Trong khi đó, thực tiễn hoạt động tố tụng dân sự hiện nay, đặc biệt là ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, lại đặt ra nhiều vấn đề về địa vị pháp lý của Thẩm phán nh-: tính độc lập
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn bích thảo
địa vị pháp lý của thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
ở việt nam hiện nay
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2008
Trang 2đại học quốc gia hà nội
khoa luật
nguyễn bích thảo
địa vị pháp lý của thẩm phán
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
ở việt nam hiện nay
Trang 3Mục lục
Trang
Ch-ơng 1: một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2 Các yếu tố quy định và chi phối việc xác định địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
11
1.2.1 Quan niệm về quyền t- pháp 11 1.2.2 Đặc thù của hoạt động xét xử 14 1.2.3 Đặc điểm của tố tụng dân sự 18 1.2.4 Tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 21 1.3 Mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và những chủ thể
khác của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong giai
Trang 41.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong các mô hình tố tụng
dân sự trên thế giới
30
Ch-ơng 2: địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
35
2.1 Khái quát các quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự tr-ớc khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
35
2.2 Các quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
37
2.2.1 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện qua các nguyên tắc
cơ bản của luật tố tụng dân sự
37
2.2.1.1 Các nguyên tắc có tính chất liên ngành 38 2.2.1.2 Các nguyên tắc đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự 43 2.2.2 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện ở nhiệm vụ, quyền
hạn của Thẩm phán và những ng-ời tiến hành tố tụng khác
46
2.2.3 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện ở các quy định về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và hòa giải vụ án dân
sự tr-ớc phiên tòa sơ thẩm
51
2.2.3.1 Các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 51 2.2.3.2 Các quy định về hòa giải vụ dân sự tr-ớc phiên tòa sơ thẩm 55 2.2.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán thể hiện ở các quy định về
phiên tòa sơ thẩm dân sự
56
Ch-ơng 3: Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự và một số kiến nghị
63
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
63
Trang 53.1.1 Thẩm phán với việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản của
luật tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
3.1.4 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc thực
hiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
75
3.1.4.1 Nguyên nhân chủ quan 75 3.1.4.2 Nguyên nhân khách quan 77 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về địa
vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự
79
3.2.1 Cải cách t- pháp và vấn đề hoàn thiện các quy định pháp
luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán
79
3.2.2 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật 81 3.2.2.1 Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự 81 3.2.2.2 Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 84 3.2.3 Kiến nghị về các biện pháp bảo đảm thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán
87
danh mục tài liệu tham khảo 93
Trang 6Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020 đã xác định xét xử là trọng tâm của hoạt
động t- pháp và Tòa án có vị trí trung tâm trong hệ thống t- pháp Theo tinh thần và nội dung của nghị quyết nói trên, trọng tâm của cải cách t- pháp là cải cách hệ thống Tòa án, và do đó, nói đến cải cách t- pháp không thể không đề cập đến việc đổi mới hoạt động của Thẩm phán, tr-ớc hết là hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung và trong từng lĩnh vực tố tụng nói riêng, để Thẩm phán thực hiện tốt hơn nhiệm vụ xét xử của mình Nghị quyết số 49-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu:
Xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ời tham gia tố tụng theo h-ớng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh ;
Tăng quyền hạn, trách nhiệm tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để họ chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính
độc lập và chịu trách nhiệm trong hoạt động tố tụng [5]
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về địa
vị pháp lý của Thẩm phán có ý nghĩa cấp thiết trong công cuộc cải cách t- pháp ở n-ớc ta hiện nay
Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau liên quan đến vấn đề địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động
tố tụng (cả trong lĩnh vực tố tụng hình sự và tố tụng dân sự), nh-ng ch-a có công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu sâu và toàn diện
về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự, nhất là đi sâu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn của tố tụng dân sự
Trang 7Trong khi đó, thực tiễn hoạt động tố tụng dân sự hiện nay, đặc biệt là ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, lại đặt ra nhiều vấn đề về địa vị pháp lý của Thẩm phán nh-: tính độc lập của Thẩm phán khi xét xử ch-a đ-ợc bảo
đảm, sự bất cập trong áp dụng nguyên tắc xét xử tập thể và nguyên tắc xét xử
có Hội thẩm nhân dân tham gia, khiếm khuyết trong các quy định pháp luật về tranh tụng trong tố tụng dân sự và tính hình thức trong việc thực hiện tranh tụng trên thực tế v.v…
Thực tiễn đòi hỏi phải làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và nhất là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm - giai đoạn cú vị trí rất quan trọng trong toàn bộ quá trình tố tụng và thể hiện tập trung các quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán; đồng thời thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu phải có sự phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực trạng áp dụng các quy định này, từ đó đ-a ra đ-ợc giải pháp khắc phục những bất cập, thiếu sót và tiếp tục hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay" có ý nghĩa cả
về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nếu nh- trong khoa học luật tố tụng hình sự đã có một số công trình nghiên cứu sâu về vai trò, địa vị pháp lý của Thẩm phán, thì trong khoa học luật tố tụng dân sự có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhất là nghiên cứu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn tố tụng nh- giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Có thể nói, đến nay, ở Việt Nam, ch-a có công trình nghiên cứu chuyên sâu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tuy nhiên, cũng đã có những công trình liên quan đến đề tài luận văn ở các
Trang 8mức độ khác nhau Có thể kể đến các công trình nghiên cứu về cải cách t- pháp nh-: Đề tài KX04.06 thuộc Ch-ơng trình khoa học xã hội cấp nhà n-ớc
KX.04 giai đoạn 2001-2005 "Cải cách các cơ quan t- pháp, hoàn thiện hệ
thống các thủ tục t- pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" do TS Uông
Chu L-u làm Chủ nhiệm đề tài (nghiệm thu năm 2006); sách chuyên khảo
"Cải cách t- pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà n-ớc pháp quyền"
do PGS.TSKH Lê Cảm và TS Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội (2004); sách chuyên khảo "Thể chế t- pháp trong nhà n-ớc
pháp quyền" do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên, Nxb T- pháp, Hà Nội
(2004) và một số công trình khác
Trong các công trình nghiên cứu chuyên khảo về luật tố tụng dân sự, cũng có một số công trình đề cập đến vai trò, địa vị pháp lý của Thẩm phán
Đó là: sách chuyên khảo "Xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự – những vấn đề lý
luận và thực tiễn" của TS Phan Hữu Th-, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
(2001); Đề tài khoa học cấp Bộ "Những quan điểm cơ bản về Bộ luật Tố tụng
dân sự Việt Nam" do PGS.TS Hà Thị Mai Hiên chủ trì (2001); sách chuyên
khảo "Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực
tiễn áp dụng" của TS Lê Thu Hà, Nxb T- pháp, Hà Nội (2006)
Ngoài ra, có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành nghiên cứu một số khía cạnh về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn
của Thẩm phán trong tố tụng dân sự, nh-: "Vai trò của Thẩm phán đối với
việc mở rộng tranh tụng trong các vụ án dân sự" của tác giả T-ởng Duy
L-ợng đăng trên Thông tin khoa học pháp lý, số 2/2004, "Cơ quan tiến hành
tố tụng và ng-ời tiến hành tố tụng" của ThS Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí
Luật học, số 4/2004
Trong điều kiện xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là khi thực hiện Chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020, vấn đề địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cần đ-ợc
Trang 9làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận và thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự, đáp ứng yêu cầu của cải cách t- pháp đối với việc nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Làm rõ một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự, đáp ứng yêu cầu cải
cách t- pháp
* Nhiệm vụ
- Phân tích cơ sở nhận thức và cơ sở thực tiễn của việc quy định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng các quy định đó
- Đ-a ra một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự tr-ớc yêu cầu cải cách t- pháp ở Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn của tố tụng dân sự - giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam hiện nay
5 Ph-ơng pháp luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
Đề tài đ-ợc nghiên cứu dựa trên cơ sở ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách t- pháp
Trang 10Các ph-ơng pháp nghiên cứu cụ thể đ-ợc sử dụng trong luận văn là ph-ơng pháp hệ thống, ph-ơng pháp phân tích - tổng hợp, ph-ơng pháp lịch sử -
cụ thể, ph-ơng pháp luật học so sánh
6 Điểm mới của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu sâu về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong một giai đoạn của tố tụng dân sự - giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự
- Luận văn đã đ-a ra đ-ợc khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong
tố tụng dân sự; chỉ ra và phân tích các yếu tố quy định và chi phối việc xác
định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; nêu bật sự khác biệt giữa hai mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng
về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Luận văn đã phân tích, làm rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thể hiện trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, chỉ ra những điểm tiến bộ so với các quy định tr-ớc đây
và những điểm còn bất cập Luận văn cũng đ-a ra những đánh giá, nhận định khách quan về thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, chỉ rõ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của chúng
- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đ-a ra đ-ợc những kiến nghị cụ thể về hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đáp ứng yêu cầu cải cách t- pháp, bao gồm các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật cũng nh- về các biện pháp bảo đảm cho Thẩm phán thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình
7 ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể đ-ợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật về Thẩm phán, góp phần nâng cao chất l-ợng xét xử của Tòa án
Trang 11Luận văn cũng có thể đ-ợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập các môn học nh- Tổ chức hệ thống t- pháp, Luật tố tụng dân sự v.v… tại các cơ sở đào tạo luật
8 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Ch-ơng 2: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Ch-ơng 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và một số kiến nghị
Trang 12Ch-ơng 1
Một số vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1 Quan niệm về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
1.1.1 Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng
Quyền lực nhà n-ớc xét về bản chất là một chỉnh thể thống nhất giữa
ba quyền: lập pháp, hành pháp và t- pháp Sự phân chia quyền lực nhà n-ớc thành ba quyền nói trên không phải là sản phẩm chủ quan, duy ý chí của con ng-ời, mà bắt nguồn từ nhu cầu khách quan của việc đảm bảo cho quyền lực nhà n-ớc vận hành một cách suôn sẻ và có hiệu lực, hiệu quả Với hoạt động lập pháp và hành pháp, Nhà n-ớc ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức theo một trật tự do pháp luật xác lập Tuy nhiên, nếu chỉ ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật thì ch-a đủ để đ-a xã hội vào trạng thái ổn định và phát triển Trong xã hội luôn luôn phát sinh các tranh chấp, các vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà n-ớc, xâm phạm trật tự pháp luật, do vậy cần phải có một ph-ơng diện hoạt động thứ ba của quyền lực nhà n-ớc, đó là t- pháp với chức năng bảo vệ pháp luật
Ph-ơng thức đặc thù thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật của t- pháp
là tài phán, tức là đối chiếu các hành vi, các tranh chấp cụ thể với các chuẩn mực pháp luật để đánh giá, phán xét tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi hoặc bản chất của tranh chấp, từ đó đ-a ra một phán quyết mang tính bắt buộc nhân danh nhà n-ớc Với việc phán quyết đó đ-ợc công bố và thi hành, các chuẩn mực pháp luật đ-ợc bảo vệ, quyền và lợi ích bị xâm phạm đ-ợc khôi phục, công lý đ-ợc duy trì
Trang 13Trong các xã hội tiền t- bản, quyền lực nhà n-ớc tập trung chủ yếu trong tay nhà vua Vua là chủ thể nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và t- pháp; vua đích thân xét xử các tranh chấp trong nhân dân, trực tiếp trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật Cùng với sự phát triển của xã hội, do nhu cầu phân công giải quyết các công việc của nhà n-ớc, vua đã chuyển một phần quyền t- pháp cho quan lại từ trung -ơng xuống địa ph-ơng thực hiện; tuy nhiên, các quan lại đó đồng thời cũng là những quan lại hành chính Nh- vậy, quyền t- pháp ch-a đ-ợc tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Trong thời kỳ cách mạng t- sản, một số học giả mà tiêu biểu là Môngtexkiơ
đã đề ra t- t-ởng phân chia quyền lực, trong đó tách quyền t- pháp ra khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp, thành lập một hệ thống cơ quan độc lập thực hiện quyền t- pháp - đó là Tòa án Tòa án không chỉ là một cơ quan nhà n-ớc thông th-ờng, mà còn là biểu t-ợng của công lý, của lẽ phải, đáp ứng
đ-ợc nguyện vọng của ng-ời dân
Khi đã có một hệ thống Tòa án chuyên thực hiện chức năng xét xử, thì phải có một đội ngũ những ng-ời chuyên làm nhiệm vụ xét xử, tách biệt với những ng-ời làm việc trong bộ máy hành chính Đó chính là Thẩm phán
Nh- vậy, Thẩm phán là một nhân viên của nhà n-ớc chuyên làm nhiệm
vụ xét xử, hay nói cách khác, xét xử là hoạt động mang tính nghề nghiệp của
Thẩm phán
Trên thực tế, để Tòa án có thể thực hành quyền xét xử, quá trình thực hiện quyền t- pháp phải trải qua rất nhiều khâu đoạn với nhiều loại hoạt động do các cơ quan khác nhau tiến hành đ-ợc gọi chung là hoạt động tố tụng [38, tr 29]
Ví dụ, trong tố tụng hình sự, bên cạnh Tòa án thực hiện chức năng xét xử còn
có cơ quan điều tra, cơ quan công tố thực hiện chức năng buộc tội Nh-ng dù trong lĩnh vực tố tụng nào (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự hay tố tụng hành chính), hoạt động xét xử cũng là trung tâm của toàn bộ quá trình tố tụng, vì chỉ thông qua hoạt động xét xử mới ra đ-ợc phán quyết mang tính quyền lực
Trang 14nhà n-ớc về tính hợp pháp, đúng đắn của hành vi, hay về bản chất của tranh chấp và trách nhiệm của các bên tranh chấp
Do xét xử là trung tâm của quá trình tố tụng, nên trong lĩnh vực tố
tụng hình sự, tố tụng dân sự hay tố tụng hành chính, Thẩm phán đều đóng vai
trò là ng-ời tiến hành tố tụng trung tâm (trong t-ơng quan với những ng-ời
tiến hành tố tụng khác) Hoạt động tố tụng của Thẩm phán góp phần quan trọng vào việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể và duy trì trật tự pháp luật Mỗi phán quyết của Thẩm phán đều có thể ảnh h-ởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức, vì vậy ng-ời dân chờ đợi ở Thẩm phán sự công minh, sáng suốt của những ng-ời cầm cân nảy mực, đại diện cho công lý, lẽ phải
1.1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong khoa học luật tố tụng dân sự
Do Thẩm phán là ng-ời tiến hành tố tụng trung tâm, nên khi đặt vấn
đề cải cách t- pháp thì không thể không nói đến việc đổi mới chính hoạt động của Thẩm phán, cụ thể là phải xác định rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung và trong từng loại tố tụng nói riêng, đồng thời xác
định một cơ chế tổ chức khoa học, hợp lý để Thẩm phán thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình
Vậy địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự đ-ợc hiểu nh- thế nào? Tr-ớc hết, cần làm rõ khái niệm địa vị pháp lý Theo quan niệm chung,
địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể khác trên cơ sở các quy định pháp luật; địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng nh- giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [62, tr 244] Nh-
Trang 15vậy, "địa vị pháp lý" khác với "địa vị xã hội" ở chỗ nó đ-ợc pháp luật quy định
và nó biểu hiện ở các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể
Vận dụng khái niệm trên vào lĩnh vực tố tụng dân sự, thì địa vị pháp lý
của Thẩm phán trong tố tụng dân sự đ-ợc hiểu là tổng thể các quyền và nghĩa
vụ tố tụng của Thẩm phán phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Trong đó, các quyền
tố tụng của Thẩm phán là phạm vi những việc mà Thẩm phán đ-ợc quyền quyết
định, thực hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, còn các nghĩa vụ
tố tụng của Thẩm phán đ-ợc hiểu là những việc mà Thẩm phán phải thực hiện trong thời hạn nhất định, nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đ-ợc nhanh chóng, chính xác, khách quan Quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán luôn đi liền với trách nhiệm Xét xử là hoạt động mang tính quyết định, mỗi phán quyết
đều ảnh h-ởng trực tiếp tới quyền lợi của đ-ơng sự Do đó, việc xác định trách nhiệm của Thẩm phán gắn liền với quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong tố tụng dân sự là rất cần thiết
Thẩm phán không chỉ là chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng mà còn
là chủ thể của nhiều loại quan hệ pháp luật khác nh- quan hệ pháp luật hành chính (ví dụ: Thẩm phán phải chịu sự quản lý, điều hành về mặt tổ chức của ng-ời đứng đầu cơ quan Tòa án nơi mình công tác và chịu sự quản lý của lãnh
đạo ngành Tòa án) Vì vậy, ngoài pháp luật tố tụng, hành vi của Thẩm phán chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau Nh-ng nói đến địa
vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự là chỉ nói đến các quyền và
nghĩa vụ mang tính chất tố tụng của Thẩm phán với t- cách là một ng-ời tiến
hành tố tụng dân sự, phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự Các quyền và nghĩa vụ này tr-ớc hết đ-ợc quy định bởi Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án, tiếp đó là Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản h-ớng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan khác
Trang 16Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, tức là trong một giai đoạn của tố tụng dân sự Tố tụng dân sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, trong đó, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn mà vụ án dân sự
đ-ợc xem xét, giải quyết lần đầu Giai đoạn này thể hiện tập trung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và cũng là giai đoạn thể hiện tập trung quyền và nghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
1.2 Các yếu tố quy định và chi phối việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự nói chung, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói riêng chịu sự quy định
và chi phối của nhiều yếu tố khác nhau và ở các cấp độ khác nhau, nh-: quan niệm về quyền t- pháp, đặc thù của hoạt động xét xử, đặc điểm của tố tụng dân sự và tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Sự tác động của các yếu tố nói trên dẫn đến sự khác biệt giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán với địa vị pháp lý của những ng-ời tiến hành tố tụng khác; giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự và tố tụng dân
sự, giữa địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm với các giai đoạn tố tụng khác Các yếu tố này cũng tạo nên sự khác biệt về địa vị pháp lý của Thẩm phán ở các quốc gia, các hệ thống pháp luật khác nhau
1.2.1 Quan niệm về quyền t- pháp
Thẩm phỏn là người thực hiện chức năng xột xử - chức năng cơ bản của Toà ỏn, vỡ vậy địa vị phỏp lý của Thẩm phỏn gắn liền với địa vị phỏp lý của Toà ỏn, với vị trớ của Toà ỏn trong bộ mỏy nhà nước, mà vị trớ này bị quy định và chi phối bởi cỏch thức tổ chức quyền lực nhà nước và quan niệm về quyền tư phỏp ở mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ khỏc nhau
Trang 17Về bản chất, quyền lực nhà nước là một chỉnh thể thống nhất giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng về phương diện tổ chức quyền lực thì có hai phương thức khác nhau: tập quyền và phân quyền Phương thức phân quyền khá phổ biến ở các nhà nước tư sản, dựa trên học thuyết phân chia quyền lực của Môngtexkiơ Theo học thuyết này, tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, quyền hành pháp và đồng nghĩa với quyền xét
xử (tài phán) do Toà án thực hiện Trong khi đó, phương thức tập quyền khá phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; còn hiện nay theo quan niệm
về tổ chức quyền lực ở các nước này thì quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; trong đó quyền tư pháp không chỉ thuộc
về Toà án mà còn được giao cho một số cơ quan bảo vệ pháp luật khác
Ở Việt Nam, quan niệm về quyền tư pháp và cơ quan tư pháp có sự
thay đổi qua các thời kỳ lịch sử Hiến pháp năm 1946 và các văn bản pháp
luật ban hành trong giai đoạn 1946-1959 sử dụng thuật ngữ "cơ quan tư pháp"
để chỉ các Toà án Tuy nhiên, trong thời gian này, hoạt động của Toà án không chỉ là hoạt động xét xử (do Thẩm phán xét xử - "Thẩm phán ngồi" thực hiện) mà còn gồm hoạt động điều tra và hoạt động công tố do công tố viên thuộc Toà án thực hiện (Thẩm phán buộc tội – "Thẩm phán đứng") Nhưng từ Hiến pháp 1959, cụm từ "cơ quan tư pháp" không còn được sử dụng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước với ý nghĩa là các Toà án Từ năm 1981, ngành Tư pháp được thành lập lại từ trung ương đến các địa phương (Bộ Tư pháp, Sở, Phòng Tư pháp ) nhưng đó là các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp làm chức năng quản lý nhà nước về công tác tư pháp
Thuật ngữ "quyền tư pháp" lần đầu tiên được ghi nhận tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, với việc khẳng định "Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyềnđó" Các văn kiện của Đảng tiếp đó như Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII,
Trang 18Nghị quyết Trung ương 3 khoỏ VIII đó từng bước hoàn thiện nguyờn tắc tổ chức quyền lực nhà nước núi trờn, và đến Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đó khẳng định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, cú sự phõn cụng và phối hợp giữa cỏc cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cỏc quyền lập phỏp, hành phỏp và tư phỏp" Nguyờn tắc này được thể chế hoỏ tại Điều 2 Hiến phỏp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Tuy nhiờn, cho đến nay, chưa cú văn bản phỏp luật nào của Nhà nước xỏc định rừ cỏc cơ quan thực hiện quyền tư phỏp là những cơ quan nào Cũn trong cỏc nghị quyết của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ mỏy nhà nước, cỏc cụm từ "cơ quan bảo vệ phỏp luật" và "cơ quan tư phỏp" dường như cú thể được dựng thay thế nhau và cú phạm vi khỏ rộng
Quyền tư phỏp theo quan niệm phổ biến ở nước ta hiện nay được hiểu
là lĩnh vực quyền lực nhà nước được thực hiện thụng qua hoạt động xột xử của Tũa ỏn và hoạt động của cỏc cơ quan nhà nước hoặc cỏc tổ chức khỏc trực tiếp liờn quan đến hoạt động xột xử của Tũa ỏn, nhằm bảo vệ chế độ xó hội chủ nghĩa, phỏp chế, trật tự phỏp luật, quyền và lợi ớch hợp phỏp của cụng dõn, lợi ớch của Nhà nước và xó hội Vỡ vậy, cơ quan tư phỏp bao gồm: Tũa ỏn nhõn dõn, Viện kiểm sỏt nhõn dõn, cỏc cơ quan điều tra và cỏc cơ quan, tổ chức tư phỏp bổ trợ như: luật sư, cụng chứng, giỏm định , trong đó, Toà án là trung tâm của hệ thống t- pháp Quan điểm này đã đ-ợc thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020 Cũng chỉ đến gần đây, quan niệm Toà án là trung tâm trong các cơ quan t- pháp mới chính thức đ-ợc thừa nhận ở Việt Nam Tr-ớc
đây, theo nhận thức chung, Toà án đ-ợc coi là một trong những cơ quan bảo
vệ pháp luật, cùng ở vị trí bình đẳng với các chủ thể tiến hành tố tụng khác nh- cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Thậm chí, khi giao cho một cơ quan t- pháp khác kiểm sát hoạt động xét xử của Toà án thì vô hình trung Toà án lại
bị đặt vào một vị trí thứ yếu trong số các cơ quan thuộc hệ thống t- pháp Hơn nữa, khi Toà án bị đặt ngang hàng với các cơ quan khác trong quan hệ tố tụng,
Trang 19các quy định của pháp luật về cơ chế phối hợp đã làm giảm đi vị trí, vai trò của Toà án trong bộ máy nhà n-ớc và giảm cả tính độc lập trong xét xử của Thẩm phán
Nh- vậy, cách thức tổ chức quyền lực và quan niệm về quyền t- pháp
có tác động rõ rệt đến việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt
động tố tụng Điều này cho thấy việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉ đơn thuần là sửa đổi, bổ sung một số điều luật cụ thể, mà nó liên quan đến việc cải cách toàn bộ hệ thống t- pháp Nếu quan niệm xét xử là trọng tâm của hoạt động t- pháp và Tòa án là trung tâm của hệ thống t- pháp nh- ở Việt Nam hiện nay thì phải xác định đúng và rõ hơn địa vị pháp lý của Thẩm phán với t- cách là ng-ời tiến hành tố tụng trung tâm trong hoạt động tố tụng
1.2.2 Đặc thù của hoạt động xét xử
Hoạt động xét xử của Tòa án mang tính đặc thù so với hoạt động của các cơ quan nhà n-ớc khác, do đó địa vị pháp lý của Thẩm phán có sự khác biệt rõ nét với địa vị pháp lý của các cán bộ, công chức nhà n-ớc thông th-ờng
và của những ng-ời tiến hành tố tụng không làm nhiệm vụ xét xử Tính đặc thù của hoạt động xét xử biểu hiện ở những điểm sau đây:
- Tính đặc thù trong áp dụng pháp luật
Xét xử là quá trình áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các tranh chấp, xét xử các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể [56, tr 24-25] Hoạt động xét xử bao gồm hai nội dung chính: nội dung thứ nhất là trên cơ sở các chứng
cứ, Tòa án phải khẳng định sự tồn tại hoặc không tồn tại của những sự kiện pháp lý, những tình tiết có ý nghĩa nhất định đối với quyền và nghĩa vụ của các bên; nội dung thứ hai là sau khi đã khẳng định sự tồn tại của các sự kiện thực tế thì Tòa án phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật cụ thể để đ-a ra những đánh giá pháp lý về các sự kiện thực tế đó: các sự kiện này có dấu hiệu phù hợp với nội dung của quy phạm pháp luật nào và chúng chịu sự điều chỉnh
Trang 20của quy phạm pháp luật nào? Nói một cách khái quát, hoạt động xét xử tr-ớc hết đó là việc tìm kiếm, xác định và minh định cho sự kiện xảy ra và trên cơ
sở đó Tòa án phải đ-a ra đ-ợc những đánh giá pháp lý cho các sự kiện đó Nh- vậy, xét xử là một hoạt động áp dụng pháp luật nh-ng mang đầy tính sáng tạo, đòi hỏi t- duy ở trình độ cao của Thẩm phán và một "niềm tin nội tâm" có cơ sở khoa học và thực tiễn
Ph-ơng pháp áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử là ph-ơng pháp tranh tụng công khai, bình đẳng giữa các bên liên quan, Tòa án phán quyết trên cơ sở các chứng cứ khách quan [36, tr 27] Đây là điểm khác biệt căn bản với hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan hành chính nhà n-ớc (đ-ợc thực hiện theo ph-ơng pháp quyền uy- phục tùng, việc ra quyết định áp dụng pháp luật không phụ thuộc vào ý kiến của đối t-ợng bị áp dụng)
Hoạt động xét xử có thể dẫn đến kết quả là các cá nhân, tổ chức đ-ợc h-ởng các quyền và lợi ích hoặc gánh chịu các nghĩa vụ nhất định Thông qua hoạt động xét xử mà pháp luật tác động đến các quan hệ xã hội Đây không phải là ph-ơng tiện duy nhất nh-ng lại là chủ yếu nhất trong việc giải quyết xung đột, tranh chấp trong xã hội nhằm đ-a xã hội vào trạng thái ổn định để phát triển
- Tính độc lập trong xét xử
Độc lập xét xử là nguyên tắc chủ đạo trong hoạt động nghề nghiệp của Thẩm phán Không có hoạt động nào lại đòi hỏi sự độc lập ở mức độ cao nh- hoạt động xét xử Bởi vì "thiên chức hàng đầu của hệ thống t- pháp, của Tòa
án là áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm sự bình đẳng và khách quan Sự độc lập của Tòa án khi xét xử chính là điều kiện không thể thiếu đ-ợc của việc thực hiện yêu cầu đó" [60, tr 52] Vì vậy, có thể đồng tình với nhận định rằng:
"xét cho cùng thì bản chất đặc tr-ng không thể thiếu đ-ợc của hoạt động xét
xử là độc lập" [29, tr 12] Các quy định pháp luật phải đảm bảo cho Thẩm phán có một địa vị pháp lý độc lập ở mức tối đa
Trang 21Độc lập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của Thẩm phán Khi xét xử, Thẩm phán không bị lệ thuộc vào ý kiến của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào,
mà tự mình xem xét, đánh giá các tình tiết của vụ án, các chứng cứ đã đ-ợc thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào các quy định của pháp luật để phán quyết Thẩm phán không những độc lập với sự can thiệp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức bên ngoài Tòa án mà còn độc lập với chính sự can thiệp của cá nhân hay tổ chức trong nội bộ Tòa án Có thể nói Thẩm phán độc lập đến mức nào thì phán quyết sẽ đúng đắn đến chừng ấy
Tuy nhiên, độc lập của Thẩm phán không có nghĩa là thoát ly khỏi các yếu tố ràng buộc, dẫn đến tùy tiện, mà là độc lập trong khuôn khổ của pháp luật, độc lập nh-ng phải tuân theo pháp luật Giữa "độc lập" và "chỉ tuân theo pháp luật" có mối quan hệ biện chứng với nhau, "chỉ tuân theo pháp luật" chính là giới hạn, phạm vi, khuôn khổ của sự độc lập "Độc lập" là điều kiện cần, còn "chỉ tuân theo pháp luật" là điều kiện đủ, là cái bảo đảm cho Thẩm phán thực hiện đúng đắn, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình C Mác
đã từng khẳng định về tính độc lập của Thẩm phán: "Đối với Thẩm phán thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp Thẩm phán có trách nhiệm giải thích luật pháp trong việc vận dụng vào từng tr-ờng hợp cá biệt, đúng nh- ông
ta hiểu luật pháp khi xem xét nó một cách có l-ơng tri" [trích theo 38, tr 60] Trong xét xử, ng-ời Thẩm phán phải biết v-ợt lên trên tất cả sự tác động từ nhiều phía và v-ợt lên trên cả chính mình để "chỉ tuân theo pháp luật" Trong hoạt động tố tụng có nhiều chủ thể khác nhau, nh-ng chỉ có Thẩm phán là ng-ời đ-ợc pháp luật giao nhiệm vụ xét xử một cách chuyên nghiệp, là ng-ời
có điều kiện và khả năng đầy đủ nhất để xác minh, kiểm chứng toàn bộ các chứng cứ, tình tiết của vụ án và xem xét, đánh giá một cách toàn diện bản chất pháp lý của các sự kiện, hành vi và đ-a ra phán quyết Vì vậy, yêu cầu lớn nhất đặt ra là phải dành cho Thẩm phán một môi tr-ờng không có bất kỳ sự can thiệp nào ngoài sự chỉ đạo của pháp luật và niềm tin nội tâm để đánh giá, phán xét toàn bộ các tình tiết của vụ án, vận dụng pháp luật để đi đến một phán quyết nhân danh nhà n-ớc Tính độc lập vừa là đặc thù, vừa là yêu cầu
Trang 22của hoạt động xét xử Nếu ng-ời Thẩm phán độc lập và có năng lực thì có thể
"sửa chữa" đ-ợc những khiếm khuyết của một đạo luật tồi, nh-ng nếu ng-ời Thẩm phán không có năng lực, trách nhiệm, l-ơng tâm và sự độc lập cần thiết thì một đạo luật dù tốt đến đâu cũng có thể không bảo đảm đ-ợc mục đích ban
đầu của nó [29, tr 7]
Địa vị pháp lý độc lập không phải là một đặc quyền của Thẩm phán, vì lợi ích của Thẩm phán mà thực chất đó là công cụ cơ bản để bảo đảm công lý, bảo đảm quyền đ-ợc xét xử công bằng của ng-ời dân Chính hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của các Thẩm phán nhằm mục đích bảo đảm quyền con ng-ời của mọi công dân, quyền bình đẳng của con ng-ời tr-ớc pháp luật [28, tr 22]
- Tính quyền lực nhà n-ớc và tính hiệu lực tuyệt đối của các bản án,
quyết định của Tòa án
Hoạt động xét xử là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà n-ớc
do Tòa án nhân danh Nhà n-ớc thực hiện theo trình tự tố tụng do Luật điều chỉnh [42, tr 44] Đây là sự khác biệt cơ bản giữa hoạt động xét xử của Tòa án
và hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài Giống nh- Tòa án, trọng tài khi giải quyết một tranh chấp giữa các bên trên cơ sở có thỏa thuận trọng tài cũng phải áp dụng pháp luật vào từng tr-ờng hợp cụ thể Nh-ng dấu hiệu đặc tr-ng phân biệt hoạt động xét xử của Tòa án với hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài là dấu hiệu về tính quyền lực của chủ thể thực hiện hoạt
động đó Phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà n-ớc chứ không phải là phán quyết của một Tòa án cụ thể nào đó, càng không phải là phán quyết của một cá nhân trong Tòa án Phán quyết này thể hiện trực tiếp thái độ của Nhà n-ớc
đối với các vụ án cụ thể Thái độ ấy chỉ căn cứ vào pháp luật, áp dụng phù hợp với từng vụ án cụ thể để xác định trách nhiệm pháp lý, đ-a ra chế tài thích hợp cho từng tr-ờng hợp cụ thể
Trong quá trình xét xử, Thẩm phán có quyền ra các quyết định có tính chất bắt buộc thi hành đối với những ng-ời tham gia tố tụng, ví dụ: khi xét xử
Trang 23các vụ án dân sự, Thẩm phán có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đ-ơng sự, quyết
định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự… Bản án, quyết định của Tòa án do Hội đồng xét xử tuyên nhân danh Nhà n-ớc và bản án, quyết
định đó khi đã có hiệu lực pháp luật phải đ-ợc các cơ quan nhà n-ớc, tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh Bản án, quyết
định này chỉ bị xem xét lại theo một trình tự tố tụng nghiêm ngặt và chỉ có thể
bị hủy bỏ bởi một bản án khác nhân danh Nhà n-ớc
1.2.3 Đặc điểm của tố tụng dân sự
Quan niệm về quyền t- pháp và đặc thù của hoạt động xét xử là những yếu tố quy định, chi phối việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung, bao gồm cả tố tụng hình sự, tố tụng hành chính
và tố tụng dân sự Mỗi loại tố tụng lại có những đặc điểm riêng ảnh h-ởng đến việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong từng loại tố tụng
Tố tụng dân sự có những đặc điểm cơ bản sau đây quy định địa vị pháp lý của Thẩm phán:
Thứ nhất, các đ-ơng sự trong tố tụng dân sự có quyền tự định đoạt
Đây là một điểm đặc tr-ng của tố tụng dân sự, thể hiện sự khác biệt cơ bản giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Quyền tự định đoạt của các đ-ơng
sự trong tố tụng dân sự mang tính khách quan, xuất phát từ quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ dân sự Các quan hệ dân sự là những quan hệ diễn ra trong đời sống dân sự của xã hội, đ-ợc thiết lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, tự do thỏa thuận giữa các chủ thể có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau Trong quan hệ pháp luật dân sự, các chủ thể có toàn quyền quyết định tham gia hay không tham gia vào quan hệ; quyết định nội dung của quan hệ (các quyền và nghĩa vụ của các bên); quyết định ph-ơng thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó Một khi các chủ thể đã có quyền tự do tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, tự do xác lập các giao dịch dân sự, thì họ cũng có
Trang 24toàn quyền quyết định ph-ơng thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ những giao dịch đó (quyết định có đ-a tranh chấp ra Tòa án hay không, yêu cầu Tòa
án giải quyết những vấn đề gì, quyết định thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu, tự thỏa thuận, hòa giải với nhau v.v ) Nh- vậy, quyền tự định đoạt của các
đ-ơng sự trong tố tụng dân sự là sự phản ánh quyền tự định đoạt của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự [39, tr 38] Tuy nhiên, khác với quyền
tự định đoạt của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự, quyền tự định đoạt của các đ-ơng sự trong tố tụng dân sự đ-ợc thực hiện với sự tham gia của Tòa
án Tòa án và Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án dân sự phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm cho các đ-ơng sự thực hiện đ-ợc quyền tự định
đoạt của mình
Trong tố tụng dân sự, các đ-ơng sự là ng-ời quyết định diễn biến quá trình tố tụng, họ có thể khởi x-ớng quá trình đó (bằng việc khởi kiện vụ án hoặc yêu cầu giải quyết việc dân sự), cũng có thể thay đổi hoặc làm chấm dứt quá trình đó (hòa giải với nhau, rút đơn khởi kiện ) Mọi hoạt động của Thẩm phán trong tố tụng không đ-ợc xâm phạm đến quyền tự định đoạt của đ-ơng
sự, ví dụ: Thẩm phán chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đ-ơng sự; không đ-ợc tự mình điều tra, thu thập chứng cứ hay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trừ những tr-ờng hợp pháp luật quy định; khi tiến hành hòa giải phải tôn trọng sự tự do thỏa thuận của các đ-ơng sự, không
là có căn cứ; hơn nữa, đ-ơng sự là ng-ời trong cuộc nên biết rõ nhất về sự việc
Do đó, đ-ơng sự có điều kiện và động lực cung cấp chứng cứ và chứng minh
Trang 25hơn bất cứ chủ thể nào khác Đây là cũng là điểm khác biệt cơ bản giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự Trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nh-ng không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội Còn trong tố tụng dân sự, đ-ơng
sự nào không chứng minh đ-ợc thì có thể sẽ phải chịu hậu quả bất lợi Thẩm phán về nguyên tắc không tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ mà sẽ phán quyết căn cứ vào chứng cứ do các đ-ơng sự cung cấp, trừ một số tr-ờng hợp ngoại lệ do pháp luật quy định Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các đ-ơng sự đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản, đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự
Thứ ba, tố tụng dân sự mang tính đơn chủ thể tiến hành tố tụng
Đây là một điểm khác biệt nữa giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự
Tố tụng hình sự là tổng hợp những hành vi tố tụng do nhiều cơ quan tiến hành
tố tụng, nhiều ng-ời tiến hành tố tụng thực hiện trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng (tính đa chủ thể tiến hành tố tụng) Đối với thủ tục tố tụng hình sự, Tòa án chỉ là một trong số các cơ quan tiến hành tố tụng Tòa án chỉ tham gia
tố tụng từ khi hồ sơ đ-ợc chuyển đến cho Tòa án, nghĩa là sau khi đã có kết luận điều tra Việc điều tra, truy tố là nhiệm vụ của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ làm nhiệm vụ xét xử và ra quyết định Tr-ớc khi nhận
đ-ợc hồ sơ do cơ quan điều tra chuyển đến, Thẩm phán không tự mình lập bất
cứ một hồ sơ nào về vụ án Vì vậy, trong tố tụng hình sự có nhiều giai đoạn tố tụng độc lập do các cơ quan tố tụng độc lập với nhau tiến hành nh- giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử, thi hành án, giai đoạn tr-ớc là tiền đề, là sự chuẩn bị cho giai đoạn sau và giai đoạn sau vừa thừa h-ởng vừa giám sát kết quả hoạt
động của giai đoạn tr-ớc, mỗi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đều giữ vai trò chủ chốt ở giai đoạn của mình Còn trong tố tụng dân sự, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu và Thẩm phán là ng-ời tiến hành tố tụng chủ yếu, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự Trong tố tụng dân sự cũng hình thành nhiều giai đoạn tố tụng, song các giai
Trang 26đoạn tố tụng này đều do Tòa án tiến hành và vì vậy tính nhiều giai đoạn trong
tố tụng dân sự gắn liền với tính đơn chủ thể và không giống với tính nhiều chủ thể trong tố tụng hình sự [48, tr 88-90]
1.2.4 Tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Trong tố tụng dân sự, giữa các giai đoạn không có ranh giới rõ ràng nh- trong tố tụng hình sự, bởi vì hầu hết các giai đoạn này đều do Tòa án tiến hành Hiện nay ở n-ớc ta có một số quan điểm khác nhau về các giai đoạn của
tố tụng dân sự Có quan điểm cho rằng "tố tụng dân sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau nh- khởi kiện, lập hồ sơ, hòa giải vụ việc dân
sự đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ việc dân sự và xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" [32, tr 21] Quan điểm khác cho rằng
"quá trình giải quyết vụ án dân sự trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau nh- khởi kiện và thụ lý, hòa giải và chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án…, trong đó xét xử sơ thẩm tại phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất của tố tụng dân sự, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của Tòa án" [57, tr 84] Nh- vậy, hai quan điểm trên đều tách hòa giải và chuẩn bị xét xử (lập hồ sơ) ra thành một giai đoạn tố tụng riêng và đồng nhất xét xử sơ thẩm với phiên tòa sơ thẩm
Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa rộng, chuẩn bị xét xử sơ thẩm hay lập
hồ sơ vụ án thực chất là những hoạt động nhằm phục vụ cho việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, vì vậy có thể coi chuẩn bị xét xử cũng nằm trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, giống nh- chuẩn bị xét xử phúc thẩm nằm trong giai đoạn xét xử phúc thẩm chứ không tách ra thành giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm riêng Giữa chuẩn bị xét xử và xét xử có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chuẩn bị xét xử luôn đ-ợc tiến hành tr-ớc hoạt động xét xử, tạo
điều kiện, tiền đề cho việc xét xử đạt kết quả tốt Vì vậy, không cần thiết coi chuẩn bị xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập mà chỉ nên coi đó là một khâu không tách rời của giai đoạn xét xử sơ thẩm Còn hòa giải là hoạt
động do Tòa án tiến hành nhằm giúp các đ-ơng sự thỏa thuận với nhau về việc
Trang 27giải quyết vụ án; hòa giải có thể đ-ợc tiến hành trong suốt quá trình giải quyết
vụ án dân sự nên hòa giải không phải là một giai đoạn của tố tụng dân sự
Từ những lập luận ở trên, có thể phân chia tố tụng dân sự ra thành các giai đoạn sau đây: khởi kiện và thụ lý vụ án, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thi hành án dân sự Nh- vậy, theo cách phân chia này, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự bắt đầu từ khi thụ lý vụ án và kết thúc bằng bản án hay quyết định sơ thẩm
Trong các giai đoạn của tố tụng dân sự, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng Giai đoạn này có những tính chất sau
đây chi phối địa vị pháp lý của Thẩm phán:
Thứ nhất, sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án dân sự, tức là lần đầu tiên vụ
án đ-ợc Tòa án có thẩm quyền đ-a ra xem xét một cách công khai tr-ớc phiên tòa Thông qua xét xử sơ thẩm, lần đầu tiên thái độ, quan điểm của Nhà n-ớc
về vụ án đ-ợc thể hiện một cách chính thức qua các phán quyết của Tòa án Hiện nay, đa số các n-ớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, tức là một vụ án đ-ợc xét xử lần thứ nhất (xét xử sơ thẩm) có thể đ-ợc xem xét lại một lần nữa theo trình tự phúc thẩm; những sai sót (nếu có) ở cấp sơ thẩm sẽ đ-ợc khắc phục ở cấp xét xử thứ hai Nguyên tắc này đ-ợc đặt ra xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tính thận trọng trong các phán quyết của Tòa án, bởi các phán quyết này ảnh h-ởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội
Nh- vậy, xét xử sơ thẩm có sự khác biệt cơ bản với xét xử phúc thẩm
và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Nếu nh- xét xử sơ thẩm là xét xử vụ án lần
đầu tiên (cấp xét xử thứ nhất), thì xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án khi bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm ch-a
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (cấp xét xử thứ hai) Còn giám
đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử, mà là thủ tục đặc biệt nhằm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị
Trang 28do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án, hoặc do
có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án
Một điểm cần l-u ý là thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử không có nghĩa là xem nhẹ cấp xét xử sơ thẩm Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn giải quyết toàn bộ vụ án một cách thực chất; bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm tuy ch-a có hiệu lực pháp luật ngay, nh-ng nếu hết thời hạn pháp luật quy định mà không có kháng cáo, kháng nghị thì sẽ có hiệu lực thi hành
Thứ hai, xét xử sơ thẩm là giai đoạn bắt buộc đối với việc giải quyết
bất kỳ một vụ án dân sự nào, còn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có đ-ợc tiến hành hay không là tùy thuộc vào những căn cứ của các kháng cáo, kháng nghị theo luật định để xác định cần thiết hay không cần thiết việc Tòa án cấp trên mở phiên tòa xem xét lại bản án, quyết định ch-a có hoặc đã có hiệu lực pháp luật Nếu không có xét xử sơ thẩm cũng đồng nghĩa với việc vụ án không đ-ợc đ-a ra xét xử và nh- vậy, đ-ơng nhiên sẽ không có việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Thứ ba, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự chịu sự chi phối tập
trung và mạnh mẽ của hầu hết các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự,
từ những nguyên tắc có tính chất liên ngành đến những nguyên tắc đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự, đặc biệt phải kể đến những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến việc xác lập địa vị pháp lý của Thẩm phán nh- nguyên tắc độc lập xét
xử, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đ-ơng sự, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự Trong số các nguyên tắc này, có những nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình tố tụng với mức độ tác động đồng đều ở tất cả các giai đoạn tố tụng (nh- nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc Tòa án xét
xử tập thể), có nguyên tắc chỉ chi phối giai đoạn xét xử sơ thẩm (nh- nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử), và cũng có những nguyên tắc chi phối toàn bộ quá trình tố tụng nh-ng mức độ tác động đến giai đoạn xét xử sơ
Trang 29thẩm mạnh mẽ hơn, đậm nét hơn so với các giai đoạn khác (nh- nguyên tắc quyền tự định đoạt của đ-ơng sự, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự)
Thứ t-, bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm là kết quả cuối cùng
của hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ời tham gia tố tụng từ khi khởi kiện, thụ lý vụ án, đến lập hồ sơ vụ án, cung cấp, thu thập chứng cứ và hòa giải v.v…, đồng thời là cơ sở để tiến hành các hoạt động xét xử ở các giai đoạn tiếp theo
Thứ năm, chất l-ợng của xét xử sơ thẩm có ảnh h-ởng đến toàn bộ quá
trình tố tụng Nếu xét xử sơ thẩm, đặc biệt là phiên tòa sơ thẩm diễn ra đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, phán quyết của Tòa án đã thấu tình, đạt lý thì
sẽ góp phần hạn chế kháng cáo, kháng nghị, giải quyết đ-ợc dứt điểm tranh chấp giữa các đ-ơng sự, giảm bớt đ-ợc tình trạng quá tải ở cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, vì vậy góp phần ổn định giao l-u dân sự, nâng cao ý thức pháp luật và niềm tin vào công lý ở ng-ời dân Còn ng-ợc lại, nếu chất l-ợng xét xử sơ thẩm không đảm bảo, bản án, quyết định của Tòa án không đúng pháp luật, không đạt yêu cầu, thì không những sẽ làm phát sinh các hoạt động xét xử tiếp theo, gây lãng phí và tốn kém cho cả Nhà n-ớc và nhân dân, mà còn tạo cho ng-ời dân tâm lý không tin t-ởng vào Tòa án
1.3 Mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và những chủ thể khác của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Nh- đã nêu ở mục 1.1.2, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói riêng thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với những chủ thể khác của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Chủ thể của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự rất đa dạng, nh-ng để làm rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, luận văn chỉ đi sâu vào hai nhóm quan hệ tố
Trang 30tụng: quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tiến hành tố tụng khác và quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tham gia tố tụng
1.3.1 Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tiến hành tố tụng khác
Hiện nay, ở Việt Nam có một số quan điểm khác nhau về khái niệm, phạm vi những ng-ời tiến hành tố tụng Có quan điểm cho rằng ng-ời tiến hành tố tụng phải là ng-ời đ-ợc thực hiện những hành vi tố tụng mang tính quyền lực nhà n-ớc có ý nghĩa thúc đẩy tiến trình giải quyết vụ án, và do vậy, chỉ bao gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân [31, tr 167] Quan điểm khác cho rằng ng-ời tiến hành tố tụng dân sự là ng-ời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, bao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Th- ký Tòa án, Viện tr-ởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên, thủ tr-ởng cơ quan thi hành án và chấp hành viên [20, tr 89-90] Còn theo quan
điểm thứ ba (quan điểm đ-ợc thể hiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004), những ng-ời tiến hành tố tụng chỉ bao gồm: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Th- ký Tòa án, Viện tr-ởng Viện kiểm sát, kiểm sát viên Dù là theo quan điểm nào thì Thẩm phán vẫn là ng-ời tiến hành tố tụng không thể thiếu và đóng vai trò trung tâm trong t-ơng quan với những ng-ời tiến hành tố tụng khác Luận văn đi sâu phân tích các quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Chánh án Tòa án cùng cấp, Th- ký Tòa án và Kiểm sát viên
1.3.1.1 Quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (hay bồi thẩm) đều là những ng-ời tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án, nh-ng địa vị pháp lý của họ có nhiều điểm khác nhau Nếu nh- Thẩm phán là cán bộ của Tòa án chuyên làm nhiệm vụ xét xử thì Hội thẩm là đại diện của nhân dân tham gia xét xử, họ không phải là ng-ời xét xử chuyên nghiệp Tùy theo pháp luật mỗi n-ớc mà đại diện nhân dân đóng vai trò khác nhau trong việc phán quyết các
vụ án dân sự ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, thông th-ờng
Trang 31Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ngồi cùng một bàn và họ ngang quyền với nhau khi xét xử cũng nh- khi đ-a ra phán quyết Còn ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, bồi thẩm đoàn ngồi ở vị trí khác với Thẩm phán Chủ tọa và không ngang quyền với Thẩm phán Chẳng hạn, ở Mỹ, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa sẽ h-ớng dẫn bồi thẩm đoàn về luật áp dụng trong vụ kiện (law), còn các bồi thẩm viên sẽ quyết định sự thật của vụ kiện (facts) là nh- thế nào và áp dụng những kiến thức pháp luật do Thẩm phán h-ớng dẫn và ra quyết định về
vụ kiện Nếu quan điểm của bồi thẩm đoàn trái ng-ợc với quan điểm của Thẩm phán (không đúng với sự thật của vụ kiện) thì Thẩm phán không thể nghe theo quyết định của bồi thẩm đoàn để đ-a ra một phán quyết trái ng-ợc với sự thật của vụ kiện Trong tr-ờng hợp này Thẩm phán phải giải thích trong phán quyết của mình lý do đã bác bỏ phán quyết của bồi thẩm đoàn [51, tr 12]
1.3.1.2 Quan hệ giữa Thẩm phán và Chánh án Tòa án cùng cấp
Giữa Thẩm phán và Chánh án trong nội bộ Tòa án tồn tại hai mối quan hệ: một là quan hệ hành chính giữa Chánh án (với vị trí là Thủ tr-ởng cơ quan)
và Thẩm phán (với vị trí là nhân viên), do vậy Thẩm phán làm nhiệm vụ theo
sự phân công của Chánh án; hai là quan hệ tố tụng giữa Chánh án và Thẩm phán do pháp luật tố tụng điều chỉnh Hai mối quan hệ này phải đ-ợc phân
định rõ ràng, tránh hiện t-ợng "hành chính hóa" quan hệ tố tụng giữa Chánh
án và Thẩm phán Đây chính là một bảo đảm cho tính độc lập của Thẩm phán khi xét xử Chánh án khi hành động với t- cách là công chức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý về mặt hành chính trong một cơ quan nhà n-ớc phải có trách nhiệm phân công hợp lý công việc xét xử và tạo điều kiện thuận lợi cho các Thẩm phán độc lập thực hiện và tự chịu trách nhiệm về việc xét xử từng vụ
án cụ thể đã đ-ợc phân công Chánh án không đ-ợc dùng quyền thủ tr-ởng để can thiệp, chỉ đạo Thẩm phán về nội dung, đ-ờng lối xét xử, áp dụng pháp luật của từng vụ án cụ thể mà mình đã phân công cho Thẩm phán chịu trách nhiệm xét xử Chánh án khi hành động với t- cách là một Thẩm phán cũng có các quyền và nghĩa vụ bình đẳng nh- mọi thành viên Hội đồng xét xử
Trang 321.3.1.3 Quan hệ giữa Thẩm phán và Th- ký Tòa án
Th- ký Tòa án là ng-ời tiến hành tố tụng dân sự với chức năng hỗ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án Th- ký giúp Thẩm phán trong quá trình lập
hồ sơ và chuẩn bị xét xử, chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết tr-ớc khi
mở phiên tòa, ghi biên bản phiên tòa Có quan điểm cho rằng chức năng tố tụng của Th- ký Tòa án không thể giới hạn ở hỗ trợ có tính kỹ thuật, vì nhiệm
vụ chính của Th- ký Tòa án là ghi biên bản phiên tòa một cách kịp thời, phản
ánh đầy đủ, trung thực diễn biến của phiên tòa Tính có căn cứ và hợp pháp của bản án trong chừng mực nhất định phụ thuộc vào chất l-ợng của biên bản phiên tòa Tòa án cấp trên kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp d-ới qua nhiều kênh, trong đó có kênh kiểm tra biên bản phiên tòa Th- ký Tòa án là ng-ời ký vào biên bản phiên tòa, không có chữ ký đó thì biên bản không có giá trị [42, tr 48] Tuy nhiên, dù biên bản phiên tòa có tầm quan trọng đến
đâu thì thực chất hoạt động tố tụng của Th- ký Tòa án cũng chỉ là hỗ trợ Thẩm phán và ghi chép trung thực, đầy đủ diễn biến phiên tòa, tạo điều kiện cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử Vì vậy, một yêu cầu cần đ-ợc thực hiện nghiêm túc trong mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và Th- ký Tòa án
là Th- ký không thể làm thay Thẩm phán những công việc mà pháp luật quy
định bắt buộc phải do Thẩm phán thực hiện
1.3.1.4 Quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên
Trên thế giới, phần lớn các quốc gia đều quan niệm rằng vị trí, vai trò của Viện kiểm sát hay Viện công tố trong tố tụng dân sự hạn chế hơn nhiều so với trong tố tụng hình sự Viện Công tố chỉ can thiệp vào quan hệ dân sự khi một bên bị mất năng lực hành vi, hoặc khi mà quyền tự định đoạt của các bên xâm phạm đến lợi ích công hay trật tự pháp luật nhằm bảo vệ những lợi ích và trật tự đó mà thôi [26, tr 494] Khi tham gia tố tụng dân sự, Viện Công tố có
địa vị pháp lý giống nh- đ-ơng sự và quan hệ giữa Thẩm phán và công tố viên (hay kiểm sát viên) t-ơng tự nh- quan hệ giữa Thẩm phán và đ-ơng sự Ví dụ, theo Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga năm 2002, Kiểm sát viên có quyền
Trang 33khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân trong tr-ờng hợp công dân đó không thể tự mình khởi kiện vì lý do sức khỏe, tuổi tác, không có năng lực hành vi hoặc vì những lý do chính đáng khác và khi khởi kiện, Kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ tố tụng nh- nguyên
đơn, trừ quyền hòa giải và nghĩa vụ trả lệ phí (Điều 45) Còn ở các n-ớc thuộc
hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, Viện Công tố hầu nh- không tham gia vào tố tụng dân sự, không có vai trò gì trong tố tụng dân sự, và do đó cũng không đặt
ra vấn đề mối quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và công tố viên
Còn ở Việt Nam, trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát mà đại diện là kiểm sát viên có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân
sự, nhằm phát hiện ra những sai phạm trong quá trình tố tụng, trong đó có những sai sót trong việc xét xử của Thẩm phán để kịp thời yêu cầu sửa chữa, khắc phục Nh- vậy, quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và kiểm sát viên theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam có sự khác biệt cơ bản so với pháp luật tố
tụng dân sự các n-ớc
1.3.2 Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tham gia tố tụng
Những ng-ời tham gia tố tụng tham gia vào hoạt động tố tụng để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của ng-ời khác hoặc hỗ trợ cho việc giải quyết vụ án Quan hệ giữa Thẩm phán với những ng-ời tham gia tố tụng thực chất là quan hệ giữa Tòa án với những ng-ời tham gia tố tụng, trong đó Thẩm phán là ng-ời tiến hành tố tụng đại diện cho Tòa án, quyết định và hành
vi tố tụng của Thẩm phán đ-ợc thực hiện nhân danh Tòa án (trừ bản án nhân danh Nhà n-ớc) Những ng-ời tham gia tố tụng rất đa dạng, bao gồm đ-ơng
sự, ng-ời đại diện của đ-ơng sự, ng-ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đ-ơng sự, ng-ời làm chứng, ng-ời giám định, ng-ời phiên dịch Luận văn đi sâu phân tích quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán với hai chủ thể: đ-ơng sự và ng-ời bảo vệ quyền và lợi ích của đ-ơng sự, bởi hai mối quan hệ này thể hiện
rõ nét nhất địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự
Trang 34Quan hệ giữa Thẩm phán với đ-ơng sự:
Khác với quan hệ pháp luật hành chính (mang tính chất mệnh lệnh – phục tùng), quan hệ tố tụng giữa Thẩm phán và đ-ơng sự chịu sự chi phối mạnh mẽ của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đ-ơng sự và nguyên tắc
đ-ơng sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh - các nguyên tắc đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự Mọi hoạt động tố tụng của Thẩm phán không
đ-ợc xâm phạm đến quyền tự định đoạt của đ-ơng sự Mối quan hệ giữa Thẩm phán và đ-ơng sự có sự biểu hiện khác nhau trong các hệ thống pháp luật khác nhau ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, Thẩm phán
đóng vai trò trọng tài, ra quyết định dựa trên chứng cứ của các bên đ-ơng sự cung cấp chứ không tự mình tìm ra các chứng cứ để làm rõ vụ án, các đ-ơng
sự là những ng-ời chủ động trong toàn bộ quá trình tố tụng; còn ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thì ng-ợc lại Tuy nhiên, dù ở hệ thống pháp luật nào, Thẩm phán đều có quyền ra các quyết định tố tụng và thực hiện các hành vi tố tụng có tính chất bắt buộc đối với đ-ơng sự, đ-ơng sự
có nghĩa vụ phải chấp hành nh-ng có quyền khiếu nại các quyết định và hành
vi đó, ví dụ: quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự…
Quan hệ giữa Thẩm phán với ng-ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đ-ơng sự:
Việc tham gia tố tụng của ng-ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đ-ơng sự (chủ yếu là luật s-) không những có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đ-ơng sự tr-ớc Tòa án mà còn là yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án Khi luật s- của cả hai bên đ-ơng
sự đ-a ra những chứng cứ, lập luận để bảo vệ cho đ-ơng sự của mình thì Thẩm phán sẽ có nhiều cơ sở để cân nhắc và ra một phán quyết công minh, chính xác hơn so với tr-ờng hợp Thẩm phán quyết định mà không lắng nghe sự cọ xát, tranh luận giữa các ý kiến khác nhau
Trang 35Có thể nói trong tố tụng dân sự, vai trò của Thẩm phán và vai trò của luật s- "tỷ lệ nghịch" với nhau Nếu Thẩm phán càng đóng vai trò chủ động trong tố tụng thì vai trò của luật s- càng mờ nhạt, vì khi đó Thẩm phán đã làm thay nhiều công việc của luật s- (nh- xác định các vấn đề cần chứng minh và các chứng cứ cần thu thập, tiến hành thu thập chứng cứ, hỏi đ-ơng sự, ng-ời làm chứng tại phiên tòa…) Các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục
địa có xu h-ớng đề cao vai trò chủ động của Thẩm phán, còn các n-ớc thuộc
hệ thống pháp luật Anh - Mỹ thì ng-ợc lại Có nhiều công việc trong tố tụng dân sự của Mỹ do luật s- hay th- ký tòa án tiến hành thì trong tố tụng dân sự
Đức lại do Thẩm phán thực hiện, ví dụ: cân nhắc lịch làm việc của phiên tòa, bao gồm lệnh xuất trình chứng cứ trực tiếp của các bên và ng-ời làm chứng và xuất trình tài liệu; lấy lời khai các bên và ng-ời làm chứng, các luật s- chỉ thực hiện vai trò xen kẽ; đ-a ra những ghi chép về lời khai của ng-ời làm chứng; h-ớng dẫn việc đối chất giữa các bên) [48, tr 112-113] Tuy nhiên, dù
là hệ thống pháp luật nào thì cũng không thể phủ nhận vai trò của luật s- đối với việc tìm ra sự thật của vụ án và nâng cao chất l-ợng xét xử của Thẩm phán
1.4 Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong các mô hình tố tụng dân sự trên thế giới
Trên thế giới hiện nay, t-ơng ứng với hai hệ thống pháp luật chủ yếu (hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Anh - Mỹ) là hai mô hình tố tụng: tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng Hai mô hình tố tụng này có nhiều điểm khác biệt cơ bản, trong đó có sự khác biệt về vị trí, vai trò,
địa vị pháp lý của Thẩm phán Sự phân biệt giữa hai mô hình tố tụng đ-ợc thể hiện rõ trong tố tụng hình sự; còn trong tố tụng dân sự, có thể nói không có sự phân chia thành các mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng một cách
rõ rệt Tố tụng dân sự trong bản chất của nó đã chứa đựng yếu tố tranh tụng,
bởi tố tụng dân sự là thủ tục giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa các bên đ-ơng sự bình đẳng với nhau về mặt pháp lý Tuy nhiên, vẫn có thể khẳng định rằng, tố tụng dân sự của các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật
Trang 36Anh – Mỹ thiên về khuynh h-ớng tố tụng tranh tụng, còn các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa thiên về khuynh h-ớng tố tụng thẩm vấn Pháp luật tố tụng dân sự của các n-ớc thuộc hai hệ thống này có sự khác biệt
rõ nét về vị trí, vai trò của Thẩm phán
ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, Thẩm phán đóng vai
trò thụ động và có rất ít sự can thiệp vào tiến trình tố tụng dân sự, thể hiện ở
hai điểm cơ bản:
- Thẩm phán không điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án, mà ng-ợc lại, luật s- của các bên đ-ơng sự có vai trò chủ đạo trong việc xác định các vấn đề cần chứng minh và các chứng cứ phải xuất trình tr-ớc Tòa án Tất cả các hoạt động tố tụng tập trung tại phiên tòa (có thể gồm nhiều phiên xử liên tục từ ngày này sang ngày khác), tại đó các bên trực tiếp trình bày miệng các
lý lẽ của mình và xuất trình các chứng cứ Thẩm phán không có trách nhiệm tìm ra sự thật, mà nỗ lực tìm ra sự thật của Thẩm phán chỉ giới hạn ở những lý
Còn ở các n-ớc thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, Thẩm phán
đóng vai trò chủ động trong quá trình tố tụng dân sự, thể hiện ở những điểm
sau đây:
- Thẩm phán là ng-ời có vai trò chủ đạo trong việc làm sáng tỏ nội dung vụ án Tr-ớc khi mở phiên tòa, tất cả các tình tiết, chứng cứ, tài liệu đều
Trang 37đ-ợc Thẩm phán điều tra, thu thập đầy đủ và phản ánh trong hồ sơ vụ án Hoạt
động tố tụng gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau chứ không chỉ tập trung tại phiên tòa
- Tại phiên tòa, Thẩm phán thẩm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của các chứng cứ, tài liệu này và làm rõ thêm các tình tiết của vụ án bằng việc xét hỏi, h-ớng dẫn cho các bên đ-ơng sự tranh luận với nhau Thẩm phán sẽ trực tiếp hỏi nếu lời khai của đ-ơng sự, ng-ời làm chứng có mâu thuẫn Thẩm phán là ng-ời điều khiển phiên tòa, bảo đảm phiên tòa đ-ợc tiến hành theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định [20, tr 462] Mọi hành vi của những ng-ời tiến hành tố tụng và những ng-ời tham gia tố tụng đều chịu sự điều khiển của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các bên muốn đặt câu hỏi cho bên kia hoặc những ng-ời tham gia tố tụng khác đều phải thông qua Chủ tọa phiên tòa Đặc biệt, ở Đức, Thẩm phán có vai trò rất tích cực trong tố tụng dân sự, thậm chí là vai trò "thống trị" Ví dụ: Điều 139 Bộ luật tố tụng dân sự Đức quy
định Thẩm phán Chủ tọa phải xem xét các bên có khai báo đầy đủ về mọi sự thực và có đ-a ra các kiến nghị cụ thể không, đặc biệt là những lời khai không
đầy đủ và phức tạp liên quan tới những sự thực đ-ợc viện dẫn và chỉ ra những chứng cứ Vì mục đích này, nếu cần thiết, Thẩm phán sẽ thảo luận với các bên
về vụ kiện, về các vấn đề, các khía cạnh pháp lý và thực tế của chúng Thẩm phán Chủ tọa phải l-u ý các bên về những nghi ngờ của Tòa án vì nhiệm vụ của Tòa án là phải tính toán tới những điểm thực tế trong kiến nghị của mình
Ông ta phải cho phép từng thành viên của Tòa án hỏi những câu hỏi mà thành viên đó yêu cầu [48, tr 111]
Tuy nhiên, gần đây trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các mô hình tố tụng cũng đang ngày càng xích lại gần nhau, trong mô hình tố tụng này có các yếu tố của mô hình tố tụng kia và ng-ợc lại Theo các chuyên gia về pháp luật tố tụng dân sự thì không bao giờ có một hệ thống hoàn toàn
đề cao Thẩm phán hay hoàn toàn đề cao các bên đ-ơng sự và d-ờng nh- hai
hệ thống này đang nhích lại làm một [51, tr 92] Pháp luật tố tụng dân sự Việt
Trang 38Nam cũng đang phát triển theo xu h-ớng kết hợp cả hai mô hình thẩm vấn và tranh tụng Có thể nói tố tụng dân sự Việt Nam (nhất là tr-ớc khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004) về cơ bản là tố tụng thẩm vấn, trong đó đề cao vai trò tích cực, chủ động của Thẩm phán Tuy nhiên, để phù hợp với xu h-ớng chung của thế giới trong điều kiện hội nhập quốc tế và để đáp ứng yêu cầu cải cách t- pháp, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã có nhiều quy định thể hiện việc mở rộng tranh tụng nh- mở rộng phạm vi quyền tự định đoạt của các đ-ơng sự, quy định đ-ơng sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh, nâng cao vai trò của luật s-, giảm bớt sự can thiệp của Tòa án trong việc thu thập chứng cứ… Xu h-ớng mở rộng tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam kéo theo những thay đổi về địa vị pháp lý của Thẩm phán, đặc biệt là ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Tóm lại, Thẩm phán là ng-ời tiến hành tố tụng trung tâm trong hoạt
động tố tụng và chuyên thực hiện nhiệm vụ xét xử Tổng thể các quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự do pháp luật quy định, thể hiện vị trí của Thẩm phán trong mối quan hệ với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tạo thành địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự Việc xác định địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong tố tụng dân sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự nói riêng chịu sự quy định và chi phối của nhiều yếu tố khác nhau nh- quan niệm về quyền t- pháp, đặc thù của hoạt động xét xử, đặc điểm của tố tụng dân sự và tính chất của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Với những phân tích, lập luận ở ch-ơng 1, có thể thấy rằng, để xác
định rõ địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, pháp luật phải thể hiện đ-ợc một cách rõ ràng, đầy đủ và toàn diện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán cũng nh- các mối quan hệ tố tụng của Thẩm phán trong các nhóm quy định sau đây:
Tr-ớc hết, địa vị pháp lý của Thẩm phán phải đ-ợc thể hiện ở các quy
định về những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự, bao gồm cả những
Trang 39nguyên tắc mang tính chất liên ngành (nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết
định theo đa số) và những nguyên tắc đặc tr-ng của luật tố tụng dân sự (nguyên tắc quyền tự định đoạt của đ-ơng sự, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự)
Thứ hai, địa vị pháp lý của Thẩm phán phải đ-ợc thể hiện ở các quy
định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng dân sự và ngoài ra thể hiện gián tiếp một phần qua các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của những ng-ời tiến hành tố tụng khác
Thứ ba, địa vị pháp lý của Thẩm phán còn phải đ-ợc thể hiện thông
qua các quy định về trình tự tiến hành các khâu của giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự, bao gồm: (a) chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, (b) hoà giải
vụ án dândân sự tr-ớc phiên tòa sơ thẩm và (c) phiên tòa sơ thẩm dân sự
Trang 40Ch-ơng 2
địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
2.1 Khái quát các quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tr-ớc khi ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
Từ năm 1945 đến nay, các quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong tố tụng dân sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng đã ngày càng đ-ợc hoàn thiện hơn và xác định rõ hơn các quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thẩm phán, ghi nhận nhất quán nguyên tắc độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử và từng b-ớc hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản khác của luật tố tụng dân sự nh- nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự v.v… Các quy định về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong
tố tụng dân sự có sự khác biệt trong từng thời kỳ, gắn liền với những thay đổi trong tổ chức hệ thống t- pháp n-ớc ta
Trong thời kỳ 1945 - 1959, địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng
dân sự đ-ợc xác định trong Hiến pháp năm 1946 và các Sắc lệnh về tổ chức hệ thống Tòa án và luật tố tụng Các văn bản pháp luật đầu tiên của n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ghi nhận nguyên tắc độc lập xét xử "khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không đ-ợc phép can thiệp" Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định rõ: "Các Thẩm phán không đ-ợc tự đặt ra luật lệ mà xử đoán" (Điều 83), "Tại phiên tòa Thẩm phán xét xử một mình" (thời kỳ này đã có phụ thẩm nhân dân nh-ng chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự) Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85 về cải cách bộ máy t- pháp và luật tố tụng Theo Sắc lệnh này, Tòa