Hình thức của văn bản bia Hậu thời Tây Sơn

Một phần của tài liệu Tìm hiểu văn bia hậu thời Tây Sơn (Trang 31 - 39)

TỔNG QUAN VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN VĂN BIA HẬU THỜI TÂY SƠN

1.4.1. Hình thức của văn bản bia Hậu thời Tây Sơn

Xét về hình thức của bia là chúng ta nghĩ ngay đến hình dáng bên ngoài của một tấm bia, bao hàm các tiêu chí: bia dẹt, bia trụ hay bia ma nhai, kích cỡ của một tấm bia, nghệ thuật điêu khắc trang trí trên một tấm bia và đi sâu hơn nữa là nội dung cấu trúc văn bản của một tấm bia. Một tấm bia được gọi là hoàn chỉnh phải hội đủ hai yếu tố cơ bản đó là văn bản khắc trên đá và nghệ thuật điêu khắc trên đá. Và hình thức của văn bản văn bia Hậu thời Tây Sơn về cơ bản cũng tuân thủ theo những tiêu chí của văn bản bia nói chung.

1.4.1.1. Kích thước ca bia

Thực tế cho thấy, từ xưa tới nay, chưa có một quy định cụ thể nào đặt ra kích cỡ cho việc khắc bia. Tuy nhiên, theo truyền thống thì loại bia có kích cỡ to thường là những bia của nhà nước hay những cá nhân có điều kiện kinh tế khá giả, hoặc là những vùng có truyền thống dựng bia cũng như nguyên liệu đá làm bia dễ khai thác. Trải qua lịch sử các triều đại cũng vậy, sự khác nhau về các mặt như hoa văn trang trí, phong cách văn tự có phần rõ rệt hơn, nhưng về kích cỡ thì không có sự thay đổi. Đặc biệt, bia được dựng ở những nơi trang nghiêm như Văn miếu - Quốc tử giám Hà Nội, Văn miếu - Huế, hay một số lăng tẩm của các vị vua chúa hầu hết đều có kích cỡ vượt trội, được chạm khắc tinh xảo, rất chú trọng về mặt nội dung và thư pháp, trở thành những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc mang tính thời đại. Văn bia kết hợp với quần thể kiến trúc, khí vật nơi thờ tự, thể hiện sự trang nghiêm, đó chính là nét đặc trưng của những di tích danh lam thắng cảnh. Số còn lại hầu hết bia được dựng chủ yếu ở các di tích như đình, chùa, miếu v.v... khắp các làng xã nông thôn Việt Nam, phần lớn có kích thước vừa phải, ngoại trừ những bia

được dựng nên do những người giàu có trong làng, hoặc những người có chức sắc, địa vị xã hội.

Với bia Hậu nói chung và bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng được xếp vào loại có kích thước khiêm tốn, bia có kích thước lớn chiếm số lượng ít, số còn lại đa phần có kích thước vừa và nhỏ. Bia Hậu có tích chất bình dân nên không lệ thuộc quá nhiều vào những qui phạm chặt chẽ của nhà nước. Thông thường bia lớn hay nhỏ, chữ viết và hoa văn trang trí đẹp hay xấu phụ thuộc địa vị trong xã hội của người được lập Hậu và số tiền do người đó bỏ ra công đức và trong phạm vi lệ làng cũng không có một quy định cụ thể cho việc này.

Theo thống kê sơ bộ, kích thước bia Hậu thời kì này khá dao động từ 0,35m x 0,23 m đến 1,15m x 0,58 m, tỉ lệ trung bình là 0,65 m x 0,39 m.

Chúng tôi chia thành 3 loại kích cỡ chính.

Bảng 1.3: Kích thước của văn bia

STT Kích cỡ (m) Số lượng (bia)

Loại 1 0,35 x 0,23 – 0,60 x 0,45 109

Loại 2 0,61 x 0,45 – 0,98 x 0,68 136

Loại 3 1,00 trở lên 06

Theo thống kê số bia có kích thước chiều cao từ 1 mét trở lên không nhiều, chỉ có 06 bia bao gồm: Hậu thần bi kí 後神碑記 No 11081, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793) ở Đình xã Mĩ Phúc, huyện Phất Lộc, tỉnh Bắc Giang. Bia 1 mặt, cao 1,00 m, rộng 0,42 m; Hậu từ bi kí 後祠碑記 No 7476,

tạo năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799) ở Xã Nhuận Trạch, huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây. Bia 1 mặt, cao 1,00 m, rộng 0,59 m; Hậu thần bi 後神碑 No 5980, tạo năm Quang Trung thứ 4 (1791) ở Đình An Mĩ, xã Lại Thượng, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh. Bia 2 mặt, cao 1,10 m, rộng 0,44 m; Vô đề No 10115, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793) ở Đình thôn Đại, xã Cổ Trai, huyện Kiến Thủy, Kiến An. Bia 4 mặt, cao 1,10 m, rộng 0,57 m; Hậu kị bi kí 後忌碑記 No 10980, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797) ở Đình xã Phú Xuyên, huyện Phất Lộc, tỉnh Bắc Giang. Bia 1 mặt, cao 1,13 m, rộng, 0,56 m;

Hậu phật bi 後佛 記 No 4219, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1789) ở Mộ Trần Tướng Công, xã Phương Tiện, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Bia 1 mặt, cao 1,15 m, rộng 0,58 m. Trong đó bia 1 mặt 04 chiếc, bia 2 mặt 01 chiếc, bia 4 mặt 01 chiếc. Nếu như đem so sánh với bia Hậu của các thời kì trước, đặc biệt thời Lê thì bia Hậu thời Tây Sơn có kích cỡ khiêm tốn hơn, họa tiết trang trí cũng đơn giản hơn. Bia thời Lê được làm khá cẩn thận có nhiều bia 2 mặt cỡ lớn, nhiều bia trụ 4 mặt với mái che hình chóp có các đường gờ hoa văn uốn lượn công phu, ngoài ra còn có một loại bia đặc biệt là bia tượng. Bia tượng là loại bia có mặt trước tạc chân dung Hậu, mặt sau mài phẳng để khắc văn bia.

Nhìn chung, bia thời Lê khá được chú trọng về mặt trang trí [03, tr. 59]. Đơn cử đem so sánh cụ thể với kích cỡ 243 văn bia đình thế kỉ XVII thì thấy kích cỡ bia đình thế kỉ XVII có kích cỡ khá lớn, con số thống kê bia đình thế kỉ XVII cụ thể như sau:

- Loại 1: Gồm những bia có kích cỡ lớn với chiều cao từ 1,00 m và chiều ngang 0,94 m trở lên. Loại bia này có 82 bia.

- Loại 2 : Gồm những bia có kích cỡ trung bình, với chiều cao từ 0,70 m - 0,98 m và chiều rộng từ 0,40 m - 0,60 m. Loại bia này có khoảng 150 bia.

- Loại 3. Gồm những bia có kích cỡ nhỏ, với chiều cao 0,38 m - 0,70 m, và chiều rộng từ 0,9 m - 0,22 m. Loại này có 10 bia [17, tr. 16]

Như vậy, khi so sánh hai bản thống kê trên thì kích cỡ văn bia Hậu thời Tây Sơn trái ngược hoàn toàn so với kích cỡ văn bia đình thế kỉ XVII. Và đây cũng là đặc trưng của văn bia Hậu thời Tây Sơn, đơn giản hơn, phóng khoáng hơn, không bị gò bó theo một quy phạm nhất định của nhà nước. Do tình hình chính trị, xã hội thời kì này ít ổn định, chiến tranh luôn xảy ra, dẫn đến hàng loạt những giá trị văn hoá, xã hội bị giảm sút đáng kể.

Bia Hậu thời Tây Sơn cũng giống như các loại hình bia khác thời kì trước, chủ yếu là loại bia 2 mặt. Mặt trước hay còn gọi là mặt dương ghi tên bia và nội dung chính của việc dựng bia. Mặt sau hay còn gọi là mặt âm ghi tên các hội chủ, người đóng góp tiền, ruộng và có ghi thêm phần lạc khoản.

Số lượng bia loại này là 136 chiếc, chiếm 54,1% trong tổng số bia Hậu thời kì này. Thứ đến là bia 1 mặt, tổng cộng 85 bia chiếm 33,8%.

Bia Hậu thời kì này cũng xuất hiện loại bia 3 mặt, loại bia này cũng thường được xếp vào loại bia 2 mặt tức là bia dẹt. Tuy nhiên, hai mé bia hay còn gọi là hông bia cũng thường được khắc thêm chữ do mặt sau (mặt âm) bị hạn chế, hoặc chỉ khắc riêng phần niên đại ở mặt này. Loại bia này có tổng cộng 15 bia chiếm khoảng 5,97%.

Còn một loại bia đặc biệt nữa đó là loại bia 4 mặt, loại bia này thường được gọi là bia trụ, trong đó có cả loại bia dẹt được khắc cả 2 bên mé bia, tuy nhiên, loại bia này không nhiều. Bia trụ có kích thước dao động chiều rộng từ 0,55 m x 0,21 m đến 1,10 m x 0,57 m, tổng cộng 16 bia chiếm 6,37%, trong đó 15 bia mang nội dung Hậu thần, duy nhất 01 bia mang nội dung Hậu phật.

Văn bia Hậu thời Tây Sơn chủ yếu là bia Hậu thần và bia Hậu phật, một số ít là bia Hậu hiền, Hậu giáp, Hậu phối, Hậu kị. Kích cỡ giữa bia Hậu thần

và bia Hậu phật cũng có sự chênh lệch đáng kể. Theo thống kê của chúng tôi, trong tổng số 141 bia Hậu thần thì kích cỡ trung bình của loại bia này là 0,68 m x 0,40 m, trong 101 bia Hậu phật có kích cỡ trung bình là 0,60 m x 0,37m.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng bia Hậu thần có kích cỡ trung bình lớn hơn bia Hậu phật và số lượng văn bia cũng nhiều hơn.

1.4.1.2. Ngh thut điêu khc trên bia

Về mặt hình thức, một tấm bia được coi là đẹp, cầu kì phải hội tụ đủ ít nhất 2 yếu tố cơ bản gồm: nghệ thuật điêu khắc trên bia và nghệ thuật thư pháp trên bia. Hai yếu tố này được thể hiện ngay trên mặt bia khi chúng ta quan sát. Cũng giống như kích cỡ của bia Hậu thời Tây Sơn, nghệ thuật điêu khắc trên bia thời kì này nhìn chung đơn giản hơn, có sự kế thừa và chọn lọc của những thời kì đi trước. Do thời Tây Sơn những luật lệ cấm kị có phần nới lỏng, thoáng đạt hơn (cụ thể là không thấy xuất hiện lệ kiêng húy ở bia thời kì này, vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập ở mục sau). Cho nên những người thợ chạm khắc cũng được tự do hơn trong việc lựa chọn những đề tài theo ý của mình. Hơn nữa, bia Hậu nói chung và bia Hậu Tây Sơn nói riêng là sản phẩm của dân gian, không bị gò bó bởi những quy phạm của nhà nước. Kĩ thuật chạm khắc trên bia Tây Sơn phổ biến là kết hợp giữa khắc nổi và khắc chìm.

Tức là trên đường khắc nổi có hình kẻ chìm. Kĩ thuật khắc nổi là đặc trưng kĩ thuật chạm khắc bia Lê, khắc chìm là đặc trưng kĩ thuật chạm khắc bia Mạc.

Và ở đây kết hợp khắc chìm và nổi là tiêu biểu kĩ thuật chạm khắc bia Tây Sơn. Cùng với những đặc trưng trên cách thể hiện hoa văn trang trí cũng có màu sắc riêng. [41, tr.12].

Đề tài trang trí trên văn bia rất phong phú và đa dạng. Theo thống kê sơ bộ có 114 bia được sử dụng nghệ thuật điêu khắc trên bia, chiếm khoảng 45,4% tổng số bia Hậu thời Tây Sơn, số còn lại không thấy xuất hiện hoạ tiết

trang trí trên bia. Họa tiết trang trí chia làm 2 phần chính, đó là phần trán bia và phần diềm bia. Trán bia bao gồm những hình tượng và hoạ tiết: Rồng cách điệu (rồng hoá) chầu mặt nguyệt hay mặt nhật, cũng có khi gọi là lưỡng long tranh châu, mây bao quanh mặt trăng, hoa dây mặt trăng, rồng cách điệu chầu chữ thọ, mây bao quanh hình âm dương (tượng trưng của mặt trăng và mặt trời), hổ phù, chim phượng chầu mặt nguyệt, hình tròn độc lập, hoa sen cách điệu; Họa tiết trang trí trên diềm bia bao gồm: rồng hoá uốn lượn, hoa lá, mây lửa, chim, rùa, hoa sen, có khi là đôi câu đối, đèn hương, thú v.v..., trong đó hoa lá, mây, dây leo là đề tài chủ yếu.

Trước tiên, chúng tôi xin được đi sâu tìm hiểu chi tiết về bộ phận hoa văn và họa tiết trang trí trên trán bia. Trán bia phần lớn là hình bán nguyệt có trang trí hoa văn và tên bia. Tên bia được khắc bằng chữ Hán, thể chữ chân phương là chủ yếu, một số ít khắc theo lỗi chữ thảo, duy nhất có một bia được khắc theo lối chữ lệ. Chữ khắc theo hai lối đó là khắc nổi và khắc chìm và thường có tên là Hậu phật bi kí 後佛碑記, Hậu thần bi kí 後神碑記 v.v...

Phía trên là họa tiết hoa văn trang trí thông thường.

Rồng trên bia Hậu thời Tây Sơn được thể hiện ở một kiểu duy nhất là rồng cách điệu, gồm cách điệu lá và cách điệu mây, hay gọi là rồng hoá. Hình rồng cách điệu này đã xuất hiện ở giai đoạn cuối Lê và tồn tại ở một số loại bia thời Nguyễn. Tuy nhiên, trên bia Tây Sơn hình rồng cách điệu thường giản đơn, không rối rắm. Các chi tiết phụ của rồng như mào, chân, đuôi được cách điệu bởi những ngọn lá hoặc những áng mây. Đuôi rồng thường là một tàu lá chẻ đôi uốn cong về 2 phía. Rồng tả thực mang dáng dấp rồng yên ngựa thân dài uốn nhiều khúc tựa hình rồng trang trí trên bia và đồ gốm Mạc [41, tr.12].

Thông thường ở giữa hai hình rồng là mặt nguyệt hay mặt nhật, dân gian thường gọi là “lưỡng long triều nhật 兩龍朝日”, “lưỡng long triều nguyệt

兩龍朝月” hoặc Lưỡng long tranh châu 兩龍爭珠. Có bia cũng chỉ khắc một hình mặt nhật hay mặt nguyệt ở giữa, cũng có thể là chữ Phật 佛, chữ Thọ 壽, hình đầu hổ, hình bông hoa sen có hoa văn bao quanh, cũng có những bia được chạm khắc theo lối phá cách như khắc và bài vị của người được lập hậu trên mặt bia hoặc ở giữa được chạm mặt nguyệt, hai bên là hình đại bàng tung cánh. Mặt nguyệt thường to tròn, có hình âm dương tương phối, xung quanh được trang trí bằng những tua mây bao bọc hoặc không được trang trí hoa văn. Mặt nhật cũng giống như mặt nguyệt, tuy nhiên, những hoạ tiết xung quanh không phải là mây mà là những hình ngọn lửa đang cháy.

Diềm bia cũng được chạm khắc rất phong phú và đa dạng, mang đậm tính dân gian, cụ thể là những loài động thực vật luôn gần gũi trong đời sống của con người đã được các nghệ nhân thể hiện một cách khá tài tình. Các loại thực vật như hoa mai, hoa tranh, hoa cúc, hoa sen, hệ thống dây leo liên tục nối tiếp nhau mềm mại và thanh thoát v.v.... Hình các loại động vật cũng được thể hiện như rồng, rùa, chim, hổ v.v.... Đặc biệt hơn, có những bia hai bên diềm bia được trang trí bằng 1 đôi câu đối viết theo lối chữ chân hoặc là chữ thảo, hay hình những ngọn cờ phướn và những cây đèn hương thể hiện tính trang nghiêm của một tấm bia. Sự kết hợp hài hòa giữa họa tiết chạm khắc trên trán bia và xung quanh diềm bia cộng với chữ khắc trên bia đã tạo nên một bức tranh toàn cảnh về nghệ thuật điêu khắc của văn bia Hậu nói chung và văn bia Hậu thời Tây Sơn nói riêng.

1.4.1.3. B cc ca bài văn bia và ch viết trên bia

Văn bia cũng giống như những tác phẩm văn học nghệ thuật khác đều có một môtíp chung, được các soạn giả căn cứ vào đó để tạo ra những sản phẩm riêng của mình. Khác với văn bia Hậu thời Lê, Mạc, văn bia Hậu thời Tây Sơn ít bài bản hơn. Trong một bài văn bia có thể được bài trí trên một mặt, hai

mặt, ba hoặc bốn mặt, tùy thuộc vào kích cỡ của bia và độ dài của bài văn bia và bố cục thường được chia làm hai phần chính: Tên bia và nội dung. Nội dung văn bia được chia làm các phần nhỏ như: bài kí, bài minh, thể lệ cúng Hậu, niên đại và phần lạc khoản.

Trước hết, tên bia thường được khắc trên trán bia mặt trước (mặt dương), cũng có thể được khắc cả mặt sau (mặt âm), nhưng mặt sau thường lấy một cái tên khác, như mặt trước có tên là Hậu thần bi kí 後神碑記, mặt sau lại lấy tên là Lưu truyền vạn đại 流傳萬代.Có một vài trường hợp không thấy tên bia, nhưng nội dung có đề cập đến việc lập Hậu. Tên bia thường được khắc theo chiều ngang, đọc từ phải qua trái. Có những trường hợp được khắc ngay trên dòng đầu tiên của văn bản bia từ trên xuống dưới. Chữ được khắc to theo lối chữ chân phương, số ít là chữ thảo, chữ Lệ. Ví dụ như: Hậu thần bi kí 後神碑記, Hậu phật bi kí 后佛碑記, Lập Hậu bi kí 立后碑記 v.v...

Nội dung toàn văn của một bài văn bia đều được khắc bằng chữ Hán, một số đoạn xen kẽ chữ Nôm, đặc biệt là phần thể lệ cúng Hậu. Chữ Nôm được sử dụng chủ yếu ghi tên người và tên địa danh. Mở đầu là bài kí thường ghi địa danh nơi dựng bia, tên những người đứng ra lập Hậu và những người được lập Hậu, lí do lập Hậu, và có một đoạn nói về triết lí, tư tưởng của đạo Phật. Như bia Bài kí thường ngắn gọn, súc tích, nhưng hàm chứa hầu hết toàn bộ nội dung của bài văn bia. Sau bài kí là liền đến bài minh. Ở văn bia Hậu thời Tây Sơn số lượng bài minh không nhiều. Theo thống kê sơ bộ, trong tổng số 251 văn bia, có khoảng 13 văn bia có bài minh, 2 văn bia có bài thơ, 03 văn bia có bài thượng chúc, chiếm khoảng 12 %. Bài minh mỗi đoạn có 4 câu, mỗi câu 4 chữ. Bài minh ngắn nhất là 4 câu, như bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 3348-3351, bài minh ca ngợi sở học và tài đức của người được lập Hậu: 「族称阮武, 學貫儒醫, 三村砥柱, 萬代名碑」 (Tộc xưng

Nguyễn Vũ, Học quán Nho y, Tam thôn chỉ trụ, Vạn đại danh bi / Họ tộc xưng Nguyễn Vũ, Học vấn thấu Nho Y, Ba thôn đều ngưỡng vọng, mãi lưu danh muôn thuở). Nội dung của bài minh thường là ca ngợi công đức, phẩm hạnh của những người được lập Hậu, hay ca ngợi cảnh đẹp của di tích. Cũng có khi kết thúc phần bài kí được tác giả thay bài minh bằng những bài thơ cổ, nhằm ca ngợi công trạng của người được lập Hậu, hoặc bài thượng chúc ca ngợi ân trạch của hoàng đế. Tiếp đến là thể lệ cúng Hậu cũng được ghi một cách chi tiết quyền lợi được hưởng của những người được lập Hậu, nghĩa vụ của những người được lập Hậu, quy ước của dân làng đối với quyền lợi và nghĩa vụ của những người được lập Hậu, tiếp nữa là ghi cụ thể số tiền hoặc số diện tích ruộng và vị trí của thửa ruộng đó mà người được lập hậu công đức cho dân làng. Niên đại dựng bia thường được ghi cỡ chữ lớn, viết đài, có những bia ghi niên đại riêng mặt sau, hoặc sang sườn bia. Cuối cùng không thể thiếu đó là phần lạc khoản ghi rõ họ tên, chức tước của người soạn, người viết, khắc chữ của bài văn bia đó và việc kí nhận, điểm chỉ của những người có chức sắc trong làng.

Một phần của tài liệu Tìm hiểu văn bia hậu thời Tây Sơn (Trang 31 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(248 trang)