1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

122 628 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã nhận được sự quan tâm của Bộ Chính trị khi nội dung của nguyên tắc này được thể chế hoá trong

Trang 1

KHOA LUẬT

VŨ THỊ BÍCH DIỆP

NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật hình sự

Mã số : 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: T.S Nguyễn Ngọc Chí

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

VŨ THỊ BÍCH DIỆP

NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: 10

MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ , VAI TRÕ, QUYỀN HẠN,

TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN 10 1.1 VỊ TRÍ, VAI TRÕ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN 10 1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÕ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN 16 1.3 THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ XÉT XỬ CÓ HỘI THẨM NHÂN DÂN (BỒI THẨM VIÊN) THAM GIA - NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA NHIỀU NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 23

Chương 2: 26

NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 26 2.1 KHÁI NIỆM NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG

HÌNH SỰ 26 2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” 28 2.2.1 Nội dung cơ bản của nguyên tắc ’’Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật’’ 28 2.2.2 Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 34 2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” 41 2.4 MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT

XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” 63 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

Chương 3: 70

ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG

VÀ GIẢI PHÁP 70

Trang 4

3.1 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN

NAY 70

3.1.1 Về sự tác động từ bên ngoài đến các phán quyết của Hội đồng xét xử 70

3.1.2 Tính độc lập của Hội thẩm nhân dân 74

3.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 76

3.3 HƯỚNG HOÀN THIỆN TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP 94

3.3.1 Hoàn thiện cách thức tổ chức và quản lý Toà án 94

3.3.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 98

3.3.3 Nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 105

3.3.4 Nâng cao nhận thức của các Chính trị gia và nhân dân về tầm quan trọng của nền tư pháp độc lập 110

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói, hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam thời gian qua nhìn chung đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần đẩy lùi tình trạng phạm tội trong xã hội, tuy nhiên còn bộc lộ nhiều yếu kém, còn bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Những điều đó đã tạo nên dư luận xã hội không tốt khiến nhân dân thiếu lòng tin vào các cơ quan tư pháp và nền công lý xã hội chủ nghĩa Và một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên là do nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” ở nước ta chưa được thừa nhận và quan tâm đúng mức

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam đến năm 2020 đã khẳng định “cần xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm” và “trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân” Và nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã nhận được sự quan tâm của Bộ Chính trị khi nội dung của nguyên tắc này được thể chế hoá trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” Nghị quyết khẳng định “Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, bảo đảm Toà án xét xử độc lập, đúng pháp luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của Toà án sơ thẩm và Toà án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử Hoàn thiện cơ chế quản lý Toà án nhân dân địa phương theo hướng đảm bảo tính độc lập giữa các cấp Tòa án trong hoạt động

Trang 6

xét xử” Chính sự quan tâm đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng đối với tầm quan trọng của độc lập tư pháp cùng với những thiếu sót, khuyết điểm trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự một vài năm trở lại đây là lý do để tôi chọn đề tài: Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật” trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay cho luận văn thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Đây không phải là lần đầu tiên nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được đưa ra phân tích và nghiên cứu nhưng có lẽ là lần đầu tiên nguyên tắc này được nghiên cứu một cách đồng bộ, toàn diện, đặc biệt trong giai đoạn cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Do nội dung của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét

xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” có phạm vi biểu hiện hẹp nên các nhà nghiên cứu trước đây thường chỉ nhắc tới nguyên tắc này theo khía cạnh là một trong những nhiệm vụ và trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân mà chưa tìm hiểu sâu cơ chế nào để các thành viên của Hội đồng xét xử

có thể thực hiện tốt nguyên tắc độc lập xét xử của Toà án Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu khi đề cập đến tính độc lập xét xử lại nhìn nhận vấn đề dưới góc độ so sánh sự độc lập tư pháp giữa các nước có nền tư pháp phát triển với các nước đang ở trong thời kỳ quá độ Và nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng thường được nhắc đến trong nhiều bài viết cũng như các công trình nghiên cứu khi bàn về vị trí, vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân dưới góc độ là những người tiến hành tố tụng Ví dụ như các bài viết:

"Độc lập xét xử ở các nước quá độ: Một góc nhìn so sánh" của tác giả Lưu Tiến Dũng được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 20, 21/2006

Trang 7

"Khắc phục tham nhũng tư pháp trong khi phải đảm bảo độc lập tư pháp" của tác giả J.Clifford Wallace được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 8/2006

"Một số vấn đề về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán và yêu cầu hoàn thiện pháp luật" được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 10/2000 và bài viết

"Tiêu chuẩn Thẩm phán - Thực trạng và những yêu cầu đặt ra trong thời kỳ mới" của tác giả Nguyễn Văn Hiện được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 4/2001

"Mấy ý kiến về đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm" của tác giả Hoàng Hùng Hải được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 6/2005

"Để Hội thẩm nhân dân không chỉ là hình thức" của tác giả Nguyễn Khắc Bộ được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 3/2004

"Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán theo quy định của pháp luật hiện hành" của hai tác giả Phạm Văn Lợi và Trần Thanh Hương được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 8/1998

Nhưng có lẽ chưa ai nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cũng như mối quan hệ giữa họ và các chủ thể khác trong hoạt động xét xử cũng như lý giải câu hỏi tại sao nguyên tắc này chưa được áp dụng triệt để tại Việt Nam và hướng hoàn thiện trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Mục đích của đề tài

3.1 Về mặt lý luận

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và vai trò của nó trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam

Trang 8

Góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nước ta trong bối cảnh cải cách tư pháp trên tinh thần của Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005

và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị nhằm xây dựng tại Việt Nam hệ tố tụng hoàn chỉnh, tiến bộ và vì con người

Là tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu

3.2 Về mặt thực tiễn

Thứ nhất, trong quá trình cải cách tư pháp, việc nghiên cứu nguyên tắc

“Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

có vai trò to lớn giúp chúng ta nhìn nhận lại thực tiễn xét xử tại Việt Nam trong thời gian qua và xác định một bước đi đúng đắn cho nền tư pháp Việt Nam với mong muốn đưa Toà án thực sự trở thành cơ quan độc lập, là linh hồn của Nhà nước pháp quyền

Thứ hai, nghiên cứu để tìm ra cách hạn chế bớt sự tác động của các thế

lực khác vào hoạt động xét xử với mục đích xây dựng một nền tư pháp mạnh, dân chủ, khách quan, công bằng và đem lại lòng tin cho nhân dân vào pháp luật và công lý

Nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, vị trí của nó trong hệ thống các

Trang 9

nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Việt Nam và những yếu tố đảm bảo cho việc xét xử độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân

Những quy định của pháp luật thực định thể hiện nội dung của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng như nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc này trong hoạt động xét xử của một số nước trên Thế Giới

Thực trạng áp dụng nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét

xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng nguyên tắc này tại Việt Nam và hướng hoàn thiện trong công cuộc cải cách tư pháp trong thời gian tới

Nói tóm lại, cơ cấu của Luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung gồm có ba chương:

Chương 1: Một vài nét khái quát về vị trí, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân

Chương 2: Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và những quy định trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 3: Áp dụng nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét

xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp

Cuối cùng là: Danh mục tài liệu tham khảo

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học xã hội nào, để đạt được

sự thành công thì một yếu tố mà người ta không thể không nhắc đến là phương pháp nghiên cứu Ở nước ta, phương pháp luận của tất cả các tác giả

Trang 10

khi nghiên cứu về khoa học pháp lý đều bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Là công trình nghiên cứu về pháp luật tố tụng hình sự nên ngoài những phương pháp luận truyền thống, các phương pháp cụ thể được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là phương pháp phân tích, tổng hợp,

so sánh, lịch sử Bên cạnh đó, luận văn còn có sự tham khảo các bài viết, các

ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước khi bàn về nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”

6 Điểm mới về mặt khoa học

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” không phải là vấn đề mới về mặt lý luận vì nó đã lần đầu được nhắc đến trong các văn bản pháp luật ngay sau khi chúng ta giành được độc lập vào năm 1945 và được tiếp tục khẳng định là một trong những nguyên tắc hiến định trong các bản Hiến pháp tiếp theo

Trên thực tế, chúng ta chỉ có thể tập trung nghiên cứu và nghiên cứu tốt những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải giải quyết Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 cũng đã khẳng định “Trọng tâm

là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, bảo đảm Toà án xét xử độc lập Hoàn thiện cơ chế quản lý Toà án nhân dân địa phương theo hướng đảm bảo tính độc lập giữa các cấp Toà án trong hoạt động xét xử”

Có thể, đây là lần đầu tiên nguyên tắc này được lựa chọn làm đề tài cho một luận văn thạc sỹ và cũng là lần đầu tiên những vấn đề liên quan đến nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được trình bày một cách đồng bộ và có hệ thống Bởi vậy, luận văn không chỉ phân tích một cách kỹ lưỡng nội dung, ý nghĩa và những yếu tố có

Trang 11

thể làm ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của Tòa án mà còn trả lời cho câu hỏi chúng ta phải làm những gì đề nguyên tắc này có thể được áp dụng triệt

để tại Việt Nam? Nhiều người cho rằng đây là một đề tài có phạm vi hẹp nên người viết có thể sẽ gặp khó khăn khi xây dựng đề cương và tìm kiếm những tài liệu tham khảo Nhưng hy vọng với tâm huyết và lòng nhiệt tình của mình, tác giả sẽ đóng góp một chút công sức nhỏ bé cho công cuộc cải cách tư pháp đang được Đảng, Nhà nước và những người yêu mến nghề luật quan tâm./

Trang 12

Chương 1:

MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ , VAI TRÒ, QUYỀN HẠN, TRÁCH

NHIỆM CỦA THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN

1.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN

Thẩm phán dù ở quốc gia nào, châu lục nào và thuộc hệ thống pháp luật nào thì cũng đều có nhiệm vụ xét xử và làm việc trong một cơ quan nhà nước

có tên gọi là Toà án (đôi khi là giải quyết các công việc khác theo quy định của pháp luật mỗi nước) Tuy nhiên, trên Thế Giới tuỳ thuộc vào từng hệ thống pháp luật mà cách thức chọn lựa Thẩm phán và nhiệm vụ, quyền hạn của các Thẩm phán được quy định không giống nhau Theo hệ thống pháp luật Common Law, nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán chính là từ các vị luật sư danh tiếng và tài giỏi Tiêu biểu cho hệ thống pháp luật này là Vương quốc Anh và Hoa Kỳ Tại hai quốc gia này, các vị Thẩm phán đều có xuất thân từ các luật sư tranh tụng hoặc luật sư tư vấn danh tiếng vì tâm lý chung đều chỉ

ra nếu không có trình độ ngang bằng hoặc xuất sắc hơn các luật sư thì một Thẩm phán thật khó có thể đảm đương vị trí trọng tài trong một phiên toà Cũng theo hệ thống pháp luật này, khi tham gia xét xử, nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán có rất nhiều khác biệt Đơn cử như ở Anh, trong tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng, Thẩm phán thể hiện vai trò thụ động hơn các luật sư Theo pháp luật Anh, về nguyên tắc, việc tiến hành các thủ tục

tố tụng là trách nhiệm của các bên (thông qua luật sư của mình) Vai trò chính của các Thẩm phán trong khi xét xử là đảm bảo sự tuân thủ của các thủ tục tố tụng, ở Anh có câu thành ngữ “Thẩm phán nào mở miệng nói thì không còn suy nghĩ được”[13, tr 96] Thậm chí vào năm 1955, tại Anh, Toà phúc thẩm

đã gửi trả một vụ việc để xét xử lại với lý do duy nhất là Thẩm phán xử sơ thẩm vụ kiện đó đã hỏi quá nhiều, làm cho các bên không thể xuất trình được

Trang 13

chứng cứ tốt nhất [13, tr 96] Câu thành ngữ trên, nếu ở các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, có lẽ cần được phát biểu là “Thẩm phán nào không mở miệng nói thì không xét xử được” và đối với nhiều luật gia trên Thế Giới, vụ việc bị cấp phúc thẩm huỷ vào năm 1955 ở Anh là một điều lạ lùng trong lịch sử tư pháp

Vương quốc Anh là quê hương của mô hình đối tụng và Hoa Kỳ chính là nơi

hệ tố tụng tranh tụng được hoàn thiện, phát triển rực rỡ và phiên toà trong hệ

tố tụng tranh tụng chính là minh chứng rõ nét nhất cho sự khác biệt trong quyền hạn của Thẩm phán tại các nước theo hệ thống pháp luật Common Law với các nước theo truyền thống pháp luật Civil Law Theo quy định của hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, khi xét xử Thẩm phán không được nghiên cứu hồ

sơ từ trước, không có bất kỳ thông tin nào về vụ án và tại phiên toà, với vai trò trọng tài, quyền hạn của các Thẩm phán sẽ chỉ được phát huy khi Bồi thẩm đoàn đưa ra phán quyết bị cáo là người có tội Bởi theo quy định của pháp luật, Thẩm phán có nghĩa vụ xác định tội danh cũng như mức hình phạt được

áp dụng đối với bị cáo

Tại phiên toà hình sự theo hình thức tố tụng tranh tụng của các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, không có sự liên hệ, ràng buộc giữa Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà và các bị cáo trong một vụ án hình sự Bởi lẽ, Thẩm phán không tham gia xét hỏi bị cáo và càng không có nhiệm vụ chứng minh tội phạm như một tầng nấc cao hơn của hoạt động điều tra Và với vị trí, vai trò như thế, Thẩm phán chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi và quyền hạn do luật định, cụ thể họ phải chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình đối với việc xác định tội danh và mức hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo

Còn tại một số quốc gia theo hệ thống pháp luật Civil Law, thì ứng viên Thẩm phán thông thường là các giáo sư luật hoặc thư ký Toà án hoặc những

Trang 14

chức danh khác đang công tác tại Toà án nhưng đều phải có một điểm chung

là được đào tạo một cách bàn bản và có chuyên môn về luật Và người ta gọi pháp luật của hệ thống Châu Âu lục địa là pháp luật hàn lâm, các luật gia của

hệ thống pháp luật này là các luật gia “sách vở” Không giống như ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, nơi mà các Thẩm phán đều trưởng thành từ việc áp dụng thực tiễn pháp luật, ở các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, thông thường nguồn bổ nhiệm Thẩm phán đều từ các trung tâm đào tạo về chức danh tư pháp của quốc gia Đơn cử như tại Nhật Bản, nguồn bổ nhiệm Thẩm phán thông thường có 3 cách: một là bổ nhiệm Thẩm phán trong

số các Thẩm phán cấp dưới hoặc trong số các luật sư, trong số các công tố viên, giáo sư đại học luật hoặc thậm chí những người khác có hiểu biết rộng

về pháp luật và có kinh nghiệm Thông thường, ở nhiều quốc gia, việc bổ nhiệm Thẩm phán được tiến hành trên cơ sở chọn lựa của Hội đồng tuyển chọn sau khi nhận được đề cử của các cán bộ trong ngành thông qua việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm Nhưng tại nhiều quốc gia Châu Âu và các quốc gia đang phát triển ở Châu Á, châu Phi và khu vực Nam Mỹ, ứng cử viên Thẩm phán phải vượt qua một kỳ thi đầy cạnh tranh Ví dụ, tại Nhật Bản - một quốc gia phát triển thuộc diện hàng đầu trong khu vực, để trở thành Thẩm phán thí sinh phải trải qua kỳ thi pháp luật quốc gia để vào học tại Viện nghiên cứu và đào tạo pháp luật thuộc Toà án Tối cao, kỳ thi này bao gồm có 3 bước và được đánh giá là một trong những kỳ thi khó khăn nhất ở Nhật Bản Điều này

có thể được minh chứng qua các thông số sau đây, vào những năm 60-80 của thế kỷ trước, hàng năm, ở Nhật Bản có khoảng 25.000 thí sinh tham dự kỳ thi quốc gia này nhưng chỉ có khoảng 500 người thi đỗ (tỷ lệ khoảng 2%) và vào cuối thập kỷ 90, tuy con số thí sinh tham dự ngày càng tăng nhưng mỗi năm

số thí sinh thi đỗ cũng chỉ dừng lại ở mức khoảng hơn 700 thí sinh[13, tr 153] Nhưng điều đáng nói ở đây là nếu đã vượt qua được kỳ thi này, học viên

Trang 15

sẽ được Chính phủ cấp lương trong thời gian 2 năm học và khi ra trường họ sẽ thực sự là những vị quan toà công minh và tài giỏi, đem lại niềm tin cho nhân dân vào pháp luật và công lý Và cái khó của nghề Thẩm phán ở Nhật Bản là sau khi được đào tạo một cách bài bản và nghiêm túc ở Viện nghiên cứu và đào tạo pháp luật, một học viên phải trả qua 10 năm làm Thẩm phán tập sự trước khi được bổ nhiệm chính thức Như vậy, có thể thấy rất rõ mức độ khó khăn và sự danh giá của nghề Thẩm phán ở một trong những nước có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất trên Thế Giới và đương nhiên không ai có thể đặt ra nghi vấn xung quanh vấn đề trình độ của các “luật gia quyền lực” như cách mà các luật sư ở Nhật Bản gọi Thẩm phán và các Công tố viên

Ở một số nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa - nơi áp dụng hình thức tố tụng thẩm vấn, khi xét xử một vụ án hình sự, thông thường không có

sự tách bạch giữa quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán và các Bồi thẩm viên (Hội thẩm nhân dân) vì họ cùng xác định bị cáo có tội hay không có tội cũng như xác định tội danh và mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo Theo hệ thống pháp luật Civil Law, Thẩm phán đóng vai trò quyết định trong quá trình xét xử, Thẩm phán có trong tay toàn bộ tài liệu về quá trình điều tra,

là người đặt câu hỏi cho những người tham gia phiên toà Vị trí của luật sư gỡ tội rất lu mờ Luật sư chỉ được phát biểu khi Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà cho phép Thậm chí ở một số nước theo hệ thống này, Thẩm phán còn làm nhiệm vụ điều tra, hoặc đánh giá sự cần thiết đưa vụ án ra xét xử Hiện nay, ở một số nước đang trong thời kỳ quá độ hoặc đang tiếp thu những hạt nhân hợp lý của hệ tranh tụng, về quyền hạn và nhiệm vụ của Thẩm phán tuy cũng

đã có sự tách bạch so với Bồi thẩm đoàn (về việc phán quyết bị cáo có tội hay không có tội và xác định tội danh cũng như mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo) nhưng đâu đó vẫn có sự khác biệt, ví dụ có nơi Thẩm phán trước khi xét

xử vẫn được nghiên cứu hồ sơ hay như ở Nhật Bản trước khi mở phiên toà,

Trang 16

Thẩm phán phải được đọc bản cáo trạng và tại phiên toà Công tố viên phải chuyển hồ sơ cho Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà nghiên cứu và xem xét Như vậy, điểm khác biệt lớn nhất giữa hình thức tố tụng thẩm vấn truyền thống và hình thức tố tụng tranh tụng là tại phiên toà hình sự, trong khi tố tụng tranh tụng coi Thẩm phán như một vị trọng tài thì tố tụng thẩm vấn cổ điển coi Thẩm phán như một điều tra viên cấp cao với nhiệm vụ chủ yếu là làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết có liên quan để từ đó đưa

ra phán quyết cuối cùng Với quy định như vậy, Thẩm phán sẽ phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi của mình từ việc phán quyết bị cáo có tội hay không

có tội đến việc xác định tội danh và mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo

Theo quy định của pháp luật Việt Nam “Thẩm phán là người được bổ

nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án” Việt Nam là quốc

gia về cơ bản theo mô hình tố tụng thẩm vấn, tức là Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán trong việc xác định bị cáo có phạm tội hay không cũng như xác định tội danh và mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo Cũng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, Hội đồng xét

xử trong đó có Thẩm phán phải thực hiện nhiệm vụ xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án cũng như có nhiệm vụ chứng minh hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm và những vấn đề có liên quan đến việc quyết định hình phạt Để thực hiện được nhiệm vụ đó, Thẩm phán có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên toà và đương nhiên với một quyền năng lớn đến thế, Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hành vi của mình bao gồm cả việc công bố những phán quyết oan, sai và việc quyết định khung và mức hình phạt bất hợp pháp Tuy nhiên

để trở thành Thẩm phán, pháp luật Việt Nam cũng có những tiêu chuẩn khá rõ

Trang 17

ràng như: phải có bằng đại học luật, phải có thâm niên công tác pháp luật và đặc biệt phải tham gia một khoá học đào tạo chức danh Thẩm phán Việc bổ nhiệm Thẩm phán được tiến hành thông qua Hội đồng tuyển chọn (gồm có đại diện của Ban tổ chức chính quyền, đại diện của Hội đồng nhân dân, đại diện của Hội luật gia và đại diện của người đứng đầu ngành Toà án tuỳ theo từng cấp) sau khi các ứng viên đã được đồng nghiệp tín nhiệm chọn lựa

Tại Việt Nam, theo quan điểm của nhiều người trong ngành, Thẩm

lẽ phải và chân lý đã luôn khắc sâu trong tim họ Hình ảnh một vị quan thanh liêm đã được họ ví như trời xanh, bởi quan niệm duy tâm thường cho rằng không gì có thể che mắt được trời xanh, “lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt” Vì vậy, người dân dù sống trong thời đại nào cũng đều mong muốn các

vị quan toà có tấm lòng và phẩm cách trong sáng, vô tư để gìn giữ và bảo vệ

lẽ công bằng trong xã hội

Nói tóm lại, hoạt động xét xử của người thẩm phán bao gồm những đặc điểm, đặc trưng sau:

Lao động của Thẩm phán là lao động trí não đầy khó khăn, phức tạp dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, công dân

Hoạt động của người Thẩm phán gắn với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức;

Độc lập xét xử là nguyên tắc cơ bản đối với lao động của người thẩm phán

Trang 18

Hoạt động của người thẩm phán theo một trình tự pháp lý chặt chẽ được quy định trong pháp luật tố tụng [47, tr 43]

1.2 VỊ TRÍ, VAI TRÒ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN.

Trong những năm xa xưa của lịch sử, khi khái niệm Hội thẩm nhân dân chưa còn được biết đến thì việc xử án chỉ do một vị quan đảm nhiệm, điều này được lý giải bởi nguyên do: nhân dân là tầng lớp dưới nên không thể tham gia vào bất kỳ công việc nào của đất nước Nhưng kể từ khi Cách mạng

tư sản nổ ra, nhà cầm quyền đã hiểu ra rằng một nhà nước chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu dựa vào sức dân và một động thái tích cực là họ đã cho nhân dân tham gia ngày một nhiều hơn vào công việc chung của đất nước, mà một trong những công việc đó là hoạt động xét xử

Tuỳ thuộc vào từng hệ thống pháp luật và các hình thức tố tụng mà các

vị đại biểu của nhân dân khi tham gia hoạt động xét xử có tên gọi khác nhau

Ở một số nước theo hệ tố tụng tranh tụng - nơi mà khi xử án các vị đại biểu của nhân dân chỉ có quyền phán xét bị cáo có tội hay không có tội thì họ được gọi là Bồi thẩm viên và làm việc trong một cơ quan có tên gọi là Bồi thẩm đoàn Ngay danh từ “bồi thẩm” đã cho chúng ta thấy, các thành viên của cơ quan này không ngang quyền với các Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà mà đơn giản họ chỉ là những người đồng hành cùng các Thẩm phán, họ cùng các Thẩm phán đi trên một con đường nhưng mỗi người làm một công việc khác nhau Cụ thể, họ giúp các Thẩm phán xác định bị cáo có tội hay không có tội

vì thực tế đã chỉ ra không ai thích hợp hơn nhân dân trong việc đưa ra phán quyết một hành vi như thế nào là nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi đó có phải là kẻ phạm tội hay không? Các luật gia theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thường coi chế định Bồi thẩm đoàn là sự ưu việt của hệ thống pháp luật này và các đại biểu của nhân dân cũng cảm thấy rất hài lòng về

Trang 19

những “quyền lực” mà các nhà lãnh đạo đã dành cho họ Nhưng khi các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa truyền thống quyết định đưa chế định Bồi thẩm đoàn vào hoạt động tố tụng hình sự của nước mình thì chưa kịp định hình, chế định này đã nhanh chóng “chết yểu” Người ta cho rằng chế định Bồi thẩm đoàn vốn không thích hợp với các quốc gia có “mặc cảm” với nền dân chủ quá trớn, đặc biệt là những quốc gia còn mang đậm dấu ấn văn hoá phương Đông Ví dụ như người Nhật thích được một Thẩm phán chuyên nghiệp xét xử hơn là những người hàng xóm của mình [13, tr 152] cũng giống như người Trung Quốc hay người Việt Nam chưa sẵn sàng khi giao vận mệnh của mình vào tay những người mà sau khi phiên xử kết thúc họ lại trở

về với công việc đồng áng hay chăn nuôi gia súc Đơn cử như tại Cộng hoà Pháp - một quốc gia theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa lâu đời, chế định Bồi thẩm đoàn đã phát triển qua ba thời kỳ khác nhau Đầu tiên là vào thời gian sau cách mạng 1789, tức vào khoảng năm 1808, đoàn bồi thẩm ở Pháp chỉ có quyền phát biểu ý kiến về sự việc và tính chất tội phạm, còn các Thẩm phán chuyên nghiệp xét xử về mặt pháp luật và định mức hình phạt Nhưng sự phân biệt giữa trách nhiệm của Thẩm phán chuyên nghiệp và các bồi thẩm đã dẫn đến hệ quả tiêu cực khi Bồi thẩm nhận định bị cáo đúng là đã phạm tội và phải chịu hình phạt nhưng vì muốn một mức hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo mà lại không biết chắc chắn mức hình phạt do các Thẩm phán chuyên nghiệp sẽ tuyên như thế nào nên họ nói rằng không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm trong hành vi của bị cáo và như vậy bị cáo đã được xử trắng

án Chính vì lẽ đó, để chấm dứt tình trạng trên có thể tiếp tục xảy ra, năm

1932 với sự sửa đổi của pháp luật thì ở Pháp, đoàn bồi thẩm được quyền phát biểu ý kiến về tình tiết vụ việc và cùng các Thẩm phán chuyên nghiệp quyết định mức hình phạt và năm 1941, nguyên tắc xét xử tập thể tuyệt đối được đảm bảo giữa Bồi thẩm và Thẩm phán chuyên nghiệp, có nghĩa là Thẩm phán

Trang 20

chuyên nghiệp và Bồi thẩm cùng tham gia xét xử về sự việc, các vấn đề pháp luật cũng như mức hình phạt [41, tr 25] Hay như tại CHLB Nga, sau khi chế định Bồi thẩm đoàn được thiết lập trong công cuộc cải cách tư pháp đã ngay lập tức gặp phải sự phản ứng dữ dội của người dân đối với cái gọi là “tính chuyên nghiệp” của người xét xử Vụ án sát hại sinh viên Việt Nam Vũ Anh Tuấn do các Toà án ở Nga xét xử trong thời gian gần đây với phán quyết vô tội dành cho những kẻ sát nhân của đoàn bồi thẩm thật không thể không khiến người ta nghi ngờ về khả năng và trình độ xét xử của Bồi thẩm đoàn

Đối với các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ, vấn đề trách nhiệm của Bồi thẩm đoàn thường không được xem xét quá khắt khe vì với "xuất thân" khá đa dạng và phong phú, không thể đòi hỏi các Bồi thẩm viên đánh giá sự việc vượt quá tầm hiểu biết của họ Các Bồi thẩm viên trong phiên toà hình sự tại các nước theo truyền thống pháp luật Common Law, về bản chất là những vị giám khảo đánh giá sự việc theo lăng kính chủ quan của mình, vì vậy không thể tránh khỏi những phán quyết mà họ đưa ra chưa chuẩn xác, bất hợp lý và gây phản cảm Nhưng nói tóm lại, dù quyết định của Đoàn bồi thẩm

là đúng hay sai thì theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, thật khó để truy cứu trách nhiệm của các thành viên Bồi thẩm đoàn vì không giống như Thẩm phán, pháp luật của các nước thuộc hệ thống Common Law cho phép các Bồi thẩm viên được tự do đưa ra phán quyết dựa trên niềm tin nội tâm (nhiều khi mang tính chủ quan) của mình Theo tư duy của những luật gia tôn sùng hệ tố tụng tranh tụng, tại phiên toà hình sự, nhiệm vụ quan trọng nhất của Luật sư

và Công tố viên là thuyết phục được Bồi thẩm đoàn bằng những lập luận hợp

lẽ chứ không phải nghĩ đủ cách để quy kết trách nhiệm cho các thành viên của Bồi thẩm đoàn Bởi vậy, rất có khả năng, trách nhiệm của Đoàn bồi thẩm sẽ không được xem xét dù phán quyết mà họ đưa ra không thoả đáng và không được số đông đồng tình ủng hộ (như trường hợp của đoàn bồi thẩm ở Toà

Trang 21

hình sự Nga được nhắc đến ở trên) Và đây chính là điểm mà các nhà lập pháp

ở một số nước thuộc hệ thống pháp luật Civil Law lo lắng nhất khi quyết định tiếp thu những hạt nhân hợp lý của hệ tố tụng tranh tụng cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước mình

Đối với một số nước theo hệ thống pháp luật Civil Law và theo hình thức tố tụng thẩm vấn, khi tham gia xét xử các vị đại biểu của nhân dân được gọi là Hội thẩm nhân dân và chỉ với hai từ “hội thẩm” người ta hiểu ra rằng

họ sẽ là những người đồng hành cùng Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà trong suốt hành trình kể từ khi khai mạc phiên toà cho đến khi Toà án đưa ra phán quyết cuối cùng đối với người phạm tội Cụ thể, các Hội thẩm nhân dân cũng tham gia thẩm vấn bị cáo, cùng xác định bị cáo có tội hay không có tội, bị cáo phạm tội gì và mức hình phạt ra sao? Nguyên tắc xét xử tập thể tuyệt đối và nguyên tắc khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán hiện nay được rất nhiều quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa áp dụng, luận điểm mà họ đưa ra là nguy cơ bỏ lọt tội phạm của hệ tố tụng tranh tụng và chế định Bồi thẩm đoàn không đủ sức "đương đầu" với những tổ chức tội phạm lớn Italia, Pháp hay Nhật Bản đều đã ứng dụng không thành công chế định Bồi thẩm đoàn truyền thống của các nước theo hệ tranh tụng vào hoạt động tố tụng hình sự của nước mình Bởi vậy, theo quy định của hầu hết các quốc gia theo đuổi hệ tố tụng thẩm vấn, bên cạnh những Thẩm phán chuyên nghiệp vẫn tồn tại những "Thẩm phán của nhân dân" Và đương nhiên khi vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân được đặt ngang hàng với các Thẩm phán thì trách nhiệm mà họ phải gánh vác cũng không hề thua kém những vị Chủ toạ phiên toà Cụ thể, các Hội thẩm nhân dân cũng phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi và quyết định của mình, từ việc đưa ra phán quyết xác định bị cáo có tội hay không có tội cho đến việc xác định tội danh, khung và mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo

Trang 22

Nhưng cho dù ở bất kỳ quốc gia nào thì Bồi thẩm viên (hay Hội thẩm nhân dân) cũng đều được bầu lên từ các cơ quan dân biểu Họ được chính những đại diện ưu tú nhất của mọi tầng lớp nhân dân tín nhiệm lựa chọn để tham gia vào một trong những hoạt động quan trọng vào bậc nhất của đất nước, đó là hoạt động xét xử

Tuy vậy, khi tham gia xét xử, cách thức mà các Bồi thẩm viên (hay Hội thẩm nhân dân) tham gia phiên tòa cũng là không giống nhau Có nhiều nước,

để tránh tình trạng Bồi thẩm đoàn có thể phải chịu áp lực từ nhiều phía hoặc

sẽ bị mua chuộc bởi thân nhân của bị cáo thì danh sách các thành viên Bồi thẩm đoàn tham gia xét xử chỉ được công bố trước khi mở phiên toà ít ngày bằng cách bốc thăm và ngẫu nhiên lựa chọn Ví dụ như tại Cộng hoà Pháp danh sách bồi thẩm của Toà đại hình được lập ra hàng năm gồm từ 200 đến

1800 bồi thẩm tuỳ theo số dân của địa phương trong quản hạt của mỗi Toà đại hình và được công khai rút thăm từ danh sách cử tri và tuy họ có thành phần xuất thân, địa vị xã hội, khả năng tài chính, trình độ nhận thức, nghề nghiệp, tôn giáo, giới tính, màu da khác nhau nhưng họ đều là đại diện của toàn thể nhân dân Pháp Danh sách Bồi thẩm chính thức và dự khuyết của một phiên toà được rút thăm công khai từ danh sách Bồi thẩm và danh sách Bồi thẩm dự khuyết hàng năm chậm nhất trước ngày mở phiên toà đại hình 30 ngày Và theo quy định của pháp luật thì trước khi mở phiên toà, các Bồi thẩm cũng không biết được bất kỳ thông tin gì về vụ án, bồi thẩm đoàn hoàn toàn vô tư nằm ngoài các hoạt động tố tụng cho đến khi Đoàn bồi thẩm xét xử được thành lập công khai tại phiên toà Trước khi Chủ toạ phiên toà tuyên bố Đoàn bồi thẩm chính thức được thành lập, các Bồi thẩm phải đứng dậy và bỏ mũ để nghe Chủ toạ phiên toà đọc lời tuyên thệ sau: “Các vị hãy thề và hứa sẽ xem xét kỹ lưỡng những chứng cứ buộc tội, không phản bội quyền lợi của bị cáo cũng như lợi ích của xã hội đã buộc tội bị cáo, không trao đổi với người khác

Trang 23

trước khi bày tỏ ý kiến, không được thù hằn, ác tâm, sợ hãi hay cảm tính; ra quyết định theo tội trạng và lời bào chữa của bị cáo, theo lương tâm và trách nhiệm, với sự vô tư và cương nghị của người trung thực và tự do; giữ bí mật nghị án ngay cả sau khi không còn giữ chức vụ Bồi thẩm Sau đó từng Bồi thẩm sẽ phải giơ tay lên và nói “Tôi xin thề” [41, tr 26] Tại một số quốc gia, bồi thẩm viên tham gia phiên toà theo sự phân công của Chánh án căn cứ vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tần suất tham gia phiên toà theo nhiệm kỳ của mỗi vị bồi thẩm Nhưng cá biệt cũng có một số nước, trên thực tế, việc tham gia phiên toà của Hội thẩm nhân dân là do sự tự chọn lựa của các Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà và điều này khiến người ta luôn nghi ngờ về tính khách quan và độc lập xét xử của các vị Hội thẩm

Theo quy định của pháp luật Việt Nam “Hội thẩm nhân dân là người

được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân” Theo Pháp lệnh Thẩm phán và Hội

thẩm nhân dân năm 2002, Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh

án Toà án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân sẽ theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp và như vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân sẽ là 5 năm kể từ ngày được Hội đồng nhân dân bầu chọn Và tuy không có trình độ chuyên môn xét xử nhưng những Hội thẩm nhân dân của chúng ta phần nhiều đều có trình độ pháp lý tương đối cao do đặc thù công tác trong những ngành có quan hệ mật thiết với ngành Toà án như: cán bộ Công an, cán bộ Viện kiểm sát, cán bộ Toà án đã nghỉ hưu.v.v hoặc những người có trình độ cử nhân luật nhưng công tác tại nhiều cơ quan khác nhau Bên cạnh đó, khi tham gia xét xử các vụ án hình sự,

Trang 24

theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, quyền năng của các Hội thẩm nhân dân không hề thua kém các vị Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trên thực tế, các vị Hội thẩm cũng được quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi xét xử; tại phiên toà họ được quyền thẩm vấn bị cáo, cùng với các Thẩm phán chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; khi nghị án

có quyền phát biểu những ý kiến của mình về việc xác định bị cáo có tội hay không có tội, định tội danh cũng như quyết định khung và mức hình phạt dành cho bị cáo Và với nguyên tắc "Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán", pháp luật Việt Nam cũng quy định "Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình" Điều đó đồng nghĩa, cùng với Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân cũng phải gánh vác trách nhiệm khi công bố một phán quyết oan, sai hoặc quyết định một hình phạt rõ ràng bất hợp pháp

Theo quan điểm của nhiều người, Hội thẩm nhân dân được xem như

Thẩm phán của nhân dân Bởi một lẽ đơn giản, xét xử không phải là công

việc chuyên môn của các vị Hội thẩm mà đây là công việc họ thực hiện, một mặt để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình với danh nghĩa một công dân giám sát hoạt động xét xử của Toà án, mặt khác để hoàn thành sứ mệnh mà nhân dân đã tin tưởng giao phó cho họ trong việc đem lại sự công bằng và nền công lý xã hội

Theo quan niệm dân gian, Hội thẩm nhân dân chính là vị quan toà của nhân dân, đại diện cho ý chí, quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân tham gia vào một trong những hoạt động quan trọng vào bậc nhất của đất nước, đó là hoạt động xét xử

1.3 THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ XÉT XỬ CÓ HỘI THẨM NHÂN DÂN (BỒI THẨM VIÊN) THAM GIA - NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH

SỰ CỦA NHIỀU NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Trang 25

Hiện nay, ở tất cả các quốc gia trên thế giới, trong hoạt động xét xử, sự tham gia của những người - đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội là một điều gần như bắt buộc, là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng hình

sự Tuỳ thuộc vào từng hệ thống pháp luật, sự tham gia của những người - là đại diện cho nhân dân trong hoạt động xét xử có sự khác nhau về tên gọi cũng như mức độ, phạm vi, quyền và nghĩa vụ Như đã phân tích ở trên, ở một số nước, khi tham gia vào hoạt động xét xử, những đại biểu của nhân dân được gọi là các Bồi thẩm viên và họ tham gia xét xử trong một cơ quan có tên gọi

là Bồi thẩm đoàn và phạm vi xét xử của họ hoàn toàn độc lập với Thẩm phán

- Chủ toạ phiên toà (Bồi thẩm đoàn xác định bị cáo có tội hay không có tội, còn bị cáo phạm tội gì và mức hình phạt như thế nào thuộc quyền phán quyết của Thẩm phán) Nhưng cũng có một số nước, khi xét xử, những người do nhân dân bầu chọn được gọi là Hội thẩm nhân dân và về bản chất tại mỗi phiên toà xét xử, họ chính là Thẩm phán - Thẩm phán của nhân dân, điều này được thể hiện rất rõ nét qua nguyên tắc “Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”

Sở dĩ có sự lựa chọn trên vì hầu hết các quốc gia đều không muốn chứng kiến cách xử án độc đoán, chuyên quyền và thiếu tình người của công đường và các vị quan toà thời trung cổ Đó là cách xử án mà lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh, minh chứng rõ nhất cho điều này là khi giải quyết một vụ

án, quan toà và các cộng sự không chỉ làm công việc xử án mà còn kiêm luôn hoạt động điều tra và chứng minh tội phạm Trong những thời kỳ này, nhân dân không hề có tiếng nói trong hoạt động xét xử của Toà án, phán quyết của các quan toà hầu như dựa trên ý chí của nhà cầm quyền để bảo vệ chế độ quân chủ chuyên chế

Việc tham gia vào hoạt động xét xử của các tầng lớp nhân dân trong xã hội không chỉ là thước đo phản ánh mức độ dân chủ của mỗi quốc gia hay

Trang 26

khẳng định quyền làm chủ của nhân dân và truyền đạt ý chí, nguyện vọng của nhân dân đến với nhà cầm quyền mà quan trọng hơn, sự tham gia của Hội thẩm nhân dân - những người am hiểu thực tế và nắm được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng sẽ giúp cho mỗi phán quyết mang hơi thở của cuộc sống, sẽ mềm mại và tình người hơn là quyết định của các quan toà đôi khi là lạnh lùng và quá cứng nhắc Đồng thời đây cũng là hình thức để “thu hút nhân dân tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi vào công việc quản lý Nhà nước và xã hội” Bên cạnh đó, bằng việc tham gia xét xử, Hội thẩm có điều kiện thuận lợi giám sát hoạt động của Toà án

Đối với Việt Nam, lịch sử của nước ta là lịch sử đấu tranh không biết mệt mỏi cho độc lập, tự do và dân chủ Việt Nam luôn mong muốn xây dựng một Nhà nước của dân, do dân và vì dân thể hiện qua việc: trong mọi hoạt động của Nhà nước, nhân dân luôn được tham gia theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Bởi vậy việc tham gia của đại biểu nhân dân trong hoạt động xét xử đã được khẳng định ngay từ Hiến pháp năm 1946

- 1 năm sau ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà và tiếp tục được khẳng định như là một trong những nguyên tắc hiến định trong các bản Hiến pháp tiếp theo Hiến pháp năm 1946 tại Điều 65 quy định "Trong khi xét

xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình” Tại Điều 99 Hiến pháp 1959 tiếp tục khẳng định “Việc xét xử ở các Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán” Quy định tương tự đã được nhắc lại trong Hiến pháp năm 1980 Điều 131 và Hiến pháp năm 1992 Điều

130 Có thể nói, việc tham gia vào quá trình tố tụng của các tổ chức và cá nhân là động lực to lớn tạo điều kiện cho Toà án xét xử được nghiêm minh,

Trang 27

đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cũng có nghĩa là đảm bảo được quyền

và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng[27, tr 17]

Việc tham gia xét xử của Hội thẩm cũng là yếu tố góp phần khắc phục bệnh nghề nghiệp (nếu có) của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng khác thể hiện trong quá trình xét xử Nhiều Hội thẩm đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt nghĩa vụ, kiên định với quan điểm, với “niềm tin nội tâm” của mình, kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong quá trình tham gia công tác xét xử, Hội thẩm còn góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đóng góp vào việc xây dựng và hoàn thiện đường lối xét xử, giúp cho việc xét xử đúng pháp luật và có sức thuyết phục hơn [19,

tr 18] Nói tóm lại, khi tham gia xét xử, Hội thẩm vừa thực hiện quyền lực Nhà nước, đồng thời cũng thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân Điều này góp phần đáng kể trong việc đảm bảo cho hoạt động xét xử thực sự mang tính dân chủ Do vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được đảm bảo một cách công bằng, tránh cho quyền con người của họ bị xâm hại từ phía các cơ quan quyền lực hoặc bất cứ cá nhân, tổ chức nào[27, tr 18].

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân dù ở quốc gia nào, châu lục nào cũng đều làm một nhiệm vụ là xét xử các vụ án, đem lại công lý và sự yên bình cho nhân dân và xã hội Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng hệ thống pháp luật mà những quy định về vị trí và vai trò của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là không giống nhau Trong khi hệ thống Common Law ưa thích các

vị quan toà trưởng thành từ thực tiễn và có kinh nghiệm sống phong phú thì

hệ thống Civil Law lại coi trọng hơn các Thẩm phán có xuất thân “chính thống” qua coi đường khoa cử Nhưng cho dù được bổ nhiệm qua con đường nào và có xuất phát điểm thế nào thì Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân vẫn là

Trang 28

hiện thân cho niềm mong mỏi của cả một quốc gia về tính độc lập, không thiên vị từ các phán quyết của Toà án Trên cơ sở tìm hiểu một vài nét khái quát về vị trí, vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ở một số quốc gia trên Thế Giới, mục đích của chương 1 là đưa ra những thông số so sánh về cách thức lựa chọn cũng như vị trí của Thẩm phán

và Hội thẩm nhân dân ở nước ta với một số nước có nền tư pháp đã và đang phát triển Đồng thời cũng đưa ra câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao việc xét xử phải có Hội thẩm nhân dân tham gia và phải chăng việc tham gia xét xử của Hội thẩm là một đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn hay đơn giản chỉ là sự thể hiện của tính dân chủ hình thức?

Chương 2:

NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP

VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT” VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH TRONG LUẬT TỐ

TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1 KHÁI NIỆM NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

“Nguyên tắc” theo từ điển tiếng Việt là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” Như vậy, nguyên tắc được hiểu với nghĩa là tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một hoạt động nào đó[18, tr 45]

Đề cập đến khái niệm nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự, trong giới luật học hiện nay còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau Tiến sỹ Nguyễn

Ngọc Chí (Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội) cho rằng “Nguyên tắc cơ

Trang 29

bản của Luật tố tụng hình sự là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự trong quá trình

Tuy không trực tiếp đưa ra khái niệm nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự nhưng dựa vào quan điểm của tiến sỹ khoa học Lê Cảm (Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội) về nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự thì có

thể hiểu “Nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo và là định

hướng cơ bản thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự thông qua một hay nhiều quy phạm hoặc chế định của nó”

Xét một cách toàn diện, có nhiều luật gia cho rằng nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” không thể coi là nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự vì nó không chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của tố tụng hình sự Nhưng có một điều không

ai có thể phủ nhận, “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong hoạt động xét xử của Toà án cùng với các nguyên tắc: Toà án nhân dân các cấp là

cơ quan xét xử của Nhà nước và nguyên tắc hai cấp xét xử

2.2 NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN

VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP LUẬT”

2.2.1 Nội dung cơ bản của nguyên tắc ’’Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật’’

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” không những được quy định trong các bản Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ từ ngày thành

Trang 30

lập nước mà còn là nguyên tắc truyền thống trong hoạt động tố tụng hình sự của tất cả các quốc gia trên Thế Giới cho dù tên gọi của nguyên tắc này ở mỗi nước có thể là không giống nhau

Trong một bài viết trên tạp chí Toà án nhân dân năm 2006, Luật sư Lưu Tiến Dũng - một người rất tâm huyết với việc nghiên cứu về tính độc lập trong hoạt động xét xử của Toà án đã chỉ ra rằng: Sự thừa nhận về mặt pháp

lý về độc lập tư pháp phải bao gồm 3 yếu tố: 1) Toà án phải được trao thẩm

quyền giải quyết mọi vấn đề mang tính chất tư pháp; 2) Toà án phải là cơ quan duy nhất có quyền quyết định vụ việc đang yêu cầu giải quyết có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không; 3) quyết định cuối cùng của Toà án

tr 9]

Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp được thông qua bởi Chánh án Toà án tối cao của 20 nước trong đó có Việt Nam ngày 19/8/1995 tại Hội nghị các Chánh án Toà án tối cao khu vực Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 6 tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc) và đã được chỉnh lý tại Hội nghị lần thứ 7 tổ chức tại Manila (Philippin) tại Điều 3 đã đưa ra định nghĩa như sau về khái niệm độc lập tư pháp:

a) Cơ quan tư pháp có quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền dựa trên sự đánh giá khách quan của mình về các sự kiện của vụ án và trình độ hiểu biết pháp luật của mình mà không chịu sự tác động sai trái, trực tiếp hay gián tiếp của bất kỳ cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào;

b) Cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết trực tiếp hoặc xem xét lại đối với tất cả những vấn đề mang tính chất tư pháp

Điều này được càng được thể hiện rõ nét khi tại Điều 5 và Điều 6 Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp đã khẳng định:

Trang 31

Cơ quan tư pháp có trách nhiệm tôn trọng các mục tiêu và chức năng hợp pháp của các cơ quan Chính phủ khác Các cơ quan này cũng có trách nhiệm tôn trọng các mục tiêu và chức năng hợp pháp của cơ quan tư pháp

Trong quá trình giải quyết vụ án, không một cơ quan hay một cá nhân

dù ở cấp nào trong hệ thống tư pháp được can thiệp nhằm tác động đến nghĩa

vụ của Thẩm phán hoặc tập thể Thẩm phán đang thực hiện thẩm quyền ra bản

án theo quy định tại Điều 3 (a) Về phần mình, Thẩm phán tự mình hoặc thông qua tập thể thực hiện chức năng của mình theo quy định của Hiến pháp

và pháp luật

Thẩm phán cao cấp và nguyên Chánh án Toà án phúc thẩm Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 9 - J.Clifford Wallace trong bài tham luận có tên gọi “Khắc phục tham nhũng tư pháp trong khi phải đảm bảo độc lập tư pháp” tại Hội nghị các Chánh án Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Manila (Phillippin) năm 1997 đã khẳng định: Độc lập tư pháp đảm bảo rằng các quan chức cũng phải tuân theo pháp luật; với việc xét xử độc lập không có ai ở phía trên hay ở bên dưới luật [29, tr 41] Và theo ông độc lập tư pháp cần được nhận thức rộng rãi như việc bảo đảm nhân quyền “Mọi người đều có quyền tham gia phiên toà một cách công khai và được các Thẩm phán xét xử một cách độc lập

và vô tư, khách quan”[29, tr 41]

Cũng trong bài viết đã dẫn trên tạp chí Toà án nhân dân xuất bản năm

2006, Luật sư Lưu Tiến Dũng cho rằng độc lập tư pháp bao gồm hai khía cạnh: Độc lập với bên ngoài Toà án và độc lập trong nội bộ Toà án Độc lập với bên ngoài có nghĩa là cơ quan tư pháp phải độc lập với mọi cơ quan, tổ chức bên ngoài, bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, các đảng phái chính trị, các tổ chức chuyên môn về pháp luật, ngôn luận, xã hội, các đương

sự của vụ án, hoặc bất kỳ “thế lực nào ngoài Toà án nhưng có thể xâm phạm

Trang 32

đến quyền tự chủ của ngành Toà án nói chung hoặc của cá nhân Thẩm phán nói riêng” Độc lập trong nội bộ có nghĩa là các Thẩm phán phải độc lập với đồng nghiệp của mình bao gồm cả cấp trên theo chiều dọc hoặc chiều ngang

và thậm chí độc lập với những mong muốn của chính bản thân mình Thẩm phán có thể chia sẻ các vấn đề của vụ án, thảo luận các vấn đề pháp luật cụ thể liên quan đến vụ án với đồng nghiệp, thậm chí với các Thẩm phán cấp cao hơn, nhưng trong quá trình bàn bạc tham khảo này chỉ được coi là có tính chất tham vấn và không thể là những chỉ dẫn bắt buộc[36, tr 8]

Tương tự như trên, xét trên góc độ thực tiễn tư pháp Việt Nam thì nội dung của nguyên tắc này bao gồm 2 vấn đề:

Thứ nhất là tuân thủ những cam kết mà Việt Nam đã thông qua khi

tham gia tuyên bố Bắc Kinh năm 1995 về các nguyên tắc độc lập tư pháp, tức

là khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải tuân theo pháp luật và độc lập, không bị chi phối bởi bất cứ một thế lực nào và chịu bất kỳ một tác động nào, họ có quyền tự quyết trong khi xét xử Điều này được thể hiện qua việc trong quá trình xét xử, cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp hoặc tác động vào các thành viên của Hội đồng xét xử để họ phải xét xử theo

ý kiến chủ quan của mình Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào làm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án đều bị coi là bất hợp pháp Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử còn được thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét xử, Toà án cấp trên không được quyết định hoặc gợi ý cho Toà án cấp dưới trước khi xét xử một vụ án cụ thể Đồng thời khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm cũng không bị phụ thuộc bởi các nhận định, những phán quyết của Toà án cấp dưới

Thứ hai là đồng thời giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cũng có

sự độc lập khi xét xử, không ai được áp đặt ý chí của mình lên người khác và

Trang 33

cũng không chịu sự tác động qua lại Nội dung thứ hai của nguyên tắc này đòi hỏi sự độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử trong việc nghiên cứu

hồ sơ, xem xét, đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm không bị phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, việc xét xử sơ thẩm hoặc trong những trường hợp nhất định khi xét

xử phúc thẩm, thành phần của Hội đồng xét xử có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Là người không chuyên làm công tác xét xử nhưng khi thực hiện quyền xét xử Hội thẩm nhân dân phải độc lập với Thẩm phán trong mọi khâu của quá trình xét xử, tránh sự phụ thuộc vào Thẩm phán Thẩm phán phải là người phát biểu sau cùng để không ảnh hưởng tới tính độc lập của Hội thẩm nhân dân Các vấn đề của vụ án đều phải được giải quyết bằng cách biểu quyết và quyết định theo đa số Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ vụ án[18, tr 69] Có thể nói pháp luật hình sự và tố tụng hình sự là chuẩn mực để các thành viên Hội đồng xét xử xem xét đối chiếu với sự việc xảy ra, với hành vi được mang ra xét xử Trên cơ sở quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ đưa ra các phán quyết của mình về sự việc phạm tội và hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính xác phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án đã xảy ra Ngoài ra, tuân theo pháp luật khi xét xử còn có nghĩa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc bởi bất kỳ điều kiện nào[18, tr 69]

Nhưng vấn đề là nên hiểu tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử trong phạm vi nào và mức độ nào? Nguyên tắc này chỉ áp dụng khi xét xử, còn Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (đặc biệt là Thẩm phán) với tư cách là một công chức phải tuân theo quy định về quản lý hành chính Quản lý về hành chính ở đây được hiểu là quản lý về tổ chức, nhân sự bao gồm: quyết định và phân bổ biên chế Thẩm phán cho toàn

Trang 34

ngành và cho từng đơn vị Toà án; quy định các tiêu chuẩn, điều kiện tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán, khen thưởng, kỷ luật Thẩm phán, quyết định vấn đề điều động; xây dựng và thực hiện các chế độ chính sách, bao gồm cả tiền lương đối với Thẩm phán; tổ chức kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; thống kê và đánh giá chất lượng Thẩm phán hàng năm Như vậy, nội dung quản lý Thẩm phán nhìn nhận dưới góc độ này cũng giống như nội dung quản lý đối với các cán bộ, công chức khác [24, tr 2] Đối với Hội thẩm nhân dân là những người đang công tác cũng phải tuân thủ các quy định về quản lý cán bộ, công chức của cơ quan chủ quản

Bên cạnh đó vấn đề độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật hoàn toàn không đồng nghĩa với sự tuỳ tiện, chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, đồng thời cũng không mâu thuẫn với việc trao đổi, bàn bạc với đồng nghiệp, lãnh đạo, với Uỷ ban thẩm phán hoặc Toà án cấp trên để lựa chọn phương án tối ưu khi giải quyết các vụ án (hiện nay theo quy chế của mỗi Toà án, thông thường đều quy định những vụ việc phải được đưa ra bàn án trước khi xét xử,

ví dụ như đối với các vụ án phức tạp mà xét thấy việc xét xử có thể ảnh hưởng tới an ninh trật tự xã hội hay đối với những vụ án mà mức hình phạt cao nhất dự kiến áp dụng đối với bị cáo là chung thân hoặc tử hình và một thực tế là theo các Kiểm sát viên việc bàn án đã làm cho chất lượng xét xử các

vụ án được tốt hơn) Nhưng điều quan trọng hơn cả mà pháp luật yêu cầu là sau khi trao đổi, bàn bạc, lắng nghe ý kiến của người khác, Thẩm phán phải biết tự mình phân tích, tổng hợp, đánh giá khách quan, toàn diện các chứng

cứ, tài liệu của vụ án để đề ra các quyết định xử lý một cách độc lập, trên cơ

sở quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức Độc lập không có nghĩa là Hội thẩm nhân dân (vốn là những người yếu về chuyên môn, nghiệp

vụ hơn các Thẩm phán) không được phép hoặc không cần phải trao đổi, lắng nghe ý kiến của các Thẩm phán[39, tr 9-10]

Trang 35

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đảm bảo cho Hội đồng xét xử thực hiện quyền tự quyết của mình trong khi xét xử, đồng thời cũng buộc họ phải có nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân về tính đúng đắn, hợp pháp đối với các quyết định của mình trong quá trình giải quyết vụ án

Về phương diện nghiệp vụ, xuất phát từ mối quan hệ tố tụng trong cơ quan Toà án, Thẩm phán Toà án cấp dưới quan hệ với Thẩm phán Toà án cấp trên là quan hệ tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng Mối quan hệ này cho phép Toà án cấp trên hướng dẫn Toà án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử, nhưng không quyết định trước về chủ trương xét

xử một vụ án cụ thể Riêng mối quan hệ giữa Thẩm phán với lãnh đạo Toà án trong cơ quan (Chánh án, Phó Chánh án, Chánh toà, Phó Chánh toà) phải được nhìn nhận từ hai góc độ:

Thứ nhất là quan hệ giữa lãnh đạo Toà án với tư cách là Thủ trưởng cơ

quan và Thẩm phán với tư cách là nhân viên, cán bộ trong cơ quan Đây là mối quan hệ hành chính, Thẩm phán phải làm nhiệm vụ theo sự phân công của Lãnh đạo Toà

Thứ hai là quan hệ giữa hai Thẩm phán với nhau, vì theo pháp luật,

điều kiện để giữ chức vụ Chánh án, Phó Chánh án, Chánh toà, Phó Chánh toà trước hết phải có chức danh Thẩm phán Đó là mối quan hệ tố tụng, mối quan

hệ này phải do Luật tố tụng điều chỉnh Điều này có nghĩa là nguyên tắc độc lập xét xử đối với Thẩm phán được thực hiện nghiêm chỉnh[24, tr 12] Tức là xét trên phương diện tố tụng, lãnh đạo Toà án không được phép dùng quyền thủ trưởng của mình để can thiệp vào hoạt động xét xử của các Thẩm phán

Pháp luật tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng đều đảm bảo những nguyên tắc chung nhất trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm

Trang 36

bảo sự độc lập cho Thẩm phán hay Hội đồng xét xử Đó là nguyên tắc Toà án

là cơ quan xét xử duy nhất; nguyên tắc đánh giá chứng cứ theo niềm tin nội tâm của Thẩm phán; nguyên tắc thẩm quyền xét xử; nguyên tắc thay đổi các thành viên của Hội đồng xét xử; bí mật nghị án v.v Tất cả những nguyên tắc trên đều bảo đảm cho Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết vụ án trên cơ sở các chứng cứ chứ không phụ thuộc vào một thế lực nào; nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp vào công tác xét xử của Thẩm phán và không có quyền đòi hỏi Thẩm phán phải đưa ra những giải thích như: vì sao đưa vụ này ra xét xử, dựa trên cơ sở nào mà Tòa án ra bản án với hình phạt nặng hoặc nhẹ như vậy? v.v [49, tr 4] Tuy nhiên cũng cần tránh tình trạng, Hội đồng xét xử lợi dụng nguyên tắc quy định về tính độc lập khi xét xử để hạn chế sự can thiệp về chuyên môn của cấp trên dẫn đến việc phán quyết của một phiên tòa đôi khi thiếu khách quan, thiếu công bằng, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của ngành Toà án

Và từ những phân tích trên, có thể nói tóm lại “Đối với quan toà (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân) không có cấp trên nào ngoài pháp luật”[49, tr 2]

2.2.2 Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Trước hết, để hiểu về ý nghĩa của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” hay còn gọi là nguyên tắc

“Đảm bảo tính độc lập trong xét xử của Toà án”, chúng ta hãy cùng tham khảo ý kiến của một luật gia Hoa Kỳ về tầm quan trọng của độc lập tư pháp đối với sự phát triển và ổn định của xã hội J Clifford Wallace - Thẩm phán cao cấp và nguyên Chánh án Toà án phúc thẩm Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 9 trong một bài tham luận trước Hội nghị các Chánh án Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Manila - Philippin tháng 8 năm 1997 đã đặc biệt nhấn mạnh khi đặt

Trang 37

ra câu hỏi: Tại sao độc lập tư pháp quan trọng như vậy? Và để trả lời cho câu hỏi này, ông cho rằng việc duy trì độc lập tư pháp là vấn đề cần thiết nhằm đạt được mục tiêu của các quy định pháp luật và thực thi một cách có hiệu quả chức năng của một xã hội tự do Sự độc lập này phải được Nhà nước bảo đảm và trân trọng ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật, do đó bất kỳ một hành động trái pháp luật nào của cơ quan hành pháp hay lập pháp cũng có thể bị khởi tố Như Alexander Hamilton đã chỉ ra rằng sai phạm của Chính phủ “trong thực tế cũng có thể được đưa ra xét xử bởi một Toà án công bằng Thiếu điều đó giới hạn của mọi quyền lợi đặc biệt hay những quyền ưu tiên sẽ không có giá trị[29, tr 41] Dẫn lời vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ George Washington “Sự thực thi công lý thực sự là trụ cột vững chắc nhất cho một Chính phủ tốt”, J.Clifford Wallace viết “Những mong muốn mà việc xét xử đúng đắn có thể đem lại cho một đất nước ổn định và công bằng chỉ có thể đạt được nếu như các Thẩm phán ra bản án đúng theo các căn cứ pháp luật chứ không phải theo cảm tính hay theo đường lối của một thế lực chính trị nào Độc lập tư pháp cung cấp khái niệm về tổ chức trong đó chúng ta có thể nghĩ đến sự phát triển những đảm bảo có tổ chức cho phép các Thẩm phán thực hiện tốt “vai trò xã hội quan trọng” đó”[29, tr 41] Theo cách hiểu của Alexander Hamilton “vai trò xã hội quan trọng” của Thẩm phán trong việc bảo vệ quyền tự do và tạo ra một Chính phủ ổn định phụ thuộc vào thế mạnh của độc lập tư pháp “Mặc dù, sự trừng phạt đối với một cá nhân có thể diễn

ra tại phiên xét xử, nhưng quyền tự do của con người không thể bị xâm phạm với điều kiện là hệ thống tư pháp phải hoàn toàn độc lập với hệ thống hành pháp và lập pháp [29, tr 42] J.Clifford Wallace đã viết “độc lập tư pháp không nên bị coi nhẹ, nó là yếu tố thiết yếu cho việc bảo đảm quyền tự do dân chủ và việc thực thi pháp luật”

Trang 38

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” chiếm một vị trí quan trọng và có ý nghĩa vô cùng sâu sắc còn bởi một số lý do sau:

Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” có vai trò quan trọng trước hết vì nó phù hợp với “Các nguyên tắc cơ bản của độc lập xét xử đối với các cơ quan Toà án trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm” được thông qua tại Hội nghị lần thứ 7 của Liên hợp quốc tổ chức tại thành phố Milan (Italia) từ ngày 26/8 đến 06/9/1985 Văn bản này quy định các nguyên tắc sau:

Không được can thiệp bất hợp pháp và không đúng thẩm quyền vào quá trình xét xử và thông quan bản án

Nguyên tắc độc lập của cơ quan Toà án, cho phép cơ quan Toà án có quyền đòi hỏi sự xét xử công minh, chính nghĩa và bảo đảm quyền, lợi ích của các bên

Mỗi Nhà nước thành viên có nghĩa vụ bảo đảm cho các cơ quan Toà án các phương tiện cần thiết để thực hiện tốt công việc của mình;

Trên cơ sở tuyên truyền chung về quyền con người; các thành viên của

cơ quan Toà án cũng như mọi công dân khác cần sử dụng quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng, hội họp Thẩm phán cần phải nghiêm chỉnh nhằm bảo đảm

sự kính trọng đối với chức vụ của mình và đảm bảo sự vô tư và độc lập của các cơ quan Toà án[49, tr 4]

Ngoài ra, Tuyên ngôn chung về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc tại Điều 10 cũng đã chỉ ra “Mọi người đều có quyền nhận sự xét xử công bằng, công khai và bình đẳng bởi một Toà án độc lập và không thiên vị trong việc quyết định các quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ” Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và

Trang 39

chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc cũng quy định khá rõ ràng “Tất cả mọi người bình đẳng trước Toà án và cơ quan tài phán Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụ của người tố tụng trong tố tụng dân sự”

Trên diễn đàn quốc tế, Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp cũng đã khẳng định cơ quan tư pháp là tổ chức mang giá trị cao nhất của bất kỳ xã hội nào Và viện dẫn các quy định tại Tuyên ngôn nhân quyền năm

1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, Tuyên bố này đã chỉ ra mọi người chỉ có thể có quyền được xét xử công khai và công bằng bởi một Toà án độc lập, có thẩm quyền, khách quan và được thành lập theo pháp luật khi đáp ứng được một điều kiện không thể thiếu là có một cơ quan tư pháp độc lập Và rằng việc duy trì tính độc lập của cơ quan tư pháp là cần thiết để đạt mục tiêu và thực hiện đúng chức năng của cơ quan tư pháp trong một xã hội tự do và tôn trọng pháp quyền Sự độc lập này cần phải được Nhà nước đảm bảo và phải được quy định rõ trong Hiến pháp [37, tr 46-48]

Luật sư Lưu Tiến Dũng - người đã từng có nhiều năm công tác tại nước ngoài, trong một bài viết được đăng tải trên Tạp chí Toà án nhân dân năm

2006 đã đưa ra những so sánh của mình về tính độc lập xét xử ở các nước quá

độ Và hơn ai hết ông hiểu rằng độc lập tư pháp có mối quan hệ vô cùng mật thiết với các yếu tố đảm bảo sự phát triển và tồn tại của xã hội như:

Thứ nhất là độc lập tư pháp và bảo vệ quyền con người: Trước hết cần

phải nói rằng toàn cầu hoá đòi hỏi chúng ta phải công nhận và tuân thủ những chuẩn mực quốc tế, bao gồm những cam kết chính thức về quyền con người

Trang 40

Yêu cầu công nhận quyền con người và dân chủ ở các nước quá độ hiện nay đang là một nhu cầu bức thiết[36, tr 7] Để minh chứng cho điều này, luật sư Lưu Tiến Dũng đã dẫn lời nhiều văn bản mang tính quốc tế và khu vực liên quan đến việc đảm bảo tính độc lập trong xét xử của Toà án Trên bình diện quốc tế và khu vực, chúng ta có nhiều văn kiện quan trọng về độc lập tư pháp

đã được thông qua và thừa nhận rộng rãi bao gồm:

Hiến chương Liên hợp quốc, Tuyên ngôn nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966

Các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về độc lập tư pháp do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1985

Bản dự thảo nguyên tắc Syracuse về độc lập tư pháp do một Uỷ ban Luật học

và Uỷ ban Luật học quốc tế ở Syracuse, Sicily soạn thảo vào ngày 25 đến 29 tháng 5 năm 1981

Các tiêu chuẩn tối thiểu về độc lập tư pháp của Hiệp hội Luật gia Thế Giới năm 1982

Tuyên ngôn chung Montreal về độc lập tư pháp năm 1983

Bản dự thảo tuyên ngôn chung Singhvi về tư pháp năm 1989

Điều lệ chung về thẩm phán của Hiệp hội Thẩm phán quốc tế năm 1999 Tuyên bố Bắc Kinh về độc lập tư pháp năm 1995

Thứ hai là độc lập tư pháp và công minh Độc lập và công minh trong

hoạt động tư pháp được coi là hai yêu cầu mang tính nền tảng của độc lập tư pháp Thẩm phán phải công minh và độc lập khi xem xét các tình tiết của vụ việc và áp dụng pháp luật mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ tác động nào Sự công minh đòi hỏi trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Thẩm phán chỉ phải tuân thủ pháp luật và lương tâm mình Trong báo cáo gửi Liên hợp quốc,

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Quốc hội (2000), Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự 1988
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
7. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
8. Quốc hội (1995), Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Toà án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Uỷ ban thường vụ quốc hội (2002), Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân
Tác giả: Uỷ ban thường vụ quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
15. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (1998), Giáo trình Luật Hiến pháp các nước tư bản, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp các nước tư bản
Tác giả: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
16. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
17. Lê Cảm (2006), Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2006
18. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) (2001), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bá Diến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
22. Chánh án Toà án nhân dân Tối cao (2002), Báo cáo về công tác Toà án tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về công tác Toà án tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XI
Tác giả: Chánh án Toà án nhân dân Tối cao
Năm: 2002
23. Đặng Thanh Nga (2002), “Các phẩm chất nhân cách cơ bản của Thẩm phán”, Luật học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phẩm chất nhân cách cơ bản của Thẩm phán”, "Luật học
Tác giả: Đặng Thanh Nga
Năm: 2002
24. Đỗ Gia Thƣ (2005), “Bàn về quản lý Thẩm phán Toà án nhân dân các cấp”, Toà án nhân dân, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quản lý Thẩm phán Toà án nhân dân các cấp”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Đỗ Gia Thƣ
Năm: 2005
25. Đỗ Gia Thư (2004), “Thực trạng đội ngũ Thẩm phán nước ta - Những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng”, Toà án nhân dân, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đội ngũ Thẩm phán nước ta -Những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Đỗ Gia Thư
Năm: 2004
26. Đỗ Gia Thƣ (2004), “Yêu cầu nhiệm vụ của ngành Toà án và quan điểm xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong giai đoạn mới”, Toà án nhân dân, (13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu nhiệm vụ của ngành Toà án và quan điểm xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong giai đoạn mới”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Đỗ Gia Thƣ
Năm: 2004
27. Hoàng Hùng Hải (2005), “Mấy ý kiến nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm”, Toà án nhân dân, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Hoàng Hùng Hải
Năm: 2005
28. Hồ Thế Hoè ( 2003), “Niềm tin nội tâm của Thẩm phán trong việc quyết định hình phạt”, Toà án nhân dân, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niềm tin nội tâm của Thẩm phán trong việc quyết định hình phạt”, "Toà án nhân dân
29. J. Clifford Wallace (2006), “Khắc phục tham nhũng trong khi phải đảm bảo độc lập tƣ pháp”, Toà án nhân dân, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khắc phục tham nhũng trong khi phải đảm bảo độc lập tƣ pháp”, "Toà án nhân dân
Tác giả: J. Clifford Wallace
Năm: 2006
30. Joseph A.Trotter (Con) (2004), “Giáo dục quản lý và điều hành Toà án ở Mỹ”, Toà án nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục quản lý và điều hành Toà án ở Mỹ”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Joseph A.Trotter (Con)
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm