Vấn đề công đức xây dựng, trùng tu công trình công cộng qua tư liệu văn bia Hậu thời Tây Sơn

Một phần của tài liệu Tìm hiểu văn bia hậu thời Tây Sơn (Trang 59 - 85)

Việc xây dựng và trùng tu các công trình công cộng được diễn ra ở các làng quê, nông thôn Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Nó phụ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng đó là kinh tế. Thời phong kiến, trong một xã hội kinh tế phát triển, chính trị ổn định, theo đó những giá trị văn hóa tinh thần được nâng cao. Việc xây dựng và tu bổ các quần thể kiến trúc công cộng như:

đình, đền, chùa, miếu, rất được coi trọng, vì các di tích lịch sử là những nơi sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng của cộng đồng, nhằm mang lại những giá trị về mặt sinh hoạt tinh thần của dân cư làng xã. Các công trình như cầu cống, đường xá, đê điều không những là nguồn động lực phát triển mạnh về kinh tế của cộng đồng mà nó còn là diện mạo của mỗi làng quê.

Qua nội dung 251 văn bia Hậu thời Tây Sơn, chúng tôi cố gắng phác họa nên một bức tranh toàn cảnh về kinh tế, văn hóa, xã hội như việc hưng công

xây dựng trùng tu các công trình công cộng, phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng nơi làng xã thời kì này.

2.1.1. Xây dng, trùng tu các công trình sinh hot văn hoá tín ngưỡng Thời Tây Sơn cũng giống như những thời kì khác, các trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng như đình, chùa, miếu, đền ở các vùng nông thôn vẫn được coi trọng, có những di tích đựợc coi là những danh thắng nổi tiếng trong vùng. Do vậy, tục lập Hậu đã giải quyết được khá nhiều vấn đề công ích ở phạm vi làng xã, nhờ đó mà các công trình công cộng luôn được xây mới và tu bổ, mang lại diện mạo mới cho làng. Theo khảo sát của chúng tôi trong tổng số 251 văn bia Hậu có 60 văn bia đề cập đến việc công đức xây dựng, trùng tu các công trình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng bản địa.

2.1.1.1. Xây dng, trùng tu đình

Thời Tây Sơn, đình vẫn được coi là trung tâm hành chính, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng quan trọng bậc nhất của cộng đồng cư dân nơi làng xã. Do vương triều Tây Sơn trị vì quá ngắn nên lối kiến trúc đình làng không có những đặc trưng riêng biệt, vẫn mang tính kế thừa lối kiến trúc đình của các thời kì trước đặc biệt là kiểu kiến trúc đình làng thế kỉ XVII. Đình được xây dựng lên chủ yếu là sự hưng công đóng góp của người dân và số quan chức trong triều đình, cũng như sắc mục ở địa phương. Vị trí ngôi đình thường tọa lạc ở trung tâm của làng, rất coi trọng thuật phong thuỷ. Đình to hay nhỏ phụ thuộc vào số tiền đóng góp và chức vị của các Hậu. Để xây dựng nên một ngôi đình, số tiền bỏ ra làm có thể do một người, hay một dòng họ, còn lại phần lớn là sự đóng góp tập thể của các quan viên chức sắc, nhân dân trong làng. Thông thường những người có chức tước ở triều đình, hay các dòng họ lớn trong làng hưng công thì quy mô đình làng bao giờ cũng to hơn, bề thế hơn và ngược lại những người bình dân hưng công xây dựng thì ngôi đình

thường có qui mô vừa và nhỏ. Vật liệu được sử dụng xây dựng đình làng chủ yếu được dùng gỗ lim, vì đây là loại vật liệu có độ bền rất cao, bên trên được lợp ngói mũi âm dương, kiến trúc đình thường là 7 gian hoặc 9 gian, có tả vu đình và hữu vu đình.

Trong số 60 văn bia viết về việc hưng công công trùng tu các công trình văn hóa, chúng tôi tìm được 28 văn bia có nội dung hưng công xây dựng trùng tu đình làng (trong đó 05 văn bia xây dựng đình mới, 20 bia đề cập đến việc tu sửa, 03 bia đề cập đến việc mua sắm đồ tế khí). Các văn bia này được phân bố trên 11 tỉnh thành, con số cụ thể như sau: Hải Dương 09 bia, Bắc Ninh 04 bia, Bắc Giang 02 bia, Hưng Yên 02 bia, Phúc Yên 02 bia, Vĩnh Yên 02 bia, Thái Bình 02 bia, Hà Đông 01 bia, Kiến An 01 bia, Quảng Yên 01 bia, và Sơn Tây 01 bia.

Sự phân bố trên cho thấy trong tổng số 16 đơn vị tỉnh, thành có bia Hậu thì 11 tỉnh, thành có bia đề cập đến việc xây dựng và tu sửa đình làng, trong đó Hải Dương là đơn vị có số lượng văn bia cao nhất 08 bia. Xin nêu một số bia cụ thể như sau:

Bia Ph thn bi kí 附神碑記 No 12764-12767, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801), ở đình xã La Đôi, tổng La Đôi, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Nội dung ghi việc Ông Phạm Đồng Viện 范同院 đỗ Tiến sĩ làm quan đến chức Hàn lâm thị giảng, đã bỏ tiền ra xây dựng đình cho làng, lại cấp chẩn cho dân gặp năm đói, được dân làng bầu làm Hậu thần.

Nguyên văn: 為 推 崇 先 賢, 賜 丙 戌 科 進 士 弟 翰 林

院 侍 講, 致 仕 贈 朝 列 大 夫 東 閣 大 學 士 范 相 公 諡 敦 和 為 本 社 祔 神。。。初 登 大 科 欽 奉 督 諒 山 鎮 邊 , 事 未 遑 鄉 開 是 念 出 家 金, 求 鐵 木, 擇 吉 地,

創 大 亭, 安 宅 之 民, 享 神 有 厥 且 也, 厘 正 俗 例, 賑 給 荒 年, 功 德 在 人, 有 思 無 斁 。(Vị suy sùng tiên hiền, tứ Bính Tuất khoa Tiến sĩ đệ Hàn lâm viện thị giảng, trí sĩ tặng triều liệt đại phu Đông các đại học sĩ Phạm tướng công, thụy Đôn Hòa vi bản xã phụ thần…Sơ đăng đại khoa, khâm phụng đốc Lạng Sơn trấn biên, sự vị hoàng hương khai thị niệm xuất gia kim, cầu thiết mộc, trạch cát địa, sáng đại đình, an trạch chi dân, hưởng thần hữu quyết khả dã. Li chính tục lệ, chẩn cấp hoang niên, công đức tại nhân, hữu tư vô dịch / Vì tôn sùng bậc tiên hiền ban tặng cho Phạm tướng công, thuỵ Đôn Hoà Tiến sĩ đệ khoa Bính Tuất, chức Hàn lâm viện thị giảng, về hưu tặng Triều liệt đại phu Đông các đại học sĩ làm phụ thần của bản xã .... Trước đây đỗ đại khoa vâng mệnh làm Tổng đốc trấn biên Lạng Sơn, khi nhàn rỗi trở về quê đem lòng hảo tâm, xuất gia tài mua gỗ lim, trọn đất tốt, xây đình lớn, khiến nhân dân được yên ổn, dâng lên thần để soi xét. (Ngài lại) sửa sang phong tục, chẩn cấp năm đói, công đức ở người, nghĩ mãi không quên.)

Bia Hu thn bi kí 後神碑記 No 5463-5464, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801), ở đình xã An Giả, huyện Vũ Giang, tỉnh Bắc Ninh. Nội dung ghi việc vợ chồng ông Nguyễn Hữu Dao 阮有瑤 bỏ tiền của làm nhà thờ và gian tả vu đình xã và cúng 6 sào ruộng nên được bầu làm Hậu thần. Thể lệ cúng giỗ hàng năm theo qui định ghi trên bia.

Nguyên văn: 本 社 頃 因 兵 火 , 亭 宇 煙 殘 , 顧 䀡 瞻

舊 基 中 心 恒 兮 , 每 欲 一 香 構 更 , 思 力 不 從 心 。 賴 有 本縣 鴻 毛 社 安 村 金 山 縣 縣丞 阮 有 瑤 妻 阮 氏 丞 傳積 善 心 , 篤 安 仁 愛 , 發 家 貲 裝 成 祀 殿 , 其 實 其 正 煥 然 。 一 新 兼 之 造 左 舍 三 間 , 許 肥 田 陸 畝 于 以 聚 耆沒 , 于 以 供 羕 , 盛 其 厥 以 敬 神 , 惠 人 者

至 矣 。本 社 敬 慕 之 情 , 不 能 自 己 , 仍 共 會 合 尊 保 爲 本 社 后 神。(Bản xã khoảnh nhân binh hoả, đình vũ yên tàn, cố chiêm cựu cơ trung tâm hằng hề, mỗi dục nhất hương cấu cánh, tư lực bất tòng tâm, lại hữu bản huyện Hồng Mao xã, An thôn, Kim Sơn huyện huyện thừa Nguyễn Hữu Dao, Nguyễn Thị [ ] thừa truyền tích thiên tâm, đốc an nhân ái, phát gia tư trang thành tự điện kì thực kì chính, hoán nhiên. Nhất tân kiêm chi tạo tả xá tam gian, hứa phì điền lục mẫu vu dĩ tụ kì một, vu dĩ cúng dường, thịnh kì quyết dĩ kính thần, huệ nhân giả chí hĩ. Bản xã kính mộ chi tình bất năng tự kỉ, nhưng cộng hội hợp tôn bảo vi bản xã Hậu thần / Bản xã bỗng sảy ra binh hoả, đình vũ bị thiêu rụi,trông lại nền cũ trung tâm, chỉ muốn xây lại trong khoảnh khắc, [hiềm nỗi] sức lực không theo ý người. Nhờ có Nguyễn Hữu Dao giữ chức Huyện thừa huyện Kim Sơn, vợ Nguyễn Thị [ ] ở thôn An, xã Hồng Mao bản huyện, tích thiện tâm, hết lòng nhân ái, xuất của nhà trang hoàng điện thờ thực là ngay ngắn sáng sủa. Lại xây mới 3 gian tả vu đình, hứa cho 6 mẫu ruộng tốt để khi trăm tuổi, khi cúng dường, hơn nữa là tỏ sự kính thần, [Nên cần phải] ban ợ huệ cho người xứng đáng. Bản xã tỏ lòng kính ái , bèn họp bàn tôn[ông, bà] làm Hậu thần của bản xã.)

Bia Hu thn bi kí 後神碑記 No 7076, tạo năm Quang Trung thứ 3 (1790), ở đình thôn Hoàng Phúc, xã Cô Tháp, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Nội dung ghi việc bà Nguyễn Thị Tương 阮氏相 là vợ cả ông Hà Lệnh Công tự Pháp Sự cúng 100 quan tiền, 2 mẫu ruộng để ấp sửa đình, nên được dân làng bầu làm Hậu thần.

Nguyên văn: 厥 有 同 邑 婆 阮 氏 相 號 妙 貞, 前 何 令

公 字 法 事 之 正 室 天 性 有 心, 女 流 完 節, 仁 聲 德 意, 陳 累 在 人, 如 周 急 之 錢, 救 荒 之 粟, 其 所 以 惠 於 本 邑 者。原 有 年 會 亭 當 脩 又 發 家 貲 古 錢 壹 百 貫 并 肥 田 貳 畝, 秋 田 貳 高, 村 與 本 邑 應 用 耕 耘, 理 作 大 亭 五 間 貳 廈, 做 成 享 神 之 宮 殿 。 是 年 仝

邑 諸 家 計 保 阿 翁 婆 同 為 配 享 后 神, 以 報 始 終 恩 情 之 厚。(Quyết hữu đồng ấp bà nguyễn Thị Tương, hiệu Diệu Trinh, tiền Hà Lệnh Công tự Pháp Sự chi chính thất. Thiên tính hữu tâm, nữ lưu hoàn tiết, nhân thanh đức ý, trần luỵ tại nhân, như chu cấp chi tiền, cứu hoang chi túc, kì sở dĩ huệ ư bản ấp giả. Nguyên hữu niên hội đình đương tu hựu phát gia ti cổ tiền nhất bách quán tịnh phì điền nhị mẫu, thu điền nhị cao, thôn dữ bản ấp ứng dụng canh vân, lí tác đại đình ngũ gian nhị hạ, tố thành đình thần chi cung điện. Thị niên đồng ấp chư gia kế bảo hà ông bà đồng vi phối hưởng hậu thần, dĩ báo thủy chung ân tình chi hậu / Có người cùng ấp bà Nguyễn Thị Tương, hiệu Diệu Trinh, trước đây là vợ cả của Hà Lệnh công tự Pháp Sự, là người có tâm trời phú, nữ nhân vẹn tiết, nhân đức vang khắp, sống vì mọi người như việc chu cấp tiền của, cứu đói cho dân, việc làm đó sở dĩ là để lại ơn huệ cho bản ấp. Gặp năm tu sửa đình, bà lại xuất gia tài 100 quan tiền cổ, 2 mẫu ruộng tốt, ruộng thu 2 sào để thôn với bản ấp sử dụng cầy cấy, xây đình mới hai nhà, mỗi nhà 5 gian, làm cung điện để được phối hưởng cùng thần. Năm đó, các hộ trong ấp nhất trí bầu ông bà cùng được phối hưởng sau thần để báo đáp cái ân tình cao cả trước sau như một (của ông bà).)

Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi trong tổng số 251 bia Hậu thời Tây Sơn, có 28 văn bia nói đến việc xây dựng và tu sửa đình làng, cũng như việc làm hương án và sửa sang đồ tế lễ. Tuy chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống văn bia thời Tây Sơn, nhưng thông qua số lượng bia Hậu cho thấy việc xây dựng và tu sửa mới đình làng ít được chú trọng như những thời kì trước. Nguyên nhân chính là do kinh tế, chính trị thời Tây Sơn không được ổn định, chiến tranh nhiều đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến những giá trị văn hoá thời bấy giờ.

2.1.1.2. Xây dng, trùng tu chùa

Phật giáo từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay đã gần 2 nghìn năm, bắt đầu từ Luy Lâu- Thuận Thành - Bắc Ninh và lan tỏa nhanh chóng khắp cả nước. Do vậy, các ngôi chùa cũng dần mọc lên theo sự phát triển của tôn giáo này. Thời Lý - Trần, Phật giáo được coi là hưng thịnh bậc nhất, nhiều ngôi chùa chính do nhà nước và những quan chức cao cấp trong triều đình hưng công xây dựng. Thời Lê, Phật giáo ít được coi trọng, có phần cấm đoán, đặc biệt là đối với tầng lớp quan lại cao cấp trong triều đình. Đến thời Tây Sơn, các tôn giáo như: Nho, Phật, Đạo đều tồn tại song hành, Phật giáo vẫn phát triển theo dòng chảy của lịch sử và luôn được số đông người trong xã hội tôn thờ.

Do vậy, những hoạt động xây dựng và tu sửa chùa chiền luôn được diễn ra, tuy qui mô còn hạn chế.

Theo thống kê của chúng tôi, trong tổng số 60 văn bia có nội dung ghi chép về việc hưng công xây dựng và trùng tu các di tích thời Tây Sơn có 23 bia có nội dung đề cập đến việc xây dựng và tu sửa chùa (38,33%). Trong đó chỉ có 02 bia đề cập đến việc xây chùa mới, số còn lại 21 bia nói đến việc trùng tu, sửa chùa, đúc chuông, đúc khánh, tạc tượng v.v... Như vậy, căn cứ vào những cứ liệu thống kê qua hệ thống bia Hậu Tây Sơn có thể đi tới nhận xét: vào thời kì này hoạt động xây dựng và trùng tu chùa được diễn ra rất ít, không có sự dồn dập như những thời kì khác. Để lí giải về điều này, có nhiều nguyên nhân khách quan đem lại, trong đó có một nguyên nhân quan trọng cũng giống như việc xây dựng và tu bổ đình làng đó là tình hình kinh tế chính trị thời kì này không ổn định, do vậy tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng bản địa cũng bị giảm sút đáng kể.

Sự phân bố của 23 bia ghi lại việc xây dựng và trùng tu chùa vào thời kì này được tập trung trên 8 tỉnh thành. Tỉnh có nhiều bia nhất là Hưng Yên 8

bia, tỉnh có ít bia nhất 01 bia đó là Hải Dương, Vĩnh Yên, Nam Định. Con số cụ thể như sau: Hưng Yên 08 bia, Bắc Giang 02 bia, Bắc Ninh 06 bia, Hà Đông 02 bia, Phúc Yên 02 bia và Hải Dương 01 bia, Vĩnh Yên 01 bia, Nam Định 01 bia.

Nội dung ghi lại trong 23 bia rất phong phú và đa dạng, từ những việc lớn nhất như phát tâm công đức xây và trùng tu chùa cho đến những việc nhỏ như tạc tượng, đúc chuông, đúc khánh v.v... và những thành phần tham gia công đức xây dựng, trùng tu sửa chùa cũng đủ mọi tầng lớp trong xã hội. Ví dụ:

Bia Hu pht bi kí 後佛碑記 No 8245-8246, tạo năm Quang Trung thứ 5 (1792), ở chùa xã Hà Vị, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Nội dung ghi việc bà Vũ Thị Quán 武氏慣 ở bản xã cúng 130 quan tiền, 1 sào ruộng cho làng sửa chùa được dân làng bầu làm Hậu phật. Cha mẹ cũng được phối hưởng. Thể lệ cúng giỗ hàng năm theo qui định ghi trong bia.

Nguyên văn: 惓 惟!本 社 婕 人 武 氏 慣 , 擴 范 善 念 ,

大 發 慈 心 , 榮 名 思 燿 於 雙 親 , 實 惠 載 將 於 厚 意

。迺 於 壬 子 三年 拾 貳 月 初 捌 日, 本 社 有 脩 本 寺 後 堂 , 財 用 未 具 。本 社 上 下 等 共 會 亭 中 , 適 見 本 社 婦 人 武 氏 慣 遞 將 銅 錢 古 錢 一 百 三 拾 貫 并 茲 田 陸 高 在 遍 亭。(Quyến duy! bản xã tiệp nhân Vũ Thị Quán, khoáng phạm thiện niệm, đại phát từ tâm, vinh danh tư diệu ư song thân, thực huệ tải tương ư hậu ý. Nãi ư Nhâm Tý tam niên thập nhị nguyệt sơ bát nhật, bản xã hữu tu bản tự hậu đường, tài dụng vị cụ. Bản xã thượng hạ đẳng cộng hội đình trung, thích kiến bản xã phụ nhân Vũ Thị Quán đệ tương đồng tiền cổ tiền nhất bách tam thập quán tịnh tư điền lục cao tại biên đình / Kính nghĩ!

Tiệp nhân trong bản xã Vũ Thị Quán là người rộng rãi hướng thiện, mở lòng

từ tâm, vinh danh vẻ vang đến song thân, ân huệ có sẵn nơi ý tốt . Ngày 8 thán 12 năm Nhâm Tí, bản xã tu sửa hậu đường trong chùa, tiền chi không đủ. Bản xã trên dưới cùng hội ở đình trung chứng kiến Phụ nhân Vũ Thị Quán người bản xã công đức cho thôn 130 quan tiền cổ và 6 sào ruộng ở Biên Đình)

Bia Hu pht bi kí 後佛碑記 No 10282, tạo năm Cảnh Thịnh thứ 7 (1799), ở xã Hiển Khánh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nội dung ghi việc Bốn bà họ Trần cúng đủ số tài sản qui định để mua hậu, lại cúng thêm 90 quan tiền kẽm và 2 sào ruộng để chi dùng việc đèn hương. Đến năm Ất Dậu bà Trần Thị Khoát 陳氏濶 và Trần Thị Đãng 陳氏蕩 cúng 33 quan tiền đúc chuông. 6 người trên đều được lập Hậu và cúng giỗ.

Nguyên văn: 陳 氏 增 號 妙 青、 陳 氏 緣 號 妙 淨、陳 氏 翠

號 妙 德、陳 氏 年 號 妙 青 新 皈 依 禪 教 , 書 種 福 緣。 為 本 村 歲 在 戊 午 各 另 滿 例 再 附 銅 錢 所 出 青 錢 玖 拾 貫 鄉 村 以 為 公 用, 再 施 香 燈 田 貳 高 坐 落 在 同 衝 處

。 仝 村 上 下 等 應 保 為 后 佛 。。。 再 於 乙 酉 年 本 村 造 鑄 洪 鍾 陳 氏 闊 陳 氏 蕩 所 出 青 錢 三 拾 三 貫 。仝 村上 下 等 保 為 后 佛。(Trần Thị Tăng hiệu Diệu Thanh, Trần Thị Duyên hiệu Diệu Tịnh, Trần Thị Thúy hiệu Diệu Đức, Trần Thị Niên hiệu Diệu Thanh, tân quy y thiền giáo, thư chủng phúc duyên. Vi bản thôn tuế tại Mậu Ngọ các lánh mãn lệ tái phụ đồng tiền sở xuất thanh tiền cửu thập quán hương thôn dĩ vi công dụng, tái thí hương đăng điền nhị cao tọa lạc tại đồng Xung xứ. Đồng thôn thượng hạ đẳng ứng bảo vi Hậu phật… Tái ư Ất Dậu niên bản thôn tạo chú hồng chung, Trần Thị Khoát, Trần Thị Đãng sở xuất thanh tiền tam thập tam quán, đồng thôn thượng hạ đẳng bảo vi Hậu phật /

Một phần của tài liệu Tìm hiểu văn bia hậu thời Tây Sơn (Trang 59 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(248 trang)