động của Thẩm phán Thẩm phán hoạt động theo một trình tự pháp lý chặt chẽ đ-ợc quy
định trong pháp luật tố tụng hình sự
Khi xét xử HĐXX nhân danh Nhà n-ớc để ra bản án hoặc quyết định Thẩm phán đ-ợc coi là một chức danh quan trọng không thể thiếu trong tổ chức bộ máy nhà n-ớc, có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền t- pháp Bởi lẽ hoạt động xét xử là hoạt động trung tâm thực hiện quyền t- pháp Ở n-ớc ta Thẩm phán đ-ợc coi là một chức danh từ năm 2002 và
đ-ợc ghi nhận bằng cơ sở pháp lý tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 còn tr-ớc đây Thẩm phán chỉ đ-ợc ghi nhận là một chức vụ
Đây là b-ớc ngoặt quan trọng đánh dấu sự thay đổi về nhận thức khoa học, muốn xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp thì tr-ớc hết phải coi Thẩm phán là một nghề, có vị trí chức danh nhất định trong xã hội có nh- vậy Thẩm phán mới có cơ sở điều kiện pháp lý để làm việc và yên tâm cống hiến, phấn đấu cho sự nghiệp của mình
Ngoài ra Thẩm phán còn đ-ợc coi là công chức nhà n-ớc Theo Pháp lệnh cán bộ công chức hiện hành, Thẩm phán đ-ợc xếp vào ngạch công chức nhà n-ớc đ-ợc h-ởng mọi quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ của công chức nói chung Trong cơ quan Tòa án có nhiều cán bộ, công chức nh-ng ng-ời thực hiện nghiệp vụ xét xử và có thẩm quyền ra bản án, quyết định nhân danh Nhà n-ớc thì chỉ có Thẩm phán Đó là việc đ-a ra các quyết định mang tính chất bắt buộc chung bằng cách này hay cách khác liên quan đến và quyền tự do cơ bản, các lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan nhà n-ớc, của các tổ chức
Trang 18xã hội Những giá trị xã hội rất cần thiết cho mọi Nhà n-ớc dân chủ thực sự nh- số phận pháp lý của con ng-ời, khẳng định và duy trì pháp chế, trật tự pháp luật có thể tùy thuộc vào những ng-ời Thẩm phán Các Thẩm phán thực hiện quyền của mình một cách độc lập trong sự phối hợp hoạt động với Hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân nhân D-ới sự ảnh h-ởng của các đặc
điểm về các nhiệm vụ đ-ợc đội ngũ Thẩm phán đảm nhiệm trong vòng nhiều thập kỷ và đã hình thành Cùng với thời gian, nhiều ng-ời Thẩm phán dần có quyền và nghĩa vụ đặc tr-ng cho họ Tổng thể các quyền và nghĩa đó tạo thành cái mà chúng gọi là quy chế Thẩm phán và nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán
Nhiệm vụ của Thẩm phỏn được thể hiện như sau:
- Đõy là những yờu cầu cụ thể do nhà nước đặt ra đối với chức danh Thẩm phỏn và được quy định trong Hiến phỏp, BLTTHS, phỏp lệnh Thẩm phỏn và Hội thẩm nhõn dõn
- Nhiệm vụ của Thẩm phỏn cũn được hiểu là trỏch nhiệm, là nghĩa vụ phỏp lý mà Thẩm phỏn phải thực hiện trong hoạt động xột xử
Luụn đi đụi song hành với nhiệm vụ là quyền hạn Đõy là quyền năng phỏp lý mà phỏp luật quy định cho Thẩm phỏn để thực hiện chức năng xột xử trong tố tụng hỡnh sự
Về nguyờn tắc, nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phỏn phải được xỏc định đầy đủ trờn cơ sở vai trũ, vị trớ, chức năng nhiệm vụ của Thẩm phỏn trong tố tụng hỡnh sự Mặt khỏc, chỳng phải được phỏp luật quy định cụ thể rừ ràng và chặt chẽ Cú như vậy mới đảm bảo cho Thẩm phỏn hoàn thành hiệu quả nhiệm vụ xột xử của mỡnh, trỏnh tỡnh trạng tuỳ tiện hay lạm dụng quyền hạn trong thực tiễn xột xử
Trong mỗi một giai đoạn lịch sử phỏt triển đất nước, nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phỏn cũng cú những thay đổi song vẫn dựa trờn những nguyờn tắc chung của tố tụng hỡnh sự và nhằm mục đớch phục vụ chức năng xột xử đỳng người, đỳng tội, đỳng phỏp luật
Trang 191.1.2 Vị trí, vai trò của Thẩm phán
Kết quả hoạt động của Toà án là sản phẩm của toàn bộ hoạt động tư pháp Toà án thực hiện được chức năng xét xử của mình thông qua hoạt động của những con người cụ thể Trong Toà án có rất nhiều chức năng như Thẩm phán, Thư ký toà án, Thẩm tra viên, Cán bộ văn phòng nhưng chỉ có duy nhất Thẩm phán mới được pháp luật trao cho quyền xét xử Cho dù bộ máy của Toà án được tổ chức quy mô đến mấy thì tất cả những yếu tố đó đều chỉ phục vụ cho hoạt động xét xử Trước đây, khi chưa có sự tách biệt giữa ba quyền tư pháp, hành pháp, lập pháp thì nhà vua chính là quan toà, là người xét
xử tối cao Đến khi cách mạng tư sản ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng mới về tư tưởng Chính điều này đã hình thành nên một nhánh quyền lực độc lập đó là tư pháp và cũng từ đó hình thành nên một đội ngũ quan chức mới trong bộ máy nhà nước Đó là những con người làm công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng
Hoạt động xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua HĐXX trong
đó Thẩm phán là nhân vật trung tâm Thẩm phán là những người có vai trò chủ yếu trong công tác xét xử Thông qua hoạt động xét xử của chính mình, Thẩm phán góp phần vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người dân Mỗi một phán quyết của Thẩm phán có thể dẫn tới chỗ công dân, pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu các nghĩa vụ nhất định đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự, phán quyết của Thẩm phán dẫn đến hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm trọng đối với người bị kết án Sai lầm trong hoạt động xét xử của Thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của Nhà nước ta
Khác với công việc khác, để đưa ra được một phán quyết thấu tình đạt
lý, Thẩm phán phải huy động nhiều tố chất trong một con người Đó là sự am hiểu về pháp luật, sự am hiểu về thực tế, tích lũy kiến thức về xã hội, tâm sinh
Trang 20lý của từng cỏ thể, lương tõm của người Thẩm phỏn "Cơ sở của cỏc phỏn quyết
là phỏp luật, nhưng kết quả của cỏc phỏn quyết cú cụng bằng, vụ tư và khỏch quan hay khụng đũi hỏi mỗi Thẩm phỏn phải cú cỏi tõm trong sỏng" [32, tr 38], chỉ khi nào cú sự kết hợp giữa trỡnh độ chuyờn mụn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phỏn thỡ lỳc đú mới đảm bảo cho phỏn quyết của Thẩm phỏn thấu tỡnh đạt lý Khi xột xử người Thẩm phỏn phải cú niềm tin nội tõm, đú là niềm tin vào cụng lý Bởi vỡ cho hệ thống phỏp luật cú hoàn hảo, đầy đủ đến đõu chăng nữa thỡ cũng sẽ khụng bao giờ sự liệu hết được mọi tỡnh huống xảy ra trong thực tế Thậm chớ quy định của phỏp luật cũn chồng chộo, khụng đồng bộ, song khi xột xử Thẩm phỏn vẫn phải đảm bảo nguyờn tắc xột
xử đỳng người, đỳng tội và đỳng phỏp luật Và đặc biệt là phải đảm bảo cụng
lý Trong con mắt của người dõn, Toà ỏn khụng chỉ là bảo vệ phỏp luật mà cũn là biểu tượng của cụng lý, sự cụng bằng xó hội Khi phải đối mặt với quan toà, với cụng đường người dõn chờ đợi sự cụng minh, sỏng suốt Toà ỏn là người đại diện của cụng lý và quan toà là căn cứ cụng lý
Bởi vậy, công việc của ng-ời Thẩm phán hết sức nặng nề và nguy hiểm nh-ng cũng không kém phần vinh quang Ph-ơng diện hoạt động của Thẩm phán là xét xử, chức năng của Thẩm phán cũng là xét xử, để thực hiện
đ-ợc chức năng này pháp luật n-ớc ta đã cụ thể hóa trong pháp luật cấu thành nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán Nhìn vào nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán mà pháp luật tố tụng hình sự quy định cho họ đã thể hiện rõ mô hình ng-ời Thẩm phán
Từ phõn tớch trờn, chỳng ta nhận thấy rất rừ vai trũ của Thẩm phỏn trong hoạt động xột xử cũng như trong hoạt động tư phỏp hỡnh sự
1.2 MỐI QUAN HỆ CỦA THẨM PHÁN VỚI CHÁNH ÁN VÀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Mối quan hệ của Thẩm phán trong công tác có hai dạng đó là: Mối quan
hệ hành chớnh và mối quan hệ tố tụng Trong đó mối quan hệ tố tụng gồm có:
Trang 21Mối quan hệ giữa Thẩm phán và ng-ời tiến hành tố tụng, mối quan hệ Thẩm phán với ng-ời tham gia tố tụng
Thẩm phán làm nghiệp vụ chuyên môn xét xử bên cạnh mối quan hệ hành chính thì mối quan hệ trong tố tụng là chủ yếu Nó đ-ợc thiết lập trên cơ sơ pháp luật tố tụng hình sự, chỉ phát sinh khi những cơ quan tiến hành tố tụng, ng-ời tiến hành tố tụng, ng-ời tham gia tố tụng đ-ợc xác lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đồng thời đây cũng là mối quan hệ phối hợp để
đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm giải quyết đúng đắn
vụ án hình sự
- Mối quan hệ hành chính: Mối quan hệ hành chính là quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án nh-ng nó đ-ợc hiểu d-ới hai góc độ khác nhau:
Thứ nhất: Mối quan hệ giữa Thẩm phán với t- cách cán bộ cơ quan và
Chánh án với t- cách thủ tr-ởng cơ quan Đây là mối quan hệ hành chính Thẩm phán phải làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án chịu sự quản
lý của Chánh án, ví dụ nh- Chánh án có quyền phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, tham gia vào Hội đồng giảm án tha tù, viết báo cỏo tham luận rút kinh nghiệm xét xử hàng năm đối với cấp huyện, thị xã Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền ký quyết định bổ nhiệm, tái nhiệm, điều động biệt phái Thẩm phán Với t- cách là cán bộ Tòa án, Thẩm phán phải chịu trách nhiệm, chấp hành nhiệm vụ đ-ợc giao tr-ớc Chánh án
Thứ hai: Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án với t- cách là
Thẩm phán tham gia giải quyết vụ án hình sự Đây là mối quan hệ tố tụng và chịu sự điều chỉnh của luật tố tụng hình sự, phải độc lập trong xét xử Lúc này Chánh án không còn giữ chức danh quản lý hành chính nữa mà giữ chức danh Thẩm phán
- Mối quan hệ tố tụng: Mối quan hệ giữa Thẩm phán và những ng-ời tiến hành tố tụng (Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Th- ký Tòa án)
Trang 22Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân: Đây là mối quan
hệ tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Thẩm phán và Hội thẩm là thành phần của HĐXX Hội thẩm đại diện cho quần chúng nhân dân tham gia vào công tác xét xử, giám sát hoạt động của Tòa án góp phần làm cho hoạt động xét xử đúng pháp luật, hợp lẽ công bằng, bảo đảm pháp chế Hội thẩm là ng-ời đ-ợc bầu và đ-ợc cử theo quy định của pháp luật để cùng Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 đều quy định "Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy
định của pháp luật" Nh- vậy, thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm, trong tr-ờng hợp xét xử bị cáo về tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình thì HĐXX gồm 2 Thẩm phán và 3 Hội thẩm (Điều 185 BLTTHS); Đối với tr-ờng hợp xét xử ng-ời ch-a thành niên phạm tội thì phải
có Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (Điều 307BLTTHS; đối với các vụ án xét xử theo trình tự phúc thẩm thì HĐXX gồm 3 Thẩm phán, trong tr-ờng hợp cần thiết có thêm 2 Hội thẩm (Điều 244 BLTTHS) Để thực hiện nguyên tắc tố tụng khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán và để cho việc xét xử đúng đắn thì cũng nh- Thẩm phán, Hội thẩm phải có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án tr-ớc khi xét xử Tại phiên tòa Hội thẩm cũng có quyền xét hỏi nh-ng phải theo thứ tự Chủ tọa phiên tòa hỏi tr-ớc rồi mới đến Hội thẩm Hội thẩm có quyền nghị án
và đ-a ra quan điểm và biểu quyết những vấn đề HĐXX nghị án, quyền ra bản
án và quyết định khác cần thiết nhân danh Nhà n-ớc và tuyên án công khai tại phiên tòa Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật
Để chất l-ợng xét xử đạt kết quả cao thì một trong những đòi hỏi Thẩm phán
và Hội thẩm phải có trình độ chuyên môn cũng nh- kỹ năng xét xử và kinh nghiệm sống, sự phối hợp giữa Thẩm phán và Hội thẩm phải nhịp nhàng
Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Th- ký Tòa án: Thẩm phán với Th-
ký đều là những ng-ời tiến hành tố tụng nên mối quan hệ Thẩm phán và Th-
Trang 23ký là mối quan hệ đ-ợc điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng nó chỉ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Thẩm phán không phải là thủ tr-ởng của Th- ký còn Th- ký cũng không phải là Th- ký riêng của Thẩm phán Tuy nhiên Th- ký là ng-ời giúp việc cho Thẩm phán thực hiện những tác nghiệp trong quá trình giải quyết vụ án do đó Th- ký phải chịu sự giám sát, đôn đốc, h-ớng dẫn của Thẩm phán nhằm thực hiện đúng các quy định của pháp luật Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Th- ký phải giúp việc cho Thẩm phán một số tác nghiệp nh- triệu tập những ng-ời tham gia tố tụng đến phiên tòa, giao lệnh trích xuất cho trại tạm giam, giao quyết định đ-a vụ án ra xét xử cho bị cáo, chuẩn bị hội tr-ờng xét xử Đối với vụ án lớn hay vụ án xét xử l-u động Th-
ký còn giúp Thẩm phán tổ chức họp ba ngành liên quan, chuẩn bị địa điểm xét
xử để đảm bảo cho phiên tòa đạt kết quả cao Trong tr-ờng hợp cần thiết phải
có Giám định viên, ng-ời Phiên dịch tại phiên tòa thì Th- ký phải liên hệ với các cơ quan, tổ chức này để mời Giám định viên, ng-ời phiên dịch tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật Nhiệm vụ chính và quan trọng nhất của Th- ký đ-ợc thể hiện tại phiên tòa đó là ghi biên bản phiên tòa Tại phiên tòa Th- ký phải phổ biến nội quy phiên tòa và sắp xếp chỗ ngồi cho những ng-ời tham gia tố tụng đ-ợc triệu tập đến phiên tòa Báo cáo cho HĐXX biết sự có mặt và vắng mặt của ng-ời tham gia tố tụng để HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hay không Th- ký còn giúp Thẩm phán ban hành một số quyết định ví dụ nh- quyết định tạm giam, quyết định trả tự do cho bị cáo, quyết định hoãn phiên tòa Nhiệm vụ ghi biên bản phiên tòa của Th- ký phải thể hiện chính xác, cẩn thận, phản ánh trung thực, đầy đủ diễn biến tại phiờn toà là điều vụ cựng quan trọng Thư ký và Thẩm phỏn phối hợp với nhau trỏnh tỡnh trạng hoón phiờn tũa do lỗi chủ quan, đảm bảo tớnh nghiờm trang tại phiờn tũa
Mối quan hệ của Thẩm phỏn với Kiểm sỏt viờn giữ quyền cụng tố: Viện kiểm sỏt là cơ quan duy nhất cú mặt ở tất cả cỏc giai đoạn tố tụng từ điều tra, truy tố, xột xử đều đúng vai trũ rất quan trọng, bởi vỡ Viện kiểm sỏt được giao một chức năng khụng cú chủ thể nào cú được đú là chức năng kiểm
Trang 24sát tư pháp Viện kiểm sát thực hiện chức năng này để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Trong mối quan hệ với Thẩm phán, Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động kiểm sát xét xử, giám sát HĐXX trong việc thực hiện các nguyên tắc và trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật Kết thúc điều tra hồ sơ vụ án được chuyển sang Viện kiểm sát căn cứ vào kết quả
đã điều tra Kiểm sát viên có quyền lập ra bản cáo trạng và tham gia phiên tòa
sơ thẩm, phúc thẩm để buộc tội bị cáo,có quyền xét hỏi, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố tại phiên tòa Sự thật khách quan có được làm rõ hay không điều đó phụ thuộc rất nhiều vào Thẩm phán và Kiểm sát viên khi đưa ra các tài liệu chứng cứ để kiểm tra tại phiên tòa Tại phiên tòa Kiểm sát viên phải tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa về mặt trình tự tố tụng
Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Luật sư: Luật tố tụng hình sự quy định sự tham gia của Luật sư, Bào chữa viên nhân dân trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Luật sư góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án Họ có quyền tham gia vào quá trình tố tụng để giúp thân chủ của họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Họ có quyền nghiên cứu hồ sơ, sao chép các tài liệu cần thiết trong hồ sơ vụ án, được biết về thời gian địa điểm mở phiên tòa Thẩm phán tạo điều kiện cho Luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Luật sư có quyền được xét hỏi, tranh luận Thẩm phán đảm bảo
về mặt thời gian tạo điều kiện cho Luật sư thực hiện các quyền của mình
Mối quan hệ giữa Thẩm phán với người giám định, người phiên dịch: Khi vụ án thấy cần thiết phải trưng cầu giám định về một vấn đề nào đó trong
vụ án Thẩm phán sẽ chủ động liên hệ với cơ quan giám định thông qua công văn để họ cử Giám định viên thực hiện yêu cầu giám định Thẩm phán phải đưa ra quyết định trưng cầu giám định và Giám đinh viên có quyền tìm hiểu tài liệu vụ án có liên quan đến đối tượng giám định, yêu cầu Thẩm phán phải cung cấp các tài liệu cần thiết, tham gia vào xét hỏi và đặt câu hỏi liên quan
Trang 25đến đối tượng giám định tại phiên tòa Còn đối với người phiên dịch trong trường hợp người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt thì Thẩm phán phải mời người phiên dịch cho họ (trong trường hợp họ không có thỏa thuận lựa chọn người phiên dịch) Thẩm phán phải giải thích rõ cho phiên dịch những vấn đề cần phiên dịch Trong luật không quy định việc người phiên dịch phải nghiên cứu hồ sơ nhưng trong thực tiễn thì Thẩm phán phải tạo điều kiên cho họ nghiên cứu hồ sơ để hiểu thêm về vấn đề chuyên môn và các từ thuật ngữ luật và khái niệm pháp lý
Mối quan hệ giữa Thẩm phán với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác: Đây là mối quan hệ tố tụng phát sinh khi giải quyết vụ án hình sự Quyền và nghĩa vụ của bị cáo, và những người tham gia tố tụng được quy định rất rõ và cụ thể trong BLTTHS Trước pháp luật họ đều được đối xử một cách công bằng, Thẩm phán phải xử sự đúng mực tôn trọng ý kiến của bị cáo
và những người tham gia tố tụng, không áp đặt chủ quan những mặc cảm ban đầu có thể dẫn đến định kiến làm sai lệch vụ án, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng phải tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa
1.3 NGUYÊN TẮC TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN
Nguyên tắc hoạt động của Thẩm phán là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo chi phối toàn bộ quá trình xét xử của Thẩm phán Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự như nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của một công dân trước pháp luật và trước toà án, nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án… trong số 12 nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự thì các nguyên tắc về xét xử chỉ chi phối rất mạnh đến nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán, đó là: nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng
Trang 26hoặc của những người tham gia tố tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc quyền bảo đảm của bị can, bị cáo
1.3.1 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Đây là một nguyên tắc hiến định không chỉ được quy định trong Hiến pháp nước ta mà còn được quy định trong hiến pháp của nhiều nước trên thế giới Việc nghiên cứu về nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa đối với các cơ quan và cán bộ làm công tác tư pháp mà còn cần thiết đối với các cơ quan nhà nước khác Trong hệ thống các cơ quan nhà nước thì chỉ có Toà án mới có quyền xét xử Ngoài Toà án không một cơ quan nhà nước nào khác tự nhận về mình chức năng xét xử và cũng không có quyền can thiệp bằng cách này hay cách khác vào hoạt động xét xử của Toà án Nội dung của nguyên tắc này là đảm bảo tính khách quan, công bằng trong các quyết định do Toà án đưa ra đề cao trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm
Nguyên tắc này được thể hiện ở hai khía cạnh độc lập với các yếu tố bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong Độc lập với các yếu tố bên ngoài khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị phụ thuộc vào các quyết định hoặc các kết luận của cơ quan điều tra (tức là độc lập với hồ sơ vụ án), độc lập với kết luận của Viện kiểm sát (tức là độc lập với bản cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát) Tại phiên toà, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trực tiếp xem xét những chứng cứ của vụ án chứ không chỉ căn cứ vào hồ sơ của vụ án hay chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra trong bản cáo trạng Bản án của Toà án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét thẩm vấn tại phiên toà HĐXX dựa vào những kết quả phiên toà, đối chiếu với các quy định của pháp luật để xử lý vụ án và có quyền kết luận khác với ý kiến của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Không một ai, không một cơ quan
tổ chức nào có quyền can thiệp hay dùng áp lực tác động hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm
Trang 27nhân dân có thể tham khảo lắng nghe ý kiến của bất cứ ai nhưng trong hoạt động nghề nghiệp phải luôn thể hiện bản lĩnh của mình để xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho các ý kiến của bên ngoài làm thay đổi quyết định của mình
Ngoài ra, tính độc lập còn được thể hiện ngay trong mối quan hệ giữa các thành viên trong HĐXX Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau trong suy nghĩ, trong việc xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm, không bị lệ thuộc vào quan điểm chính kiến của các thành viên khác trong HĐXX Theo quy định tại Điều 185 và Điều 244 của BLTTHS 2003 thì việc xét xử sơ thẩm hoặc trong những trường hợp đặc biệt của xét xử phúc thẩm thành phần HĐXX gồm có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Tuy là những người bán chuyên nghiệp nhưng khi thực hiện quyền xét xử, Hội thẩm độc lập với Thẩm phán
Để đảm bảo được điều này, pháp luật tố tụng hình sự quy định Thẩm phán là người phát biểu sau cùng để không ảnh hưởng đến tính độc lập của Hội thẩm Các vấn đề vụ án đều được giải quyết bằng biểu quyết và quyết định theo đa
số người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản
và được lưu vào hồ sơ vụ án
Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử còn được thể hiện trong quan hệ giữa Toà án cấp trên với Toà án cấp dưới Đây là mối quan hệ
tố tụng, Toà án cấp dưới xét xử độc lập không chịu sự lãnh đạo chỉ đạo hành chính của Toà án cấp trên Toà án cấp trên không thể ra lệnh hoặc bằng các biện pháp hành chính buộc Toà án cấp dưới xét xử theo ý mình Toà án cấp trên chỉ có quyền quản lý về mặt con người đối với Toà án cấp dưới, còn về chuyên môn đường lối giải quyết từng vụ án cụ thể thì Toà án cấp trên cũng không có quyền can thiệp Toà án cấp trên không được định hướng hoặc gợi ý cho Toà án cấp dưới chỉ là sự giải thích về mặt pháp lý để đảm sự thống nhất
và đồng bộ khi áp dụng quy định pháp luật vào trong công tác xét xử
Trang 28Nguyên tắc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm không có mâu thuẫn với nguyên tắc Đảng lãnh đạo Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện bằng việc Đảng đưa ra quan điểm, nguyên tắc định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư pháp nói chung và
cơ quan Tòa án nói riêng là lãnh đạo về chính trị, tư tưởng, về tổ chức cán bộ
sự lãnh đạo của Đảng không làm giảm đi tính độc lập của Toà án Đảng không can thiệp vào từng vụ án hay không ra chỉ thị về mức án cụ thể mà chỉ
ra đường lối xét xử trong từng giai đoạn Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ: Đảng không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái luật, mọi vi phạm đều đưa ra xử lý theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý nội bộ, không làm theo kiểu phong kiến, dân thì phải chịu hình phạt, quan thì xử theo lễ phải nghiêm trị tất cả kẻ phạm tội bất
kỳ ở cương vị nào và phải đảm bảo công bằng về quyền và nghĩa vụ của công dân Đảng ta đã xác định "khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" là một trong những đảm bảo cần thiết để nâng cao hiệu quả xét xử của Toà án đồng thời nó cũng là trách nhiệm nặng nề của Toà án
Sự độc lập ở đây không có nghĩa là Thẩm phán và Hội thẩm được xét
xử tuỳ tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật Nó đòi hỏi Thẩm phán và Hội thẩm không một bước xa rời pháp luật, không có bất kỳ một sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không tha thứ cho bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào Điều này có ý nghĩa khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải tuân thủ, phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án Pháp luật hình sự
và pháp luật tố tụng hình sự là những chuẩn mực, căn cứ để Thẩm phán và Hội thẩm xem xét đối chiếu với sự việc thực tế xảy ra Trên cơ sở các quy định đó, HĐXX sẽ đưa ra các phán quyết của mình về hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính xác phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án
Như vậy Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử nhưng độc lập trong khuôn khổ và tuân theo pháp luật Độc lập là điều kiện để Hội đồng xét
Trang 29xử tuân theo pháp luật Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán, Hội thẩm độc lập khi xét xử Mối quan hệ này là mối quan hệ ràng buộc nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì sẽ dẫn đến tình trạng xét xử độc đoán
1.3.2 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Xác định sự thật vụ án là quá trình chứng minh tội phạm, trong chủ thể có trách nhiệm chứng minh dựa trên phương tiện chứng minh là chứng cứ tái hiện hành vi bị coi là tội phạm một cách khách quan, chân thật đúng như
nó đã xảy ra vấn đề đặt ra là: Chủ thể nào có trách nhiệm phải xác định sự thật của vụ án và cách thức, yêu cầu của việc xác định sự thật của vụ án và cách thức, yêu cầu của việc xác định sự thật của vụ án như thế nào? Đây là những vấn đề đặc biệt quan trọng và phải được luật định, bởi vì giải quyết những vấn đề này là làm rõ hình thức tố tụng, yêu cầu, mục đích và nhiệm vụ của các hoạt động tố tụng
Xác định sự thật của vụ án đã được quy định là nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 10 BLTTHS năm 2003 nội dung của nguyên tắc này thể hiện như sau:
Trách nhiệm xác định sự thật của vụ án, còn gọi là trách nhiệm chứng minh tội phạm, thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án
Nội dung này của nguyên tắc đã được xác định rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Nhà nước, thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng Khi có tội phạm xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm thực hiện tất cả các hoạt động tố tụng cần thiết theo quy định để phát hiện tội phạm và xử lý đối với người phạm tội, đảm bảo nguyên tắc là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được bị can, bị cáo có tội thì có nghĩa là họ vô tội, khi đó tuỳ thuộc vào mỗi giai đoạn
Trang 30tố tụng phải ra các quyết định như quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án hoặc ra bản án tuyên bị cáo không phạm tội; nếu bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì phải trả tự do ngay cho bị can, bị cáo
Việc xác định sự thật của vụ án chỉ được tiến hành bằng các biện pháp hợp pháp
Nội dung này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép áp dụng các biện pháp đã được quy định trong BLTTHS để xác định sự thật của
vụ án Khi áp dụng các biện pháp này, các cơ quan tiến hành tố tụng phải triệt
để tuân thủ các quy định của BLTTHS về việc áp dụng biện pháp đó
Sự thật của vụ án phải được xác định một cách khách quan, toàn diện
và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo
Đây là yêu cầu đảm bảo cho vụ án được xác định đúng sự thật Yêu cầu xác định sự thật vụ án một cách khách quan đòi hỏi cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh tội phạm phải tôn trọng sự thật khách quan, không được thiên vị, định kiến cá nhân, không được suy luận theo ý chí chủ quan mà không dựa vào những chứng cứ của vụ án Yêu cầu xác định sự thật vụ án một cách toàn diện đòi hỏi cơ quan và người tiến hành
tố tụng không chỉ tiến hành hoạt động chứng minh tội phạm theo một hướng, một khả năng duy nhất mà phải làm rõ những chứng cứ buộc tội và chứng cứ
gỡ tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can,
bị cáo Yêu cầu xác định vụ án một cách đầy đủ đòi hỏi cơ quan người tiến hành tố tụng phải làm sáng tỏ tất cả các vấn đề của vụ án, như: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm và các tình tiết khách của hành
vi phạm tội; ai là người thực hiện tội phạm; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; mục đích hoặc động cơ phạm tội; các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo…
Trang 31Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội [3]
Quyền được chứng minh để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân bị can, bị cáo không chỉ được ghi nhận trong nguyên tắc mà còn được cụ thể hoá thành các quyền tố tụng của bị can, bị cáo BLTTHS quy định bị can, bị cáo có quyền bào chữa, quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Khi bị can, bị cáo không đưa ra được chứng cứ là mình vô tội không có nghĩa là họ có tội, vì bị can, bị cáo không buộc phải chứng minh là mình vô tội
Trong thực tiễn các hoạt động tố tụng, đây là một trong các nguyên tắc
bị vi phạm nhiều nhất, phổ biến là vi phạm yêu cầu xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, dẫn đến nhiều vụ án oan, sai Có không
ít người tiến hành tố tụng có định kiến với bị can, bị cáo hoặc chỉ dựa vào ý chí chủ quan để kết luận các vấn đề của vụ án mà không dựa trên những chứng cứ có giá trị chứng minh Chẳng hạn, đối với bị can, bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án hoặc tiền sự người tiến hành tố tụng hình sự thường vội vàng kết luận họ phạm tội mặc dù chưa có chứng cứ thuyết phục để chứng minh Hay trong những vụ án phạm tội quả tang, những vụ án mà bị can, bị cáo đã nhận tội, người tiến hành tố tụng rất dễ có thái độ chủ quan, dẫn đến việc không tiến hành đầy đủ các biện pháp điều tra cần thiết theo quy định hoặc không chú ý thu thập chứng cứ gỡ tội và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Tình trạng các vụ án sau khi kết thúc điều tra
và đã có đề nghị truy tố hoặc sau khi đã có quyết định truy tố nhưng bị Viện kiểm sát hay Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 168
và Điều 179 BLTTHS hoặc các bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, bị Toà án phúc thẩm huỷ để điều tra lại hoặc xét xử lại theo Điều 248 BLTTHS xẩy ra tương đối nhiều; có vụ án phải tiến hành điều tra bổ sung nhiều lần khiến thời gian giải quyết vụ án kéo dài, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng và gây bức xúc trong dư luận, gây tốn
Trang 32kém về thời gian và các chi phí, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do quá trình xác định sự thật của vụ án đã không đảm bảo yêu cầu đầy đủ, tức là không chứng minh đầy đủ những vấn đề của vụ án theo quy định
Để việc xác định sự thật vụ án trong thực tiễn các hoạt động tố tụng được thực hiện đúng như nội dung và yêu cầu ghi nhận trong nguyên tắc, ngoài các biện pháp chung như tăng cường công tác kiểm sát các hoạt đông tố tụng của Viện kiểm sát và công tác giám sát của các cơ quan, tổ chức và đại biểu dân cử theo quy định hay Toà án cấp trên phải thực hiện tốt hoạt động giám đốc việc xét xử của Toà án cấp dưới, các cơ quan có thẩm quyền cần phải đặc biệt chú ý đào tạo và thường xuyên bồi dưỡng đội ngũ những người tiến hành tố tụng không chỉ nắm vững các quy định của pháp luật mà còn phải
có khả năng tư duy và tinh thông các kỹ năng của nghề nghiệp Đây là một đảm bảo quan trọng để các vụ án trong thực tế được xác định một cách chân thật và đúng quy định
1.3.3 Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng
Sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc những người tham gia tố tụng là một đòi hỏi quan trọng để quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan và đúng đắn Chính vì vậy đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng được quy định là một nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS
Điều 14 BLTTHS năm 2003 quy định:
Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó viện trưởng viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó chánh án toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký toà án không được tiến hành tố tụng hoặc người phiên dịch, người giám định không được tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình [23]
Trang 33Như vậy để đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người phiên dịch và người giám định (người phiên dịch và người giám định là những người không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, tham gia tố tụng
là để giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết đúng đắn vụ án, do vậy sự
vô tư của họ khi thực hiện nhiệm vụ cũng có ý nghĩa quan trọng đến việc giải quyết vụ án), BLTTHS đã không cho phép những người này được tiến hành
tố tụng hoặc tham gia tố tụng, nếu thấy họ có khả năng không vô tư khi thực hiện nhiệm vụ của mình Để thực hiện nguyên tắc này, BLTTHS năm 2003 đã
có những quy định cụ thể những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng (Điều 42) và việc từ chối hoặc thay đổi đối với từng người tiến hành tố tụng (Điều 44, Điều 45, Điều 46, Điều 47); trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người giám định, người phiên dịch (Điều 60 và Điều 61) đồng thời BLTTHS cũng có nhiều quy đinh khác về quyền đề nghị thay đổi
và thẩm quyền, thủ tục tiến hành giải quyết việc thay đổi người tiến hành tố tụng và người giám định, nguời phiên dịch Để cụ thể hoá những trường hợp
có thể không vô tư khi làm nhiệm vụ của những người tiến hành tố tụng và người giám định và người phiên dịch Hội đồng thẩm phán TANDTC đã có nghị quyết hướng dẫn về vấn đề này; đồng thời TANDTC và các cơ quan khác như Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng cũng ban hành các nghị quyết hoặc thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể các quy định của BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng
Trong thực tiễn các hoạt động tố tụng, không phải là cơ quan và người tiến hành tố tụng nào cũng thực hiện tốt nguyên tắc này Đã có những vụ án bị Toà án phúc thẩm hoặc Toà án cấp trên xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hủy để điều tra lại, xét xử lại do có vi phạm nguyên tắc đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành tố tụng và người giám định, người phiên dịch thực tế hay xảy ra các vi phạm như: những người tiến hành tố tụng được phân công tiến hành giải quyết vụ án thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng
Trang 34nhưng họ không từ chối, trong khi những người có quyền đề nghị thay đổi họ
có quyền quyết việc thay đổi không biết đuợc việc này Nhiều trường hợp người tiến hành tố tụng hoặc người giám định, người phiên dịch có căn cứ rõ rang là họ có thể không vô tư khi thực hiện nhiệm vụ và đã bị đề nghị thay đổi theo quy định nhưng có thẩm quyền quyết định việc thay đổi không chấp nhận, vì cho rằng không có căn để thay đổi
1.3.4 Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chƣa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực của pháp luật
Đây là nguyên tắc quan trọng thể hiện sự bảo đảm về quyền con người
và tính nhân đạo trong các hoạt động tố tụng hình sự Trong bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của liên hợp quốc năm 1948 quy định "Mỗi bị can dù
đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên toà xét xử công khai với mọi bảo đảm biện
hộ cần thiết" đây cũng là nguyên tắc hiến định, được quy định tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992
Nội dụng của nguyên tắc này được quy định như sau:
Chỉ có Toà án là cơ quan duy nhất có quyền kết tội và áp dụng hình phạt đối với một người bằng một bản án hợp pháp và có hiệu lực pháp luật; cho đến trước khi bị kết tội, mọi nghi ngờ trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị truy cứu trách nhiệm hình sự (do nội dung này nên có quan điểm gọi nguyên tắc này là nguyên tắc suy đoán vô tội)
Với tính chất là một nguyên tắc cơ bản được quy định trong BLTTHS nguyên tắc "không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật " có ý nghĩa quan trọng, chi phối đến toàn bộ quá trình
tố tụng, thể hiện:
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, nếu không chứng minh được bị can, bị cáo phạm tội thì có nghĩa bị can, bị
Trang 35cáo không phạm tội; bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội;
Cho đến trước khi bị Toà án kết tội bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật, các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải coi bị can, bị cáo là người chưa phạm tội, mặc dù khi các cơ quan này ra quyết định khởi tố bị can, quyết định truy tố và quyết định đưa vụ án ra xét xử phải dựa trên các căn cứ theo quy định Điều đó buộc các cơ quan và người tiến hành tố tụng không được định kiến bị can, bị cáo là người có tội; phải áp dụng mọi biện pháp theo luật định để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, phải làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trong quá trình tố tụng mọi nghi ngờ đều phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo Các cơ quan và người tiến hành tố tụng cũng như bất kể cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng phải có cư xử phù hợp với bị can, bị cáo với tư cách là người chưa bị coi là có tội;
Hoạt động xét xử của Toà án có vai trò quan trọng và quyết định đến việc kết tội một người, vì chỉ có Toà án mới có thẩm quyền này Điều đó đòi hỏi hoạt động xét xử phải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật; Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yêu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của tất cả các bên tham gia tố tụng; bảo đảm tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án
Trong thực tiễn các hoạt động tố tụng, không phải cơ quan và người tiến hành tố tụng nào cũng tuân thủ đúng nguyên tắc này Việc coi bị can, bị cáo như một người đã có tội mặc dù chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Toà án không phải là hiếm trong tư duy của không ít những người tiến hành
tố tụng, kể cả đối với Thẩm phán được giao xét xử vụ án Điều đó khiến cho những người tiến hành tố tụng có những định kiến với bị can, bị cáo, dẫn đến việc điều tra, truy tố, xét xử được Tiến hành không đúng với yêu cầu khách
Trang 36quan, toàn diện, đầy đủ; đã có nhiều vụ án oan, sai xảy ra do chính sai lầm của những người tiến hành tố tụng khi cho rằng đã có đủ cơ sở để chứng minh
bị can, bị cáo phạm tội, vì vậy không cần phải tiến hành các hoạt động chứng minh cần phải tiến hành các hoạt động chứng minh cần thiết hoặc mọi suy đoán đều theo hướng này
1.3.5 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo
Quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng nhất của những người bị buộc tội (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) thể hiện tính nhân đạo và việc đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự; đồng thời cũng là sự đảm bảo quan trọng để các hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành một cách khách quan, công bằng và đúng đắn
Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền tố tụng hình sự của những người bị buộc tội, tạo khả năng cho họ có quyền được bào chữa về hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và khả năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác Quyền bào chữa của người bị buộc tội được đảm bảo trong suốt các giai đoạn của tố tụng hình sự
Quyền bào chữa của những người bị buộc tội là nguyên tắc hiến định, được ghi nhận trong Điều 132, Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá thành nguyên tắc "Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo" quy định tại Điều 11, BLTTHS năm 2003
Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện như sau:
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Khi tự bào chữa, người bị tạm giữ và bị can, bị cáo sử dụng các quyền
mà pháp luật đã quy định cho họ để chứng minh là vô tội, để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc để bảo vệ lợi ích hợp pháp khác Các quyền để người bị
Trang 37tạm giữ và bị can, bị cáo sử dụng thực hiện quyền bào chữa được quy định tại các điều 48, 49, 50 và nhiều điều luật khác trong BLTTHS năm 2003
Quyền được nhờ người khác bào chữa có ý nghĩa rất quan trọng để người
bị buộc tội có thể thực hiện được quyền bào chữa, bởi vì, bào chữa là một hoạt động tố tụng đặc thù, đòi hỏi phải có những khả năng và điều kiện nhất định mà không phải người bị buộc tội nào cũng thực hiện được hoặc thực hiện tốt được Nếu không quy định cho người bị buộc tội quyền được nhờ người khác bào chữa thì có nghĩa pháp luật chưa thật sự đảm bảo cho người bị buộc tội thực hiện quyền bào chữa của họ Cần lưu ý rằng, khi nhờ người khác bào chữa thì người bị tạm giữ và bị can, bị cáo vẫn có quyền bào chữa
Để người bị tạm giữ và bị can, bị cáo có thể thực hiện quyền nhờ người khác bào chữa, BLTTHS đã quy định tư cách tố tụng người bào chữa theo Điều 56 BLTTHS người bào chữa bao gồm: a) luật sư; b) người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c) Bào chữa viên nhân dân Để tạo cơ sở pháp lý cho người bào chữa thực hiện việc bào chữa Điều 58 BLTTHS đã quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa So sánh quyền của người bào chữa với quyền của chính người được bào chữa, quyền của người bào chữa không chỉ bằng mà còn rộng hơn quyền của người bị tạm giữ
và bị can, bị cáo Quy định như vậy là cần thiết để đảm bảo người bào chữa thực hiện tốt chức năng bào chữa
So sánh pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật tố tụng hình
sự của nhiều nước trên thế giới, có thể thấy trong chế định về quyền bào chữa của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có nhiều tiến bộ và thể hiện tính nhân bản sâu sắc Việc quy định của người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo và những người khác với tư cách là bào chữa viên nhân dân có quyền bào chữa, đã tạo cơ hội lớn hơn cho người bị tạm giữ, bị can và bị cáo trong việc nhờ người khác bào chữa cho mình, vì trong thực tế không phải người bị buộc tội nào cũng có thể sử dụng được dịch vụ bào chữa do luật sư chuyên nghiệp thực hiện Quy định này ngày càng có ý nghĩa lớn hơn khi tỷ
Trang 38lệ luật sư trên số dân ở Việt Nam hiện nay so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực là rất thấp Đặc biệt trong một số trường hợp theo quy định, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không nhờ người bào chữa, các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình Theo Điều 57 BLTTHS năm 2003, đó
là các trường hợp: a) Bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật Hình sự; b) Bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa theo quy định
Đây là nội dung rất quan trọng, vì quyền bào chữa của người bị buộc tội sẽ không hoặc khó được thực hiện nếu luật không quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ đảm bảo cho quyền đó của người bị buộc tội được thực hiện Trong BLTTHS năm 2003, trách nhiệm này của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được cụ thể hoá qua các quy định về các nghĩa vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng Theo đó, trong mỗi giai đoạn tố tụng và ở mỗi hoạt động tố tụng nhất định, các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải tiến hành hành vi bắt buộc theo quy định để đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện Chẳng hạn các quyết định và văn bản tố tụng như quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, kết luận điều tra, cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử… phải được giao cho người bị tạm giữ
và bị can, bị cáo trong một thời hạn được quy định; khi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như người bào chữa của họ đưa ra những chứng cứ và yêu cầu, những đề xuất và kiến nghị thì cơ quan, người tiến hành tố tụng phải xem xét và giải quyết; cơ quan và người tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện các quyền của mình để tiến hành hoạt
Trang 39động bào chữa Điều quan trọng, theo BLTTHS nếu cơ quan và người tiến hành tố tụng không thực hiện đúng các nghĩa vụ theo quy định để quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện, sẽ bị coi là có hành
vi vi phạm tố tụng, sẽ bị xử lý tuỳ theo mức độ vi phạm, đồng thời kết quả của hoạt động tố tụng có sự vi phạm đó sẽ bị xem xét lại và có thể bị huỷ bỏ
Thực tiễn các hoạt động tố tụng thời gian qua cho thấy, quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án ngày càng được đảm bảo tốt; có rất nhiều vụ án nhờ vào hoạt động bào chữa mà người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo đã được chứng minh là vô tội, hoặc được bị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bảo vệ được các lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời cũng nhờ vậy mà chất lượng các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử ngày càng tốt hơn, góp phần hạn chế tình trạng oan, sai và các vi phạm khác đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Tuy nhiên trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề ảnh hưởng không tốt đến việc đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, như: Trong nhận thức của không ít những người tiến hành tố tụng, quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo vẫn bị coi nhẹ hoặc có nhận thức sai về vai trò, vị trí của người bào chữa Do vậy, trong nhiều vụ án, người tiến hành tố tụng đã không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tam giữ, bị can, bị cáo thậm chí còn có những hành vi gây khó khăn, cản trở người bào chữa tiến hành các hoạt động bào chữa Thực
tế đã có nhiều vụ án được giải quyết nhưng kết quả của nó bị Toà án cấp trên huỷ để điều tra lại, xét xử lại vì có sự vi phạm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc thực hiện các quy định để đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thực hiện tốt các quy định của BLTTHS, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Chẳng hạn có vụ án trước khi được xét xử đã có sự thống nhất giữa Toà án với Viện kiểm sát về hướng giải quyết, bản án được tuyên
Trang 40không căn cứ vào diễn biến và kết quả tranh tụng tại phiên toà hoặc việc tranh tụng tại phiên toà được thực hiện không đúng quy định, mang tính hình thức;
Về phía người bào chữa, có nhiều trường hợp người này đã không thực hiện hoặc thực hiện không hết tất cả quyền của người bào chữa theo quy định để bào chữa cho thân chủ của mình; đặc biệt trong trường hợp tham gia bào chữa theo chế định bào chữa chỉ định, nhiều luật sư chỉ tham gia có tính hình thức, không làm tròn trách nhiệm của người bào chữa
1.4 KHÁI QUÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ NĂM
1945 ĐẾN NĂM 2003
1.4.1 Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của
Thẩm phán từ năm 1945 đến năm 1988
Cách mạng tháng tám thành công, bộ máy chế độ thực dân phong kiến
bị xoá bỏ, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Đó là các sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945 và sắc lệnh số 22/SL ngày 14/2/1946 về thành lập các Toà án quân sự; sắc lệnh ngày 10/10/1945 về tổ chức các đoàn luật sư; sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về
tổ chức các Toà án và ngạch Thẩm phán
Trong các văn bản pháp luật nêu trên, lần đầu tiên ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng; địa vị pháp lý các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo của người bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng khác; trình tự và thủ tục tiến hành điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự Đặc biệt Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách đầy đủ và tương đối hoàn chỉnh về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự Các văn