Trần Quang Quý là thế hệ nhà thơ có cách tân mạnh bạo sau 1975 với những tác phẩm tiêu biểu như : Viết tặng em trong ngôi nhà chật Nxb Hội Nhà văn, 1990; Mắt thẳm Nxb Lao động, 1993; Giấ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS.LÊ VĂN LÂN
HÀ NỘI, NĂM 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử vấn đề 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu : 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
5.1 Phương pháp tiểu sử 10
5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp 10
5.3 Phương pháp cấu trúc- hệ thống 10
5.4 Phương pháp so sánh 10
6 Cấu trúc của luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 TRẦN QUANG QUÝ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ 12
1.1 Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 12
1.2 Trần Quang Quý đời sống và sáng tạo thơ 15
1.2.1 Tác giả Trần Quang Quý 15
1.2.2 Hành trình sáng tạo thơ 16
1.3 Những yếu tố hình thành phẩm chất thơ của Trần Quang Quý 17
1.3.1 Quê hương – Vùng bán sơn địa 17
1.3.2 Hoạt động xã hội 18
1.3.3 Giao lưu, học tập 18
1.4 Quan niệm nghệ thuật của Trần Quang Quý 19
Chương 2 BA CẢM HỨNG CHÍNH TRONG THƠ 20
2.1 Cảm hứng về nông thôn 20
Trang 42.1.1 Nông thôn lam lũ 20
2.1.2 Con người nông thôn 33
2.1.3 Nông thôn – Nơi thanh lọc tâm hồn 35
2.2 Cảm hứng về tình yêu 37
2.2.1 Tình yêu đôi lứa 38
2.2.2 Tình yêu gia đình 42
2.3 Cảm hứng về cuộc sống hiện tại 43
2.3.1 Cảm hứng đa chiều và phức tạp 43
2.3.2 Dự cảm về những bất ổn của cuộc sống hiện tại 48
Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN CƠ BẢN VỀ NGHỆ THUẬT THƠ 51 3.1 Thể thơ 51
3.2 Hình ảnh thơ 56
3.3 Ngôn ngữ trong thơ 57
3.4 Giọng điệu thơ 64
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thơ ca Việt Nam hiện đại ngày càng phát triển rực rỡ với nhiều chủ đề phong phú đa dạng ở mọi bình diện của cuộc sống Mỗi nhà thơ đều cho độc giả thấy được phong cách, cảm xúc, tư tưởng của mình thông qua những “đứa con tinh thần” mà mình đã “mang nặng đẻ đau” Trong đó, không thể không nói đến sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ Trần Quang Quý trong các tác phẩm thơ của anh
Trần Quang Quý là thế hệ nhà thơ có cách tân mạnh bạo sau 1975 với những tác phẩm tiêu biểu như : Viết tặng em trong ngôi nhà chật (Nxb Hội Nhà văn, 1990); Mắt thẳm (Nxb Lao động, 1993); Giấc mơ hình chiếc thớt (Nxb Hội Nhà văn, 2003); Siêu thị mặt (Nxb Hội Nhà văn, 2006); Cánh đồng người (thơ song ngữ Việt – Anh, Nxb Hội Nhà văn, 2010);…Những tác phẩm tiêu biểu mà ẩn chứa trong đó là sự sáng tạo độc đáo và tinh tế của Trần
Quang Quý đã giúp anh “tiến lên một bước dài trên con đường thi ca…Ở đằng sau những câu thơ của Quý là rất nhiều nỗi đời Thơ của Quý bao giờ cũng vậy, chất chứa những tâm sự và tâm trạng Có những triết lý thật lớn lao
về cuộc sống, được anh diễn đạt cứ như không” (Hoàng Nhuận Cầm)
Thơ Trần Quang Quý đầm đìa ký ức làng quê…Những chi tiết làng quê trong thơ anh không phả là “tạm trú” mà là “thường trú” Chúng có một đời sống rất riêng tư và lan tỏa, chúng tồn tại trong một cảm thức hiện đại của người thơ; Chảy trong dòng mạch hiện đại, thơ Trần Quang Quý vạm vỡ mà vẫn ẩn dấu sự mượt mà của tâm hồn đa cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, giấc mơ với lòng hướng thiện
Ngôn ngữ trong thơ Trần Quang Quý rất mộc mạc, giản dị, vừa gần gũi với cuộc sống,vừa mang chiều sâu nghiệm sinh Giọng điệu điềm tĩnh, nhịp thơ tự do Đọc thơ anh, độc giả không thấy mỏi vì không phải lên gân, không
Trang 6phải kiễng chân Sự sáng tạo của Trần Quang Quý tìm tới sự thường nhiên
trong chiêu thức đảo chữ, đảo mà thành không đảo, chơi mà hóa thật, “những câu thơ như mũi tên bay theo điệu du ca để tạo thành cõi lạ” (Nguyễn Thụy Kha) “Trần Quang Quý thực là một nhà thơ có giọng Muốn có giọng, không còn con đường nào khác, thơ họ phải hay Cái đó thì Trần Quang Quý đã có Vâng, anh đã có khá nhiều trong thơ!” (Nguyễn Đăng Điệp)
Sự nghiệp sáng tác của Trần Quang Quý đã có những đóng góp nhất định, góp phần làm phong phú nền văn học Việt Nam hiện đại, nhất là trong
mảng thơ đương đại Nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên
cứu toàn diện về thơ của Trần Quang Quý Vì vậy, được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo – GS TS Lê Văn Lân, tôi mạnh dạn tìm hiểu về thơ của Trần Quang Quý với đề tài luận văn “Những cảm hứng chính trong thơ Trần Quang Quý”, để thấy được những đóng góp của nhà thơ trong nền thơ hiện đại và cũng để cây bút tài hoa “đất Tổ” có dịp khoe sắc trong vườn
hoa văn học của dân tộc
3 Lịch sử vấn đề
Ngoài sáng tác thơ, Trần Quang Quý còn viết cả truyện ngắn, bút ký Nhưng chủ yếu là thơ Theo khảo sát của tôi, các tác phẩm của Trần Quang Quý được nhiều ý kiến đánh giá ghi nhận về sự sáng tạo độc đáo
Trang 7Trong lời tựa “Giấc mơ hình chiếc thớt”, Nguyễn Trọng Tạo đã tâm sự:
“Vâng, có khi thơ mang tới cho người đọc nhớ, quên, buồn, đẹp mà không cần giải thích vì sao Chỉ biết rằng, những nhớ, quên, buồn, đẹp mà thơ Trần Quang Quý mang tới cho ta, khởi thủy từ tấm lòng chân thật, từ nỗi đau của thi nhân, từ tình yêu của người tình muôn thưở Bởi anh chính là một thi sĩ mang hơi thở hiện đại trở về làm mới những câu chuyện cổ tích chốn đồng quê…”
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm cho rằng : “Từ “Mắt ướt” (Viết tặng em trong ngôi nhà chật) ngày ấy, đến “Mắt thẳm” bây giờ, Trần Quang Quý đã tiến lên một bước dài trên con đường thi ca Vẫn rất chắt lọc trong ngôn từ và
bố cục của toàn bộ tập thơ, “Mắt thẳm lại một lần nữa gây cho tôi bất ngờ về
sự day trở và tim tòi trong thi ca Ở đằng sau những câu thơ của Quý là rất nhiều nỗi đời Thơ của Quý bao giờ cũng vậy, chất chứa những tâm sự và tâm trạng Có những triết lý thật lớn lao về cuộc sống, được anh diễn đạt cứ như không” (Tác phẩm mới, số 3/1994)
Theo nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp – Viện trưởng Viện văn học :
“Trần Quang Quý không muốn lặp lại những nẻo đường người khác đã từng
đi Anh muốn đưa thơ vươn tới tầm tư duy mới mẻ của thơ ca hiện đại Đó là
nỗ lực nhìn những cái rất quen bằng đôi mắt lạ, là ý thức soi chiếu đối tượng
từ nhiều góc quét khác nhau, cố gắng thiết lập những mô hình kết cấu nghệ thuật phù hợp với những giấc mơ bất chợt, những biểu tượng nghệ thuật đa tầng… Một khi nhà thơ không tạo được giọng điệu riêng, một khi giọng nói của anh ta lẫn/lạc vào giọng nói của người khác thì toàn bộ nỗ lực của nhà thơ đồng nghĩa với công việc của dã tràng trên cánh đồng chữ mênh mông Với “Giấc mơ hình chiếc thớt”, Trần Quang Quý thực là một nhà thơ có giọng Muốn có giọng, không còn con đường nào khác, thơ họ phải hay Cái
Trang 8đó thì Trần Quang Quý đã có Vâng! Anh đã có khá nhiều trong thơ!” (Trần
Quang Quý và Đồ thị của những giấc mơ, Báo Văn nghệ, số 15/9/2004)
Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha cho rằng : “Để “du ca thành cõi lạ”, Quý không tìm ra ngoài những chữ nghĩa tân kỳ, những tạo hình rối mắt mà tìm vào trong tận cùng cảm xúc một cách thốt lên trầm tĩnh và giản dị Đọc quý không thấy mỏi vì không phải lên gân, không phải kiễng chân Cõi lạ của Quý
cứ thế tự nhiên xâm chiếm ta như không khí, như ngày đêm, như mùa qua, những giai điệu du ca gần gũi như tâm tình, chân thành như chia sẻ… Trong
bí mật của kiếm tìm, sáng tạo, Quý tìm tới sự thường nhiên trong chiêu thức đảo chữ, đảo mà thành không đảo, chơi mà hóa thật, như không mà ra trĩu nặng Vậy là trong cuộc Olempic thơ Việt đầu thế kỷ mới, cung thủ Trần Quang Quý với độ căng của dây cung triết lý, với sức nhọn của thi ảnh, với sự
tự tin của cảm xúc đã bắn tới đích của sự mới mẻ bằng những câu thơ như mũi tên bay theo giai điệu du ca để tạo thành cõi lạ” (Tạp chí Nhà văn, số
9/2004)
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Cảm hứng chính thơ Trần Quang Quý và những nét đặc sắc nghệ thuật
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, người viết sử dụng các phương pháp chính sau đây:
phương pháp tiểu sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp cấu
trúc - hệ thống, phương pháp so sánh
5.1 Phương pháp tiểu sử
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng chủ yếu ở chương 1 – tìm hiểu con người tác giả, những yếu tố hình thành tài năng văn chương của Trần Quang Quý
5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung Chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để phân tích câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ có tính chất tiêu biểu, điển hình để minh họa cho các luận điểm của luận văn
5.3 Phương pháp cấu trúc- hệ thống
Phương pháp cấu trúc - hệ thống giúp người viết nhìn thơ Trần Quang Quý trong mối tương quan với nền văn học Việt Nam hiện đại Tìm hiểu quá trình ổn định và phát triển của thơ Trần Quang Quý trong cái nền chung của thi ca Việt Nam giúp người viết nhận ra những nét riêng không hoà lẫn của
Trần Quang Quý so với các nhà thơ cùng thời
Trang 106 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, kèm theo Phụ lục, phần nội dung chính của luận văn trình bày theo ba chương:
Chương 1 Trần Quang Quý và hành trình sáng tạo thơ
Chương 2 Ba cảm hứng chính trong thơ Trần Quang Quý
Chương 3 Một số phương diện cơ bản về nghệ thuật thơ Trần Quang Quý
Trang 11NỘI DUNG Chương 1
TRẦN QUANG QUÝ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ
1.1 Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975
Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nổi bật của thơ Việt sau 1975 Nếu trước đây, Tố Hữu và Chế Lan Viên được coi là những người lĩnh xướng của thơ ca kháng chiến thì sau 1975, hiện tượng này không xuất hiện trở lại Thay vào đó, mỗi người có cách thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình Sự gần gũi về quan niệm và phong cách giữa một số nhà thơ có thể hình thành một xu hướng, một phái nhóm chứ không xuất phát từ một phương pháp sáng tác độc tôn nào đó Chính sự đa dạng và
sự “phân cực” về tư duy nghệ thuật, về khuynh hướng thẩm mĩ, về bút pháp
và ngôn ngữ là một dấu hiệu cho thấy thơ ca sau 1975 đang sải những bước chân mạnh mẽ trên con đường hiện đại hoá Người ta không còn thấy lạ khi bên này là những nhà thơ đắm mình trong văn hoá truyền thống và bên kia là những cách tân theo kiểu phương Tây, bên này là những nhà thơ có ý thức tỏ bày cảm xúc mãnh liệt và bên kia là những cây bút tỉnh táo giấu kín cảm xúc của mình…Tất cả những phương cách ấy đều có quyền tồn tại với điều kiện là thơ họ phải có hay và mới Nhưng mới không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền thống và hay không đồng nghĩa với những thuật xiếc chữ để tạo nên sự tân kì mà trống rỗng
Đọc thơ, suy cho cùng cũng một cách tiếp cận kinh nghiệm sống, tiếp cận những giá trị tinh thần do nhà thơ sáng tạo nên Nhưng mỗi nhà thơ đều phải sống trong một thời đại cụ thể, trong một không gian tinh thần cụ thể Vì thế, thơ họ, một mặt, thể hiện những suy tư cá nhân độc đáo nhưng mặt khác, những suy tư ấy phải thể hiện được tâm thế và trạng thái tinh thần của thời đại
Trang 12mình đây không phải là chuyện thể hiện “tinh thần công dân” trong sáng tạo nghệ thuật mà thực chất, là năng lực cảm nhận chiều sâu thế giới của nghệ sĩ
Bỏ qua điều này có nghĩa là rời bỏ quan điểm lịch sử khi xem xét và đánh giá các giá trị nghệ thuật của các thời đại khác nhau Điều đó đòi hỏi việc đánh giá thơ ca nước nhà trong hơn ba mươi năm qua cần được được nhìn nhận một cách khách quan và xuất phát từ những tiêu chí khoa học hợp lý Không
vì đánh giá cao những đổi mới trong thơ đương đại mà xem nhẹ những đóng góp của thơ ca thời kháng chiến và cũng không nên xuất phát từ tư duy nghệ thuật thời kỳ 1945-1975 để bắt bẻ và hắt hủi những nỗ lực cách tân (thậm chí
có khi cực đoan) của những cây bút mong muốn đổi mới nhiệt thành
Thơ ca hậu chiến cho thấy những chuyển đổi về tư duy nghệ thuật và ý thức “cởi trói” để xác lập một quan niêm về nghệ thuật Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tư duy nghệ thuật là vị thế của nhà thơ trong hoàn cảnh mới Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà anh ta phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các giá trị Nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định
để đi tìm những giá trị mới Đây là lý do nhiều tác phẩm xuất hiện cảm hứng
“giải thiêng” và khát vọng muốn tìm đến những hình thức tổ chức ngôn từ mới lạ
Đọc thơ bây giờ, có cảm giác phần đông nhà thơ đều muốn chống một cái gì đó cho đúng vẻ có bản lĩnh cách tân và hiện đại hóa; cố gắng phô diễn sự vi phạm một điều gì đấy cho có vẻ hợp thời và thể hiện sự bạo dạn của người cầm bút Nhiều nhà thơ sáng tác sau 1986 muốn chống lại ngôn ngữ sử thi, thơ điệu ca trước kia; đối với họ đó là thứ ngôn từ đã trở thành sáo rỗng, nhàm chán, phiến diện, cần dứt khoát từ bỏ để truyền cho thơ một điệu
Trang 13thức mới, một đời sống thực sự mới mẻ Họ có thể chống lại những quy ước chung của cộng đồng, những gì được cho là cấm kị, phi thơ, phi văn học; có thể chống chính thế hệ đi trước, những văn bản văn học trước đó được lưu hành và có ảnh hưởng nhất định đối với công chúng, chống lại một thứ ngôn ngữ kiến tạo ra những con người điển hình Thậm chí, họ chống lại sự diễn giải có tính chất quán tính về thơ của họ, mọi sự đọc theo cách cũ, tiêu chuẩn
cũ, chống lại những nhà phê bình quen “cầm roi” và độc quyền chân lý Như vậy là, nhà thơ bây giờ tiếp tục đòi hỏi mở rộng tư duy và cách viết, muốn làm mới bằng cách chống lại mọi thứ hiện hữu - từ quan niệm văn học, khuôn mẫu thể loại, mỹ cảm, ngôn từ, đến những cách nhìn, cách cảm thế giới và những thiết chế xã hội văn hóa đang ràng buộc, hiệu chỉnh, quyết định mọi cái viết; kháng cự lại những cái viết chức năng/ công cụ
Bản chất của thơ, của văn học như là sự chống lại những thói quen, những cái hàng ngày, những thứ lâu ngày đã trở thành quán tính trượt ra ngoài
sự chú ý của chúng ta? Phải chăng sử dụng ngôn ngữ cấm kỵ, miêu tả những vùng cấm kỵ, bộc lộ thái độ cấm kỵ là sự đổi mới thơ/ văn học đích thực? Người viết nào cũng đối diện với một bên là bảo tồn, duy trì, triển diễn những nội dung cũ, hình thức cũ - một sự quay trở về, hòa tan vào đám đông, bồi đắp cho “những ngọn núi”; với một bên là kháng cự cái đã biết, tìm cách thay đổi, làm khác đi, nhằm tạo ra những hình thức mới, nội dung mới - một sự mở đường, tiến về phía trước Sáng tạo là sự chống lại cái cũ, cái đã quen theo nhiều đường hướng khác nhau Chống lại cái đã quen để làm khác, làm mới, làm cho văn học phong phú hơn, đa dạng hơn và còn để thỏa mãn khoái cảm thẩm mỹ, đánh dấu sự hiện diện của cá nhân Sáng tạo bao giờ cũng là sự thay đổi, tháo dỡ, “sai khác”, cấu trúc lại… nhằm tạo ra cái khác Vì vậy, sáng tạo
là một hành động nguy hiểm, đầy khó khăn thử thách, không ít rủi ro và khó tránh khỏi sự chỉ trích, chế giễu, phủ nhận của đám đông đại diện cho cái cũ
Trang 14Đích của sáng tạo không phải hướng đến cái tôi hay cái ta, mà là ngôn ngữ mới, luật chơi mới, tri thức mới - những thứ có thể gây ra ở người đọc một khoái cảm, hiệu ứng nào đó, thậm chí một sự khó chịu Không có tham vọng làm khác, tạo ra một ngôn ngữ mới, lời nói mới, kí hiệu mới, cách nhìn mới nào thì sự viết đó coi như chưa có ý thức sáng tạo, chưa có bản lĩnh sáng tạo Khoái cảm của người viết thể hiện ở chỗ anh ta say mê với ngữ pháp mới, quan niệm mới, cách nhìn mới, ý tưởng mới, từ ngữ mới Khoái cảm của anh
ta là khoái cảm với những câu chữ, kí hiệu - tự do nghĩ ra những phát ngôn mới, nỗ lực tìm kiếm cách nói mới, đặt ra những từ ngữ mới, cấu trúc những nhịp điệu khác và lạ
1.2 Trần Quang Quý đời sống và sáng tạo thơ
1.2.1 Tác giả Trần Quang Quý
Nhà thơ Trần Quang Quý, sinh năm 1955, quê xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ Từ năm 1971-1977, là công an nhân dân vũ trang (nay là bộ đội biên phòng) Năm 1983-1985, học khoá II, trường viết văn Nguyễn Du Năm 2000, cử nhân Anh ngữ, đại học Ngoại ngữ Hà Nội Anh đã từng là cán bộ văn hóa Vĩnh Phú; Tổng biên tập tạp chí Dân số & Gia đình; Tổng biên tập báo Gia đình & Xã hội; Phó ban nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam Hiện đang là Phó Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn Tác giả làm báo
và sáng tác văn thơ Thơ Trần Quang Quý thường phát hiện từ khía cạnh thầm kín trong tâm hồn và có cách tân về hình thức; từng được giải nhì thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội, giải thưởng thơ của tuần báo Văn nghệ và của Hội
Nhà văn Việt Nam Trần Quang Quý quan niệm: "Thái độ sống quyết định sáng tác Tôi cho rằng, dù làm bất cứ việc gì, nếu không tận tâm, tận lực với
nó thì chỉ có thể thành thợ Văn chương lại khó khăn hơn nhiều; đặc biệt là thơ Nó đòi hỏi sự ký thác máu thịt, một thái độ văn hoá, một sự đồng cảm lớn "
Trang 151.2.2 Hành trình sáng tạo thơ
Sinh thời M.Gorki đã từng khẳng định “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy trong những ấn tượng có cái giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng” Có thể nói, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá một nghệ sĩ là ở chỗ anh ta
có đem lại một cái gì mới mẻ, riêng biệt hay nói chính xác, là một phong cách
độc đáo cho nền văn học dân tộc hay không?
Những sáng tác của Trần Quang Quý “không muốn lặp lại những nẻo đường người khác đã từng đi Anh muốn đưa thơ vươn tới tầm tư duy mới mẻ của thơ ca hiện đại” (Nguyễn Đăng Điệp) Những sáng tác của anh được độc
giả và các nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao như các tập thơ: Viết tặng
em trong ngôi nhà chật (1990); Mắt thẳm (1993); Giấc mơ hình chiếc thớt (2003); Siêu thị mặt (2006); Cánh đồng người (song ngữ Việt – Anh, 2010) Ngoài ra, còn có : Bờ sông trăng sáng (tập truyện ngắn, 2010), Lời sám hối muộn mằn, chị Châu (Phim truyện – đã phát trên VTV3 và nhiều truyện ngắn,
bút ký…
Với những đóng góp của mình, Trần Quang Quý đã giành được nhiều giải thưởng Văn học – nghệ thuật:
Giải nhì tạp chí Văn nghệ Quân đội, 1984
Giải thơ tuần báo Văn nghệ các năm 1990 -1991, 1994-1995
Giải ba truyện ngắn báo Người Hà Nội, 1995
Giải thưởng Văn học 2004, Hội Nhà văn Việt Nam
Giải thưởng Bông lúa vàng (Viết về nông nghiệp, nông thôn và nông dân
năm 2011)
Trang 161.3 Những yếu tố hình thành phẩm chất thơ của Trần Quang Quý
1.3.1 Quê hương – Vùng bán sơn địa
Mỗi nhà thơ đích thực đều kỳ vọng tạo lập một vùng đất, một địa danh, một không gian văn hóa xác tín chân thi của mình, từ đó mà tỏa vọng đến một không gian rộng lớn hơn, sâu sắc hơn trong thế giới và vẻ đẹp của thi
ca Có nhà thơ “địa danh” là phong cách, giọng điệu, là dòng chảy ngôn ngữ,
hệ thống thi ảnh,…; lại có nhà thơ có cả giọng điệu và tiếng nói từ thẳm sâu tâm hồn, sự giăng níu về một vùng đất máu thịt, tạo dựng nên không gian thi
cảm riêng, và lớn hơn, không gian văn hóa của thơ mình
Trần Quang Quý sinh ra tại một làng quê vùng trung du – bán sơn địa Phú Thọ, một vùng đất có lịch sử văn hiến lâu đời với nhiều lễ hội thể hiện nét văn hóa đặc trưng của vùng “đất Tổ” nói tiêng và của dân tộc nói chung Anh đã hướng ta chú ý đến vẻ đẹp của bức tranh tình yêu nơi làng quê, đến dinh hoạt bình dị mang đậm nét văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam như không khí ngày tết, lễ hội, nét rất riêng của phiên chợ quê, hình ảnh những chiếc cổng làng, những con đê, những đồng cỏ, đồi cọ, Có thể nói rằng, Trần Quang Quý là thi sĩ của đồng quê Mặc dù đề tài trong các sáng tác của anh rất đa dạng như tình yêu, sự phức tạp của cuộc sống đương đại nhưng rồi cuối cùng anh vẫn bị thôi thúc và lại trở về với làng quê yêu dấu mà
nó luôn hiện hữu trong anh là một tình yêu bẩm sinh
“Ký ức hay đời sống thôn quê là mảng đời, là nguồn cảm hứng sáng tác rất quan trọng trong thơ tôi Nơi ấy: "Những thửa ruộng, như con dấu vuông đóng dấu đời người trên bùn đất Nơi ông bà tôi đã yên rồi, bóng dáng người di cảo trong hạt thóc Tất cả cùng hái gặt trên cánh đồng này, và cánh đồng đã gặt hái họ" [89;19]
Đối với mỗi con người, quê hương chính là “bầu sữa mẹ”, “là chùm khế ngọt”, “là con đò nhỏ”,… Tình cảm với làng quê, thôn xóm luôn là nguồn
Trang 17cảm hứng lớn bao trùm thơ Trần Quang Quý Tình cảm da diết thường trực của nhà thơ với quê hương đã trở thành nguồn mạch trong lành, tuôn chảy dạt dào nhất và cũng chính là phần đặc sắc nhất hình thành phẩm chất thơ Trần Quang Quý Với tâm hồn tươi trẻ, hăng hái nhiệt tình trong tìm tòi khám phá, sáng tạo, cùng với sức làm bền bỉ đáng khâm phục đã để lại một dấu ấn khá đậm nét về một phong cách – Trần Quang Quý
1.3.2 Hoạt động xã hội
Tại lễ trao Giải thưởng văn học của Hội nhà văn VN năm 2004, tập thơ
"Giấc mơ hình chiếc thớt" của Trần Quang Quý đã đoạt giải B (không có giải
A) Anh trò chuyện về thơ và tập thơ đoạt giải của mình : “Tôi cũng giống nhiều người cùng thế hệ, đến với văn chương như một sự tình cờ Tình cờ ở chỗ, khi còn đi học phổ thông chưa bao giờ nghĩ mình sẽ là người sáng tác văn học Tôi đi bộ đội cuối những năm chống Mỹ Chính những năm tháng đầy biến động và tâm trạng ấy, văn chương lại tình cờ đến với tôi như một sự giải tỏa của tâm hồn Thời gian về sau, sáng tác mới thành ý thức rõ rệt khi chấp nhận dấn thân vì nó”
Trần Quang Quý đã trải qua nhiều vị trí trong công việc của mình, anh
đã được đi nhiều nơi trên đất nước, tham gia nhiều hoạt động xã hội, anh đã được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đất nước mình, cũng được chứng kiến những
số phận éo le của cuộc sống “Những cái mặt di cư trong nhau; đến nỗi quên
lối về mặt thật” Anh nhận thấy cuộc sống đương thời với bao sự phức tạp, làm ngơ trước những phận đời trôi nổi : “Những đôi mắt khẩn hoang lần tìm long hướng thiện; Lòng thiện bôi trơn trên những mũi giày, lặng thinh qua phố…”
1.3.3 Giao lưu, học tập
Sinh ra và lớn lên ở vùng đất mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, môi
trường làm việc thuận lợi khi anh được tiêp xúc với các tác phẩm và được
Trang 18trực tiếp trao đổi nhiều với các nhà văn, nhà thơ đương thời, được nghe những lời đóng góp xây dựng chân thành của các nhà nghiên cứu phê bình gạo cội,… đã giúp anh có sự chọn lọc trong quá trình sáng tác của mình; tạo cho
anh có một phong cách thơ riêng, khó có thể lẫn với bất cứ nhà thơ Viêt Nam nào
1.4 Quan niệm nghệ thuật của Trần Quang Quý
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa : “phong cách nghệ thuật là một
phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riệng lẻ, trong trào lưu văn hóa hay văn học dân tộc”
Nhà văn muốn có phong cách riêng phải có tư tưởng nghệ thuật riêng, phải có một vùng thẩm mỹ riêng, có cách cảm nhận riêng, đọc đáo về thế giới, con người, cuộc sống, xã hội Phong cách không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, tự phát mà là cả một quá trình vận động, chuyển biến, thậm chí có cả những thay đổi… nhưng thực sự bên trong thường chứa đựng nét thống nhất,
ổn định, xuyên suốt Phong cách của nhà văn khi đã hình thành thường có tính bền vững Để tạo ra phong cách, ngoài yếu tố thế giới quan còn có nhiều nhân
tố khác như truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống, đối tượng tiếp nhận,…
Nói tóm lại, Phong cách nghệ thuật của nhà văn là cá tính sáng tạo được thể
hiện rõ rệt ở đề tài, cảm hứng, nét đặc sắc về bút pháp nghệ thuật, giọng điệu
và ngôn ngữ đặc sắc, độc đáo của nhà văn đó Mỗi nhà văn, nhà thơ có phong cách nghệ thuật riêng, không giống bất cứ ai
Trong quá trình sáng tác, Trần Quang Quý luôn trăn, suy ngẫm tìm tòi để
tạo cho mình một phong cách sáng tạo riêng, đôc đáo Anh quan niệm : “Thơ phải ngắn gọn, súc tích, không nên rườm rà, phải nói ít, viết ít nhưng độc giả lại hiểu nhiều Thơ hay là phải chắt lọc những tinh túy nhất từ tâm hồn con người”
Trang 19Chương 2
BA CẢM HỨNG CHÍNH TRONG THƠ TRẦN QUANG QUÝ 2.1 Cảm hứng về nông thôn
2.1.1 Nông thôn lam lũ
Mỗi con người đều có một vùng đất, miền quê được gọi là quê hương
Đó là nơi ta sinh ra, trưởng thành và lớn lên Dù sau này có đi dến bất cứ một phương trời nào thì hình bóng quê hương vẫn in đậm trong tâm trí Với Trần Quang Quý, vùng đất trung du – bán sơn địa nơi mà anh được sinh ra, luôn in
dấu sâu nặng trong tâm can Đó là một vùng quê lam lũ, “Bấm lên sườn đồi mang một niềm đau sỏi; sục tận bùn lầy mà nghe tiếng đất; những ký ức mảnh chai, nhứng sớm trần sương giá; tít tắp nẻo xa” (Điệp khúc những
ngón chân)
Nhà thơ Trần Quang Quý tâm sự : “Nông thôn là nguồn cội, là máu thịt,
là nơi những người thân tôi sinh sống đời này qua đời nọ… Vì vậy, với tôi, viết về nông thôn như là lẽ tự nhiên, là quan tâm thường trực của cả quá trình sáng tác, ngay từ những tập thơ đầu”
Trần Quang Quý đặc biệt quan tâm đến những con chữ có đời sống riêng, những lời với âm - nghĩa - cú pháp đặc biệt nào đó Anh thường nói đến những “cơn bão ngôn từ”, những xác chữ, xác từ, và những “chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão từ vựng” Thế giới hiện ra trước Trần Quang Quý ồn ào, phồn tạp, trồi sụt bất định Đó là thế giới đa ngôn, đại ngôn; “thế giới những ngón tay”, thế giới được hình dung như một “siêu thị”, “sàn diễn” Ở đấy, ý thức về lời như một ý thức về sự kiến tạo, về “ngôi nhà của hữu thể”, về quan
hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, bao gồm cả những quy chế, quy ước phát ngôn đang vận hành trong đời sống Đằng sau câu chuyện về siêu thị mặt, siêu thị lời của Trần Quang Quý là những ngẫm nghĩ sâu sắc của anh về
Trang 20con người và cuộc sống hiện thời Chúng ta đã từng gặp cái nhìn ám ảnh như
thế ở Siêu thị mặt…
Màu tự do của đất tạo ra hai thế giới Một thế giới nổi chìm trong
ngoặc, những con chữ bị quy tắc hóa, bức bối, tù túng “có lúc muốn lồng lên”, muốn phá tung mọi giới hạn, muốn đổ đầy vào nó những tiềm thức, vô thức; đó là thế giới rỗng của những xác chữ Một thế giới của đa ngôn, đa thanh, tự do sinh sôi, bất quy tắc, mọi thứ đều có quyền tồn tại ngay cả sự rỗng nghĩa Trần Quang Quý đề cập giữa một bên là sự tự do của lời; và bên kia là sự đóng khung câu chữ Thơ anh nghiêng hẳn về thứ quyền được nói, quyền được tự do suy nghĩ, cảm nhận, “quyền chính danh văn bản, một đặc
quyền không đóng ngoặc tư duy” Trong bài thơ Ngoặc đơn tác giả viết: “Nỗi buồn trong cấu trúc cô đơn/ chiếc ngoặc mong manh gông cùm phận chữ/ những con chữ một đời vai phụ/ những con chữ chỉ giản dị làm phu giải nghĩa/ cũng một đời thèm/ tháo ngoặc/ Tự Do!” Nói về ngoặc đơn là nói về
ranh giới, về những vai phụ Hình ảnh ngoặc đơn - vai phụ là một trong những hình ảnh rất đắt của Trần Quang Quý Đằng sau hình ảnh ngoặc đơn không đơn giản là chuyện câu chữ nào đó cần giải nghĩa, bồi nghĩa hay sự cần
có những lời khác, tiếng nói khác, câu chữ khác thuyết minh thêm; mà còn là chuyện những con chữ đang bị gông cùm, chỉ đảm nhận chức năng bổ sung, nói thêm, nói về, làm phu giải nghĩa, và vì thế nó thường được (phát âm) lướt qua với giọng nhỏ hơn, thấp hơn Đó là chuyện của con người, chuyện vừa có tính cách muôn thuở vừa có tính thời sự, chuyện ám ảnh, day dứt; chuyện về khát vọng tự do cất lời của những con chữ trong ngoặc đơn Thèm tháo ngoặc
là thèm tự do; thèm thoát khỏi sự đóng khung trong những vai phụ để được chính danh; thèm được tự nói về chính mình, nói với giọng to hơn, cao hơn;
tự thân có nghĩa, có giá trị; là thèm bình đẳng, kết nhập vào các câu chữ khác tạo thành một khối dòng liền mạch, một cấu trúc chỉnh thể, không thể chia
Trang 21cắt, tách rời, không bị giới hạn Ngoặc đơn góp một tiếng nói khác về thân
phận con chữ suốt đời đóng vai phụ, những con chữ mà hồn vía của nó được dùng để trao cho con chữ khác, hướng về con chữ khác Trần Quang Quý nói thấm thía về khát vọng tự do của những con chữ bị đóng khung, bị vây hãm,
bó buộc bởi các “quy tắc ngữ pháp” mà một xã hội, cộng đồng đặt định cho
nó, gán cho nó Tinh thần bài thơ là chống lại các “quy tắc ngữ pháp” Thơ Trần Quang Quý thoát khỏi những ồn ào sáo rỗng, “xủng xoảng ngôn từ”- như cách nói của tác giả, chính từ những tìm kiếm, suy tư sâu lắng như vậy Trần Quang Quý nói khá nhiều về tự do, sự bừng thức và khai mở Bài
thơ Sự sáng là một ví dụ Ở đây người viết tạo ra hàng loạt kí hiệu Không
gian thơ tràn đầy ánh sáng bừng ngộ, nhớ lại, tái sinh, sự sống, sự trỗi dậy, sự chuyển động đột khởi, sự tái liên kết, tinh khiết, năng lượng… Giữa nhiều hình ảnh biểu tượng, nổi bật là “ánh sáng của một ngày tự thức”, thứ ánh sáng đối lập với bóng tối của vô thức, tiềm thức, lãng quên, các ngăn kín Đành rằng, nói về ánh sáng không mới mẻ, nhưng mô tả nó như biểu trưng “đánh thức bản nguyên”, lòng trắc ẩn, sự vươn tới tự do, khám phá chiều sâu của
tâm hồn là một nỗ lực đáng quý của Trần Quang Quý: “Ánh sáng của một ngày tự thức/ ánh sáng len lỏi vào ngõ quen, vào ngóc ngách vô cảm/ đánh thức bản nguyên/ cởi nút thắt bóng tối nằm hoang muội trong bức tường câm thức/ Ánh sáng dẫn tôi bò qua những con dốc nhịp thở/ gõ cửa trái tim cảm hứng/ bánh xe trật tự khởi quay/ và bật dậy trong tôi những lãng quên biền biệt chân trời… ánh sáng khoan thoai trong khung cửa ngộ thức/ hình như tôi vừa tự mở khóa mình” Ở đây hành động, nhịp điệu của ánh sáng trở thành
những dấu hiệu biểu hiện sắc thái tinh tế của tư duy, lý tính (ánh sáng dựng lên, len lỏi vào rãnh quen, dẫn tôi bò qua tôi, gõ trái tim cảm hứng, ánh sáng
tan chảy, ánh sáng ghì thung lõm, ánh sáng khoan thai…) Sự sáng hướng dần
về sự tiếp nối, điều hòa giữa các yếu tố vô thức và ngộ thức Sự sáng chống
Trang 22lại tình trạng cá nhân tự giam hãm mình, vô cảm, im lặng, lãng quên, trì đọng;
Sự sáng hướng đến bản ngã, bản sắc của chủ thể phát ngôn; sự sáng không
phải đơn thuần kể về ánh sáng từ cái nhìn không gian, mà là câu chuyện về thay đổi, sự sáng tạo ra hình ảnh mới, mở ra không gian mới, nhen nhóm lên cảm hứng và nhận thức mới; là nhu cầu mở lòng hòa nhập, nhu cầu giải thoát,
“tự mở khóa mình” của chủ thể Đọc Trần Quang Quý không phải đọc cái nổi lên bề mặt ngôn từ mà đọc cái trật tự ẩn, đọc những không gian ký ức, tiềm thức trong văn bản
Để làm giàu cho khả năng biểu đạt, Trần Quang Quý hướng về nhiều biểu tượng truyền thống, cấp cho nó những cảm quan mới Trong cái nhìn của tác giả, hình ảnh đất trở thành cái toàn thể, qua đấy thấy được những biến thiên của cuộc đời Có thể đọc từ đất những dấu chân, gương mặt, lời nói,
những vực thẳm, cạm bẫy, bài học làm người: “Tôi đọc trên đất những bước
đi ngắn, những bước đi dài/những khi bước thấp, những khi bước cao/bài học ban đầu/thuở còn lẫm chẫm/trang sách nhân gian đất bày vô tận/…Một đời khát vọng/tìm gió/theo mây/mới hay mọi điều học ngay từ đất” (Từ đất) Đất
chính là cuộc đời, hiện thực, đất phong phú vô hạn, đất cấu trúc sự sống Bài học từ đất là bài học từ cuộc đời, trong nhân gian, và từ lịch sử; có thể học làm người, học mọi sự trên đời từ ngay những thứ xung quanh ta, ngay dưới
bàn chân ta Từ đọc đến học là một sự lĩnh hội, thấm thía, chuyển hóa, và tri
ân Trần Quang Quý chọn lựa ngôn ngữ giản dị tưởng như không dụng công
tu từ để nói với chúng ta sự nghiệm sinh của cá nhân Trong thơ Trần Quang Quý chủ thể phát ngôn có tâm thế hướng về phía trước, về cái đang mở ra, đang bắt đầu, ngay cả khi người nói xuất phát từ truyền thống, những cái đã quen thuộc; anh ta tìm cách để có được một tương lai trong ngôn ngữ đang
kiến tạo Từ đất là một cái nhìn động, là cái khởi đầu, là nền tảng và căn cước
Trang 23văn hóa “đất cùng ta mùa màng, đón ta về vô tận” Bài thơ Từ đất là một bài học đọc: sống là không ngừng đọc nếm trải Từ đất cấp cho chúng ta một bài
học về sự lắng nghe, phải biết lắng nghe từ trang sách nhân gian và từ tự
nhiên, từ lịch sử của đất để có ứng xử phù hợp; nhƣng Từ đất còn gợi ra một
bài học về sự tìm kiếm các giá trị, ý nghĩa trong những cái giản dị, quen thuộc, và trong các huyền thoại xa xƣa, các mẫu gốc (đất…), tìm đọc từ đất là
tìm về những giá trị cốt lõi Từ đất chống lại cái nhìn bàng quan, đơn giản,
phiến diện; đồng thời từ chối những giấc mơ, khát vọng “tìm gió, tìm mây”, những tìm kiếm viển vông, xa vời; nó kéo chủ thể trở về mảnh đất hiện thực,
đòi hỏi anh ta gắn bó với thực tế gần gũi
Từ đất
Tôi đọc trên đất những bước đi ngắn, những bước đi dài
những khi bước thấp, những khi bước cao
bài học ban đầu
thuở còn lẫm chẫm
trang sách nhân gian đất bày vô tận
Tôi đọc trên đất những mùa hạt mẩy, những vị gừng cay
những cơn gió lép, những hạt sương gầy
những vết chân hanh, ngày mưa tướp mặt
tôi đọc trên đất những lời tiền nhân
Tôi biết hành trình có con đường thẳng, lại có khúc vòng
Trang 24học những bước lùi để thêm bước tiến
học cách nhìn đêm để tỏ mặt ngày
bao nhiêu vực thẳm, cạm bẫy trên đường
cũng bao nhiêu cách đất làm mồ chon
nó mang một ý nghĩa biểu đạt mới.” (Trần Quang Quý) Trong máu thịt Trần Quang Quý rất gắn bó với không gian miền núi, nông nghiệp, với vùng đất cội nguồn; hình ảnh ngày mùa, sương muối, mùa cốm thơm, gió heo may, cây cỏ… trở thành một phần ký ức thơ anh Mặc dù hình ảnh thôn quê, làng quê thường xuyên hiện hữu trong thơ nhưng đọc Trần Quang Quy thấy anh rất mới, anh nói về làng quê bằng ngôn ngữ hiện đại, ngôn ngữ đương đại Trong
Bài hát tháng Mười hình ảnh cánh đồng trở đi trở lại nhiều lần dưới nhiều
dạng thức: cánh đồng châu chấu, cánh đồng cỏ dại, cánh đồng mê cảm, cánh
đồng mệt nhoài… Nói đến cánh đồng trong Màu tự do của đất là nói đến
không gian nguồn cội, đến vùng ước mơ thẳm sâu, một nhịp trầm, chậm của
Trang 25đời sống Bài hát tháng Mười là bài hát về con đường gieo hạt, về mùa dâng
hạt: hạt lúa và hạt người Trần Quang Quý xem trọng không gian văn hóa gốc (làng quê), coi đó như một giá trị bền vững, một mảng đời gắn bó, một nguồn cảm hứng sáng tác dồi dào, một thứ trầm tích Cũng do viết nhiều về cái đã qua, về cái thực tại hơn cái mơ ước, viễn cảnh, nên thơ Trần Quang Quý giàu tính chiêm nghiệm, tính triết lí và ý nghĩa xã hội Ở Trần Quang Quý cái nhìn không gian thường hướng về phía kí ức - những ngày xưa, về con đường đời - những phận người, và thường gắn với những suy tư, giấc mơ, ước vọng có khi
“ngược về cổ xưa tiền kiếp”
Bài hát tháng Mười
Những cánh đồng châu chấu vừa hát lên cùng gió tháng Mười
chúng mang hơi thở tháng Mười này sang những tháng Mười khác
tháng Mười dâng hạt
rón rén heo may
sương muối gặt hoàng hôn tóc mẹ
những giấc người bạc trắng giấc mơ
Tôi đi ngang những mùa cốm thơm thao thiết chân trời
em đã buộc tôi từng nút thắt ký ức
trăng hổn hển tuột đêm trinh nữ
tiếng hát sương khuya, cánh đồng cỏ dại
ngây ngất làn môi
Tôi gọi tên em giấc mơ tháng Mười
dọc những con đường thảng thốt heo may
trên bầu ngực mùa thu đang cốm
khảm khắc ngân âm điệu cánh đồng mê cảm
những lẻ mùa lẻ bóng lẻ ngày xưa
Sau vụ gặt những cánh đồng mệt nhoài nằm thở trong rơm rạ
những chiếc liềm mỏi gặt giờ nằm im trên vách
chúng vẫn cong lên hình dấu hỏi
những dấu hỏi ngàn năm mai táng trong thẳm sâu luống đất
Trang 26những dấu hỏi ngái cay mùi tro bếp
những dấu hỏi ngược về cổ xưa tiền kiếp
Hạt lại gieo Nhẫn nại Hạt người
Cảnh vật, con người trong Màu tự do của đất tràn ngập nỗi “nhớ xưa” Đọc Màu tự do của đất còn là đọc những ký ức xưa trở lại, đọc thứ thơ “bay
ngược quá khứ”; đọc một dáng xưa, nét xưa, nhịp điệu xưa trong vẻ hiện đại,
ồn ào của phố phường; có thể kể đến ở đây chẳng hạn bài thơ Cổ Ngư một lát cắt Nỗi nhớ trong Cổ Ngư một lát cắt là nỗi nhớ không gian cổ kính, không gian tĩnh lặng thấm đẫm khát vọng an bình của dân tộc Nhưng đọc Cổ Ngư một lát cắt ta vẫn cảm thấy ngôn ngữ thơ Trần Quang Quý thuộc hẳn về
không gian đương đại/hiện đại: từ một buổi chiều dậy thì khỏa sương Tây Hồ, một mùa thu vàng cởi cuống xiêm y, với dáng xuân hừng hực qua đường đến bầu trời lơ lửng những cặp môi và những ký ức treo trên vòm lá… đều khoác chiếc áo hiện đại, chiếc áo thanh xuân Tác giả cố gắng làm mới trên thi liệu, thi ảnh quen thuộc bằng cách truyền cho nó những cảm thức mới, nhịp điệu mới Hành trình tìm về truyền thống, hồn quê, trở lại những tháng năm xưa
cũ, đối với người phát ngôn trong thơ Trần Quang Quý như là để gột mình, để quăng bỏ “những bức bối thị thành, những muộn phiền nhầu nhĩ/những gương mặt nhạt nhẽo, những cái nhìn tị hiềm”
Cổ Ngư một lát cắt
Hàng cơm nguội trầm tư đứng ngẩn phố hiện đại
chiều dậy thì khỏa sương Tây Hồ
Cổ Ngư nhớ xưa, nằm se sắt bóng chiều hồn cẩu nhi phơ phất
phong phanh lá vàng thu cởi cuống xiêm y
tôi đi rỗng ngày buồn
Trang 27nhặt vết nhân gian
rắc trên đường thu se sẽ gió
Trấn Quốc thỉnh một hồi chuông phúc lành
những con sóng vỗ tôi luỗng chiều
em lại về trong thực ảo mùa thu, trong ngọt ngào đắng đót
trong váy áo thanh xuân hừng hực qua đường
tôi muốn hôn lên bầu trời lơ lửng những cặp môi bay ngược quá khứ
những ký ức treo trên vòm lá, rằng mắt em đâu đó còn kia
Cổ Ngư
Cổ Ngư
Cổ Ngư
tiếng nấc những bàn chân còn thảng nhớ con đường
đi mải miết phía ngày không định
khóc trên vai tôi
xào xạc lá bàng
Ẩn trong câu chữ Màu tự do của đất một khát vọng phiêu bồng, phiêu
du, tự do, tự tại của cái tôi Không phải ngẫu nhiên, Trần Quang Quý nỗ lực kiến tạo cho mình không gian riêng để nương náu, để chầm chậm bước về, tìm về trong ngay những lát cắt thị thành đặc sắc Cũng trong mạch cảm hứng
tìm về như thế, Trần Quang Quý sáng tạo ra một Sơn Tây hiện đại nhưng
không đánh mất hồn đất cổ kính ngàn tuổi Nhìn thành quách nghĩ về thời gian dâu bể, viết về xứ Đoài với mây trắng, đá ong rêu phong và trung du cuộn đỏ hiển nhiên không còn mới nữa; nhưng viết về Sơn Tây với ngôn ngữ
và trí tưởng tượng táo bạo như tác giả Màu tự do của đất đã làm thì không dễ
gì viết được Dường như Trần Quang Quý không thuần tả cảnh Sơn Tây,
Trang 28người Sơn Tây mà đang đánh thức, tìm kiếm, kiến tạo cái chất Sơn Tây, sức sống Sơn Tây hòa quyện trong cảnh trí, con người Tác giả chọn cho mình một lối về, một lối vào “phế hoang chiều cổ đại”, chọn cho mình một cuộc gặp quen gần và tình tứ với “những cô nàng răng đen hạt nhót đang cười duyên”, nghĩa là người viết ấy đã chọn được những gì chung nhất, đặc trưng
và ấn tượng nhất trong sự trải nghiệm, tưởng tượng Đọc Sơn Tây ta gặp những câu thế này: “Các nàng liếc nhìn tôi bằng sâu thẳm bầu trời thị giác/ bằng cả những phía sau cong mi… Tôi đi qua ngàn năm để đỏng đảnh một chiều váy ngắn… Sông hổn hển kể những ngày nàng thôn nữ ra bến quê giặt yếm/ khỏa những nụ cười duyên/ giặt cái dịu dàng, giặt phồn thực/ các nàng giặt tôi, kì cọ tôi bằng chiều quê cổ điển/ bằng cổ tích Ba Vì, bằng cả bây giờ quần jean, tóc hấp” (Sơn Tây) Đó là những câu thơ góp phần “làm mới Sơn
Tây” gợi được nhiều cảm nhận bất ngờ về một đời sống khác, một vẻ đẹp khác Trần Quang Quý muốn làm mới những cái đã trở thành truyền thống trong thi ca Cái tạng của anh và năng lực sáng tạo dồi dào của anh bộc lộ trong lối thơ như vậy
Cái nhìn nghệ thuật ở Trần Quang Quý có tính hệ thống Anh thường nhìn sự vật hiện tượng như một thế giới, một cấu trúc, tự thân chúng chứa đựng một câu chuyện nhân sinh nào đó; người viết nỗ lực tìm kiếm khám phá
“những vỉa người”, đọc những giọng nói, diện mạo, đời sống, thân phận, cách
ứng xử của con người trong mỗi sự vật hiện tượng quan sát Tác giả Màu tự
do của đất thường chọn một hình ảnh, sự vật, hành động nào đó rồi soi ngắm,
cắt nghĩa nó từ nhiều chiều và nhiều dạng thức biểu hiện, người phát ngôn liên tục đưa ra các chất vấn, dò hỏi, phán đoán, những định nghĩa, diễn giải để vừa nhằm nắm bắt bản chất câu chuyện mà chúng muốn kể, nghe cho được những tiếng nói rất riêng ấy cất lên vừa nhằm tạo nhịp, tạo giọng, tránh sự đều đều như thường thấy Trên cơ sở những liên tưởng phong phú, những thủ
Trang 29pháp luyến láy, điệp ngữ, Màu tự do của đất tạo ra các chùm hành động,
chùm hình ảnh biểu tượng, tạo thành một thế giới đa diện Ví dụ, nói về mảnh
vỡ, Trần Quang Quý đi từ những mảnh vỡ thời gian, những mảnh gốm ngủ trong lòng đất, đến mảnh vỡ đam mê, mảnh vỡ tâm hồn, mảnh vỡ trái tim,
“những mảnh vỡ quẫy lên tiềm thức”; hoặc nói về chiếc lưỡi, người viết quan sát nó trên vũng cạn ngôn từ, từ diễn đàn hội nghị đến nơi bán mua cổng chợ; nói về ngón tay, chủ thể phát ngôn tạo ra một thế giới “những ngón tay giao cảm gọi mùa”, một “miền hoang ngón”; hay khi nói về nỗi buồn (nhân vật tôi gọi là “điểm danh những nổi buồn để chúng không đơn lẻ/không đơn lẻ chính tôi/nỗi buồn cũng cộng đồng”) Trần Quang Quý gói chúng thành “từng mùa đau”…
Màu tự do của đất là một thế giới đa thanh, mở ra một thế giới tiếng nói,
giọng nói: từ tiếng nói của sông, của ghế, của đá, tiếng mài gươm, tiếng đại ngàn, tiếng nói của tiền nhân, tiếng hát của cánh đồng châu chấu, tiếng hát sương khuya, tiếng chim sẻ thời thơ ấu, tiếng cỏ hát, tiếng thở dài của hàng cây, tiếng hạt nảy mầm, tiếng gầm mãnh thú, tiếng vỗ cánh ban mai, đến tiếng gọi đáy ngày, tiếng vọng những mảnh vỡ, tiếng nghiến răng của lịch sử, tiếng gọi nhau toát lạnh vỉa tầng tử khí, và giọng hát thật của chính những câu chuyện được chôn vào quá vãng… Nghĩa là tác giả đã nghe thấy trong mỗi sự vật, không gian một ngôn ngữ, một cách nói giao cảm, một thái độ nhân sinh
Trong Màu tự do của đất có cả bài thơ hay về Giọng, về “thế giới đa giọng,
đa thổ ngữ” Chú ý đến tiếng nói, giọng nói, những tiếng vọng, tiếng dội… ở đây, là quan tâm đến sự sống, sức sống, những kiếp sống, đến đời sống bên trong, những dấu hiệu về hoạt động chức năng của ký ức văn hóa và lịch sử Thơ Trần Quang Quý có bản sắc và chiều sâu tư tưởng; có thể xem đó là thứ thơ sáng tạo ra để thay đổi những cảm nhận thông thường, để suy ngẫm và thôi thúc chúng ta tự hỏi, tìm câu hỏi về nhân sinh, nhân tâm
Trang 30Để làm mới, làm khác, nhà thơ cần có ý thức về cửa ải cấu trúc để thay đổi cấu trúc Trần Quang Quý có ý thức rõ rệt trong việc cấu trúc các tập thơ
của mình Màu tự do của đất tạo dựng rất nhiều con đường biểu tượng Con đường là một trong những hình ảnh xuyên suốt tập thơ Màu tự do của đất là thơ về những con đường, “những con đường vời vợi bóng người”, “mỗi con
đường đều có một số phận” khác hẳn với những tập thơ thường được gom
ghép từ những bài lẻ Gọi sẻ là bài thơ xúc động về “giai điệu cánh đồng”, về
“con đường chạy dọc ấu thơ”, về mùa sẻ xây tổ ấm, về “hạnh phúc lót bằng
đời rơm rạ” - những thứ đã trở thành máu thịt, thấm vào máu thịt… Gọi sẻ
được nhà thơ cá nhân hóa trở thành gọi tuổi thơ, gọi những kỉ niệm, những
“mùa khốn khó”, và gọi “những mùa thơm hạt”; gọi còn là nhớ lại, nhắc về, là khao khát, ám ảnh khôn nguôi Thơ Trần Quang Quý đúng là thư thơ của những hồn dân dã, một thứ thơ gói đựng những ước mơ lộng lẫy, muốn cất lên, bay lên, “thắp lên cánh vỗ những chân trời” trong những gì rất đỗi bình
dị, nhỏ bé và đời thường
Màu tự do của đất đặt ra không ít vấn đề nhân sinh sâu sắc Thơ Trần
Quang Quý là thứ thơ đau đáu với con người hiện tại, với cách sống hiện tại
của con người: “Trong mắt rắn, dĩ nhiên rồi ta cũng loài rắn/ngôn ngữ của trườn bò…Trong mắt bầy khuyển kia, làm sao khác ta cũng thành đồng loại/ những cơn tru hoang (tiếng người hóa dại)/ ngày thấp thỏm quạ kêu, đêm chập chờn cú rúc/ những con mắt gài quanh bờ giậu/ lách nhách cắn bóng đêm hay tự sủa phận mình/ có cái chết trong bầm rập vết răng đồng loại/ có bước chân côi cút lẻ bầy” (Đồng loại) Người làm chữ ở đây chú ý đến cách
nhìn và thứ ngôn ngữ nói về kẻ khác, đến cách ứng xử và cùng với nó là những thân phận Trần Quang Quý cố gắng trình hiện trước chúng ta một thứ ngôn ngữ diễn giải, một không gian - nơi tiếng nói cất lên nhằm kiến tạo diện
mạo và số phận kẻ khác Bài thơ Đồng loại trả lời câu hỏi ai có thể tạo dựng
Trang 31hình ảnh “chúng ta”, và những gì có thể được đồng loại của mình dùng để
định nghĩa Bài thơ Mặt ghế thể hiện những quan sát về “một sàn diễn của
vòng quay thế sự”, “có cái đầu luôn khát tự do/lại có tự do tự gông cùm trên ghế”, “đó đây những gương mặt mộng du quyền lực/bài hát về tự do dài rộng
thiên nhiên/thiên nhiên mãi mãi tươi xanh” Bài thơ Có những điều giản dị
biểu hiện một mơ mộng về bản thể, một khát vọng về cách sống đẹp, nó chống lại sự giả dối Nói thật, sống thật, ở đấy, vừa là quan niệm, thái độ sống, vừa là một phát ngôn về việc sống của nhân vật tôi: “Được sống thật không dễ/nói thật dễ gì hơn?/Tôi lột vỏ ngôn ngữ/cùng đồng bào từ vựng của tôi tự do ùa xuống mặt đường/… Phóng túng gì bằng được giải phóng lời khỏi những mật ngữ/hứng khởi gì bằng bóc vỏ tự do/nghe trái tim cuộn chảy dòng máu nhân sinh/nghe sự thật bong ra khỏi vai diễn/nghe cội rễ tự nhổ khỏi đất
cằn những ngày nhạt…” Có những điều giản dị là một tuyên ngôn, một lời tự
vấn của người viết Trần Quang Quý khẳng định: "Thái độ sống quyết định sáng tác Tôi cho rằng, dù làm bất cứ việc gì, nếu không tận tâm, tận lực với
nó thì chỉ có thể thành thợ Văn chương lại khó khăn hơn nhiều; đặc biệt là thơ Nó đòi hỏi sự ký thác máu thịt, một thái độ văn hoá, một sự đồng cảm lớn " Đến tập thơ này, qua nhiều bài thơ ký thác, Trần Quang Quý một lần nữa, thể hiện rõ quan niệm sáng tạo nhất quán của mình, đồng thời đặt ra và kiến tạo những chuẩn mực trong xã hội, những ứng xử giữa con người với con người
Tác phẩm thơ của Trần Quang Quý mở rộng phóng túng những liên
tưởng, tìm tòi, tạo ra cho độc giả nhiều trải nghiệm về vẻ đẹp của hình ảnh và ngôn từ độc đáo Người làm thơ nhạy bén với những vẻ đẹp phồn sinh cuốn
hút, những vẻ đẹp lỗng lẫy, mềm mại và tràn đầy sức sống Màu tự do của đất
là thơ của những sinh sôi bất tận, của ngôn ngữ tuôn trào mạnh mẽ và táo bạo Đọc Trần Quang Quý người đọc vẫn thấy ngôn ngữ thơ tinh tế, giàu sức gợi
Trang 32mà lại là những tìm tòi về câu chữ, cách nói, những cách biểu đạt mới lạ, chứ không phải thứ ngôn ngữ giản đơn, ít giá trị tu từ, như ta vẫn gặp trong thơ
“đổi mới” hiện nay, không khiêu khích người đọc bằng cách làm rối trí họ, thách đố sự tiếp nhận của họ; ngược lại, nó muốn chinh phục người đọc qua
“những điều giản dị” và qua những hình ảnh đẹp, độc đáo
2.1.2 Con người nông thôn
Trong thơ Trần Quang Quý, ta bắt gặp những con người nông thôn quen thuộc: những người nông dân lam lũ, những người nông dân nghèo,… Hình ảnh những người nông dân hiền lành, cần cù, chăm chỉ, chịu thương, chịu khó Tuy cuộc sống cực nhọc, vất vả nhung những con người nông thôn luôn sống chan hòa, ấm cúng
Trần Quang Quý đã hơn một lần toan đưa thơ sang bên kia bờ siêu thực, nhưng chỉ khi ông đào xới ký ức làng quê, ông mới vừa gặp thơ vừa gặp bản thể mình: Cổ tích làng tôi tắm ở bờ ao/ Em cứ thả trắng ngần trăng ướt và: Tháng ba ta về em mò cua bắt ốc/ Gặp ta thẹn thùng giấu mặt/ Chiếc nón vờ lật gió Mặc dầu, cái làng quê ấy thật nghèo, đến cả những âm thanh cũng như
muốn mài cho mòn thêm nữa: Lớp gạch già lõm mặt/ Cánh cổng lăn kẽo kẹt đời người đến cả dáng hình hệ trọng nhất của mỗi con người là Mẹ cũng xô lệch đi: Cổ tích làng tôi đựng trong chiếc mủng/ Mẹ bưng tháng năm lệch ngõ Và, như một nghịch lý, càng đào sâu vào quá khứ, thơ Quý càng gặp hiện đại: Người nông dân đi suốt đời mình/ Còn truyền lại lưỡi cuốc cùn như báu vật/ Tất cả cùng hái gặt trên cành đồng này/ Và cánh đồng đã gặt hái họ…
Trang 33CÁNH ĐỒNG
Tôi lại nghe cánh đồng cỏ đêm giàn giụa trăng
Đâu đó bước chân nghẽn trong bùn quánh
Mùi rơm thơm gợn thổi ngang đồng
Những thửa ruộng
Như con dấu vuông đóng dấu đời người trên bùn đất
Giọt mồ hôi truyền kiếp
Loang áo sương, bạc mắt người thân
Đất sinh nở những mùa vô định
Nơi ông bà tôi đã yên rồi
Bóng dáng người di cảo trong hạt thóc
Người nông dân đi suốt đời mình
Còn truyền lại lưỡi cuốc cùn như báu vật
Tất cả cùng hái gặt trên cánh đồng này
Và cánh đồng đã gặt hái họ
Tôi đã mở cuộc đời ra
Trên lưỡi cày cha lầm lũi
Và sâu thẳm trong tôi một cánh đồng thiêng không mùa vụ
Mẹ tôi
Gieo gặt lòng nhân từ
Mầu mỡ cất từ trái tim khổ hạnh
Người đã thả tôi lên mặt đất
Như hạt giống nối luống cày thế hệ
Xanh lên xanh lên niềm tin cỏ biếc
Phiêu diêu dằng dặc cánh-đồng-người…
Trang 34hai sương “Và tinh mơ xoắn những đường cày; chập choạng bờ sương rụng tóc; bản tấu đa âm và đơn điệu muôn thuở côn trùng; một ngày cốm thơm lên mùa thu mới; có làm vơi cực nhọc nông dân?”[88;51]
Trong “Tháng ba”, ta thấy hình ảnh đủ để gọi về trong ký ức những dấu
ấn của cái đói cái nghèo; sự xuất hiện con người trong dáng vẻ “mò cua bắt ốc” càng in đậm thêm, nhấn sâu thêm chạm vào đến tận cùng của tháng đói, tháng nghèo, tháng nhọc nhằn - lam lũ Tháng ba “ta” ngả nghiêng trong bước chân tìm về kỷ niệm Và ta gặp em! Em với khuôn mặt “thẹn thùng”, trong chiếc nón vờ lật gió đã làm “ta” xao xác lòng Cả cảnh vật, cả thiên nhiên, cả đất trời và con người như bị khuất chìm đi trong cái đói, cái rét, cái lạnh của tháng ba
2.1.3 Nông thôn – Nơi thanh lọc tâm hồn
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng phát biểu : Tôi không phải là người
“buôn không gian”, nhưng những cuối chiều lên sân thượng ngôi nhà cao
tầng giữa thị thành, chợt thấy một cánh chim vỗ hút vào hoàng hôn là lòng bỗng xốn xang một nỗi nhớ đồng quê Cái nỗi quê tiềm thức ẩn chìm trong con người ta từ vạn kỷ ngỡ chỉ khẽ chạm vào là sủi tăm trào bọt, là râm ran dòng điện lan tỏa khắp cơ thể Con người mang tiềm thức quê, càng đổi thay không gian bao nhiêu thì cái tiềm thức quê ấy càng vững chắc hiện hữu bấy nhiêu Tỷ như một lần tôi đến thăm làng kiểu mẫu ở Hoa Đô (Trung Quốc)
mà đường làng rộng như đường cao tốc, nhà vườn đẹp như vila biệt thự của giới thượng lưu thì lòng tôi bỗng dâng lên một niềm vui rỉ máu Không phải tôi bảo thủ trước tiến trình đô thị hóa nông thôn cho phù hợp với thời đại công nghiệp hóa toàn cầu, nhưng tôi cứ ngỡ như trong tôi vĩnh viễn mất đi mái tranh, lũy tre, ngõ nhỏ ở chính làng mình Với niềm vui rỉ máu ấy, tôi trở về
Trang 35đọc thơ Trần Quang Quý và cảm ơn anh đã hợp lại hồn tôi xanh thẳm một miền quê
Quê hương luôn là “chùm khế ngọt”, là nơi lưu giữ những kỷ niệm tuổi
thơ của mỗi con người, là nơi mà ta chia sẻ những “tâm sự thầm kín nhất” Với Trần Quang Quý, ký ức hay đời sống thôn quê là mảng đời, là nguồn cảm
hứng sáng tác rất quan trọng trong thơ anh Nơi ấy: "Những thửa ruộng, như con dấu vuông đóng dấu đời người trên bùn đất Nơi ông bà tôi đã yên rồi, bóng dáng người di cảo trong hạt thóc Tất cả cùng hái gặt trên cánh đồng này, và cánh đồng đã gặt hái họ" [89;19]
Quê hương, nơi những con người bình dị, họ dành cho nhau những tình cảm chân thành đằm thắm; nơi mà nhiều người sống ở phố phường phải giật
mình khi “thôn xóm những ngôi nhà thả rông không then cửa; cài nhau hơi quê”
Thơ Trần Quang Quý đầm đìa ký ức làng quê, ngỡ như mất đi những ký
ức đó thì anh sẽ trở thành một con người rỗng – rỗng như “ai qua chợ nghe
rỗng lòng thúng mủng” (Tháng ba – tập Mắt thẳm), rỗng như “bóng tối tự do
đi rỗng dưới trời“, rỗng như gió “thổi rỗng một thời em đi vắng” Cái đói
nghèo rỗng ruột làng quê cứ dày vò, ám ảnh chạy dọc sống lưng những câu thơ, đắp đầy niềm cố quận của anh Rõ ràng là anh đổi đất mà không đổi lòng, đổi phố mà chẳng đổi quê Thậm chí, càng xa quê thì lòng càng đầy quê, càng gần phố thì hình quê càng hiện hữu Anh thấy rõ đến từng chi tiết làng quê như nhìn qua kính hiển vi của hồn thơ:
“Lấm tấm chân cua bò ngang số phận/ Cọng rơm ngày không thóc” , anh nghe rõ “tiếng thở rạ rơm mùa gặt“, “những hạt thóc trò chuyện với nong nia, gạn từng đêm lép” và anh cảm thông chia sẻ với những số phận nghiệt ngã
Trang 36chốn quê làng: “Tức tưởi những bờ tre rụng tóc… Mồ hôi làng trằn trọc chảy sang tôi”
Những chi tiết làng quê trong thơ Trần Quang Quý như không phải là
“tạm trú” mà là “thường trú” Chúng có một đời sống rất riêng tư và lan tỏa,
chúng tồn tại trong một cảm thức hiện đại của người thơ Nếu không có một
tư duy hiện đại thì làm sao Trần Quang Quý lại có thể làm ra bài thơ “Giấc
mơ hình chiếc thớt” độc đáo đến vậy? Vâng, vẫn là cá đấy thôi, nhưng có gì
kinh khủng hơn khi số phận cá “trên thớt dưới dao” Chính vì vậy mà “Giấc
mơ của bầy cá luôn ám ảnh bóng hình chiếc thớt” Và những nghịch lý xuất hiện: “Cây rơm mơ ngoạm những đàn bò“, “Những chú chuột mơ gặm sống bầy mèo và rửa vuốt vinh quang” Đấy là giấc mơ của “những trái tim yếm
thế” trong cuộc đời đầy rẫy bi ca Màu sắc triết luận đã khiến cho thơ Trần
Quang Quý trở nên lung linh hướng về hiện đại Từ cái lưỡi ngôn từ, cái tai trung thực, anh nhận ra bản chất của sự thật ngay cả trong những lời giả dối, lừa gạt Từ một “cái tên (Olof Palme) làm tấm lát trên đường”, anh nhận ra
sự thật của sự vinh quang nâng bước Những bài thơ vụt đứng lên trên chân chữ ấy, khiến ta thấy một Trần Quang Quý vững chắc bước đi giữa làng thơ sau cơn say chợt tỉnh Vâng, có khi thơ mang tới cho người đọc nhớ, quên, buồn, đẹp mà không cần giải thích vì sao Chỉ biết rằng, những nhớ, quên, buồn, đẹp mà thơ Trần Quang Quý mang tới cho ta, khởi thủy từ tấm lòng chân thật, từ nỗi đau của thi nhân, từ tình yêu của người tình muôn thưở Bởi anh chính là một thi sĩ mang hơi thở hiện đại trở về làm mới những câu chuyện cổ tích chốn đồng quê…
2.2 Cảm hứng về tình yêu
“Trong các bài thơ về tình yêu, Trần Quang Quý cho ta sự trải nghiệm
về cuộc sống, những cuộc phiêu bạt đan xen sầu muộn, khát khao, hạnh phúc,
Trang 37và mất mát đã hình thành nên mỗi đời sống con người Trong những sự trải nghiệm này, như trong thơ Trần Quang Quý, một phút cảm nhận bất chợt
“Mùa thu xa nhau mùa thu rất rộng” và ngay sau đó là tuyên ngôn thẳng thừng “Rót bao nhiêu thương nhớ cũng không đầy” Tình yêu, nói cho cùng, bắt đầu bằng gợi ý, trực cảm và ngụ ý, rồi tự vấp ngã bằng cách cố diễn tả mọi điều đúng như nó đang diễn ra, trước khi cảm xúc đi qua Trong những giây phút sống động này của cuộc sống chúng ta, thế giới thở phào, mỗi chi tiết trở nên sâu sắc khôn cùng và đẹp không thể nào diễn tả nổi” [89;5]
2.2.1 Tình yêu đôi lứa
Tình yêu đôi lứa là đề tài muôn thuở trong thơ ca không bao giờ cạn Mỗi nhà thơ đều có một khái niệm khác nhau về tình yêu đôi lứa qua “những đứa con tinh thần” của mình Khi cuộc sống trở nên phức tạp, xuất hiện trong thơ con người tình yêu nhiều trạng thái, mà nổi bật lên là sự giằng co giữa tình yêu và lí trí
Tình yêu bao giờ cũng có hai cung bậc : tinh thần và vật chất Tình yêu không có những “cấm địa” khi con người nhận thức nó như một phần nhân cách cá nhân và ứng xử nó một cách văn hóa
Trong các sáng tác của mình về tình yêu đôi lứa, Trần Quang Quý không sủ dụng nhiều những từ ngữ mĩ miều mà anh dùng những ngôn từ hết
sức đời thường, gần gũi : “Em mười bảy; vầng trăng mười bảy; lại tràn lên ngây dại cỏ mềm; cái hôn còn khép bỏng môi đêm” (Những ngày xưa) Tình
cảm nam nữ trong các tác phẩm của anh, hầu như đều là những hoài niệm, mà
những hoài niệm đó không thể xóa được : “Anh đã từng khép lại bóng hình
em; và trái tim suốt đời đi vá sẹo” [88;71]
Bài thơ Tháng ba là một ví dụ Hẳn là không còn nghi ngờ gì nữa,
tháng ba trở thành nỗi khắc khoải với mỗi người nông dân đất Việt; và vượt
Trang 38lên trên hiện thực, nó còn là nguồn cảm hứng, là sự trăn trở của bao tài năng
thi ca Mở đầu thi phẩm “Tháng ba” nhà thơ Trần Quang Quý hạ bút:
Tháng ba
Có người vợ cãi chồng - có người chồng bỏ nhà đi viễn xứ
Tháng ba khát mong - tháng ba dài nhớ Hoa xoan đánh rơi - tím ngõ quê
Đằm thắm và chở nặng suy tư, lời thơ buông ra khiến ta như hẫng hụt khi cảm nhận từ câu chữ một sự rạn nứt trong tình cảm vợ chồng - chia lìa xa cách Để rồi, với ý nghĩa như vậy, tháng ba trong tâm thức ai kia lại là nỗi
“khát mong - dài nhớ” đến khôn nguôi trước bước đi của thời gian Tháng ba tràn trề khắc khoải, tháng ba thấm đẫm nhớ mong như sắc màu của hoa xoan nhuộm tím quê nhà
Trần Quang Quý với tâm hồn nhạy cảm, với cái nhìn tinh tế, ngay từ đầu bài thơ đã khơi gợi lại, đánh thức dậy trong tâm tư độc giả những hoài niệm
về tháng ba Mạch thơ tiếp tục chảy, như dạt dào hơn, khắc khoải hơn và cũng gần gũi hơn
Trang 39mưa”, qua chợ “nghe rỗng lòng thúng mủng” Một thoáng hương quê gọi về, nhưng sao buồn lòng là vậy, khi tất cả những gì thiếu thốn nhất đều hiện diện Hình ảnh “chim sẻ bay nháo nhác gọi mùa” khép lại khổ thơ như thả vào không gian một tiếng thở dài Nhưng hình như, ở những câu thơ trên, độc giả chưa thấy được sức ám ảnh ghê gớm của cái đói, cái nghèo Chỉ đến đoạn thơ tiếp theo, thì nhà thơ không còn che giấu Chúng ta vẫn thường nói “tháng ba ngày tám” là để nhấn mạnh sức gợi mãnh liệt của tháng nhọc nhằn; thì đến đây, chẳng thể nghi ngờ gì nữa:
Tháng ba
Ta về - em bắt ốc mò cua Gặp ta thẹn thùng giấu mặt Chiếc nón vờ lật gió Bước chân đi nghiêng ngả cánh đồng
Nếu như ở những câu thơ trên, các tín hiệu nghệ thuật từ thiên nhiên, cảnh vật, đất trời (hoa xoan tím, chim chóc nháo nhác bay, lúa khát mưa ) đã
đủ để gợi lên cả một miền nội tâm sâu thẳm, đủ để gọi về trong ký ức những dấu ấn của cái đói cái nghèo; thì đến đây, sự xuất hiện con người trong dáng
vẻ “mò cua bắt ốc” càng in đậm thêm, nhấn sâu thêm chạm vào đến tận cùng của tháng đói, tháng nghèo, tháng nhọc nhằn - lam lũ Tháng ba “ta” ngả nghiêng trong bước chân tìm về kỷ niệm Và ta gặp em! Em với khuôn mặt
“thẹn thùng”, trong chiếc nón vờ lật gió đã làm “ta” xao xác lòng Cả cảnh vật, cả thiên nhiên, cả đất trời và con người như bị khuất chìm đi trong cái đói, cái rét, cái lạnh của tháng ba Tháng ba “ta” còn nhận thấy những trống trải trong ánh mắt cha, những day dứt trong tâm hồn mẹ Họ đã đi qua thời gian một cách lặng lẽ, âm thầm:
Trang 40Tháng ba Cha về hưu bán nước bờ sông Nghe gió thổi vù vù ngang sợi tóc
Mẹ bế cháu mong ngày sắp hết Đêm một mình nhẩm một đời không
Vô hình chung, tháng ba còn là tháng gắn với sự trải nghiệm của lớp người đã đi qua tuổi thanh xuân - đã chứng kiến bao tháng ba đến rồi lại đi – cũng là bao biến thiên, dâu bể, buồn vui của đời người
Vậy là, chảy suốt mạch ngầm thi phẩm, tháng ba giúp độc giả hình dung
ra được tất cả những gì đặc trưng nhất của một khoảnh khắc trong bước đi liên tục của thời gian - tháng ba Khép lại bài thơ, Trần Quang Quý có một sự liên tưởng, một sự đối sánh độc đáo giữa hai miền: nông thôn và thành thị Qua đó, như càng nhắc nhở mỗi con người đất Việt, dẫu ở nơi đâu, đừng bao giờ vô tâm, đừng bao giờ lãng quên một dáng thôn quê - một thoáng Việt Nam nhọc nhằn, lam lũ:
Tháng ba của nông thôn Tháng ba tràn sang phố gặp những ngọn đèn tuýp xanh nhảy múa
Ta ngoái lại suốt một thời cỏ dại
Vâng! Tháng Ba Việt Nam vốn đặc trưng bởi những cảnh vật, thiên nhiên, con người nơi làng quê thôn dã “tháng ba/ của nông thôn” Nhưng thực chất, không gian chốn thị thành trong chiều sâu của nó, vẫn có dáng dấp của tháng ba Bởi họ là những con người (rất nhiều người trong số ấy) trước đó