TỔNG QUAN VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN VĂN BIA HẬU THỜI TÂY SƠN
1.4.2. Một số vấn đề văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn
Trong tổng số 352 văn bia thời Tây Sơn được Trường Viễn đông Bác cổ (Pháp) sưu tầm trước những năm 1945 hiện đang lưu giữ tại Thư viện - Viện nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi đã khảo sát và thống kê lựa chọn được 251 văn bia mang nội dung lập Hậu, bao gồm các thể loại lập Hậu như: Hậu thần, Hậu phật, Hậu hiền, Hậu giáp, Hậu phối, Hậu kị. Trong quá trình khảo sát và xử lí văn bản nhằm thể hiện tính chính xác những thông tin trên thác bản văn bia, chúng tôi đã cố gắng đưa ra những tiêu chí cho sự lựa chọn như: tên bia, nội dung của bài văn bia, niên đại bia, nghệ thuật điêu khắc v.v…
Qua khảo sát trong tổng số 251 văn bia, chúng tôi đã phát hiện ra 06 văn bia có niên đại bị đục, theo ý chủ quan của chúng tôi thì trong những trường hợp này là do bị người đời sau đục xoá, vì toàn bộ bài văn bia chữ đều rõ nét, riêng phần niên đại lại có hiện tượng như trên. Tuy nhiên, rất may là chữ trên dòng niên đại vẫn có thể đoán định ra được đó là niên đại thời Tây Sơn, đó là các bia: Hậu thần bi kí No 5419; Hậu thần bi kí No 7212; Hậu thần bi kí No 1540; Hậu phật bi kí No 5311; Hậu phật sự lệ bi kí No 1624; Long đẩu tự Hậu bi kí No 1230.
Một số trường hợp sai lệch về niên đại giữa Thư mục văn bia Việt Nam và văn bản văn bia cụ thể. Thực tế trong danh mục tóm tắt ghi là niên đại thời Tây Sơn nhưng cụ thể ghi trên bia lại là niên đại của một thời kì khác như văn bản Hậu phật bi kí 後碑記 No 7056-7057, niên đại Cảnh Thịnh thứ 3 (1795), ở chùa thôn Tân Độ, xã Phấn Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Nội dung ghi việc ông Tạ Thành Tiến 謝成 进 cùng vợ là Trần Thị Lộc cúng 60 quan tiền và 1 mẫu 2 sào ruộng để giúp thôn và gửi giỗ, được dân làng bầu làm Hậu phật. Tuy nhiên, trong Thư mục văn bia Việt Nam ghi Vĩnh Thịnh 3 (1793), nhưng thực tế trong văn bản ghi Cảnh Thịnh thứ 3 (1795).
Một vài trường hợp có sự khác lệch về tên bia giữa Thư mục văn bia Việt Nam và tên đề trong thác bản văn bia. Thác bản mang kí hiệu No 20827- 20828, Thư mục văn bia Việt Nam ghi: Gia lộc xã đình tả biên đệ nhất bi, nhưng thực tế văn bản ghi là Lưu truyền vạn đại, bia có niên đại Quang Trung thứ 3 (1790), ở đình xã Gia Lộc, huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên, 3 mặt. Nội dung ghi thể lệ cúng tế và ngày giỗ của 3 Hậu thần là Hà Viết Thập 何曰什 cùng 2 người vợ là Lâm Thị Vinh 林氏榮 và Phạm Thị Nhiễu 范氏擾.
Cơ sở đưa ra tiêu chí cho lựa chọn những thác bản văn bia thuộc loại bia Hậu cũng được chúng tôi rất coi trọng, vì trong luận văn này chúng tôi chỉ
quan tâm đến mảng bia Hậu thời kì này. Do vậy, để lựa chọn những thác bản văn bia thuộc nhóm bia Hậu không chỉ căn cứ vào những bia mang tên cụ thể như Hậu thần bi kí 後神碑記, Hậu phật bi kí 後佛碑記, Lập hậu bi kí 立后碑記 mà chúng tôi còn phải dựa vào nội dung của từng văn bản cụ thể để đưa ra những con số chính xác về những bia có nội dung lập Hậu.
Có những trường hợp tên bia có tên đầy đủ là Hậu thần bi kí 後神碑記, hay Hậu phật bi kí, 後佛碑記 nhưng nội dung bên trong không thấy đề cập đến việc lập Hậu mà chỉ ghi danh sách những người cúng tiền, ruộng như bia Hậu phật bi kí 後碑記 No 7914-7915, mang niên đại Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) ở chùa xã Chu Điền, huyện Phượng Nhãn, tỉnh Bắc Giang, 2 mặt, khổ 0,75 m x 0,43 m; 16 dòng, dòng 3-38 chữ. Nội dung chỉ ghi họ tên các thiện nam, tín nữ đóng góp tiền, ruộng cho thôn Thân và thôn Hà sửa chùa.
Bia Hậu phật bi kí 後碑記 No 6356-6357, mang niên đại Cảnh Thịnh thứ 1(1973) ở chùa Bảo Khánh, xã Tuyên Bố, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, 2 mặt, khổ 0,93 m x 0,40 m; 28 dòng, dòng 1-35 chữ. Nội dung ghi việc thờ đạo Nho và đạo Phật, chung qui cũng như nhau. Các sư sãi chùa Bảo Khánh mua 3 mẫu ruộng để cúng giỗ nhà sư và mẹ nhà sư. Tuy nhiên, những trường hợp này vẫn nằm trong tiêu chí lựa chọn số 1, vì bản thân tiêu đề của văn bia đã thể hiện đầy đủ tính chất của một tấm bia Hậu.
Có một số trường hợp tên bia không theo môtíp chung là Hậu thần bi kí 後神碑記, Hậu phật bi kí 後佛碑記, nhưng nội dung lại đề cập rất cụ thể đến việc lập Hậu và thể lệ lập Hậu. Đây cũng được coi là đặc trưng của loại bia Hậu và cũng nằm trong tiêu chí cho sự lựa chọn. Loại văn bia này chiếm tỉ lệ không nhiều, như văn bia Bách thế bất thiên 百世不遷 No 6492-6493, niên đại Quang Trung thứ 5 (1792), ở chùa xã Thanh Điền, huyện Yên Lãng, tỉnh
Phúc Yên. Nội dung ghi việc bà họ Nguyễn, hiệu Từ Thái 慈太 cúng cho làng 60 quan tiền, được dân làng bầu làm Hậu phật. Thể lệ cúng giỗ hàng năm theo qui định ghi trong bia. Bia Hoàng hà thái sơn 黃河泰山 No 9015-9016, niên đại Bảo Hưng thứ 2 (1802), ở đình xã Đại Mão, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, 2 mặt. Nội dung ghi việc bà Ngô Thị Nghiêm 吳氏嚴 cúng tiền ruộng cho xã được tôn làm Hậu thần.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi cũng phát hiện ra một số trường hợp, thực tế trên văn bản có nội dung là bia Hậu phật nhưng lại được người sưu tầm ghi trên bia là đặt ở đình và ngược lại. Về nguyên tắc, thông thường khi một người nào đó tự nguyện xin được bỏ một khoản tiền hay một số diện tích ruộng nào đó cúng tiến vào trong chùa mà người đó được quan viên trong xã, thôn chấp nhận thì coi như người đó được làm Hậu phật tại ngôi chùa đó và tấm bia dựng lên cũng được đặt tại khuôn viên nơi tôn nghiêm trong chùa.
Tuy nhiên, có những bia Hậu phật lại được đặt ở đình nơi thờ Thành hoàng làng, và những bia Hậu thần lại được dựng ở chùa. Điều này, trái với tín ngưỡng trong dân gian và chắc chắn do người đời sau làm vì một số lí do nào đó, tuy nhiên không phải là cố ý. Có thể do chiến tranh hay sự huỷ hoại của thời gian dẫn đến chùa làng bị tàn phá, không có điều kiện trùng tu xây dựng lại. Do vậy, những vật dụng thờ tự còn sót lại đều được đem về để ở đình làng, trong đó có cả bia đá. Một lí do nữa là do người trong làng không hiểu chữ nghĩa khi phát hiện thấy một tấm bia nào đó nơi ao hồ hay ruộng vườn liền đem về đình làng để và coi như đó là bia đình, nhưng thực tế đó lại là bia chùa v.v…, như bia Hậu phật bi kí 後碑記 No 7291-7292, niên đại Quang Trung thứ 4 (1791), ở đình thôn Chu Xá, xã Đạo Khê, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Nội dung bia ghi bà Nguyễn Thị Ngữ 阮氏語 là người đức hạnh, từ bi, đã cúng 30 quan tiền, 1 mẫu, 1 sào ruộng giúp dân làng khi bị bão lụt, mất
mùa nên được dân làng bầu làm Hậu phật. Thể lệ cúng giỗ hàng năm theo qui định ghi trong bia. Bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 5419-5422, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793), ở chùa xã Quần Phương thượng, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định được chạm mặt trời, mây và trang trí xung quanh. Nội dung ghi việc bà Phạm Thị Hoa 范氏华 vợ Tri phủ và Tri châu Trần Công Chính 陳公正 xuất 14 mẫu ruộng và 140 quan tiền cho xã nên được bầu làm Hậu thần.
Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi trong tổng số 251 bia Hậu thời Tây Sơn, bia ít mặt nhất là một mặt, bia nhiều mặt nhất là 4 mặt. Con số cụ thể như sau: Bia 1 mặt 58 bia chiếm 23,1 %; bia 2 mặt 131 bia chiếm 52,1 %; bia 3 mặt 15 bia 5,97 %; bia 4 mặt 16 bia chiếm 6,37 %. Như vậy, bia 3 mặt chiếm tỉ lệ thấp nhất với con số cụ thể 15/251, bia có tỉ lệ nhiều nhất là loại bia 2 mặt, con số cụ thể 131/251, đây cũng được coi là loại bia phổ biến nhất, tổng cộng 463 mặt bia. Nhìn chung, các thác bản văn bia Hậu thời Tây Sơn đều rõ nét, ngoại trừ một vài thác bản mờ, nhòe, duy nhất một thác bản bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 15065-15066, tạo năm Quang Trung thứ 5 (1792), ở chùa Mĩ Nhân, xã Lí Nhân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Yên, 2 mặt, khổ 0,50 m x 0,40 m. Toàn bộ văn tự ghi trên bia đều mờ gần hết, do vậy, nội dung và toàn bộ thông tin ghi trong bia không thể khai thác được.
Trên đây là một số vấn đề về văn bản trong quá trình khảo sát, đối chiếu, so sánh mà chúng tôi đã gặp phải và có đưa ra một số những tiêu chí cụ thể cho việc lựa chọn, nhằm thuận tiện cho công việc của mình.
1.4.2.2. Người soạn, người viết và thợ khắc a) Người soạn
Văn bia Hậu nói chung và văn bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng rất gần gũi với những phong tục, tập quán, tín ngưỡng nơi làng xã. Do vậy, đội ngũ
những người soạn, người viết và thợ khắc phần lớn là những thành phần thuộc tầng lớp quan lại chức sắc địa phương, hay những người có học vị không cao như các Giám sinh, Sinh đồ, Nho sinh hay các Sa môn trong chùa. Tuy nhiên, cũng có một số người có học vị đỗ đạt cao như Tiến sĩ, người giữ các chức vụ trọng trách trong triều đình, hay ở các tỉnh.
Trong tổng số 251 văn bia Hậu thời Tây Sơn, có 52 văn bia ghi rõ họ tên, chức danh người soạn, có những bia còn ghi thêm cả địa chỉ người soạn như bia Hậu thần bi kí 后神碑記 No 03612 – 03613, tạo năm Quang Trung thứ 3 (1790) phần lạc khoản tên người soạn ghi 邑 人 吏 部 員 外 郎 兼 錦 江 縣 右 管 理 卞 姓 撰 [Ấp nhân Lại bộ viên ngoại lang kiêm Cẩm Giang huyện hữu quản lí Biện tính soạn / Lại bộ Viên ngoại lang kiêm Hữu quản lí huyện Cẩm Giang họ Biện người trong ấp soạn].Số còn lại không thấy ghi tên người soạn. Như vậy, số người soạn được ghi trên bia có tỉ lệ rất thấp chiếm 20,7 %. Số bia mang nội dung Hậu thần là chủ yếu, bia mang nội dung Hậu phật chiếm số lượng nhỏ, cụ thể như sau: 42 bia Hậu thần; 08 bia Hậu phật; 01 bia mang nội dung Hậu hiền. Trong số 251 đó bao gồm: Điển thư 01 bia, Giám sinh 06 bia, Hiệu sinh 02 bia, Học sinh 2 bia, Huấn khoa 01 bia, Lại bộ viên ngoại lang 01 bia, Nho sinh 01 bia, Phủ sinh 01 bia, Sa môn 01 bia, Sinh đồ 02 bia, Thái học sinh 01 bia, Tiến sĩ 05 bia, Tri huyện 01 bia, Trúng thức 01 bia, Xã chánh 01 bia, Xã trưởng 05 bia, thành phần khác 19 bia.
Bảng 1.4: Cương vị người soạn văn bia
STT Cương vị người soạn Tổng số bia Tỉ lệ %
01 Điển thư 01 1,92
02 Giám sinh 06 11,53
03 Hiệu sinh 02 3,48
04 Học sinh 02 3,48
05 Huấn khoa 01 1,92
06 Lại bộ viên ngoại lang 01 1,92
07 Nho Sinh 01 1,92
08 Phủ Sinh 01 1,92
09 Sa môn 01 1,92
10 Sinh đồ 02 3,48
11 Thái học sinh 01 1,92
12 Tiến sĩ 05 9,61
13 Tri huyện 01 1,92
14 Tri phủ 01 1,92
15 Trúng thức 01 1,92
16 Xã chánh 01 1,92
17 Xã trưởng 05 9,61
18 Thành phần khác 19 36,53
Tổng cộng 52
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy những người tham gia soạn văn bia Hậu thời kì này có học vị đỗ đạt cao chiếm số lượng rất ít. Với tổng số 05 người/251 bia là một con số khá khiêm tốn. Trong đó có 04 bia thuộc thể loại Hậu thần, còn lại 01 bia mang nội dung Hậu phật. Những văn bia này đều do các nhà khoa bảng soạn, nên đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật.
- Trần Danh Án 陳名按 (1754-1794), hiệu là Tản Ông 散翁 và Liễu Am 柳庵, thụy Tung Mẫn 忠敏, người xã Bảo Triện, huyện Gia Định (nay thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống 1(1787) đời vua Lê
Mẫn Đế, ông làm quan chức Viên ngoại lang. Khi nhà Tây Sơn kéo quân ra bắc, Lê Chiêu Thống chạy sang với nhà Thanh (Trung Quốc), ông trốn về quê cùng Trần Quang Châu và Dương Đình Tuấn khởi binh chống lại nhà Tây Sơn. Đến khi nghe tin Lê Chiêu Thống Chết ở Trung Quốc ông gào khóc thương xót rồi chết [27, tr. 231]. Ông là tác giả của bài văn bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 4251-4253, tạo năm Quang Trung thứ 5 (1792), ở đình Khang Phụ, xã Gia Phú, huyện Gia Bình, Tỉnh Bắc Ninh. Nội dung ghi việc Thừa chính sứ Lê Đôn Mẫn có công làm cho dân không phải phiêu bạt, không phải đóng thuế ruộng v.v… Ông lại bỏ tiền ra mua Hương án và cúng 200 quan tiền, 3 mẫu ruộng, nên được dân làng bầu làm Hậu thần. Thể lệ cúng giỗ theo qui định ghi trong bia.
- Tiến Sĩ Đẩu phong cư sĩ Lê Tín Phủ là tác giả của bài văn bia Phụ thần bi kí 附神碑記 No 12764-12767, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801), ở đình Đình xã La Đôi, tổng La Đôi, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Nội dung ghi việc Ông Phạm Đồng Viện 范同院 đỗ Tiến sĩ làm quan đến chức Hàn lâm Thị giảng, đã bỏ tiền ra làm đình cho làng, lại cấp chẩn cho dân gặp năm đói, được dân làng bầu làm Hậu thần.
- Trần Bá Lãm 陳伯覽 (1758-1815), hiệu Viễn Trai 遠斎, tự Tỉnh Phủ 省甫, người xã Vân Canh, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Xuân Phương, huyện Hoài Đức, Hà Nội). Ông thi đỗ đồng chế khoa xuất thân năm Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống 1 (1787) đời vua Lê Mẫn Đế. Thời Lê, ông giữ các chức quan như: Đô cấp sự trung, Đốc đồng Hải Dương. Thời Nguyễn, ông làm Đốc đồng Bắc Thành, hàm đông các Đại học sĩ [27, tr.517]. Ông là tác giả của bài văn bia Hậu phật bi kí 后佛碑記 No 1603-1604, tạo nămCảnh Thịnh thứ 3 (1795), ở
chùa Linh Ứng, xã Phượng Cách, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông. Nội dung ghi việc bà họ Nguyễn 阮, hiệu Từ Nghi 慈議 là người đức hạnh.
Khi xã cần chi tiêu việc công, bà đã cúng 15 quan tiền, 5 sào ruộng nên được dân làng bầu làm Hậu phật. Thể lệ cúng giỗ theo qui định.
Bên cạnh những nhà khoa bảng lớn còn xuất hiện một đội ngũ những soạn giả thuộc hàng ngũ như Giám sinh, Nho sinh, Phủ sinh, Hiệu sinh, Huấn khoa v.v… Tầng lớp này đều là những người có trình độ kinh qua trường lớp, rất được trọng dụng, có người làm quan, có người còn đang đi học, có những người là những ông đồ mở lớp dạy học ở thôn làng, như:
- Cựu Giám sinh họ Phùng là tác giả của bài văn bia Hậu từ bi kí 後祠碑記 No 7476, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1789), ở xã Nhuận Trạch, huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây. Nội dung ghi việc bà Nguyễn Thị Pha 阮氏頗 là người từ thiện, tuổi già không nơi nương tựa đã cúng 300 quan tiền xanh, 40 sào ruộng cho làng xin làm hậu từ.
- Hiệu sinh Lê Thế Tước tác giả của bài văn bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 4249-4250, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793), ở đình Khang Phụ, xã Gia Phú, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Nội dung ghi việc ông họ Trần 陳 đỗ Tiến sĩ, là con rể họ Lê 黎 cúng 300 quan tiền, 1 mẫu 3 sào ruộng để mua hậu cho bố vợ đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn. Thể lệ cúng giỗ, biếu theo nghi thức.
Ngoài ra, còn một nhóm người, họ là những quan chức địa phương như tri huyện, xã trưởng, hay các Sa môn trong chùa v.v… tham gia soạn, như:
- Ông họ Nguyễn là Tri huyện huyện Gia Lâm, tác giả của văn bia Hậu bi kí 後碑記 No 10077, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799), ở ngõ Ngọ Bàng, xã Hạ Lôi, huyện Yên Mĩ, tỉnh Phúc Yên. Nội dung ghi việc Bà
Nguyễn Thị Tiết 阮氏節 cúng cho Làng 25 quan tiền và 6 sào ruộng.
Dân làng bầu vợ chồng bà làm Hậu thần;
- Xã trưởng Đỗ Trọng Dĩnh tác giả của văn bia Hậu thần bi 後神碑 No 12776, tạo năm Quang Trung thứ 2 (1789), ở đình xã Kinh Dương, tổng La Đôi, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Nội dung ghi việc Ông Trịnh Tư Thu 鄭司秋 bỏ ra 15 quan tiền cổ để dân chi dùng vào việc quan và 1 mẫu ruộng cho việc đèn nhang, được dân lập Hậu thần. Có qui định thể lệ cúng giỗ hàng năm.
- Sa môn Thích Điều, tác giả của văn bia Hậu phật bi kí 後後碑記 N o 6356-6357 tạo năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793), ở chùa Bảo Khánh, xã Tuyên Bố, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Nội dung ghi việc Thờ đạo Nho và đạo Phật, chung qui cũng như nhau. Các sư sãi chùa Bảo Khánh mua 3 mẫu ruộng để cúng giỗ nhà sư và mẹ nhà sư.
Văn bia Hậu thời Tây Sơn thường được viết theo một môtíp chung không quá phức tạp, về mặt ngôn ngữ, nội dung không có tính bác học như những thể loại văn bia khác, rất gần gũi với đời sống sinh hoạt của người dân hàng ngày. Do vậy, trong thôn làng, người nào hiểu biết đôi chút chữ nghĩa cũng có thể tham gia soạn:
- Ông Lương Trần Đạt tác giả của văn bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 7076, tạo năm Quang Trung thứ 3 (1790), ở đình thôn Hoàng Phúc, xã Cô Tháp, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Nội dung ghi việc Bà Nguyễn Thị Tương 阮氏相 là vợ cả ông Hà Lệnh Công tự Pháp Sự cúng 100 quan tiền, 2 mẫu ruộng để ấp sửa đình, nên được dân làng bầu làm Hậu thần v.v…