Trong số di sản văn hóa thời Tây Sơn, hệ thống văn bia thời Tây Sơn nói chung và văn bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng thuộc số những di văn ít ỏi còn sót lại nằm rải rác ở một số địa phươn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ VĂN CƯỜNG
TÌM HIỂU VĂN BIA HẬU
THỜI TÂY SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ VĂN CƯỜNG
TÌM HIỂU VĂN BIA HẬU
THỜI TÂY SƠN
CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM
MÃ SỐ : 60.22.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRỊNH KHẮC MẠNH
HÀ NỘI - 2009
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của luận văn
6 Kết cấu của luận văn
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN VĂN BIA HẬU THỜI TÂY SƠN 1.1 Đôi nét về tình hình chính trị văn hóa xã hội thời Tây Sơn 1.2 Tổng quan văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.2.1 Điểm qua văn bia thời Tây Sơn
1.2.2 Văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.3 Sự phân bố của văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.3.1 Phân bố theo không gian
1.3.2 Phân bố theo thời gian
1.4 Đặc trưng văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.4.1 Hình thức của văn bản bia Hậu thời Tây Sơn
1.4.1.1 Kích thước của văn bia
Trang
04
05
08
08
09
10
13
13
17
17
18
20
21
26
29
29
29
Trang 41.4.1.2 Nghệ thuật điêu khắc trên bia
1.4.1.3 Bố cục của bài văn bia và chữ viết trên bia
1.4.2 Một số vấn đề văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.4.2.1 Một số vấn đề về văn bản
1.4.2.2 Người soạn, người viết và thợ khắc
1.4.2.3 Chữ Nôm và chữ húy trên văn bia
Tiểu kết
Chương 2: GIÁ TRỊ TƯ LIỆU QUA NỘI DUNG VĂN BIA HẬU THỜI TÂY SƠN 2.1 Vấn đề xây dựng, trùng tu công trình công cộng qua tư liệu văn bia Hậu thời Tây Sơn 2.1.1 Xây dựng, trùng tu các công trình văn hoá, tín ngưỡng
2.1.1.1 Xây dựng trùng tu đình
2.1.1.2 Xây dựng trùng tu chùa
2.1.1.3 Xây dựng, trùng tu đền, điện, miếu
2.1.1.4 Xây dựng trùng tu văn chỉ
3.1.2 Xây dựng, trùng tu các công trình phục vụ phát triển kinh tế 2.1.2.1 Xây dựng cầu
2.1.2.2 Đắp đê phòng chống thiên tai
2.1.3 Phong tục, tập quán làng xã
2.1.3.1 Lệ tế thần
2.1.3.2 Lệ mừng tuổi ngày tết, lệ chúc thọ
33
35
37
37
41
48
55
57
57
58
58
63
67
70
71
71
74
75
75
80
Trang 52.1.3.3 Lệ định lập hậu
2.2 Tục lập Hậu trong sinh hoạt tín ngưỡng qua tư liệu văn bia Hậu thời Tây Sơn
2.2.1 Những điều kiện được lập Hậu
2.2.1.1 Trường hợp tự nguyện
2.2.1.2 Trường hợp có điều kiện
2.2.2 Giá trị vật chất và tinh thần trong việc lập Hậu
2.2.3 Thể lệ cúng Hậu
Tiểu kết
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
1 Danh mục văn bia Hậu thời Tây Sơn (xếp theo niên đại)
2 Danh mục tóm tắt văn bia Hậu thời Tây Sơn (xếp theo kí hiệu) 3 Phiên âm, dịch nghĩa 08 văn bia đại diện các dạng lập Hậu 4 Ảnh minh hoạ văn bia Hậu thời Tây Sơn
81
84
84
85
94
104
109
112
114
120
124
125
133
203
244
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, triều Tây Sơn 1802) tồn tại 14 năm với đúng nghĩa là một vương triều Sau này, với chính sách thù địch của nhà Nguyễn - dẫy cỏ tận gốc, không những về con người
(1788-mà còn phá hủy đến cả những di sản văn hóa do nhà Tây Sơn để lại, sách vở, giấy tờ đều bị tiêu hủy Ðiển hình là những tập gia phả họ Võ ở Phú Phong,
họ Bùi ở Xuân Hoà, họ Ðặng ở Dõng Hòa, họ Trần ở Trường Ðịnh v.v Cho đến những bộ sử, những tập thơ văn v.v xuất bản đời Tây Sơn cũng cấm
không được lưu hành, tàng trữ, như bộ Trần triều thông sử cương mục
陳朝通史綱目 của Lê Văn Nhân ở An Nhân, phụng chiếu soạn năm Quang
Trung thứ 4 (1791), bộ Lê triều thực lục 黎朝實錄 do Võ Xuân Hoài tổng tu
dưới triều Cảnh Thịnh soạn v.v , những tập thơ chữ Hán, chữ Nôm của nhóm
Tứ Tài Tử ở Tuy Viễn và Song Hoài Thi Xã ở Bồng Sơn, tập thơ ca văn tế bằng chữ Nôm của La Xuân Kiều ở Phù Cát Ngoài ra, những tư liệu được khắc in trên các chất liệu như: đồng, đá, gỗ v.v cũng cùng chung số phận, số còn lại không nhiều, hoặc không đầy đủ
Trong những năm của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI các nhà nghiên cứu
đã dày công đi sâu tìm hiểu, giới thiệu những tác phẩm của những tác gia nổi tiếng thời Tây Sơn vẫn còn sót lại được lưu truyền trong dân gian Trong đó
đáng kể là những công trình tiêu biểu như: Thơ văn Ninh Tốn Nxb KHXH, H 1984; Thơ Văn Đoàn Nguyễn Tuấn (Hải Ông thi tập 海翁詩集) Nxb KHXH
H 1982; Thơ Văn Phan Huy Ích, Tập I, II, III, Nxb KHXH H 1978; Văn học
Sơn Tây, Sở Văn hóa Thông tin Nghĩa Bình 1986; Thơ văn Nôm thời tây Sơn,
Trang 7Nxb KHXH H 1997; Thơ văn Ngô Thì Nhậm, 5 tập, Nxb KHXH, H
2003-2005 v.v đã được giới thiệu với công chúng bạn đọc hôm nay
Trong số di sản văn hóa thời Tây Sơn, hệ thống văn bia thời Tây Sơn nói chung và văn bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng thuộc số những di văn ít ỏi còn sót lại nằm rải rác ở một số địa phương, phần nào đã được in dập thành các thác bản hiện được bảo quản tại Thư viện - Viện nghiên cứu Hán Nôm Do
đó, cũng cần được tập hợp thành một danh mục riêng về văn bia Hậu thời Tây Sơn có hệ thống và đi sâu nghiên cứu Do tính chất của luận văn nên chúng tôi chưa có tham vọng nghiên cứu cặn kẽ toàn bộ hệ thống văn bia thời Tây Sơn mà chỉ bước đầu tìm hiểu hệ thống văn bia Hậu thời Tây Sơn Đây có thể được coi là những cứ liệu chân xác, những trang sử bằng đá mà may mắn vẫn còn lưu giữ được Qua đó, có thể hiểu thêm phần nào về lịch sử, kiến trúc, phong tục tập quán, văn hoá tín ngưỡng nơi làng xã thời kì này
Với mục đích như vậy, chúng tôi chọn đề tài luận văn: Tìm hiểu văn bia
Hậu thời Tây Sơn
thời tây Sơn, Nxb KHXH H 1997; Thơ văn Ngô Thì Nhậm, 5 tập, Nxb
KHXH, H 2003-2005 v.v , số còn lại chủ yếu là những bài được đăng tải
trên các tạp chí từ những năm 1956 trở lại đây, như: Tạp chí Văn hóa Bình Trị
Thiên số 4, 1986, tác giả Đỗ Bang có bài Những dấu tích thời Tây Sơn; Tạp
Trang 8chí nghiên cứu lịch sử, 1978, No 6 (183), tr 96-112, tác giả Đỗ Văn Ninh có
bài Tiền cổ thời Tây Sơn; Tạp chí Tổ quốc, 1972, số 11, tr 46-47, tác giả Hoa Bằng có bài Mấy nét về xã hội đời Tây Sơn; Tạp chí nghiên cứu lịch sử, 1981
No 2 (197), tr 84-86, 93, tác giả Trần Văn Quý có bài Một số tư liệu thời Tây
Sơn; Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, 1978 No 6 (183) tr 57-75, tác giả Nguyễn
Danh Phiệt có bài Một vài suy nghĩ về phong trào Tây Sơn với sự nghiệp
thống nhất đất nước hồi thế kỉ XVIII ; Tạp chí sông Hương, số 18, tr 73-80,
tác giả Phan Thuận An có bài Phát hiện một văn bản thêu thời Tây Sơn tại
Huế; Nhân dân 1986, số 11729, ngày 17/8, tr 3, tác giả Bùi Quý Lộ, Phạm
Ngọc Yên có bài Chuông Tây Sơn trên đất Tiền Hải v.v Tuy nhiên, chưa có
một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống văn bia Hậu thời Tây Sơn,
có chăng chỉ là những bài viết trên sách hay các tạp chí có đề cập tới những vấn đề về văn bản bia và sơ lược giới thiệu về mảng văn khắc thời Tây Sơn, cũng như một số vấn đề về tập tục lập Hậu ở Việt Nam:
- Trịnh Khắc Mạnh: Một số vấn đề về văn bia Việt Nam, Nxb KHXH,
H 2007, tác giả đưa ra những tiêu chí cụ thể để nhận biết giữa văn bia hiện vật, các bản dập văn bia và các bản sao văn bia, định hướng để xuất bản những tuyển tập văn bia của các thời kì lịch sử khác nhau
- Đinh Khắc Thuân: Đính chính niên đại giả trên một số thác bản văn
bia tại kho bia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nghiên cứu Hán Nôm,
1985, số 2, tr 68-77, tác giả đã đề cập đến vấn đề những tấm bia mang niên đại giả trong đó có một số bia thời Tây Sơn
- Đinh Khắc Thuân: Bia đá chuông đồng thời Tây Sơn, Tạp chí Hán
Nôm, số 6-1989 Trong đó, tác giả đã sơ bộ khảo sát hệ thống thác bản bia đá, chuông đồng thời Tây Sơn chủ yếu dựa vào kho bia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và kho văn khắc của Sở Văn hóa Thông tin Hà
Trang 9Nội Tác giả đã thống kê được 338 bản rập bia và 135 bản rập chuông, chúng được phân bố rải rác ở khắp các địa phương từ Lạng Sơn vào đến cố đô Huế
- Trần Nghĩa: Di văn Tây Sơn trên thủ đô Hà Nội, Tạp chí Hán Nôm, số
1 -1989 Tác giả cũng đã đề cập đến một vài khía cạnh những di văn thời Tây Sơn còn để lại trên mảnh đất thủ đô Hà Nội, như bia đá, chuông đồng, thư tịch…
- Trần Thị Kim Anh: Bia Hậu ở Việt Nam, Tạp chí Hán Nôm, số 3 (64)
- 2004 Tác giả đã đề cập và giới thiệu một cách tổng quan về hệ thống bia Hậu của các thời kì phong kiến Việt Nam, trong đó tác giả đã nhấn mạnh về một số vấn đề có liên quan như: Nguồn gốc, nguyên nhân sự
ra đời của tập tục lập Hậu, đặc trưng bia Hậu của các thời kì v.v Đặc biệt là hai thời kì, Lê và Nguyễn
- Nguyễn Minh Tuân: Khảo lược bia Hậu huyện Yên Phong - Hà Bắc -
Khoá luận tốt nghiệp cử nhân Hán Nôm Tác giả bước đầu đưa khảo lược và đưa ra hệ thống danh mục 263 bia Hậu Trong đó bia Hậu thần:
91 bia; bia Hậu phật: 77 bia; bia kí kị: 85 bia; bia Hậu hiền: 2 bia, được phân bố rải rác ở 16 xã, 51 thôn Thời gian được trải dài trong suốt 333 năm, từ niên đại Hoằng Định 11 (1610) - Bảo Đại 18 (1943)
- Vũ Thị Mai Anh: Tục lệ lập Hậu qua văn bia Hậu của một số địa đồng
bằng châu thổ sông Hồng giai đoạn 1802-1903, Luận văn thạc sĩ,
Trường cao đẳng thực hành Pháp (song ngữ Pháp Việt), 2009
Từ những cứ liệu trên cho thấy chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ thống số lượng văn bia Hậu thời Tây Sơn Do vậy, tác giả luận văn đã cố gắng đi sâu tìm hiểu hệ thống văn bia Hậu thời
Trang 10Tây Sơn, nhằm mang lại diện mạo mới, một bức tranh toàn cảnh về sinh hoạt, phong tục tập quán nơi làng xã Việt Nam thời bấy giờ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Do phạm vi của một luận văn thạc sĩ chúng tôi chỉ tìm hiểu văn bia Hậu thời Tây Sơn thông qua hệ thống thác bản do Trường Viễn đông Bác cổ (Pháp) sưu tầm trong những năm đầu thế kỉ XX; do vậy, khái niệm văn bia chúng tôi
sử dụng trong luận văn chính là thác bản văn bia mà chúng tôi sử dụng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tại kho thác bản văn bia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi đã bước đầu khảo sát thống kê được 359 văn bia thời Tây Sơn, trong đó chọn ra
251 văn bia (với tổng cộng 460 mặt bia) mang nội dung bia Hậu Ngoài
những văn bia có nhan đề: Hậu phật bi kí 後佛碑記, Hậu thần bi kí
後神碑記, Hậu hiền bi kí 後賢碑記, Hậu kị bi kí 後忌碑記, Hậu giáp bi kí
後甲碑記, Hậu phối bi kí 後配碑記; đồng thời chúng tôi chọn những văn bia
có nội dung nói đến việc lập Hậu, nhưng tên bia không mang cụm từ Hậu thần, Hậu phật, Hậu hiền v.v
Ngoài ra, luận văn còn bao quát tham khảo các tài liệu khác liên quan đến việc nghiên cứu thời Tây Sơn để làm rõ hơn giá trị của văn bia Hậu thời Tây Sơn mà Luận văn giải quyết
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp văn bản học
Trang 11Tập trung nghiên cứu trên từng thác bản văn bia cụ thể về niên đại, tác giả, chữ Nôm, chữ húy, hoa văn trang trí và những tiêu chí khác trong phạm
vi đề tài Đưa ra những thông tin chính xác về các thác bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
- Phương pháp thống kê, định lượng
Phương pháp trên được sử dụng nhằm mục đích thống kê số lượng văn bia, số lượng bia Hậu thần, số lượng bia Hậu phật, số lượng bia Hậu hiền v.v…, và sự phân bố của văn bia theo không gian và thời gian
Từ những thác bản văn bia cụ thể của thời kì này đem so sánh, đối chiếu với thác bản văn bia đại hiện cho một số thời kì khác về mặt thể loại, nghệ thuật trang trí, phong cách văn tự v.v… hay so sánh chính giữa các thác bản văn bia của các niên đại khác nhau cùng trong thời kì này
- Phương pháp liên ngành
Có sự liên hệ với một số ngành khoa học khác như: ngữ văn học, sử học, triết học, khảo cổ học, mỹ thuật v.v để tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật văn bia thời Tây Sơn nói chung và văn bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng
5 Đóng góp của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên đi sâu tìm hiểu về hệ thống văn bia Hậu thời Tây Sơn Bước đầu đã đưa ra tập danh mục với tổng cộng 251 bia, trong đó bao gồm 141 bia mang nội dung Hậu thần 後神; 101 bia mang nội dung Hậu
phật 後佛; 04 bia mang nội dung Hậu hiền 後賢; 02 bia mang nội dung Hậu
kị 後忌; 02 bia mang nội dung Hậu giáp 後甲; 01 bia mang nội dung Hậu phối 後配.
Trang 12Luận văn đã giới thiệu một cách cơ bản về hệ thống văn bia Hậu thời Tây Sơn Bước đầu đưa ra những giá trị tư liệu đích thực về lịch sử, sinh hoạt, tập tục lập Hậu, tín ngưỡng bản địa nơi làng xã nông thôn thời bấy giờ
Thông qua hệ thống 251 văn bia Hậu, cung cấp cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là những người quan tâm đến thời Tây Sơn danh mục 251 văn bia Hậu và 08 bài văn bia tiêu biểu của các dạng lập Hậu được dịch thuật và chú thích đầy đủ
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu (09 trang), kết luận (06 trang), tài liệu tham khảo (04 trang), mục lục (124 trang), luận văn được chia làm 2 chương:
Chương 1: TỔNG QUAN VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN VĂN BIA HẬU
THỜI TÂY SƠN
1.1 Đôi nét về tình hình chính trị văn hóa xã hội thời Tây Sơn
1.2 Tổng quan văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.2.1 Điểm qua văn bia thời Tây Sơn
1.2.2 Văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.3 Sự phân bố của văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.3.1 Phân bố theo không gian
1.3.2 Phân bố theo thời gian
1.4 Đặc trưng văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.4.1 Hình thức của văn bản bia Hậu thời Tây Sơn
1.4.1.1 Kích thước của bia
1.4.1.2 Nghệ thuật điêu khắc trên bia
1.4.1.3 Bố cục của bài văn bia và chữ viết trên bia
Trang 131.4.2 Một số vấn đề văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.4.2.1 Một số vấn đề về văn bản
1.4.2.2 Người soạn, người viết và thợ khắc
1.4.2.3 Chữ Nôm và chữ húy trên văn bia
Chương 2: GIÁ TRỊ TƯ LIỆU QUA NỘI DUNG VĂN BIA HẬU THỜI
Trang 142.2.1.1 Trường hợp tự nguyện
2.2.1.2 Trường hợp có điều kiện
2.2.2 Giá trị vật chất và tinh thần trong việc lập Hậu
2.2.3 Thể lệ cúng Hậu
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
1 Danh mục văn bia Hậu thời Tây Sơn (xếp theo niên đại)
2 Danh mục tóm tắt văn bia Hậu thời Tây Sơn (xếp theo kí hiệu)
3 Phiên âm, dịch nghĩa 08 văn bia đại diện các dạng lập Hậu
4 Ảnh minh hoạ văn bia Hậu thời Tây Sơn
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN VĂN BIA HẬU THỜI TÂY SƠN
1.1 Đôi nét về tình hình chính trị, văn hoá, xã hội thời Tây Sơn
Bối cảnh lịch sử nước ta nửa cuối thế kỷ XVIII hết sức rối ren; đất nước
bị chia cắt Ðàng trong - Ðàng ngoài trên hai thế kỷ đã để lại những hậu quả nặng nề, nạn ngoại xâm luôn đe dọa Ở Ðàng ngoài, vua Lê hoàn toàn bất lực, chính trị thối nát, nhân dân cơ cực; chúa Trịnh chuyên quyền Ở Ðàng trong, chúa Nguyễn cũng không tốt hơn Phong trào nông dân Tây Sơn nổi dậy năm
1771 đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử, đánh dẹp các thế lực thù địch trong và ngoài nước Đó là đánh tan quân xâm lược Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785; quét sạch quân Trịnh ra khỏi Phú Xuân năm 1786 và đặc biệt đại thắng mùa xuân năm Kỉ Dậu (1789) đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh
ra khỏi bờ cõi, thống nhất đất nước
Trong những năm sau đó (1789-1802), Phú Xuân là kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất thời Tây Sơn Tại đây, trong thời gian vua Quang Trung nắm quyền đã ban bố và chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách quan trọng về nội trị và ngoại giao nhằm xây dựng và phát triển, mang lại diện mạo mới cho đất nước
Về mặt nội trị, ông đã đề ra nhiều chính sách cải cách có tính chất tân thời, nhằm phát triển đất nước theo một xu hướng mới, không quá lệ thuộc vào những lễ giáo phong kiến, như đưa chữ Nôm sử dụng trong các văn bản hành chính của nhà nước; sắp xếp lại tổ chức hành chính từ trung ương đến địa phương; ở địa phương chú trọng nhiều đến các đơn vị huyện và xã, định
Trang 16chế lại chính sách về thuế cũng như tuyển lính, đặc biệt là chính sách ruộng đất rất được coi trọng, như ban bố chiếu khuyến nông nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, đồng thời ra lệnh bãi bỏ nhiều thứ thuế công thương nghiệp nặng nề trước đây, mở rộng việc buôn bán làm ăn cho thương nhân và thợ thủ công, quan hệ buôn bán với nước ngoài được mở
mang Theo Tây Sơn lược thuật “Nhà Tây Sơn từ năm Canh Tuất tới lúc này,
hàng năm được mùa, khắp chốn yên vui, thanh bình (Giá thóc mỗi quan tiền mua được 100 đấu, dân gian no đủ, tiếng đàn giọng hát thường nghe).”
Về mặt ngoại giao, đặc biệt là đối với phương Bắc, ông rất khôn khéo
trong cách ứng xử mặc dù đã “đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó
phiến giáp bất hoàn” Nhưng sau chiến thắng, Nguyễn Huệ vẫn chủ động cầu
hòa, bề ngoài xin thần thuộc để dập tắt ý đồ phục thù của nhà Thanh và buộc
họ phải chính thức công nhận Quang Trung làm "quốc vương", từ bỏ dã tâm thu nạp bọn lưu vong phản quốc, lấy cớ xâm lược nước ta một lần nữa
Quang Trung cũng ra sức xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc, ban bố Chiếu lập học, khuyến khích các xã mở trường dạy học Quang Trung
ban hành Chiếu học tập bắt các xã phải mở lớp học cho dân và ngay từ năm
1789 Quang Trung đã mở kì thi Hương đầu tiên ở Nghệ An Tiếng nói dân tộc được coi trọng Quang Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chữ viết chính thức của quốc gia Lập Viện Sùng chính để dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm Các văn kiện của nhà nước dần dần viết bằng chữ Nôm Khi dân làng Văn Chương (Hà Nội) xin dựng lại bia Tiến sĩ ở Văn Miếu, Quang Trung tự tay phê vào lá đơn như sau:
Nay mai dựng lại nước nhà, Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian
Thời kì này, do chiến tranh kéo dài, đặc biệt là tình hình nội chiến trong suốt thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh để lại, hơn thế nữa, thời gian vua Quang
Trang 17Trung trị vì quá ngắn, nên rất nhiều những dự định còn ấp ủ vẫn chưa thực hiện được Đó là những thiệt thòi lớn để lại cho nhân dân, cho đất nước Thứ nữa, vua Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi khi mới 10 tuổi, xã hội đã có nhiều biến chuyển và có sự rạn nứt trong nội bộ triều đình Ở Đàng trong, Nguyễn Ánh ngày một mạnh, nội bộ giữa các quyền thần trong triều bất hoà và đây cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự sụp đổ của Vương triều Tây Sơn
Như trên chúng tôi đã trình bày, lịch sử triều Tây Sơn quá ngắn so với những triều đại khác (Triều Lý, Triều Trần, Triều Lê), cộng với chiến tranh xảy ra liên miên, chính trị xã hội ít được ổn định, nhưng thời kì này vẫn sản sinh ra một số nhà văn hoá có tiếng Đặc biệt, phải kể đến như: Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ninh Tốn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Thiếp, Ngô Thế Lân v.v Hầu hết, họ đều là những cựu thần của triều đình Lê - Trịnh, nhưng khi Tây Sơn dành chính quyền họ đã ý thức được thời cuộc, tham gia công cuộc xây dựng, duy trì ổn định đất nước và giữ những trọng trách trong triều đình Không những thế họ còn là những nhà thơ, nhà văn, nhà ngoại giao khá nổi tiếng Có thể thấy, hầu hết những tác phẩm có tính chất lịch sử của
thời Tây Sơn như: Hịch Tây Sơn, Chiếu lên ngôi, Chiếu hiểu dụ các quan văn
võ cựu triều, Hịch truyền quan lại quân dân các phủ Quảng Ngãi Qui Nhơn v.v đều do Ngô Thì Nhậm thảo ra Nó không những là văn kiện có tính chất
lịch sử mà còn là những văn kiện đối nội, đối ngoại, đồng thời còn là những tác phẩm chính luận rất có giá trị
Thời Tây Sơn, mặc dù những tác gia, tác phẩm không nhiều, nhưng đã
để lại những dấu ấn khá đậm nét Bằng chứng là những trước tác văn thơ tiêu biểu của các tác giả như:
- Ninh Tốn với Chuyết Sơn Thi Tập 拙山詩集 phần lớn đều được ra đời
trước Tây Sơn, thời Tây Sơn ông cũng có sáng tác nhưng không nhiều;
Trang 18- Ngô Thế Lân với Phong trúc tập 風竹集 được viết bằng chữ Hán, nhưng hiện đã thất truyền, ông chỉ còn lại một số tác phẩm trong Nam
hành kí đắc tập 南行記得集 của Phạm Nguyễn Du, Phủ biên tạp lục
府編雜綠 của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí
- Ngô Thì Nhậm với khá nhiều trước tác, ông có đến 7 tập thơ và 5 tập văn xuôi, văn khảo cứu, trong đó có những tác phẩm tiêu biểu như:
Bang giao hảo thoại 邦交好話, Hàn các anh hoa 翰閣英華, Hoàng hoa đồ phả 皇華圖譜, Trúc lâm tông chỉ nguyên thanh
竹林宗旨元聲 v.v Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của văn học Tây Sơn
- Phan Huy Ích (1751-1822) với Dụ am ngâm lục 裕庵吟錄 và Dụ am
văn tập 裕庵文集, ông là người dịch Chinh phụ ngâm 征婦吟 của
Đặng Trần Côn ra chữ Nôm; Đoàn Nguyễn Tuấn với Hải ông thi tập
海翁詩集 chủ yếu được sáng tác trong lần đi sứ ở Trung Quốc;
- Ngô gia văn phái với Hoàng Lê nhất thống chí 皇黎一統志 ghi lại sự
thật lịch sử nước ta khoảng 30 năm cuối thế kỉ XVIII
- Ngoài ra còn có một số tác gia nữa như Lê Ngọc Hân với Ai tư vãn
哀思晚, văn tế Quang Trung bằng chữ Nôm; Nguyễn Huy Lượng với
Tụng Tây Hồ chí 訟西湖誌, Cung oán thi 宮怨詩, Nữ thi sĩ Hồ Xuân
Hương với Đề đền Sầm Nghi Đống, Sư hổ mang, Tranh Tố nữ v.v
Trang 191.2 Tổng quan về văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.2.1 Điểm qua về văn bia thời Tây Sơn
Sau khi nhà Tây Sơn lên nắm chính quyền, song song với việc xây dựng một nhà nước độc lập tự chủ, tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội từng bước đi vào ổn định từ trung ương đến địa phương Do vậy, các hoạt động văn hóa tín ngưỡng nơi làng xã cũng được đề cao và văn bia chính là sản phẩm của những hoạt động đó
Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi, trong tổng 22.980 đơn vị thác bản văn bia được Trường Viễn đông Bác cổ (Pháp) tại Hà Nội in rập từ những năm đầu thế kỉ XX hiện vẫn được lưu giữ tại kho thác bản văn bia của Thư viện - Viện nghiên cứu Hán Nôm, thì văn bia thời Tây Sơn chiếm 352 văn bia, được phân bố rải rác ở 21 tỉnh, thành trong cả nước từ Lạng Sơn đến Nghệ An
Hệ thống văn bia thời Tây Sơn cũng rất phong phú và đa dạng, với nhiều loại khác nhau như bia gắn liền với các di tích như: chùa, đình, miếu, văn chỉ,
từ đường, lăng mộ; bia gắn với những ghi chép về xây dựng quê hương đất nước như: cầu cống, đường xá, thủy lợi, ruộng đất; bia gắn với việc ghi chép phong tục tập quán, khuyến học như: hương ước, đề danh v.v… Trong đó phần lớn là bia đình và bia chùa, đó là những văn bia chủ yếu mang nội dung lập Hậu của các dạng khác nhau như: Hậu thần, Hậu phật, Hậu hiền, Hậu giáp, Hậu ngõ, Hậu kị, Hậu phối v.v…
Văn bia thời Tây Sơn không có những quy phạm chặt chẽ như bia thời
Lê hay những thời kì trước Lệ dựng khắc bia có phần tự do, phóng khoáng hơn, kích cỡ văn bia nhỏ hơn và hoa văn trang trí trên văn bia cũng đơn giản hơn, bố cục của một bài văn bia cũng thường bị lược bớt như tên người soạn, người viết, thợ khắc đá và đây cũng chính là đặc trưng của văn bia Tây Sơn
Trang 201.2.2 Văn bia Hậu thời Tây Sơn
Trong toàn bộ di sản văn bia, có một dạng bia đặc biệt nhưng lại rất phổ biến, đó là bia Hậu thần, Hậu phật, Hậu hiền v.v lâu nay vẫn được gọi chung là bia Hậu Đây là dạng bia có tỷ lệ khá lớn, chiếm đến gần 50% số thác bản văn bia hiện đang lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm [03, tr 54] Có thể nhận thấy rằng bia Hậu ra đời là sản phẩm của toàn bộ hệ thống tư tưởng văn hóa tín ngưỡng của các vùng nông thôn mà cụ thể là sản phẩm của tập tục lập Hậu ở Việt Nam Những người được lập Hậu được gọi
là Hậu thần, Hậu phật, v.v do đó, bia Hậu thường mang tên Hậu thần bi kí,
Hậu phật bi kí, Hậu hiền bi kí v.v…
Những thuật ngữ Hậu thần, Hậu phật v.v… đều là từ thuần Việt, tuy có mang những yếu tố gốc Hán nhưng lại có cấu trúc Việt và được người Việt hiểu theo một nghĩa khác Bản thân các thuật ngữ này không thấy xuất hiện
trong một số cuốn từ điển lớn ở Trung Quốc Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà
Nẵng, 2007 duy nhất có định nghĩa mục từ Hậu thần: Hậu thần 後後 d [cũ]
người có công đức được thờ chung với các thần ở làng Những thuật ngữ Hậu
thần, Hậu phật v.v… được dân gian hiểu là những người được phụng thờ, hưởng sau thần, phật Cách hiểu này cho đến nay vẫn được các nhà nghiên cứu lựa chọn Cách viết chữ Hậu trong văn bia không giống nhau, có khi viết là: 後, 后, 厚
Tục lập Hậu và danh từ Hậu thần, Hậu phật có lẽ được nhắc đến sớm nhất
là ở sách Hồng Đức thiện chính thư, một cuốn sách mang tên niên đại Hồng
Đức thời Lê (1470-1497), như vậy cũng có nghĩa là từ thế kỉ XV đã có tục lệ này Song trong số thác bản bia lưu giữ tại Thư viện - Viện nghiên cứu Hán Nôm trước khi nhà Lê Trung hưng không có bia nào mang nội dung bia Hậu
Và những bia mang nội dung lập Hậu mới chỉ xuất hiện sau thời nhà Lê Trung
Trang 21hưng Cụ thể là các niên đại Quang Hưng (1578-1600), Hoằng Định 1619), Vĩnh Tộ (1619-1629), Đức Long (1629-1635), Dương Hòa (1635-1643) v.v… mới bắt gặp các bia Hậu [03, tr 56] Như vậy, chúng ta có thể hình dung
(1600-ra một điều rằng để có những thuật ngữ Hậu thần, Hậu phật, hay những bia có nội dung lập Hậu đều phải có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được xuất phát từ những hình thức như cúng dường, công đức v.v…bắt đầu xuất hiện trong các văn bia thời Lí, Trần
Qua khảo sát thống kê tại kho thác bản văn bia ở Thư viện - Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho thấy trong tổng số 352 văn bia thời Tây Sơn, có 251 văn bia Hậu, chiếm tỉ lệ 71,3 % Được biết trong kho thác bản văn bia, số lượng văn bia mới được các chuyên gia của Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm trong những năm gần đây chiếm một số lượng đáng kể, có đến hàng ngàn đơn
vị Tuy nhiên, vẫn chưa có sự sắp xếp, chỉnh lí thành những bộ thư mục lớn
giống như bộ Thư mục văn bia 30 tập hiện có, có chăng, chỉ là những thư mục
có tính địa phương hay năm sưu tầm Trong số văn bia đó chắc chắn sẽ còn tồn tại số lượng đáng kể những thác bản văn bia mang niên hiệu thời Tây Sơn Nhưng do phạm vi của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chưa có tham vọng khảo sát toàn bộ hệ thống văn bia thời Tây Sơn hiện đang lưu giữ tại Thư viện
- Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mà chỉ đi sâu tìm hiểu mảng văn bia Hậu được Trường Viễn đông Bác cổ (Pháp) sưu tầm trước những năm 1945 Hi vọng trong những chuyên luận tiếp theo chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu toàn
bộ hệ thống văn bia thời Tây Sơn với mong muốn tìm hiểu thêm về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của một thời kì lịch sử ngắn nhưng có nhiều
sự kiện nổi bật
Với 251 thác bản văn bia có nội dung mang tập tục lập Hậu, tuy số lượng không tương xứng với một triều đại lịch sử, nhưng đối với thời kì Tây Sơn số lượng văn bia trên cũng đáng để chúng ta quan tâm đi sâu tìm hiểu Như
Trang 22chúng ta đã biết, sau khi nhà Tây Sơn mất nước về tay nhà Nguyễn nắm quyền, với chính sách thù địch của nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn, việc hủy hoại, phá bỏ những giá trị văn hóa của thời Tây Sơn là điều không thể tránh khỏi Hệ thống văn bia - những giá trị văn hóa vật thể cũng cùng chung số phận, dẫn đến số văn bia bị phá bỏ hoặc khắc lại thời Nguyễn là hiển nhiên Bởi vậy, vấn đề văn bản của những thác bản văn bia Hậu thời Tây Sơn cần được tìm hiểu kĩ, nhằm xác định tính chân thực của hệ thống văn bia thời kì này, chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này ở phần sau
Trong tổng số 251 đơn vị thác bản văn bia Hậu, 04 bia có niên đại sớm
nhất mang niên hiệu Thái Đức 11 (1788), đó là : Hậu thần bi kí 後神碑記 No 5619-5620, Hậu phật bi kí 後碑記 No 7052-7053, Hậu thần bi kí 後神碑記
No 10348-10349, Hậu thần bi kí 後神碑記 No 15291; 15292 Bia có niên đại muộn nhất đó là 06 bia mang niên hiệu Bảo Hưng thứ 2 (1802) gồm các bia
sau: Hậu phật bi 後碑 No 6221, Hậu thần bi kí 後神碑記 No 11498-11501,
Hoàng hà thái sơn 黃河泰山 No 9015-9016, Hậu phật bi kí 後碑記 No
7646, Hậu thần bi kí 後神碑記 N0 3781-3782, Khánh Ninh tự Hậu phật bi kí
慶寧寺后碑記 No 2439, Hậu thần bi kí 後神碑記 No 20489- 20492
Bia Hậu thời Tây Sơn cũng được chia làm nhiều loại có nội dung lập Hậu khác nhau bao gồm bia mang nội dung Hậu thần, Hậu phật, Hậu hiền, Hậu kị, Hậu giáp, Hậu phối Trong đó, bia Hậu thần và Hậu phật chiếm đa số
và đấy cũng chính là những nét đặc trưng của thể loại bia Hậu
1.3 Sự phân bố của văn bia Hậu thời Tây Sơn
Văn bia Hậu thời Tây Sơn được phân bố rải rác ở nhiều nơi từ lạng Sơn đến Nam Định Mặc dù, thủ phủ chính của nhà Tây Sơn đóng đô ở Thuận Hóa, nhưng số lượng văn bia Hậu đều được tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía
Trang 23Bắc và Bắc trung bộ Điều này cũng có thể suy đoán rằng: do điều kiện nào
đó mà Viện Viễn đông Bác cổ đã chưa tổ chức in rập với số lượng nhiều văn bia ở miền Trung và miền Nam; cũng có thể số lượng văn bia ở các tỉnh miền Trung và miền Nam ít nên Trường Viễn đông Bác cổ chỉ chú ý in dập các loại văn bia khác mà chưa chú ý đến các văn bia Hậu Chúng tôi chia phân bố văn bia Hậu thời Tây Sơn theo hai hướng, đó là phân bố theo không gian (theo các địa phương) và phân bố theo thời gian (theo các đời vua)
1.3.1 Phân bố theo không gian
Sự phân bố theo không gian được hiểu theo nghĩa là những văn bia nằm rải rác ở các địa phương, được phân bố trên địa bàn các tỉnh, mỗi tỉnh được phân bố theo từng huyện, mỗi huyện được phân bố theo từng xã Tất cả những địa danh được chúng tôi để nguyên theo địa danh ghi trên thác bản văn bia do những người sưu tầm ghi lại lúc bấy giờ, tức là lấy mốc thời gian khi Trường Viễn đông Bác cổ (Pháp) sưu tầm về, trước những năm 1945
Thời Tây Sơn không thấy xuất hiện những cụm văn bia mang tính quần thể riêng của triều đại mình Số lượng văn bia chủ yếu được đặt ở các di tích như: đình, chùa, miếu, văn chỉ, từ đường, ngõ xóm v.v… Chúng được phân bố rải rác ở các địa phương từ Nam Định trở ra đến Bắc Giang Chúng tôi sắp xếp tên tỉnh theo thứ tự chữ cái Số lượng 251 bia được phân bố cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Phân bố văn bia theo không gian
Loại bia STT Tên tỉnh Huyện có bia Hậu
thần
Hậu phật
Hậu hiền
Hậu
kị
Hậu giáp
Hậu Phối
Tổng
Trang 27Bình Xuyên 2 3 0 0 0 0 Vĩnh Tường 2 1 0 0 0 0
Hà Nam chỉ thấy duy nhất 1 bia Con số bia cụ thể tại các tỉnh, huyện như sau: tỉnh Bắc Giang có 6 huyện với 29 văn bia; Bắc Ninh có 11 huyện với 51 văn bia; Hà Đông có 6 huyện với 17 văn bia; Hà Nam có 1 huyện với 1 văn bia; Hà Nội có 2 huyện thị với 2 văn bia; Hải Dương có 9 huyện với 50 văn bia; Hưng Yên 3 huyện với 29 văn bia; Kiến An 6 huyện với 10 văn bia; Nam Định có 3 huyện với 5 văn bia; Phú Thọ có 2 huyện với 2 văn bia; Phúc Yên
có 4 huyện với 18 bia; Quảng Yên có 2 huyện với 3 văn bia; Sơn Tây có 6 huyện với 16 văn bia; Thái Bình 2 huyện với 2 văn bia; Thái Nguyên có 3 huyện với 4 văn bia: Vĩnh Yên 6 huyện với 12 bia
Xuất phát từ những cứ liệu trên có thể dễ dàng nhận thấy số văn bia Hậu thời Tây Sơn được tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi có truyền thống dựng bia từ xưa tới nay, nhất là các tỉnh lân cận kinh đô Thăng Long xưa, như: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Phúc Yên, Vĩnh Yên Riêng Hà Nội, trung tâm kinh
tế chính trị của Thăng Long xưa, chỉ có 2 bia Từ các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An trở vào không thấy xuất hiện một tấm bia nào, mặc dù Thanh
Trang 28Hoá, Ninh Bình cũng là những vùng đất có truyền thống dựng bia, nhất là Thanh Hoá Tỉnh Bắc Ninh, một tỉnh có bề dày truyền thống văn hoá, là trung tâm phật giáo đầu tiên của nước ta, điểm hội tụ của nhiều tín ngưỡng văn hoá, nên con số 52 bia đã chứng minh điều đó
Mỗi làng quê Việt Nam xưa hầu hết đều mang trên mình những giá trị văn hoá, tín ngưỡng chung Nét chung đó được lưu truyền theo thời gian và dần dà có sự đổi thay ít nhiều trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Tựu chung lại gần như làng nào cũng có đình, chùa, đền, miếu, nghè, văn chỉ v.v
Đó là những nơi sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng chung của cộng đồng dân cư trong làng, mỗi khi diễn ra những sự kiện có tính xã hội Do vậy, khi có sự kiện trọng đại lại được nhân dân khắc bia ghi lại và đặt ở những nơi nghiêm trang trong khuôn viên của di tích Tuy nhiên, số lượng bia chiếm con số lớn nhất vẫn là bia đình và bia chùa vì đình là nơi thờ thần Thành hoàng, người có công sáng lập khai phá ra làng hoặc người bảo vệ giúp đỡ dân làng thoát khỏi nạn binh đao, lũ lụt Chùa là nơi thờ phật, một tôn giáo có mặt ở Việt Nam khá sớm, khoảng thế kỉ II trước công nguyên mà trung tâm đầu tiên là Luy Lâu - Bắc Ninh
Sự hiện diện văn bia Hậu ở các địa phương như bảng thống kê trên cho thấy tính chất, đặc điểm, lịch sử và truyền thống văn hoá, tín ngưỡng của từng vùng miền khác nhau
1.3.2 Phân bố theo thời gian
Phân bố theo thời gian, ở đây, chúng ta có thể hiểu cụ thể là sự phân bố theo các đời vua của thời Tây Sơn Như chúng ta đã biết năm 1778, 5 năm sau ngày khởi nghĩa thành công Nguyễn Nhạc xưng là Minh Đức Hoàng đế lấy niên hiệu là Thái Đức đóng đô tại thành Hoàng Đế, chính thức từ đây Việt Nam có thêm một triều đại mới, Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 1778-
1788, nhà Lê vẫn mang danh nghĩa là một vương triều với đầy đủ ý nghĩa của
Trang 29nó Mãi đến năm 1788 sau khi biết được ý đồ của vua Lê cầu viện nhà Thanh sang xâm lược nước ta Nguyễn Huệ mới chính thức lên ngôi (chính vị hiệu) lấy niên hiệu là Quang Trung (1788-1792) tiến quân ra bắc đánh đuổi 20 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi Trong thời gian trị vì với tư cách là một vương triều ở Thuận Hoá (Huế) (1788-1802) Trong vòng 14 năm đã trải qua 2 đời vua và 3 niên hiệu Tất cả những văn bia Hậu thời Tây Sơn đều được phân bố trải đều khắp các đời vua Tuy nhiên, số lượng bia tập trung chủ yếu là 2 niên đại Quang Trung và Cảnh Thịnh và đây cũng được coi là hai niên đại chính của triều đại Tây Sơn Hệ thống văn bia Hậu thời Tây Sơn được phân bố theo các đời vua như sau:
Bảng 1.2: Phân bố theo không gian
Loại bia STT Các đời vua Niên hiệu Hậu
thần
Hậu phật
Hậu hiền
Hậu
kị
Hậu giáp
Hậu phối
(1793-1801) 82 59 2 1 2 0 46
3 Nguyễn Quang
Toản
Bảo Hưng (1801- 1802) 10 4 1 1 0 0 16
Trang 30Dựa vào bảng thống kê trên cho thấy số lượng văn bia phân bố theo các đời vua không đồng đều, niên hiệu Cảnh Thịnh (1793-1801) có số lượng bia chiếm nhiều nhất 147 bia Tiếp đó là niên hiệu Quang Trung (1788-1792): 85 bia, niên hiệu Bảo Hưng (1801-1802): 16 bia, niên hiệu Thái Đức (1778-1788): 04 bia Nếu tính tỉ lệ bia được khắc theo từng năm của các đời vua thì con số cụ thể như sau:
- Đời vua Nguyễn Văn Nhạc, 4 bia được dựng trong 11 năm, tỉ lệ là 0,3 bia / năm
- Đời vua Nguyễn Văn Huệ, 85 bia được dựng trong 5 năm, tỉ lệ là 17,4 bia/ năm
- Đời vua Nguyễn Quang Toản, 162 bia được dựng trong 10 năm, tỉ
lệ là 16,3/ năm
Như vậy, có thể thấy rằng niên hiệu Thái Đức (1778-1788) có số lượng bia khá khiêm tốn trong vòng 11 năm, nguyên nhân cũng dễ hiểu, vì thời kì này, nhà Lê vẫn còn giữ vai trò lãnh đạo quan trọng trong nước, nên số lượng bia mang niên hiệu Thái Đức không nhiều, điều này cũng không có gì lạ Thời vua Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Quang Toản số lượng văn bia về cơ bản phân bố khá đồng đều trong suốt 14 năm Quân bình mỗi năm dựng 16,8 bia Đây là con số khiêm tốn được dựng lên mỗi năm của một triều đại, đặc biệt là thời kì Tây Sơn, lệ dựng bia và văn hoá tín ngưỡng nơi làng xã khá phát triển trên nhiều bình diện
Trang 311.4 Đặc trưng văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
1.4.1 Hình thức của văn bản bia Hậu thời Tây Sơn
Xét về hình thức của bia là chúng ta nghĩ ngay đến hình dáng bên ngoài của một tấm bia, bao hàm các tiêu chí: bia dẹt, bia trụ hay bia ma nhai, kích
cỡ của một tấm bia, nghệ thuật điêu khắc trang trí trên một tấm bia và đi sâu hơn nữa là nội dung cấu trúc văn bản của một tấm bia Một tấm bia được gọi
là hoàn chỉnh phải hội đủ hai yếu tố cơ bản đó là văn bản khắc trên đá và nghệ thuật điêu khắc trên đá Và hình thức của văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
về cơ bản cũng tuân thủ theo những tiêu chí của văn bản bia nói chung
1.4.1.1 Kích thước của bia
Thực tế cho thấy, từ xưa tới nay, chưa có một quy định cụ thể nào đặt ra kích cỡ cho việc khắc bia Tuy nhiên, theo truyền thống thì loại bia có kích cỡ
to thường là những bia của nhà nước hay những cá nhân có điều kiện kinh tế khá giả, hoặc là những vùng có truyền thống dựng bia cũng như nguyên liệu
đá làm bia dễ khai thác Trải qua lịch sử các triều đại cũng vậy, sự khác nhau
về các mặt như hoa văn trang trí, phong cách văn tự có phần rõ rệt hơn, nhưng
về kích cỡ thì không có sự thay đổi Đặc biệt, bia được dựng ở những nơi trang nghiêm như Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội, Văn miếu - Huế, hay một số lăng tẩm của các vị vua chúa hầu hết đều có kích cỡ vượt trội, được chạm khắc tinh xảo, rất chú trọng về mặt nội dung và thư pháp, trở thành những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc mang tính thời đại Văn bia kết hợp với quần thể kiến trúc, khí vật nơi thờ tự, thể hiện sự trang nghiêm, đó chính là nét đặc trưng của những di tích danh lam thắng cảnh Số còn lại hầu hết bia được dựng chủ yếu ở các di tích như đình, chùa, miếu v.v khắp các làng xã nông thôn Việt Nam, phần lớn có kích thước vừa phải, ngoại trừ những bia
Trang 32được dựng nên do những người giàu có trong làng, hoặc những người có chức sắc, địa vị xã hội
Với bia Hậu nói chung và bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng được xếp vào loại có kích thước khiêm tốn, bia có kích thước lớn chiếm số lượng ít, số còn lại đa phần có kích thước vừa và nhỏ Bia Hậu có tích chất bình dân nên không lệ thuộc quá nhiều vào những qui phạm chặt chẽ của nhà nước Thông thường bia lớn hay nhỏ, chữ viết và hoa văn trang trí đẹp hay xấu phụ thuộc địa vị trong xã hội của người được lập Hậu và số tiền do người đó bỏ ra công đức và trong phạm vi lệ làng cũng không có một quy định cụ thể cho việc này
Theo thống kê sơ bộ, kích thước bia Hậu thời kì này khá dao động từ 0,35m x 0,23 m đến 1,15m x 0,58 m, tỉ lệ trung bình là 0,65 m x 0,39 m Chúng tôi chia thành 3 loại kích cỡ chính
Bảng 1.3: Kích thước của văn bia
Theo thống kê số bia có kích thước chiều cao từ 1 mét trở lên không
nhiều, chỉ có 06 bia bao gồm: Hậu thần bi kí 後神碑記 No 11081, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793) ở Đình xã Mĩ Phúc, huyện Phất Lộc, tỉnh Bắc
Giang Bia 1 mặt, cao 1,00 m, rộng 0,42 m; Hậu từ bi kí 後祠碑記 No 7476,
Trang 33tạo năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) ở Xã Nhuận Trạch, huyện Tiên Phong, tỉnh
Sơn Tây Bia 1 mặt, cao 1,00 m, rộng 0,59 m; Hậu thần bi 後神碑 No 5980, tạo năm Quang Trung thứ 4 (1791) ở Đình An Mĩ, xã Lại Thượng, huyện
Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh Bia 2 mặt, cao 1,10 m, rộng 0,44 m; Vô đề No
10115, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793) ở Đình thôn Đại, xã Cổ Trai, huyện
Kiến Thủy, Kiến An Bia 4 mặt, cao 1,10 m, rộng 0,57 m; Hậu kị bi kí
後忌碑記 No 10980, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797) ở Đình xã Phú
Xuyên, huyện Phất Lộc, tỉnh Bắc Giang Bia 1 mặt, cao 1,13 m, rộng, 0,56 m;
Hậu phật bi 後佛 記 No 4219, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1789) ở Mộ Trần Tướng Công, xã Phương Tiện, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Bia 1 mặt, cao 1,15 m, rộng 0,58 m Trong đó bia 1 mặt 04 chiếc, bia 2 mặt 01 chiếc, bia 4 mặt 01 chiếc Nếu như đem so sánh với bia Hậu của các thời kì trước, đặc biệt thời Lê thì bia Hậu thời Tây Sơn có kích cỡ khiêm tốn hơn, họa tiết trang trí cũng đơn giản hơn Bia thời Lê được làm khá cẩn thận có nhiều bia 2 mặt cỡ lớn, nhiều bia trụ 4 mặt với mái che hình chóp có các đường gờ hoa văn uốn lượn công phu, ngoài ra còn có một loại bia đặc biệt là bia tượng Bia tượng là loại bia có mặt trước tạc chân dung Hậu, mặt sau mài phẳng để khắc văn bia Nhìn chung, bia thời Lê khá được chú trọng về mặt trang trí [03, tr 59] Đơn
cử đem so sánh cụ thể với kích cỡ 243 văn bia đình thế kỉ XVII thì thấy kích
cỡ bia đình thế kỉ XVII có kích cỡ khá lớn, con số thống kê bia đình thế kỉ XVII cụ thể như sau:
- Loại 1: Gồm những bia có kích cỡ lớn với chiều cao từ 1,00 m và chiều ngang 0,94 m trở lên Loại bia này có 82 bia
- Loại 2 : Gồm những bia có kích cỡ trung bình, với chiều cao từ 0,70 m
- 0,98 m và chiều rộng từ 0,40 m - 0,60 m Loại bia này có khoảng 150 bia
Trang 34- Loại 3 Gồm những bia có kích cỡ nhỏ, với chiều cao 0,38 m - 0,70 m,
và chiều rộng từ 0,9 m - 0,22 m Loại này có 10 bia [17, tr 16]
Như vậy, khi so sánh hai bản thống kê trên thì kích cỡ văn bia Hậu thời Tây Sơn trái ngược hoàn toàn so với kích cỡ văn bia đình thế kỉ XVII Và đây cũng là đặc trưng của văn bia Hậu thời Tây Sơn, đơn giản hơn, phóng khoáng hơn, không bị gò bó theo một quy phạm nhất định của nhà nước Do tình hình chính trị, xã hội thời kì này ít ổn định, chiến tranh luôn xảy ra, dẫn đến hàng loạt những giá trị văn hoá, xã hội bị giảm sút đáng kể
Bia Hậu thời Tây Sơn cũng giống như các loại hình bia khác thời kì trước, chủ yếu là loại bia 2 mặt Mặt trước hay còn gọi là mặt dương ghi tên bia và nội dung chính của việc dựng bia Mặt sau hay còn gọi là mặt âm ghi tên các hội chủ, người đóng góp tiền, ruộng và có ghi thêm phần lạc khoản
Số lượng bia loại này là 136 chiếc, chiếm 54,1% trong tổng số bia Hậu thời kì này Thứ đến là bia 1 mặt, tổng cộng 85 bia chiếm 33,8%
Bia Hậu thời kì này cũng xuất hiện loại bia 3 mặt, loại bia này cũng thường được xếp vào loại bia 2 mặt tức là bia dẹt Tuy nhiên, hai mé bia hay còn gọi là hông bia cũng thường được khắc thêm chữ do mặt sau (mặt âm) bị hạn chế, hoặc chỉ khắc riêng phần niên đại ở mặt này Loại bia này có tổng cộng 15 bia chiếm khoảng 5,97%
Còn một loại bia đặc biệt nữa đó là loại bia 4 mặt, loại bia này thường được gọi là bia trụ, trong đó có cả loại bia dẹt được khắc cả 2 bên mé bia, tuy nhiên, loại bia này không nhiều Bia trụ có kích thước dao động chiều rộng từ 0,55 m x 0,21 m đến 1,10 m x 0,57 m, tổng cộng 16 bia chiếm 6,37%, trong
đó 15 bia mang nội dung Hậu thần, duy nhất 01 bia mang nội dung Hậu phật Văn bia Hậu thời Tây Sơn chủ yếu là bia Hậu thần và bia Hậu phật, một
số ít là bia Hậu hiền, Hậu giáp, Hậu phối, Hậu kị Kích cỡ giữa bia Hậu thần
Trang 35và bia Hậu phật cũng có sự chênh lệch đáng kể Theo thống kê của chúng tôi, trong tổng số 141 bia Hậu thần thì kích cỡ trung bình của loại bia này là 0,68
m x 0,40 m, trong 101 bia Hậu phật có kích cỡ trung bình là 0,60 m x 0,37m Như vậy, có thể nhận thấy rằng bia Hậu thần có kích cỡ trung bình lớn hơn bia Hậu phật và số lượng văn bia cũng nhiều hơn
1.4.1.2 Nghệ thuật điêu khắc trên bia
Về mặt hình thức, một tấm bia được coi là đẹp, cầu kì phải hội tụ đủ ít nhất 2 yếu tố cơ bản gồm: nghệ thuật điêu khắc trên bia và nghệ thuật thư pháp trên bia Hai yếu tố này được thể hiện ngay trên mặt bia khi chúng ta quan sát Cũng giống như kích cỡ của bia Hậu thời Tây Sơn, nghệ thuật điêu khắc trên bia thời kì này nhìn chung đơn giản hơn, có sự kế thừa và chọn lọc của những thời kì đi trước Do thời Tây Sơn những luật lệ cấm kị có phần nới lỏng, thoáng đạt hơn (cụ thể là không thấy xuất hiện lệ kiêng húy ở bia thời kì này, vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập ở mục sau) Cho nên những người thợ chạm khắc cũng được tự do hơn trong việc lựa chọn những đề tài theo ý của mình Hơn nữa, bia Hậu nói chung và bia Hậu Tây Sơn nói riêng là sản phẩm của dân gian, không bị gò bó bởi những quy phạm của nhà nước Kĩ thuật chạm khắc trên bia Tây Sơn phổ biến là kết hợp giữa khắc nổi và khắc chìm Tức là trên đường khắc nổi có hình kẻ chìm Kĩ thuật khắc nổi là đặc trưng kĩ thuật chạm khắc bia Lê, khắc chìm là đặc trưng kĩ thuật chạm khắc bia Mạc
Và ở đây kết hợp khắc chìm và nổi là tiêu biểu kĩ thuật chạm khắc bia Tây Sơn Cùng với những đặc trưng trên cách thể hiện hoa văn trang trí cũng có màu sắc riêng [41, tr.12]
Đề tài trang trí trên văn bia rất phong phú và đa dạng Theo thống kê sơ
bộ có 114 bia được sử dụng nghệ thuật điêu khắc trên bia, chiếm khoảng 45,4% tổng số bia Hậu thời Tây Sơn, số còn lại không thấy xuất hiện hoạ tiết
Trang 36trang trí trên bia Họa tiết trang trí chia làm 2 phần chính, đó là phần trán bia
và phần diềm bia Trán bia bao gồm những hình tượng và hoạ tiết: Rồng cách điệu (rồng hoá) chầu mặt nguyệt hay mặt nhật, cũng có khi gọi là lưỡng long tranh châu, mây bao quanh mặt trăng, hoa dây mặt trăng, rồng cách điệu chầu chữ thọ, mây bao quanh hình âm dương (tượng trưng của mặt trăng và mặt trời), hổ phù, chim phượng chầu mặt nguyệt, hình tròn độc lập, hoa sen cách điệu; Họa tiết trang trí trên diềm bia bao gồm: rồng hoá uốn lượn, hoa lá, mây lửa, chim, rùa, hoa sen, có khi là đôi câu đối, đèn hương, thú v.v , trong đó hoa lá, mây, dây leo là đề tài chủ yếu
Trước tiên, chúng tôi xin được đi sâu tìm hiểu chi tiết về bộ phận hoa văn và họa tiết trang trí trên trán bia Trán bia phần lớn là hình bán nguyệt có trang trí hoa văn và tên bia Tên bia được khắc bằng chữ Hán, thể chữ chân phương là chủ yếu, một số ít khắc theo lỗi chữ thảo, duy nhất có một bia được khắc theo lối chữ lệ Chữ khắc theo hai lối đó là khắc nổi và khắc chìm và
thường có tên là Hậu phật bi kí 後佛碑記, Hậu thần bi kí 後神碑記 v.v
Phía trên là họa tiết hoa văn trang trí thông thường
Rồng trên bia Hậu thời Tây Sơn được thể hiện ở một kiểu duy nhất là rồng cách điệu, gồm cách điệu lá và cách điệu mây, hay gọi là rồng hoá Hình rồng cách điệu này đã xuất hiện ở giai đoạn cuối Lê và tồn tại ở một số loại bia thời Nguyễn Tuy nhiên, trên bia Tây Sơn hình rồng cách điệu thường giản đơn, không rối rắm Các chi tiết phụ của rồng như mào, chân, đuôi được cách điệu bởi những ngọn lá hoặc những áng mây Đuôi rồng thường là một tàu lá chẻ đôi uốn cong về 2 phía Rồng tả thực mang dáng dấp rồng yên ngựa thân dài uốn nhiều khúc tựa hình rồng trang trí trên bia và đồ gốm Mạc [41, tr.12]
Thông thường ở giữa hai hình rồng là mặt nguyệt hay mặt nhật, dân gian
thường gọi là “lưỡng long triều nhật 兩龍朝日”, “lưỡng long triều nguyệt
Trang 37兩龍朝月” hoặc Lưỡng long tranh châu 兩龍爭珠 Có bia cũng chỉ khắc một hình mặt nhật hay mặt nguyệt ở giữa, cũng có thể là chữ Phật 佛, chữ Thọ
壽, hình đầu hổ, hình bông hoa sen có hoa văn bao quanh, cũng có những bia được chạm khắc theo lối phá cách như khắc và bài vị của người được lập hậu trên mặt bia hoặc ở giữa được chạm mặt nguyệt, hai bên là hình đại bàng tung cánh Mặt nguyệt thường to tròn, có hình âm dương tương phối, xung quanh được trang trí bằng những tua mây bao bọc hoặc không được trang trí hoa văn Mặt nhật cũng giống như mặt nguyệt, tuy nhiên, những hoạ tiết xung quanh không phải là mây mà là những hình ngọn lửa đang cháy
Diềm bia cũng được chạm khắc rất phong phú và đa dạng, mang đậm tính dân gian, cụ thể là những loài động thực vật luôn gần gũi trong đời sống của con người đã được các nghệ nhân thể hiện một cách khá tài tình Các loại thực vật như hoa mai, hoa tranh, hoa cúc, hoa sen, hệ thống dây leo liên tục nối tiếp nhau mềm mại và thanh thoát v.v Hình các loại động vật cũng được thể hiện như rồng, rùa, chim, hổ v.v Đặc biệt hơn, có những bia hai bên diềm bia được trang trí bằng 1 đôi câu đối viết theo lối chữ chân hoặc là chữ thảo, hay hình những ngọn cờ phướn và những cây đèn hương thể hiện tính trang nghiêm của một tấm bia Sự kết hợp hài hòa giữa họa tiết chạm khắc trên trán bia và xung quanh diềm bia cộng với chữ khắc trên bia đã tạo nên một bức tranh toàn cảnh về nghệ thuật điêu khắc của văn bia Hậu nói chung và văn bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng
1.4.1.3 Bố cục của bài văn bia và chữ viết trên bia
Văn bia cũng giống như những tác phẩm văn học nghệ thuật khác đều có một môtíp chung, được các soạn giả căn cứ vào đó để tạo ra những sản phẩm riêng của mình Khác với văn bia Hậu thời Lê, Mạc, văn bia Hậu thời Tây Sơn ít bài bản hơn Trong một bài văn bia có thể được bài trí trên một mặt, hai
Trang 38mặt, ba hoặc bốn mặt, tùy thuộc vào kích cỡ của bia và độ dài của bài văn bia
và bố cục thường được chia làm hai phần chính: Tên bia và nội dung Nội dung văn bia được chia làm các phần nhỏ như: bài kí, bài minh, thể lệ cúng Hậu, niên đại và phần lạc khoản
Trước hết, tên bia thường được khắc trên trán bia mặt trước (mặt dương), cũng có thể được khắc cả mặt sau (mặt âm), nhưng mặt sau thường lấy một
cái tên khác, như mặt trước có tên là Hậu thần bi kí 後神碑記, mặt sau lại lấy tên là Lưu truyền vạn đại 流傳萬代.Có một vài trường hợp không thấy tên
bia, nhưng nội dung có đề cập đến việc lập Hậu Tên bia thường được khắc theo chiều ngang, đọc từ phải qua trái Có những trường hợp được khắc ngay trên dòng đầu tiên của văn bản bia từ trên xuống dưới Chữ được khắc to theo
lối chữ chân phương, số ít là chữ thảo, chữ Lệ Ví dụ như: Hậu thần bi kí
後神碑記, Hậu phật bi kí 后佛碑記, Lập Hậu bi kí 立后碑記 v.v
Nội dung toàn văn của một bài văn bia đều được khắc bằng chữ Hán, một số đoạn xen kẽ chữ Nôm, đặc biệt là phần thể lệ cúng Hậu Chữ Nôm được sử dụng chủ yếu ghi tên người và tên địa danh Mở đầu là bài kí thường ghi địa danh nơi dựng bia, tên những người đứng ra lập Hậu và những người được lập Hậu, lí do lập Hậu, và có một đoạn nói về triết lí, tư tưởng của đạo Phật Như bia Bài kí thường ngắn gọn, súc tích, nhưng hàm chứa hầu hết toàn
bộ nội dung của bài văn bia Sau bài kí là liền đến bài minh Ở văn bia Hậu thời Tây Sơn số lượng bài minh không nhiều Theo thống kê sơ bộ, trong tổng
số 251 văn bia, có khoảng 13 văn bia có bài minh, 2 văn bia có bài thơ, 03 văn bia có bài thượng chúc, chiếm khoảng 12 % Bài minh mỗi đoạn có 4 câu,
mỗi câu 4 chữ Bài minh ngắn nhất là 4 câu, như bia Hậu thần bi kí
後神碑記 No 3348-3351, bài minh ca ngợi sở học và tài đức của người được
Trang 39Nguyễn Vũ, Học quán Nho y, Tam thôn chỉ trụ, Vạn đại danh bi / Họ tộc
xưng Nguyễn Vũ, Học vấn thấu Nho Y, Ba thôn đều ngưỡng vọng, mãi lưu danh muôn thuở) Nội dung của bài minh thường là ca ngợi công đức, phẩm
hạnh của những người được lập Hậu, hay ca ngợi cảnh đẹp của di tích Cũng
có khi kết thúc phần bài kí được tác giả thay bài minh bằng những bài thơ cổ, nhằm ca ngợi công trạng của người được lập Hậu, hoặc bài thượng chúc ca ngợi ân trạch của hoàng đế Tiếp đến là thể lệ cúng Hậu cũng được ghi một cách chi tiết quyền lợi được hưởng của những người được lập Hậu, nghĩa vụ của những người được lập Hậu, quy ước của dân làng đối với quyền lợi và nghĩa vụ của những người được lập Hậu, tiếp nữa là ghi cụ thể số tiền hoặc số diện tích ruộng và vị trí của thửa ruộng đó mà người được lập hậu công đức cho dân làng Niên đại dựng bia thường được ghi cỡ chữ lớn, viết đài, có những bia ghi niên đại riêng mặt sau, hoặc sang sườn bia Cuối cùng không thể thiếu đó là phần lạc khoản ghi rõ họ tên, chức tước của người soạn, người viết, khắc chữ của bài văn bia đó và việc kí nhận, điểm chỉ của những người
xử lí văn bản nhằm thể hiện tính chính xác những thông tin trên thác bản văn bia, chúng tôi đã cố gắng đưa ra những tiêu chí cho sự lựa chọn như: tên bia, nội dung của bài văn bia, niên đại bia, nghệ thuật điêu khắc v.v…
Trang 40Qua khảo sát trong tổng số 251 văn bia, chúng tôi đã phát hiện ra 06 văn bia có niên đại bị đục, theo ý chủ quan của chúng tôi thì trong những trường hợp này là do bị người đời sau đục xoá, vì toàn bộ bài văn bia chữ đều rõ nét, riêng phần niên đại lại có hiện tượng như trên Tuy nhiên, rất may là chữ trên dòng niên đại vẫn có thể đoán định ra được đó là niên đại thời Tây Sơn, đó là
các bia: Hậu thần bi kí No 5419; Hậu thần bi kí No 7212; Hậu thần bi kí No1540; Hậu phật bi kí No 5311; Hậu phật sự lệ bi kí No 1624; Long đẩu tự Hậu
bi kí No 1230
Một số trường hợp sai lệch về niên đại giữa Thư mục văn bia Việt Nam
và văn bản văn bia cụ thể Thực tế trong danh mục tóm tắt ghi là niên đại thời Tây Sơn nhưng cụ thể ghi trên bia lại là niên đại của một thời kì khác như văn
bản Hậu phật bi kí 後碑記 No 7056-7057, niên đại Cảnh Thịnh thứ 3 (1795), ở chùa thôn Tân Độ, xã Phấn Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Nội dung ghi việc ông Tạ Thành Tiến 謝成 进 cùng vợ là Trần Thị Lộc cúng
60 quan tiền và 1 mẫu 2 sào ruộng để giúp thôn và gửi giỗ, được dân làng bầu
làm Hậu phật Tuy nhiên, trong Thư mục văn bia Việt Nam ghi Vĩnh Thịnh 3
(1793), nhưng thực tế trong văn bản ghi Cảnh Thịnh thứ 3 (1795)
Một vài trường hợp có sự khác lệch về tên bia giữa Thư mục văn bia Việt
Nam và tên đề trong thác bản văn bia Thác bản mang kí hiệu No
20827-20828, Thư mục văn bia Việt Nam ghi: Gia lộc xã đình tả biên đệ nhất bi, nhưng thực tế văn bản ghi là Lưu truyền vạn đại, bia có niên đại Quang Trung
thứ 3 (1790), ở đình xã Gia Lộc, huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên, 3 mặt Nội
dung ghi thể lệ cúng tế và ngày giỗ của 3 Hậu thần là Hà Viết Thập 何曰什
cùng 2 người vợ là Lâm Thị Vinh 林氏榮 và Phạm Thị Nhiễu 范氏擾
Cơ sở đưa ra tiêu chí cho lựa chọn những thác bản văn bia thuộc loại bia Hậu cũng được chúng tôi rất coi trọng, vì trong luận văn này chúng tôi chỉ