Bia Hậu là sản phẩm đặc biệt của hoạt động văn hóa tín ngưỡng nơi làng xã. Nó phản ảnh khá phong phú về phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng của nông thôn Việt Nam thời bấy giờ. Những tập tục lập Hậu nêu rõ đối tượng lập Hậu thuộc những thành phần nào, là tự nguyện hay có nguyên nhân.
Thể lệ cúng Hậu và những quy định về vật chất do Hậu bỏ ra, lệ chia phần sau khi cúng, lệ tế thần. Tất cả đều được phản ánh khá phong phú qua tư liệu văn bia Hậu thời kì Tây Sơn.
2.2.1. Những điều kiện được lập Hậu Có thể được hiểu theo 2 ý:
Một là được lập Hậu trên tinh thần có sự thỏa thuận về mặt giá trị vật chất giữa quan viên, chức sắc làng xã và là người muốn được lập Hậu. Trong trường hợp này, quan viên, chức sắc làng xã chủ động đưa ra vấn đề trước.
Hai là người dân chỉ cần đóng góp một khoản vật chất nhất định nào đó sẽ được quan viên chức sắc trong xã lập Hậu, không có sự quy định cụ thể về mặt vật chất.
Thành phần được lập Hậu có thể tạm chia làm 2 loại: đó là những người thuộc tầng lớp quan lại (số này rất ít) và những người thuộc tầng lớp nhân dân (là chủ yếu). Con số thống kê cụ thể như sau: quan lại 30 bia, trong đó có cả các cựu thần triều trước và những người đương chức. Người có học vị cao nhất là Tiến sĩ giữ chức Hàn Lâm thị giảng, người có chức vụ thấp nhất là Xã chính chiếm tỉ lệ 11,95%; nhân dân 221 bia, chiếm tỉ lệ 88,4%.
2.2.1.1. Trường hợp tự nguyện
Tự nguyện được coi là một hình thức phổ biến trong tập tục lập Hậu, ở đây không có một quy định cụ thể nào. Loại bia này có tỉ lệ khá lớn, khoảng 237 bia trên tổng số 251, chiếm 94,4%, được phân bố theo không gian và thời gian như sau:
• Theo không gian: tỉnh Bắc Giang 25 bia; Bắc Ninh 48 bia; Hà Đông 16 bia; Hà Nam 01 bia; Hà Nội 02 bia; Hải Dương 49 bia; Hưng Yên 26 bia; Kiến An 10 bia; Nam Định 05 bia; Phú Thọ 02 bia; Phúc Yên 18 bia;
Quảng Yên 02 bia; Sơn Tây 14 bia; Thái Bình 02 bia; Thái Nguyên 03 bia;
Vĩnh Yên 12 bia.
• Theo thời gian: Thái Đức 04 bia; Quang Trung 81 bia; Cảnh Thịnh thứ 136 bia; Bảo Hưng 16 bia.
Trường hợp tự nguyện cũng có hai lí do: một là dân tự nguyện đóng góp để được lập Hậu; hai là làng xã tự nguyện lập Hậu cho dân:
- Trường hợp thứ nhất: Hậu chỉ cần bỏ ra một khoản tiền, hay một diện tích ruộng nhất định sẽ được quan viên chức sắc trong làng xem xét và lập Hậu. Nội dung của loại hình bia này phản ánh khá rõ nét như bỏ tiền mua đất cho xã xây quán, xuất tiền cho xã chi công dịch, cúng tiền sửa đình, cúng tiền sửa chùa, xuất tiền cứu đói cho dân v.v…xin trích dẫn một vài ví dụ:
Bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 11487, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797), ở quán xã Đông Phan, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Nội dung ghi việc Kì lão Nguyễn Phúc Hưng 阮福興 bỏ tiền của mua đất cho thôn làm quán. Con trai ông cũng cúng tiền ruộng cho thôn làm ruộng tế tự. Hai bố con ông được bầu làm hậu trưởng. Có qui định nghi lễ cúng giỗ cụ thể.
Nguyên văn: 本 村 耆 老 阮 福 興 出 古 錢 並 勸 贊 村 內 諸 人 交 本 村 買 土 貳 高 五 口, 立 館 宇 貳 座 , 壹 座 五 間
。 蓋 凡 壹 座 五 間 , 蓋 草 南 向 並 用 鐵 木。 遞 年 春 夏 敬 祭 祈 安, 俗 號 店 巿, 聚 集 買 賣 萍 蝦 羞 米 。 繼 之 男 子 阮 福 順 再 出 古 錢 壹 百 貫 , 又 出 同 田 并 井 池 共 壹 畝 陸 高, 壹 口 交 與 本 村 為 公 田 , 以 重 敬 祭。 仍 此 本 村 會 合, 念 其 係 有 恆 心 恒 產, 連 名 記 結 保 為 本 村 后 長。 遞 年 本 村 放 耕 得 錢 均 為 貳 忌 與 本 村 祈 安
敬 祭。(Bản thôn kì lão Nguyễn Phúc Hưng xuất cổ tiền tịnh khuyến tán thôn nội chư nhân giao bản thôn mãi thổ nhị sào ngũ khẩu, lập quán vũ nhị toà, nhất tòa ngũ gian. Cái phàm nhất tòa ngũ gian, cái thảo nam hướng tịnh dụng thiết mộc. Đệ niên xuân hạ kính tế kì an, tục hiệu điếm thị, tụ tập mãi mại bình, hà, tu, mễ. Kế chi nam tử Nguyễn Phúc Thuận tái xuất cổ tiền nhất bách quán, hựu xuất đồng điền tịnh tỉnh trì cộng nhất mẫu lục sào, nhất khẩu giao dữ bản xã vi công điền, dĩ trùng kính tế. Nhưng thử bản thôn hội hợp, niệm kì hệ hữu hằng tâm hằng sản, liên danh kí kết bảo vi bản thôn hậu trưởng. Đệ niên bản thôn phóng canh đắc tiền quân vi nhị kị dữ bản thôn kì an kính tế / Kì lão trong thôn là Nguyễn Phúc Hưng bỏ cổ tiền và khuyên bảo mọi người trong thôn đưa tiền giúp bản thôn mua 2 sào 5 thước đất để dựng 2 tòa quán vũ, mỗi tòa 5 gian. Riêng một tòa 5 gian, hướng nam, tất thảy dều dùng gỗ lim, lễ tiết hàng năm đều kính tế cầu phúc, (còn có) tục hiệu là Điếm thị, tụ tập mua bán bèo, tôm, đồ ăn, gạo. Con trai kế là Nguyễn Phúc Thuận lại bỏ cổ tiền 100 quan, ruộng, giến và ao, cộng là 1 mẫu 6 sào, một miếng giao bản thôn làm công điền, để hàng năm tế tự. Do đó bản thôn hội họp, nghĩ tới việc có hằng tâm hằng sản, liên danh kí kết bầu làm Hậu trưởng trong thôn. Hàng năm bản thôn phóng canh lấy tiền để chi dùng vào việc giỗ chạp và bản thôn cùng nhau cầu phúc tế tự)
Bia Hậu phật bi kí 後佛碑記 No 9312-9313, tạo nămCảnh Thịnh thứ 5 (1797), ở chùa Báo Ân, xã Khải Phạm, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Nội dung ghi việc bà Hà Thị Nghĩa 何氏義 nhận thấy làng thiếu tiền chi dùng vào công dịch, đã cúng 12 quan tiền, 2 thửa ruộng. Dân làng bầu bà và mẹ thân mẫu làm Hậu phật.
Nguyên văn: 由 民 丁 希 少 , 公 役 浩 繁 。 茲 本 村 人 何 氏 義 所 有 銅 錢 古 錢 拾 貳 貫 揚 內 本 村 以 供 用 度 , 并
有 田 貳 所 以 供 遞 年 忌 日 應 協 保 為 后 佛。(Do dân đinh hi thiểu, công dịch hạo phồn. Tư bản thôn nhân Hà Thị Nghĩa sở hữu đồng tiền cổ tiền thập nhị quán dương nạp bản thôn dĩ cung dụng, độ tịnh hữu điền nhị sở dĩ cung, đệ niên kị nhật, ứng hiệp bảo vi Hậu phật / Do dân đinh thiếu thốn, công dịch bề bộn. Nay người trong bản thôn Hà Thị Nghĩa xuất đồng tiền cổ tiền 12 quan gửi cho bản thôn để chi dùng và lưu 2 thửa ruộng để hàng năm giỗ chạp. (Bản thôn) cùng nhất trí bầu làm Hậu phật)
Bia Hậu phật bi kí 後碑記 No 4192-4193, tạo nămCảnh Thịnh thứ 3 (1795), ở chùa thôn Trung Đích, xã Thượng Trì, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông. Nội dung ghi việc vợ chồng Đào Văn Kiêm 陶文兼 xuất 200 quan tiền để trả tiền mua gỗ trong dịp sửa đình làng. Sau khi được lập Hậu, ông bà lại cúng 2 mẫu ruộng. Thể lệ cúng giỗ theo qui định ghi trong bia.
Nguyên văn: 茲 本 村 舊 亭 頹 [ ] 已 久 。仍 此 本 村 共 會 買 木 脩 作, 取 卞 實 難 。村 中 鄉 老 適 有 壹 人 陶 文 兼 妻 高 氏 拱, 家 中 稍 有, 乃 是 善 人 。本 村 計 保 為 后 佛, 塑 像 寺 中 以 奉 其 寺 。 (Tư bản thôn cựu đình đồi [] dĩ cửu.
Nhưng thử bản thôn cộng hội mãi mộc tu tác, thủ biện thực nan. Thôn trung hương lão thích hữu nhất nhân Đào Văn Kiêm, thê Cao Thị Củng, gia trung sảo hữu, nãi thị thiện nhân. Bản thôn hiệp bảo vi hậu phật, tố tượng tự trung dĩ phụng kì tự / Nay bản thôn đình cũ đổ nát đã lâu. Do đó bản thôn cùng hội họp mua gỗ để tu sửa, lựa chọn thực khó. Hương lão trong thôn có một người là Đào Văn Kiêm, vợ cao Thị Củng, trong nhà thóc lúa có nhiều lại là người lương thiện. Bản thôn đều nhất trí bầu làm Hậu phật, đúc tượng trong chùa để thờ tự)
Bia Hậu phật bi kí 後碑記 No 10188-10189, tạo năm Quang Trung thứ 3 (1790), ở chùa Cao Xá, xã Liêu Thượng, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Nội dung ghi việc bà Nguyễn Thị Duyên 阮氏緣 được bầu làm Hậu phật, vì chồng bà đã cúng 18 quan tiền và 4 sào ruộng cho xã sửa chùa.
Nguyên văn: 茲 因 遇 逢 本 村 重 修 本 寺 , 其 阮 廷 倬 自 出 家 貲 古 錢 拾 捌 貫 , 田 四 高 叩 訖 前 親 阮 氏 緣 爲 后 佛 。(Tư nhân ngộ phùng bản thôn trùng tu bản tự, kì Nguyễn Đình Trác tự xuất gia tư cổ tiền thập bát quán, điền tứ sào, khấu ngật tiền thân Nguyễn Thị Duyên vi Hậu phật / Nay nhân gặp lúc bản thôn trùng tu bản tự, ông Nguyễn Đình Trác tự xuất gia tài 18 quan tiền cổ, 4 sào ruộng xin cho tiền thần là Nguyễn Thị Duyên làm Hậu phật.)
Bia Hậu phật bi kí 後碑記 No 6003-6004, tạo nămCảnh Thịnh thứ 8 (1800), là thác bản đình thôn Trình, xã An Phú, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh. Nội dung ghi việc ông Đỗ Thanh Cẩn 杜清謹 có công giúp đỡ làng xóm trong trận binh hỏa tàn phá vào giữa năm Canh Thân và tân Dậu và giúp dân trong nạn đói. Các con ông lại cúng 100 quan tiền, 1 mẫu 5 sào ruộng.
Ông được bầu làm Hậu thần, vợ được phối hưởng.
Nguyên văn: 前 儒 生 字 清 謹 號 道 真 杜 先 生 , 公 以 道
學 之 耆 儒 為 壹 鄕 之 師 表 。 庚 申 辛 酉 間 兵 燹 風 塵 半 壁 , 無 乾 淨 地 ,公 獨 力 撐 提 , 多 方 規 畫 , 能 使 里 中, 宅 爾 宅 田 爾 田 以 有 今 日 之 生 殖 者 厥 功 , 大 矣 , 桑 海 變 遷,口 碑 猶 昨 。 迨 戊 申 己 酉 年, 時 遭 飢 歉 , 官 役 浩 繁,公 繼 室 武 尊 慈 令 子 杜 校 生 累 番 應 出 家 財 用 涌 濟 鄉 事,有 子 克 繼 公 之 德 之 益 顯 矣 。 本 亭 追
念 其 德 , 議 奉 先 生 為 后 神 。公 長 子 杜 名 甲 及 女 子 杜 氏 嬌,杜 氏 桃,杜 氏 名,杜 氏 凊 仝 族 等,再 出 古 錢 壹 百 貫, 田 拾 五 高 任 為 公 用。(Tiền nho sinh tự Thanh Cẩn, hiệu Đạo Chân Đỗ tiên sinh, công dĩ đạo học chi kì nho vi nhất hương chi sư biểu.
Canh Thân, Tân Dậu gian, binh tiển phong trần bán bích, vô can tịnh địa, công độc lực xanh đề, đa phương quy hoạch, năng tiện lí trung, trạch nhĩ trạch điền nhĩ điền dĩ hữu kim nhật chi sinh thực giả, quyết công đại hĩ, tang hải biến thiên, khẩu bi do tạc. Đãi Mậu Thân Kỉ Dậu niên, thời tao cơ khiểm, quan dịch hạo phồn, công kế thất Vũ Tôn Từ lệnh tử Đỗ Hiệu Sinh luỹ phiên ứng xuất gia tài dũng tế hương sự, hữu tử khắc kế công chi đức chi ích hiển hĩ. Bản đình truy niệm kì đức, nghị phụng tiên sinh vi hậu thần. Công trưởng tử Đỗ Danh Giáp cập nữ tử Đỗ Thị Kiều, Đỗ Thị Đào, Đỗ Thị Danh, Đỗ Thị Sảnh đồng tộc đẳng, tái xuất cổ tiền nhất bách quán, điền thập ngũ sào nhậm vi công dụng / Nho sinh tự Thanh Cẩn, hiệu Đạo Chân Đỗ tiên sinh, ông coi sự lão luyện của đạo học làm người thầy tiêu biểu bậc nhất. Trong hai năm Canh Thân và Tân Dậu binh hoả loạn lạc tan hoang, đất đai khô cạn, một mình chống đỡ, nhiều lần quy hoạch, nhà cửa, ruộng vườn trong làng mới được sinh sôi đông đúc như ngày hôm nay, công ấy lớn vậy. Đến năm Mậu Thân Kỉ Dậu, gặp nạn đói kém, quan dịch nặng nề, Vợ thứ của ông là Vũ Tôn Từ, lệnh tử Đỗ Hiệu Sinh nhiều lần bỏ tiền của giúp đỡ mọi việc trong làng, vậy con đã tiếp nối được đức cao đẹp của ông rồi. Bản đình truy niệm cái đức của ông, cùng nhau bàn bạc tôn tiên sinh làm hậu thần. Con trưởng của ông là Đỗ Danh Viết và nữ tử Đỗ Thị Kiều Đỗ Thị Đào, Đỗ Thị Danh, Đỗ Thị Sảnh cùng mọi người trong họ lại xuất tiền cổ 100 quan, 15 sào ruộng chi dùng việc công.)
- Trường hợp thứ hai: quan viên, sắc mục trong làng thấy một số trường hợp là người có đức hạnh trong làng, sùng Phật làm điều thiện tín, luôn cứu giúp người khác; người không nơi nương tựa; người có công chiêu dân lập ấp, chiêu dân sau khi loạn, có công lao trong chiến tranh; người thuộc tầng lớp khoa bảng, quan viên chức sắc của làng xã v.v… nên được tôn, mời làm Hậu.
Các trường hợp trên không có giá trị về mặt vật chất mà chỉ có giá trị về mặt tinh thần, được phản ánh qua một số nội dung văn bia dưới đây:
Bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 3793-3794, tạo nămCảnh Thịnh thứ 1 (1793), ở đình xã Phượng Đáp, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Nội dung ghi việc Phủ sinh Nguyễn Trung Chính 阮忠正 là người có đức hạnh tốt, con cháu đều nên người. Khi chết ông được dân làng bầu làm Hậu thần. Con cháu đã xuất 30 quan tiền, 1 mẫu ruộng để cúng giỗ hàng năm.
Nguyên văn: 眷 惟 ! 本 社 前 府 生 阮 貴 公 字 忠 正 , 號 温 厚 先 生 , 德 幸 寬 和 , 文 章 醇 美。北 避 立 成 家 道 , 財 貨 有 餘 , 東 歸 識 中 科 名 , 子 孫 興 盛 , 行 已 敦 仁 讓 之風 , 居 鄕 著 温 良 之 德 , 有 是 德 宜 有 是 福 , 及 其 後 也 , 人 不 忍 忘 。 本 社 上 下 共 議 詞 于 其 子 孫 請 尊 前 府 生 阮 公 爲 後 神。(Quyến duy! Bản xã tiền Phủ sinh Nguyễn Quý công, tự Trung Chính, hiệu Ôn Hậu tiên sinh, đức hạnh khoan hoà, văn chương thuần mĩ. Bắc tị lập thành gia đạo, tài hoá hữu dư, đông quy thí trúng khoa danh, tử tôn hưng thịnh, hành dĩ đôn nhân nhượng chi phong, cư hương trứ ôn lương chi đức, hữu thị đức nghi hữu thị phúc, cập kì hậu dã, nhân bất nhận vong.
Bản xã cộng nghị từ vu kì tử tôn thỉnh tôn tiền Phủ sinh Nguyễn công vi Hậu thần. / Kính nghĩ! Phủ sinh Nguyễn Quý công, tự Trung Chính, hiệu Ôn Hậu tiên sinh người triều trước của bản xã là người đức hạnh khoan hoà, văn chương thuần mĩ. Lánh lên Bắc thì lập thành gia thất, của cải dư thừa; quay về Đông thì
thi đỗ khoa danh, con cháu hưng thịnh, hành xử luôn giữ lề thói đôn hậu, đôn nhân nhượng, trong làng thường nêu đức ôn lương, mà có đức ắt là có phúc về sau vậy, người đời luôn ghi nhớ. Bản xã trên dưới cùng nghị bàn với con cháu của ông tôn bầu Phủ sinh Nguyễn công triều trước làm Hậu thần.)
Bia Hậu thần bi kí 後神碑記 No 6765, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 5 (1797), ở đình thôn Lộ Bao, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Nội dung ghi việc ông Nguyễn Sĩ Bật 阮士溢 và vợ là người lương thiện, hay cưu mang giúp những kẻ nghèo khổ, hoạn nạn. Ông lại cúng cho xã 1 mẫu 9 sào ruộng và 150 quan tiền. Dân làng bầu 2 vợ chồng ông làm Hậu thần. Thể lệ cúng giỗ hàng năm theo qui định ghi trong bia.
Nguyên văn: 阮 仕 溢 , 忠 順 溫 良 , 端 莊 靖 一 , 有 睦 鄰 善 , 有 周 急 之 仁, 尊 也 而 不 以 自 重, 富 也 而 不 以 自 驕 ; 貧 乏 者 則 為 之 貲 助, 有 事 者 則 為 之 周 族 , 幹 公 役 則 不 遺 餘 力 , 作 廟 宇 則 為 出 貲 財 興 利 立 功 普 在 鄉 人 耳 目 , 無 階 可 酬 答 者 可 不 追 恩 而 祀 之 乎。於 是 協 保 為 后 神 , 為 立 碑 記 于 亭 之 左 邊。
(Nguyễn Sĩ Dật, trung thuận ôn lương, đoan trang tịnh nhất, hữu mục lân thiện, hữu chu cấp chi nhân, tôn dã nhi bất dĩ tự trọng, phú dã nhi bất dĩ tự kiêu; bần phạp giả tắc vi chi ti trợ, hữu sự giả tắc vi chi chu tộc, cán công dịch tắc bất di dư lực, tác miếu vũ tắc vi xuất tư tài hưng lợi lập công phổ tại hương nhân nhĩ mục, vô giai khả thù đáp giảkhả bất truy ân nhi tự chi hồ? Ư thị hiệp bảo vi hậu thần, vi lập bi kí vu đình chi tả biên / Nguyễn Sĩ Dật là người trung thuận ôn lương, đoan trang tĩnh nhất, sống hoà mục với xóm giềng, có lòng nhân giúp đỡ người, tôn quý mà không tự trọng, phú quý không kiêu căng; gặp người nghèo khó thì giúp đỡ, gặp việc thì làm chu đáo, làm việc công thì hết sức mình, làng xây miếu vũ thì bỏ tiền của hưng lợi lập