Trong đó, có khá nhiều bài viết bàn về một vài khía cạnh cụ thể trong thơ Trần Dần có sức thuyết phục người đọc như: Độc thoại Trần Dần của Khánh Phương, Khi cách mạng là nhu cầu nội tại
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LINH ĐA
NHỮNG CÁCH TÂN TRONG THƠ
TRẦN DẦN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC
Hà Nội – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LINH ĐA
NHỮNG CÁCH TÂN TRONG THƠ
TRẦN DẦN
Chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thành Hưng
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài 5
2.Lịch sử vấn đề 5
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 6
4.Phương pháp nghiên cứu 8
5.Cấu trúc của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1: TRẦN DẦN TRONG BỐI CẢNH THI CA NỬA CUỐI THẾ KỶ XX 10
1.Bối cảnh thi ca Việt Nam những năm nửa cuối thế kỷ XX 10
2.Trần Dần trong thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm và hậu Nhân văn - Giai phẩm 14 2.1 Thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm 14
2.2 Thời kỳ hậu Nhân văn – Giai phẩm 25
Chương 2: NHỮNG CÁCH TÂN TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ TRONG CẢM XÚC THI CA 32
1/ Quan niệm về nhà thơ và về thơ của Trần Dần 32
1.1 Quan niệm về nhà thơ 33
1.2 Quan niệm về thơ 38
2 Cảm xúc nghệ thuật 45
2.1 Sự vận động của cảm xúc trong thơ Trần Dần 47
2.1.1 Hành trình cảm xúc trong thơ Trần Dần 47
2.1.2 Mối quan hệ giữa cảm xúc và lý trí trong thơ Trần Dần 54
2.1.2 Các dạng xúc cảm trong thơ Trần Dần 58
2.2 Nghệ thuật biểu hiện cảm xúc trong thơ Trần Dần 63
Chương 3: NHỮNG TÌM TÒI SÁNG TẠO TRONG THI PHÁP THƠ TRẦN DẦN 68
Trang 41 Thể loại và thể thơ 68
1.1 Thơ bậc thang 71
1.2 Biến tấu thơ 76
1.2.1 Thơ – Tiểu thuyết Một bè đệm: Jờ Joạcx (1963) 77
1.2.2 Thơ hồi ký có bè đệm: Con trắng (1967) 79
1.2.3 Thơ biến tấu chữ, viết bằng “Bè trầm độc vận”: Mùa sạch (1964) 80
1.2.4 Thơ – bè: Con I (1975) 82
1.2.5 Thơ bốn câu Rôck – biến tấu Âm: Con OEE, Hậu con OEE (1988) 82 1.2.6 Lời và không lời (Thơ – họa – văn luận): Con I 3 tấu VĨ VI EXTRAVI 84
1.2.7 Thơ mini 85
2 Hệ thống biểu tƣợng 88
2.1 Sao 91
2.2 Chân trời, chân mây 94
2.3 Đêm 96
2.4 Phố 99
3 Ngôn ngữ thơ 103
3.1 Thay đổi các nguyên tắc chính tả 104
3.2 Phá vỡ cấu trúc từ 105
3.3 Tạo từ mới chƣa xác định đƣợc nghĩa 107
3.4 Lạ hóa kết cấu từ ngữ, câu thơ, bài thơ 109
3.5 Kỹ thuật “nhân bản sao” (Hệ thống “module bội số - multiple modula method) 114
3.6 Tạo nhạc điệu là mục đích tối thƣợng của thơ 115
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 5Lâu nay nhiều người vẫn nhìn nhận thơ Trần Dần và thơ của những cây
bút đứng tên trong phong trào Nhân văn - Giai phẩm chủ yếu ở góc độ ngoài
thơ, mà chưa đánh giá đúng mức ở góc độ văn học Đã có khá nhiều bài viết, nghiên cứu lẻ tẻ về Trần Dần, trong đó có không ít sự ủng hộ lẫn phản đối Nhưng nhiều khi sự ủng hộ hay phản đối đó thật chông chênh, ít dựa trên những điểm tựa là các luận điểm khoa học cụ thể… Tiếp nhận thơ, cảm thơ,
dù viện đến cơn cớ cuối cùng là do “não trạng” hay “gu thẩm mỹ” của từng người, thì những đánh giá trái chiều, chói gắt ấy về một nhà thơ, một hồn thơ cũng cần được minh định Vì vậy, việc nghiên cứu về thơ Trần Dần trong đề
tài Những cách tân trong thơ Trần Dần được thực hiện dưới góc nhìn khoa
học và khách quan là điều rất cần thiết để ít nhiều góp phần tìm lại vị trí đích thực của thơ Trần Dần trong hành trình thơ hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay đã có khá nhiều bài báo, bài nghiên cứu của nhiều tác giả bàn về hiện tượng Trần Dần Đã có vài trang web thực hiện chuyên đề về
Trần Dần như tienve.org, talawas.org, thuykhue.free.fr, thivien.net… tập hợp
những ý kiến, những bài viết, trao đổi về các vấn đề liên quan đến Trần Dần
Trang 6và Nhân văn - Giai phẩm của các nhà nghiên cứu, lẫn của những người trong
cuộc Trong đó, có khá nhiều bài viết bàn về một vài khía cạnh cụ thể trong
thơ Trần Dần có sức thuyết phục người đọc như: Độc thoại Trần Dần của Khánh Phương, Khi cách mạng là nhu cầu nội tại của thi sĩ của Vương Trí Nhàn, Nhật ký đọc Trần Dần của Trần Văn Toàn, Tác phẩm Mùa sạch của Trần Dần qua góc nhìn của nghệ thuật khái niệm, Lại Mùa sạch của Trần Dần của Như Huy, Trần Dần – một thi trình sạch của Đỗ Lai Thúy, Để đến với Jờ Joạcx của Đặng Đình Ân Và cũng không ít tác giả, vì quá yêu mến
hay vì những lý do nào đó, đã đẩy thơ Trần Dần về một trong hai thái cực cực đoan mà đôi khi bỏ quên tính khách quan trong khoa học nghiên cứu văn học Bên cạnh đó, cũng có không ít bài viết lợi dụng sự sai lầm do hoàn cảnh
lịch sử thời đó gây ra trong cuộc đời Trần Dần và sự kiện Nhân văn – Giai
phẩm để đưa ra những nhận định thiếu xác đáng Họ thổi phồng những thiếu
sót về mặt lịch sử (dù đã được sửa chữa) làm tiền đề cho việc suy tôn Trần Dần, lý tưởng hóa những cách tân trong thơ ông mà thực ra nhiều khi đó chỉ
là những ngộ nhận hồn nhiên, thiếu cơ sở khoa học
Tuy nhiên, cho đến ngày hoàn chỉnh luận văn này, chúng tôi chưa tiếp xúc được với một chuyên luận nào ở mức độ khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ hay luận án tiến sĩ về thơ Trần Dần nói chung, và về thi pháp thơ Trần Dần nói riêng Do đó, chúng tôi mong muốn việc nghiên cứu một cách tương đối hệ thống về những cách tân trong thơ mà Trần Dần đã nỗ lực thể nghiệm suốt đời sẽ mang đến một vài khám phá về nghệ thuật thơ của Trần Dần
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Cuộc cách mạng thơ Việt đã bỏ qua cả một thế hệ thơ trong số phận kỳ lạ
của mình, mà theo Dương Tường, “đáng lẽ ra Trần Dần và nhóm Nhân văn –
Giai phẩm có thể là mốc thứ hai (sau Thơ mới) trên tiến trình hiện đại hóa
Trang 7thi ca Việt Nam Nếu đánh giá đúng Nhân văn – Giai phẩm và Trần Dần, có
thể chúng ta phải viết lại sách giáo khoa văn học và viết lại một chương trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1955 – 1956 Song chưa ai làm việc đó vì còn nhiều dè dặt, nhiều e ngại” [36, internet] Có thể nhận thấy đến đây, thơ hiện đại Việt Nam bỗng như “hẫng một nhịp cầu”
Xét cho cùng, sự “hẫng một nhịp cầu” của thơ Việt Nam hiện đại có ít nhiều liên quan tới “cái chết” nhanh (trong khoảng hai năm) và kéo dài đến vậy (trong hơn ba chục năm) của họ bởi nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan Và yếu tố quan trọng nhất là do điều kiện lịch sử - chính trị không bình thường bởi chiến tranh liên miên, đời sống văn học nghệ thuật bấy giờ chưa đủ khả năng sinh thành một lớp độc giả tương thích, đủ tố chất cần thiết để tiếp cận tiếng thơ của họ Không những thế, họ luôn bị đặt ở thế đối trọng với dòng thơ “chính lưu” (thơ kháng chiến) Vì vậy, độc giả từ giới chuyên môn tới người đọc bình dân, nếu có biết đến thì, bởi sẵn mang tâm lý
“dị ứng” (hoặc nhiều nguyên nhân khác), vừa thấy thơ của họ đã vội quay lưng, né tránh
Với đề tài này, chúng tôi hi vọng mang đến một cái nhìn khách quan, công bằng về thơ Trần Dần, tránh tuyệt đối hóa ông với những danh hiệu
“nhà cách tân vĩ đại”, “tầm cỡ”… hoặc coi thơ của ông chỉ là một sản phẩm
bị hắt hủi của thơ ca Ở đây, chúng tôi chỉ đơn giản là xem xét thơ ông trong chỉnh thể toàn vẹn như nó vốn có, với những cái hay, cái đặc sắc mang “thi hiệu Trần Dần”, cùng những cái bất toàn, cái “quá” trong cuộc thể nghiệm thơ đầy tinh thần dấn thân và táo bạo của ông
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình nhận xét, theo chúng tôi là rất xác đáng, rằng: “Đánh giá văn học hiện đại rõ ràng không nên chỉ dựa vào tiêu chí hay Nó đúng nhưng chưa đủ để định giá chính xác cho từng tác phẩm Rất cần một tiêu chí cho những tác phẩm chưa hay nhưng có ý nghĩa khơi
Trang 8mở, dự báo về một quan niệm, một mô hình, một bút pháp nghệ thuật mới” [13, 216] Lịch sử không thể thay đổi, nhưng hi vọng sẽ được nhìn nhận và viết lại dưới ngòi bút cởi mở và khách quan hơn Vì vậy, mục đích lớn nhất
mà luận văn này hướng đến là: Xác định những đóng góp có ý nghĩa cách tân, mới mẻ của thơ Trần Dần vào văn học Việt Nam trong một giai đoạn có thể nói là khó khăn nhất đối với người sáng tạo đó và trong hành trình thơ hiện đại Việt Nam Nói như nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên, “Với tất cả diễn biến như vậy thì người ta trông chờ một việc là những sáng tác của các nhà thơ này trong thời kỳ hoạn nạn, trong thời kỳ im lặng và bóng tối của họ sẽ dần dần được xuất hiện, trả lại cho thời gian, trả lại cho nhà thơ và công chúng”
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi bước đầu khảo sát những tác
phẩm có tiếng vang lớn của Trần Dần (như: Nhất định thắng, Đây Việt Bắc, Cổng tỉnh, Mùa sạch, Jờ Joạcx, Thơ mini, thơ họa…) để làm rõ những cách
tân về mặt thi pháp trong thơ ông; như: quan niệm về thơ và nhà thơ, những cách tân về mặt cảm xúc, thể loại và thể thơ, hệ thống hình tượng tiêu biểu
và ngôn ngữ thơ
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng lý thuyết thi pháp học, vận dụng phương pháp luận nghiên cứu tác giả văn học, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Xuất phát từ đặc điểm riêng của thế giới nghệ thuật thơ Trần Dần, chúng tôi chú trọng việc tìm ra những thành tố cấu tạo nên chỉnh thể thế giới nghệ thuật đó và quy luật cấu trúc của nó Vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận thơ ông như một chỉnh thể, trong đó các yếu tố không tồn tại biệt lập, mà gắn bó, có ảnh hưởng qua lại với nhau
Trang 9Phương pháp lịch sử: Thông qua việc tìm hiểu điều kiện, hoàn cảnh xã hội
và các yếu tố có ảnh hưởng tới quá trình sáng tác của Trần Dần để tìm ra những giá trị mà thơ ông đem lại nhằm định vị tọa độ của ông trên tiến trình thơ Việt Nam hiện đại
Trong luận văn này chúng tôi còn áp dụng phương pháp khảo sát, phân loại, thống kê để tìm ra những chi tiết có ý nghĩa quan trọng, được lặp đi lặp lại như là dấu hiệu thi pháp riêng biệt của tác giả; thông qua đó, chúng tôi rút
ra những nhận xét, đánh giá mang tính khái quát, hệ thống về những điểm có tính cách tân trong thơ Trần Dần
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như: so sánh, bình luận, phân tích và chứng minh… trong khoa học nghiên cứu văn học để chỉ ra những yếu tố hình thức và nội dung lặp lại tạo thành những cách tân trong thi pháp thơ Trần Dần và trở thành nét riêng của thơ ông
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được triển khai thành ba chương cụ thể như sau:
Chương 1: Trần Dần trong bối cảnh thi ca nửa cuối thế kỷ XX
Chương 2: Những cách tân trong quan niệm nghệ thuật và cảm xúc thi ca Chương 3: Những tìm tòi sáng tạo trong thi pháp thơ Trần Dần
Tuy vậy, do một số nội dung giữa các chương có sự liên quan với nhau nên đôi chỗ dẫn chứng đã nói đến ở chương, mục này sẽ được nhắc lại ở chương, mục khác để khẳng định hoặc khai thác thêm những ý nghĩa mới với mong muốn khám phá thơ Trần Dần từ nhiều góc độ và có cái nhìn đầy đủ hơn
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: TRẦN DẦN TRONG BỐI CẢNH THI CA
NỬA CUỐI THẾ KỶ XX
1 Bối cảnh thi ca Việt Nam những năm nửa cuối thế kỷ XX
Việc chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào Việt Nam và người Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã vô tình đẩy nhanh làn gió văn hóa phương Tây vào Việt Nam Giới trí thức trẻ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp và nhận ra vần luật, niêm luật của thi ca Nho gia đã không còn phù hợp nữa Đó là căn nguyên dẫn đến một cuộc vận động đổi mới thơ ca diễn ra mạnh mẽ vào đầu thập niên 1930 với sự xuất hiện làn sóng thơ mới mẻ có cá tính sáng tạo độc đáo Cuộc cách tân này đi vào lịch
sử văn học với tên gọi: Phong trào Thơ mới
Quá trình hình thành, phát triển của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 là
sự tổng hòa của nhiều yếu tố và đã làm nên một cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam Nó đã làm thay đổi một cách hệ thống quan niệm về thơ, về cá nhân, về cái tôi tự biểu hiện, hệ thống đề tài… khi thơ theo lối cũ không còn
đủ sức chuyển tải nội dung tâm hồn của con người trong xã hội đang Âu hóa một cách mạnh mẽ
Phát triển đến những năm đầu thập kỷ bốn mươi, Thơ mới đạt được những kết quả rực rỡ và thực hiện sứ mệnh hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ Việt Đến đây, Thơ mới đã không còn mới nữa và, nói theo cách nói của
Lê Tràng Kiều, là “đi vào khuôn phép”, để rồi sau đó đi vào khủng hoảng cao độ khi Thế Lữ lu mờ trước Xuân Diệu, Xuân Diệu nhường chỗ cho bộ ba Trường thơ loạn với các đại biểu là Hàn Mặc Tử, Bích Khê và Chế Lan Viên Cũng từ đây, Thơ mới đã có những cuộc tìm tòi mới nhằm thỏa mãn khát
Trang 11vọng nghệ thuật của từng nhóm nghệ sĩ, trong đó nổi lên nhóm Xuân Thu
nhã tập ra đời vào năm 1942 với các tên tuổi như, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn
Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ
Trước hết, có thể nhận thấy Xuân Thu nhã tập là sự phản ứng lại những
“cơn mưa trữ tình” trong nguyên tắc mĩ học của các nhà Thơ mới lãng mạn
đi trước, mà vào thời điểm bấy giờ, đã bị khai thác đến cạn kiệt, trở nên xơ cứng, mòn sáo Đi cùng sự phủ định ấy là một nỗ lực lớn trong việc xác lập
nên hệ thống quan niệm thẩm mỹ mới Vì vậy, Xuân Thu nhã tập được xem
như sự tìm tòi nối dài và liên tục của phong trào Thơ mới Nhưng thời điểm
xuất hiện của Xuân Thu nhã tập là lúc tình hình lịch sử – xã hội có nhiều
biến động dữ dội, không cho phép thử nghiệm của họ tiếp tục đi xa hơn Khi Thơ mới đang quẩn quanh, bế tắc trong nhiều thể nghiệm nghệ thuật thì cách mạng tháng Tám nổ ra, đem đến cho dân tộc và văn nghệ luồng sinh khí mới, như Nguyễn Đình Thi từng nói: “Nhịp sống của chúng ta, từ sau Cách mạng đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ào ạt… Nhịp điệu cũ, theo tôi không còn đủ cho thơ của chúng ta Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhưng lúc nào cũng là một sức đang lớn lên như thổi” [17, 15] Cách mạng tháng Tám là một tác động xã hội mạnh mẽ, làm chuyển mạch hiện đại hóa thơ Việt khi nó
mới chớm bước sang “đường cong siêu thực” của nhóm Xuân Thu nhã tập
Liền ngay sau đó, cả dân tộc Việt Nam phải bước chân vào hai cuộc chiến khốc liệt nối tiếp nhau Sau thế hệ thơ tiền chiến (1930 – 1945), thi ca Việt Nam đi thẳng vào khói lửa trận mạc trong suốt ba mươi năm chiến tranh liên miên giặc giã với thế hệ thơ kháng chiến (1945 – 1975) Từ trong lò lửa chiến tranh đó, nhiều lớp nhà văn, nhà thơ đã ra đời và làm nên nền văn nghệ kháng chiến giàu giá trị với đội ngũ sáng tác hùng hậu, hệ thống đề tài, nội dung tư tưởng, nghệ thuật biểu hiện có nhiều tìm tòi đổi mới Và cũng từ đó
Trang 12đã nảy sinh hiện tượng phổ quát trên văn đàn Việt Nam sau năm 1945 là số đông nhà văn nhà thơ tiền chiến tham gia Cách mạng trở thành người chiến
sĩ trên mặt trận văn hóa Cùng với nỗ lực gia nhập quần chúng, họ chối bỏ con người cá nhân, “đào thải tất cả cố nhân trong lòng mình” (Nguyễn Tuân); do hoàn cảnh lịch sử lúc này, tiếng nói đại chúng đã lấn át tiếng nói
cá nhân Kể từ đó, văn học chủ yếu là diễn đàn của cái ta, của con người mới
và “hễ thò đứa nào ở dĩ vãng hiện về (…) là phải giết ngay” (Lột xác -
Nguyễn Tuân)
Trong bối cảnh đó, nhóm Dạ đài ra đời năm 1946 gồm các thành viên
như: Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Tử Phác, Phùng Quán, Vũ Hoàng
Địch… và trình làng bản Tuyên ngôn tượng trưng Tuyên ngôn tượng trưng ra đời trên nền tảng tri thức, tư tưởng chịu ảnh hưởng rất rõ những trào
lưu văn học phương Tây hiện đại Dù nội dung có chỗ trùng lặp, cách diễn đạt nhiều khi đại ngôn, hoa mĩ, lạm dụng từ Hán Việt… đem lại cảm giác nặng nề và rườm rà, người đọc vẫn có thể thấy rất rõ lí tưởng, tâm huyết của các tác giả đối với thơ và “nghề thơ” Điều đáng nói là những vấn đề này đã được các tác giả cố gắng đúc kết như những quan điểm lí thuyết nhằm định
hướng và chỉ đạo cho chính hoạt động sáng tác cụ thể của họ Với Tuyên ngôn tượng trưng, nhóm Dạ đài muốn làm một cuộc cách mạng trong thi
ca, thay đổi cách nghĩ, cách biểu hiện trong thơ, chủ trương "chôn tiền chiến" (nghĩa là: phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiền chiến để sáng tạo nên những thành tựu mới ) Đó là cách tư duy và nhận thức rất chủ động, quyết liệt: Nhận thức thơ tiền chiến như một giá trị, nhưng để nền thơ ca nước nhà tiến lên với những thành tựu mới, họ coi đó là một giá trị cần phải bị vượt qua
Quá trình sáng tác của những người trong nhóm Dạ đài cho thấy ở họ có
tình yêu nghệ thuật sâu sắc trên nền tảng những tư tưởng, nhận thức hiện đại
Trang 13và giàu khát vọng của người nghệ sĩ nhằm đóng góp “một chút gì” hữu ích cho nền thơ dân tộc, rộng hơn, cho quá trình kiến thiết đời sống tinh thần của con người Việt Nam trong một thời cuộc lịch sử mới Tinh thần tiên phong, hiện đại đi cùng ý thức dân tộc thể hiện rõ trong tuyên ngôn và quá trình sáng tạo đó Dẫu rằng không phải bất kì sự tìm tòi hình thức nào cũng thành công (cũng như không phải bất kì sự thay đổi nào trong thơ cũng mang ý nghĩa cách tân nghệ thuật) Nhưng với việc tự vượt lên những giới hạn thi pháp đã bị khai thác đến mòn sáo để tìm kiếm những lối đi nghệ thuật nhiều khi đầy chông chênh, bất trắc, phiêu lưu thì sự tìm tòi của những thành viên
trong nhóm Dạ đài chính là kết quả đáng trân trọng của một sự tự giác và tự
tín nghề nghiệp cao độ
Lý giải về sự ra đời của bản tuyên ngôn và nhóm Dạ đài, Vương Trí
Nhàn cho rằng “trong những năm 45 – 50, ý nghĩ chi phối Trần Dần và bạn
bè quy gọn lại một điểm: Tương ứng với cuộc cách mạng trong xã hội phải
có một cuộc cách mạng trong văn chương Cách mạng chẳng nhẽ lại cho phép người ta viết như cũ? Từ cách bố trí một dòng thơ trở đi, cũng phải thay đổi Thứ văn chương vuốt ve mơn trớn, thứ văn chương của những chàng nàng, lại càng phải thay đổi Nghệ thuật phải được làm lại” [22, 18]
Có thể nhận thấy trong hầu suốt cuộc đời sáng tạo của mình, Trần Dần và các bạn cùng chí hướng luôn chủ trương gạt bỏ thứ nghệ thuật không đem lại nhận thức chân thực về cuộc sống cũng như nhận thức về cuộc sống một cách giản đơn theo giản đồ được quy định từ trước, góp phần làm nên những thay đổi đáng kể trong đời sống văn học nước ta giai đoạn đó và cả sau này Bước vào giai đoạn 1954 – 1964, đất nước ta chuyển sang một giai đoạn mới với nhiệm vụ mới: miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh và đi lên chủ nghĩa xã hội, chi viện cho miền Nam đang tiếp tục chiến đấu chống Mỹ - ngụy, tiến tới mục tiêu thống nhất đất nước Trên cơ sở đó, thơ phát triển
Trang 14mạnh mẽ theo hai hướng với hai cảm hứng chủ đạo là yêu nước và chủ nghĩa
xã hội Ra đời và phát triển trong điều kiện không bình thường như vậy của lịch sử, khi “Các nhà thơ bằng những con đường khác nhau cùng đi đến một chân lý: nghệ thuật cao quý nhất của thơ ca không phải là phong cách cầu
kỳ, khó hiểu, mà chính là ở sự giản dị dễ hiểu, ở sự hài hòa phổ cập và nâng cao giữa truyền thống và cách tân, giữa dân tộc và hiện đại” [11, 145] nên
những nỗ lực cách tân thơ của nhóm Dạ đài không dễ được chấp nhận và
nhanh chóng bị chìm đi bởi nhiều nguyên nhân cũng là điều dễ hiểu
Cùng với nhiều thành viên trong nhóm Dạ đài, Trần Dần tồn tại âm thầm
như một mạch lạ, ngầm chảy cùng chiều về mặt tư tưởng cách mạng của nền văn nghệ kháng chiến, nhưng không xuôi chiều với xu hướng quần chúng hóa một cách giản đơn Đó là cách tiếp nối và nối dài nền văn học nước ta trên một miền đất khác, bằng một lối đi đặc biệt
2 Trần Dần trong thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm và hậu Nhân văn – Giai phẩm
2 1 Thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm
Những sự thay đổi trong đời sống chính trị, văn hóa xã hội cùng nhu cầu đổi mới văn chương của văn nghệ sĩ là nguồn mạch trực tiếp và chủ yếu tác động đến nhận thức của mỗi văn nghệ sĩ Đó chính là nguồn cội cho sự phát sinh quan niệm sáng tác của các nghệ sĩ và cuộc tranh luận văn học giai đoạn
1955 – 1958 diễn ra gay gắt trên văn đàn: Nhân văn - Giai phẩm – một
phong trào đòi quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc, khởi xướng từ năm 1955 và chính thức kết thúc vào tháng 6 năm 1958
Thắng lợi quyết định về mặt quân sự trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5/1954 khiến cho người ta có quyền nghĩ tới một tương lai độc lập,
Trang 15hòa bình, thống nhất cho Việt Nam sau tám mươi năm nô lệ và chín năm trường kỳ kháng chiến Nhưng bước ngoặt trên bàn đàm phán tại hội nghị Genève tháng 7/1954 không phải là bước ngoặt đi từ chiến tranh sang hòa bình, mà Việt Nam vẫn bị chia cắt làm hai miền, sau hai năm sẽ tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử trên toàn quốc Trong giai đoạn này, sự kiện để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc ta là cuộc di dân hơn một triệu người từ Bắc vào Nam gây nên sự xáo trộn lớn trong cộng đồng Nó gieo vào lòng người những chia rẽ, hoài nghi, những hi vọng – thất vọng, tin tưởng – hụt hẫng… Đây cũng là thời điểm của sai lầm “tả khuynh” trong Cải cách ruộng đất được công khai thừa nhận và tiến hành sửa sai bên cạnh nguy cơ kẻ thù
có mưu đồ gây rối nhằm lật đổ chính quyền non trẻ của cách mạng Trong đội ngũ trí thức yêu nước sau kháng chiến vẫn tồn tại một cách tự nhiên một lớp trí thức “không kiên định lập trường cách mạng” Vì vậy, bản đề nghị đòi
tự do trong sáng tác của các nghệ sĩ được đưa ra lúc này không phải là thời điểm thích hợp để có thể được chấp nhận, thậm chí còn gây nên những hiểu lầm tai hại Tuy vậy, hành động đó đáng được ghi nhận bởi sự ý thức của họ trong việc phải tìm kiếm và xây dựng một con đường phát triển thi ca (cũng như nghệ thuật nói chung) có tính lâu dài, bền vững Đó chính là biểu hiện của sự thức nhận mới của con người cá nhân thời kỳ “hậu hiệp định Genève”
Sự thức nhận đó được biểu hiện rõ hơn cả trong phong trào Nhân văn –
Giai phẩm Phong trào này diễn ra qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu chính
thức được khơi nguồn với việc ra mắt bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần trong Giai phẩm mùa xuân đến khi các báo Giai phẩm, Nhân văn và Đất mới bị đóng cửa Giai đoạn sau bắt đầu từ khi xuất hiện báo Văn với phong
trào tự phê bình trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và kết thúc bằng việc
đóng cửa báo Văn cùng với nghị quyết của ban chấp hành các hội văn học
Trang 16nghệ thuật thi hành kỷ luật đối với những người trong nhóm Nhân văn – Giai
phẩm và những người tích cực hoạt động cho phong trào đó
Ngay từ khi mới xuất hiện, tháng giêng năm 1956, Giai phẩm mùa xuân
đã nêu chủ trương qua Lời nói đầu: “Trong dịp đầu xuân 1956 chúng tôi vui
mừng giới thiệu giai phẩm này với bạn đọc Đó là những tác phẩm nho nhỏ
về văn, thơ, nhạc, họa, nội dung nhằm góp vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, thống nhất hiện nay, đồng thời cũng cho chúng ta thấy những tìm tòi mới
trong sáng tạo văn nghệ” [23] Đến lần in thứ hai – 1956, trong Lời nói đầu,
những người đề xướng lại đặt ra vấn đề: “Theo ý chúng tôi, vấn đề chính cần thảo luận hiện nay là vấn đề tự do sáng tác, trong đó có những câu hỏi cần nêu lên: Quyền hạn của người làm văn nghệ được biểu hiện thực tế đến mức
độ nào? Người làm văn nghệ cần trung thành với thực tế như thế nào? Trách nhiệm của người làm văn nghệ trước Đảng, trước nhân dân như thế nào?
Văn nghệ phục vụ chính trị ra sao?” [24] Theo Lê Đạt, Giai phẩm mùa xuân ra đời do “anh em bàn với nhau là làm một tập tự do sáng tác”, “tự
nhiên nó hình thành một phong trào đòi hỏi dân chủ và cách tân văn hóa ở miền Bắc, tập trung chung quanh Giai Phẩm Mùa Xuân” [35, internet]
Giai phẩm mùa xuân đăng 9 bài thơ, trong đó có bài Nhất định thắng
của Trần Dần Bài thơ này được coi là ngòi nổ cho cuộc tranh luận gay gắt,
có tác động lớn đến cuộc đời, sự nghiệp của Trần Dần và những người bạn
cùng chí hướng với ông Ngay sau khi bài thơ ra đời, hàng loạt sự kiện và bài
viết được thực hiện để phê phán Trần Dần một cách nặng nề
Trong bài Vạch trần bản chất phản động của Nhất định thắng của Trần Dần, Hoài Thanh cho rằng: “Toàn bài của Trần Dần toát ra một sự hằn
học đối với chế độ tươi sáng ở miền Bắc, đối với sự nghiệp đấu tranh cho
hòa bình, thống nhất của nhân dân ta (…) Tự nó, bài Nhất định thắng trong
lời và chữ của nó chứa đựng những tư tưởng phản động, đứng về phía địch
Trang 17chống lại nhân dân ta, chống lại cuộc đấu tranh thống nhất đất nước Trong nền văn nghệ chúng ta đầy tin tưởng ở hiện tại và tương lai của chế độ, của
dân tộc, bài Nhất định thắng của Trần Dần thật đúng như lời đồng chí
Nguyễn Tuân nói, là một thứ mụn lở trên một cơ thể lành mạnh” [44, internet]
Đồng quan điểm trên, Tố Hữu cho rằng: “Cuộc tấn công vào chế độ ta và Đảng ta đã bắt đầu trên mặt trận văn nghệ từ đầu năm 1955, ngay khi hòa bình vừa lập lại Trong khi bọn gián điệp còn giấu mặt chờ đợi thời cơ, và bọn tờ-rốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo tích cực chuẩn bị lực lượng ở trường Đại học, thì bọn Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, hai tên phản Đảng ẩn nấp trong báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ cùng bọn Trần Dần, Tử Phác cũng là những tên phản Đảng trong phòng Văn nghệ quân đội, đã kết thành một bè phái chống Đảng (…) Được tiêm thêm ít nhiều chất phản động của
Hồ Phong, Trần Dần gióng lên "tiếng trống tương lai" chửi cán bộ chính trị
là "người bệnh", "người ròi", "người ụ" (…) Họ đòi thực hiện những gì? Trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội Thành lập trong quân đội một chi Hội văn nghệ trực thuộc Hội văn nghệ, không qua Cục Tuyên huấn và Tổng cục Chính trị" Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật của quân đội đối với họ" [14, 22-24]
Huy Vân trong bài Một tâm hồn đồi trụy: Trần Dần cũng nhận định:
“…hắn đã vẽ toàn lối tối tăm khó hiểu, biến hình ảnh anh dũng và đẹp đẽ của
bộ đội ta thành những hình thù rất quái gở, làm thơ cũng vậy (…) Nếu lấy
tất cả những bài Trần Dần đã viết cho Nhân văn – Giai phẩm (đã đăng hoặc
chưa đăng) đem thống kê lại thì ta thấy Trần Dần đả kích vào rất nhiều mặt quan trọng của chế độ ta: từ các đường lối chính trị trong nước đến quan hệ
Trang 18quốc tế, từ sự lãnh đạo của Đảng trong văn nghệ đến sự lãnh đạo chung của Đảng” [48, internet]
Nhìn một cách khách quan ta sẽ nhận thấy Trần Dần là một hiện tượng thơ phức tạp, là một nhân vật đặc biệt, có số phận và “ván đời” lạ lùng gắn
với phong trào Nhân văn – Giai phẩm Trần Văn Toàn trong bài “Nhật ký
đọc Trần Dần” đã nhận thấy “Thơ Trần Dần đa nghĩa quá! Chỉ với bài Nhất định thắng, có thể vừa quy kết ông là một tên phản động cực kỳ nguy hiểm,
vừa có thể ca ngợi ông như một người yêu nước nồng nàn” [48, internet] Và
bi kịch của Trần Dần cũng bắt đầu từ căn nguyên đó Nhất định thắng, sau
khi bị cắt xén, trở thành một tác phẩm chống cộng và được chính quyền miền Nam dùng như một biểu tượng “tố cộng”; Và chính quyền miền Bắc dựa vào
đó để buộc tội Trần Dần Bi kịch của Trần Dần là: tác phẩm của ông đã bị
“bên này”, “bên kia” phán cho những ý nghĩa không có trong văn bản thơ, đem trưng dụng để tung hô hoặc buộc tội Chính vì thế, từ góc nhìn thiếu
sòng phẳng, Đỗ Nhuận cho rằng: “Lối sáng tác hai mặt nhóm Nhân văn gọi
là “Symbole équivoque” thực chất là “đòn xóc hai đầu”, chửi địch cũng được mà chửi ta cũng được, nhưng chửi địch thì ít mà chửi ta thì nhiều” [39, internet]
Từ góc nhìn khách quan, ta thấy những sự phê phán trên không dựa trên chỉnh thể văn bản thơ, mà chủ yếu là tách những câu thơ được cho là “có vấn đề” ra khỏi bối cảnh văn bản, soi xét những tác phẩm đó dưới góc độ thiếu khách quan làm thay đổi ý nghĩa và lập trường chính trị được đặt trong chỉnh thể thống nhất của bài thơ; đồng nhất chuyện thơ với câu chuyện đời sống riêng tư của Trần Dần… để suy ra “bản chất phản động” của ông
Chính vì thế, sau đó không lâu, Hoài Thanh đã phải thừa nhận những hậu
quả của sự vội vàng mà mình đã mắc phải qua bài Tôi đã sai lầm như thế nào trong việc phê bình bài “Nhất định thắng” của anh Trần Dần Lúc
Trang 19này ông đã bình tâm nhận ra “Đấu tranh tư tưởng không thể dùng lối áp bức mệnh lệnh, cũng không thể dùng lối đa số đàn áp thiểu số Làm như thế không bao giờ giải quyết được vấn đề tư tưởng Đó là điều sai lầm của tôi
trong việc phê bình bài Nhất định thắng của anh Trần Dần (…) Tôi nhặt
từng câu từng chữ để chứng minh rằng tác giả đã cố ý nói xấu chế độ ta, cố ý
vu khống miền Bắc Nay tôi bình tĩnh đọc lại bài Nhất định thắng thì thấy
tuy có câu không được rõ nghĩa nhưng không có gì để kết luận như thế Không có chứng cớ mà kết luận như vậy thực là coi rẻ một cách quá đáng sinh mệnh chính trị của một người” Rồi ông thành thực nhận ra “Làm cái việc phê bình mà mang sẵn thành kiến trong mình, lại dựa dẫm vào ý kiến chung quanh, không thực sự cầu thị, không bình tĩnh suy xét thì thật là nguy hiểm, nhất là khi đứng trong cương vị lãnh đạo thì lại càng nguy hiểm” Và cuối cùng là lời khẳng định quan trọng: “Thật là một điều oan ức đối với anh Trần Dần Không có một chứng cớ gì rõ rệt mà đã bị buộc tội trên mặt báo trước hàng vạn người!” [44, internet]
Trong thời kỳ lịch sử đầy gian khó của dân tộc lúc đó, do yêu cầu của xã hội, thơ phải hướng vào cuộc sống công nông binh để miêu tả và động viên,
cổ vũ những tư tưởng, hành động tích cực, lạc quan Vì vậy, việc ngại nói đến riêng tư và chất trữ tình công dân bao trùm, chất nghệ sĩ tạm lắng lại trong thơ thời kỳ này cũng là điều dễ hiểu Tính quần chúng được đẩy lên làm tiêu chí hàng đầu trong việc đánh giá thơ: “Quần chúng xem bài này thế nào? Quần chúng có cảm xúc không? Cái đau đớn của quần chúng có được nêu lên đây không?” Thơ không hay là thơ “chưa nói lên được nỗi niềm của quần chúng”(…) Hơn nữa, “sở thích và sự đánh giá của quần chúng là thước
đo giá trị của tác phẩm” [10, 46] Do đó, cách dùng từ đặt câu táo bạo của
nhóm Dạ đài nói chung và của Trần Dần nói riêng trong lúc này ít được chấp
nhận cũng là điều dễ thông cảm; và thơ phải trở về với yêu cầu của những
Trang 20điều quen thuộc là đòi hỏi chung xuất phát từ thực tiễn của lịch sử, xã hội Như vậy, “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đang diễn ra trên đất nước chưa cần tới những thể nghiệm Trần Dần đang tìm kiếm Những việc được coi là cấp bách nhất lúc này giản dị hơn nhiều: động viên quần chúng tham gia kháng chiến Yêu cầu này sớm được ông chấp nhận Ông vừa lo phục vụ cách mạng một cách tận tụy, vừa loay hoay tìm ra ngôn ngữ nghệ thuật của riêng mình” [22, 18]
Điều đáng trân trọng là trong thời gian này (1956 – 1958) và cả quãng thời gian dài sau đó, dù phải chịu nhiều oan ức, nhưng Trần Dần vẫn viết những tác phẩm đầy tinh thần hào sảng Cách mạng và chan chứa tình yêu đất
nước: Hãy đi mãi, Bài thơ Việt Bắc, Cách mạng tháng Tám
Trần Dần cũng đã ít nhiều thành công với những vần thơ đầy nhiệt huyết của công dân, đầy cảm xúc lãng mạn và tinh thần dự cảm hiện thực Đó là minh chứng chứng thực cho tinh thần tiên phong và cách mạng của ông Ông luôn trăn trở với vận mệnh dân tộc bằng những tình cảm chân thành nhất của người công dân – nghệ sĩ:
Tôi đã sống rã rời cân não Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam Những cơn mưa rơi mãi tối sầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi (Nhất định thắng)
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi (Nhất định thắng)
Đất nước khó khăn này
sao không thấm được vào Thơ? (Nhất định thắng)
Trang 21mà lửa xém tim mình (…) Cờ bay
đỏ phố
đỏ nhà Màu cờ kia là thang thuốc chữa cho anh
(Nhất định thắng) Ông sảng khoái ca vang Cách mạng tháng Tám với cảm xúc tri ân sâu
sắc, luôn khẳng định và vững tin vào tình yêu đất nước của mình:
Dù mảnh đất có ngày còn xám
Dù trời ta đôi nơi còn lấm bụi ngàn xưa Nhưng có hề chi - Tôi đã từng yêu
Trời đất ấy, tôi đã từng tin tưởng
Xuất phát từ chính tình cảm mãnh liệt của mình, Trần Dần cất cao lời thơ thể hiện ý chí, khát vọng vì tự do dân tộc và kêu gọi mọi người:
Hãy đời đời hát mãi cùng tôi Không thể để, dù một móng chân bị nô lệ Một sợi tóc của con người cũng phải được tự do
Qua đó, ông khẳng định cái tôi nhiệt huyết và chan chứa yêu thương: Nhiệt huyết của người công dân có tình yêu và vững tin vào đất nước:
Đầu óc người ta có thể vãi rơi đi
Trang 22cả ngày sinh tháng đẻ bản thân mình Nhưng – mãi mãi ngày sinh nhật nước
không bao giờ, ta có thể quên (Cách mạng tháng Tám)
Với ông, Tổ quốc hiện hình ngay cả trong chuyện riêng tư nhất:
Tình yêu không phải
có hoặc không cũng được !
mà nó như là những vần thơ những bắp thịt
những đường gân
tổ quốc (Tình yêu)
Ông kêu gọi:
Hãy đi mãi như người
cộng sản
có thể mỏi mọi điều
không mỏi: tấn công! (Hãy đi mãi)
Những tiếng thơ của Trần Dần không bị hòa lẫn trong các bài thơ đều nói đến thống nhất đất nước, không có ủy mị, luôn phấn đấu đi lên trực diện đấu tranh và tin tưởng đã thành công thức của thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp như:
Thằng giặc không chạy được
Mày chết với chúng ông (Lên đường – Nguyễn Đình Thi)
Cờ đã nâng cao/ Mầu đỏ máu
Với sao vàng tung rực rỡ (Nhớ máu – Trần Mai Ninh)
Áo cơm đủ đầy, thắm thịt tươi da
Trang 23Dù gian khổ, có Cụ Hồ, nỏ sợ (Nhớ ơn Cụ Hồ - Trung Anh)
Thơ Trần Dần cũng nồng nàn tinh thần yêu nước, nhưng là một tình yêu thầm lặng, không khoa trương, ồn ào Nhưng khi đó, nhiều người đã quên rằng yêu nước không có nghĩa là luôn phải giơ nắm đấm về phía kẻ thù, mà còn là những nỗi niềm đau xót trước cảnh mất nước, dân tộc lầm than:
Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ (Nhất định thắng)
Tôi mất quê hương
từ khi mới đẻ Mất
nước đỏ phù sa sông Hồng Mất vịnh Hạ Long
Mất Huế con sông Hương tình tự Mất
cửa biển Hải Phòng
Mất mũi Cà Mau! (Đây Việt Bắc)
Thậm chí, việc chỉ ra những điểm hạn chế của dân tộc, những điểm cần khắc phục của đất nước cũng chính là biểu hiện sâu xa của tình yêu và nỗi trăn trở trước vận mệnh đất nước:
Tôi yêu đất mẹ đây –
có cỏ hoa làm chứng Tôi yêu chủ nghĩa này
cờ đỏ cãi cho tôi
Trang 24Nhưng chẳng thể rúc kèn cũ rích, vác loa mồm kêu:
"Hiện tại rất thiên đường!”(Hãy đi mãi)
Tinh thần dân tộc, tình yêu đất nước còn được thể hiện bằng tinh thần cao
cả, sự dấn thân mạnh mẽ và kiệt cùng:
Đi Chẳng tính khẩu phần hạnh phúc Liệu rồi
có sống được
mà chia
Đi
Vì nghe chân lý
gọi tên mình! (Bài thơ Việt Bắc)
Với những đóng góp đó, “lấy chất lượng thơ làm tiêu chí và coi đó là sự lựa chọn”, Trần Dần được coi là một trong số các nhà thơ chống Pháp tiêu biểu (Xem “10 chân dung nhà thơ chống Pháp tiêu biểu” – NXB Phụ nữ, 2006) Sau hơn 50 năm nhìn lại, chúng ta thấy những điều đáng tiếc đã xảy ra
trong sự kiện Nhân văn – Giai phẩm xét cho cùng là do sự không trùng khít
trong việc nhìn nhận và giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa con người nghệ sĩ với con người công dân, giữa văn chương với những yêu
cầu của cách mạng của những người thuộc nhóm Dạ đài với yêu cầu chung
của thời đại và của giới lãnh đạo văn nghệ với nhu cầu tự do sáng tạo cái tôi người nghệ sĩ
Trang 252.2 Thời kỳ hậu Nhân văn – Giai phẩm
Những năm sau thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm, dù sống âm thầm nhưng
Trần Dần vẫn lặng lẽ viết những tác phẩm đầy sự trăn trở với vận mệnh dân tộc, luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ với cuộc đời, thể hiện rõ tinh thần yêu nước của một người nghệ sĩ - người có trách nhiệm lớn trong việc kiến thiết nên một trạng thái đời sống tinh thần hiện đại, tích cực cho xã hội
Tuy hầu hết các tác phẩm của ông từ sau sự kiện Nhân văn – Giai phẩm
đến trước thời kỳ đổi mới đều ở trạng thái “nằm” hoặc “đóng chai” – không được xuất bản, nhưng điều đó không làm mòn đi ý chí sáng tạo và cách tân trong ông Kể từ đó đến suốt khoảng ba mươi năm sau, ông vẫn kiên trì trên hành trình sáng tạo của mình Chân thật trên từng trang viết, và cũng trớ trêu như số phận trong cuộc đời cầm bút, ông vừa là nạn nhân, vừa trở thành nhân chứng cho vận mệnh của những đứa con tinh thần đầy cá tính của mình
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng Và đến giai đoạn cả nước cùng bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, thơ chống Mỹ cứu nước đã xuất hiện những nét mới: hướng về chính luận Yếu tố này đã đưa đến cho thơ cái gân guốc chắc khỏe và quan trọng hơn là tạo nên cái dõng dạc, khí thế, tập trung tố cáo kẻ thù và ngợi ca, khẳng định tinh thần chiến đấu, nghị lực cách mạng của nhân dân ta Những năm 1954 – 1964 đánh dấu
sự trưởng thành của một giai đoạn thơ Đó là kết quả của một quá trình tích lũy chuyển biến trong mười năm cách mạng Và sự trưởng thành này cũng chứng tỏ các nhà thơ đã có sự thay đổi về chất, có trình độ tư tưởng cao, nghệ thuật độc đáo, có bản lĩnh trong đội ngũ đông đảo Tuy nhiên, “Mười năm sau chiến tranh là chặng đường quán tính của thơ ca cách mạng Đời sống nhân dân, thân phận nhà thơ không khỏi xót xa trước tình cảnh chung của đất nước, nhưng thơ vẫn hát ca theo những cảm hứng vui tươi.” [10, 121] Vì thế, những vần thơ đầy tin tưởng, phơi phới hi vọng vào tương lai dân tộc, đất nước được phổ biến:
Trang 26Tôi lim dim cặp mắt Không thấy nơi nào không đẹp
Không giàu (Tình sông núi - Trần Mai Ninh)
Ta đi giữa ban ngày Trên đường cái, ung dung ta bước
Đường ta rộng thênh thang tám thước (Ta đi tới – Tố Hữu)
Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà rào rạt, bến nước Bình Ca (Ta đi tới – Tố Hữu)
Người gánh gánh của chúng tôi: là Đảng Người gánh gánh với chúng tôi: là Đảng Người gánh ta, ta gánh người: là Đảng
Người gánh đất, người gánh trời: là Đảng (Gánh – Xuân Diệu)
Cũng như cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đấy, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh toàn dân, chiến tranh vệ quốc Điều này đã quy định tính chất toàn dân của văn học và nâng cao khả năng tham gia sáng tác của quần chúng nhân dân Điều đó thể hiện rõ nhất và trước hết là ở thơ
Trong khí thế chung ấy của dân tộc, mặc dù bị ”treo bút” và tác phẩm đã viết ra không được công bố, Trần Dần vẫn góp những vần thơ hào hứng, đầy tinh thần trách nhiệm với dân tộc, với đất nước, theo cách đặc biệt mang ”thi
hiệu Trần Dần” qua tác phẩm Cổng tỉnh Ông viết về các vị lãnh tụ và chiến
sĩ cách mạng với niềm tin yêu chân thành:
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã về
Ta sắp có quê hương Tôi đau đồng chí Thụ ngã
Trang 27Ai nhặt dùm tôi viên đạn đồng rớm máu đỏ Bạch Mai?
Ông theo chân người Phạm Bảy để khắc họa nên một tượng đài anh hùng cách mạng bằng những câu thơ hào sảng, phơi phới niềm tin:
”Ơ! Có người phá tù Một người đồng đỏ đúc! Chúng mày ơi!
Ông cũng viết được những vần thơ kêu gọi đầy hào sảng:
Đau tôi ngã xuống từng làng Hãy cứ mặc ruột lòi bíu đất quẫy lên Nhằm họng thù xốc đến
Tôi sẽ chém mày trên tội ác mày gây Đưa tôi sấm búa! Đưa tôi sét liềm!
Hãy đạp tung thành quách khóa ( ) Vùng lên! Nô lệ vùng lên Đây là cuộc phá gông lần cuối
Để mãi mãi về sau người chẳng thể cùm người
Dù bị hắt hủi, không được công nhận, nhưng hiếm có câu thơ nào nói lên tình yêu tổ quốc sâu sắc và thấm thía đến như:
Dù bị vứt bên lề đường/ Dù bị tàn tật
Ta vẫn khăng khăng yêu tổ quốc thật lòng (Cổng tỉnh)
Viết về khí thế quật khởi của nhân dân, Trần Dần có những câu thơ sôi sục:
”Đả đảo bọn phát xít!”
Một tiếng thét đám đông cựa mình nứt bung cũi phố ( ) Đả đảo bọn phát xít!/ Đánh Pháp! Đuổi Nhật!”
( ) Đám đông cuộn mình/Cuộc tuần hành loi thoi bể đấm
Khách quan mà nói, khi bị tách ra khỏi đời sống văn nghệ, Trần Dần có thể tìm thoát ly trong những chốn bồng lai tiên cảnh, trốn tránh hiện thực để tìm niềm vui riêng cho bản thân và cho thứ nghệ thuật bị ghẻ lạnh của mình
Trang 28Nhưng ngược lại, ông đã một mặt nỗ lực cách tân thơ, mặt khác, tìm đường
để đi đến gần với quần chúng, khẳng định vai trò của người nghệ sĩ – công dân trước vận mệnh của dân tộc Chính Trần Dần đã nói: “Mình bị ảnh hưởng Mai-a thực, nhưng cái chính là mình chịu ảnh hưởng thực tế cách mạng Việt Nam Do đó mình sẽ dần trở thành mình” [27, internet] Tư tưởng
và nỗ lực đó đã giúp ông khẳng định được vị trí và giá trị nhân cách người nghệ sĩ chân chính trước cuộc đời
Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, từ 1975 – 1985, thơ vẫn mê mải trên những đề tài quen thuộc; khi hướng đến đời sống hòa bình, lao động xây dựng thì ngợi ca là cảm hứng chủ yếu Không bị cuốn theo lối viết giản đơn
đó, Trần Dần vẫn miệt mài trên con đường nghệ thuật của mình với nhiều tác phẩm có tính khơi mở cho nền thơ hiện đại Việt Nam sau này như: Thơ họa, thơ mi-ni Mặc dù mọi sáng tác của ông đều bị “đóng chai”, ở trạng thái
“nằm” nhưng ông vẫn kiên trì, vẫn âm thầm sáng tác với sự ráo riết trong những tìm tòi, thể nghiệm nghệ thuật của mình Lúc này, những tác phẩm của ông như được viết ra cho chính mình, viết như một lời tự bạch, để “đổ bớt” mình đi
Trải qua bao chặng đường với nhiều biến động, dông gió, Trần Dần vẫn kiên định con đường nghệ thuật của mình Sáng tác của ông vẫn lấy cuộc đời hiện thực làm xuất phát điểm, đồng thời là điểm hướng đến Những tác phẩm của Trần Dần trong giai đoạn này là bằng chứng khẳng định ông vẫn luôn trăn trở và đã làm tròn vai trò của người nghệ sĩ trước cuộc đời Và những vấn đề của cuộc đời, của con người vẫn đều đặn vỗ vào thơ ông Từ câu chuyện của mình:
Tôi – một người chuyên thích/ những gió lên những cánh buồm bát ngát/ bây giờ tôi nằm liệt nửa người
bất động như đã kề miệng hố (Ốm 2)
Trang 29đến những điều tưởng chừng là nhỏ nhặt của thường nhật:
Thêm một ánh đèn/cho các ngõ xóm đìu hiu Thêm bát canh ngon
cho mâm cơm nghèo của người tuổi tác (Ốm 4)
Từ cách ứng xử với ngoại giới:
Hãy ôm thế giới này, tha thứ cho nó Hãy thắp sáng mọi chòm
sao cũ! Cả những vì sao đã tắt lụi từ lâu (Sổ bụi 1979)
đến nỗi lo về sự cô đơn, ngay cả khi đã chết:
LO QUÁ PHẢI LÊN THIÊN ĐƯỜNG
MỘT MÌNH / HẾT SỨC MỘT MÌNH (Sổ bụi 1982)
Dù phải chịu suốt ba chục năm oan khuất, phải sống lầm lũi trong bóng tối, nhưng Trần Dần vẫn luôn tha thiết với cuộc đời, vẫn rưng rưng xúc động trước:
ÔI CÁI MÙI NGƯỜI, MÙI HỐI HẢ NHÂN SINH (Sổ bụi cuối 1989)
Ông không đi lạc bước sang con đường thù địch với cuộc đời, với loài người, lẩn trốn vào một thế giới huyền ảo, siêu nhiên Mà nỗi niềm thế sự vẫn đau đáu khôn nguôi:
trời Bình Định lam màu Bình Định Để gió về hôm sớm tím lam
hơn Nhớ nhà, nhớ quê (Sổ bụi 1979)
tôi khóc trên độc áck – nhân tình Trên áck độck nhân sinh
(Sổ bụi 1988)
Chính việc luôn giữ mối liên lạc chặt chẽ với cuộc đời, dù ở trong hoàn cảnh nào đã khiến những tình cảm quen thuộc của con người đời thường vẫn sống trong ông với nhịp đập khác lạ:
12 THÁNG NĂM THứ TƯ, 19 THÁNG TƯ NHÂM TUẤT 6 giờ tối Tử Fác đi đời lìa, con biệt, ô hô Ổi khóc
và LÊNH ĐÊNH vẫn nhớ QUAY TƠ Bọn bạn khóc (Trần dần
Lê đạt Hoàng cầm Trúc lâm Đoàn trúc zù vắng, từ viện E
Trang 30(Sổ bụi 1980 – 1981)
Dưới một góc nhìn khái quát và khách quan, chúng ta có thể nhận thấy suốt đời sáng tạo của Trần Dần luôn bước đi trên con đường của nghệ thuật chân chính; và ông cũng đã hoàn thành sứ mệnh của người nghệ sĩ chân chính, dù ở bất cứ giai đoạn nào trong đời thơ và đời người nhiều sóng gió của ông
Tiểu kết chương
Đặt trong hành trình vận động của lịch sử thơ, Dạ đài chính là sự tiếp tục những tìm tòi hình thức theo hướng mà Xuân Thu nhã tập đã “gối tiếp” (chữ
dùng của Đỗ Lai Thúy) khi Thơ mới bước vào giai đoạn cuối vụ Và nhóm
Dạ đài đóng vai trò như là cầu nối cho những tìm tòi, cách tân hình thức đã
trở thành một xu hướng sáng tạo mạnh mẽ trong thơ của Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara, Văn Cầm Hải, Vi Thuỳ Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư sẽ tiếp nối trong giai đoạn sau này
Dương Tường cho rằng: “Đáng lẽ ra Trần Dần và nhóm Nhân văn – Giai
phẩm có thể là một mốc thứ hai (sau Thơ mới) trên tiến trình hiện đại hóa thi
ca Việt Nam Nếu đánh giá đúng Nhân văn – Giai phẩm và Trần Dần, có thể
chúng ta phải viết lại sách giáo khoa văn học và viết lại một chương trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1955 – 1956” [36, internet] Có thể thấy
rằng những vấn đề lí luận mà nhóm Dạ đài đặt ra từ hơn nửa thế kỉ trước vẫn
chưa hề lạc hậu Vấn đề cách tân thơ ca và ý hướng xây dựng sáng tác trên nền tảng căn bản của triết học, mĩ học, khát vọng xây dựng một nền nghệ thuật trên tinh thần tiếp thu truyền thống và hội nhập thế giới, vấn đề vai trò của người nghệ sĩ – trí thức trong xã hội hiện đại; vấn đề hình thức, cách viết vẫn đang là những vấn đề thời sự đặt ra trước mỗi người nghệ sĩ hôm nay Không chỉ gợi mở những vấn đề lí luận, trên thực tế, các tác giả này đã lựa chọn cho mình một hướng sáng tạo riêng, và hơn thế, đã tận lực đẩy
Trang 31những thử nghiệm của mình đến tận cùng ranh giới, khiến sáng tác của họ thường chênh vênh đứng giữa những cách đánh giá rất trái ngược, giữa một bên là sự độc đáo, cách tân và một bên là sự “phản động”, “đồi trụy”, tối tăm, như lịch sử đã từng ghi nhận
Trong hành trình sáng tạo của mình, một mặt Trần Dần “hướng tâm” Cách mạng để tiếp thu những nét tư tưởng chung của nền văn học Cách mạng, mặt khác, ông không ngừng “ly tâm” về cách thức thể hiện để làm nên
những tác phẩm mang “thi hiệu Trần Dần” Phản ứng của Nhân văn – Giai
phẩm nói chung, và của Trần Dần nói riêng tuy chưa đi xa hơn việc đặt vấn
đề để đưa ra được một ý niệm mỹ học cụ thể, hoàn toàn mới mẻ; nhưng bản thân hành động đặt vấn đề đã có nhiều ý nghĩa, nó là tiền đề quan trọng và vững chắc để từ đó một ý niệm mỹ học mới được hình thành
Trang 32Chương 2: NHỮNG CÁCH TÂN TRONG QUAN NIỆM
NGHỆ THUẬT VÀ TRONG CẢM XÚC THI CA 1/ Quan niệm về nhà thơ và về thơ của Trần Dần
Với tinh thần dấn thân và ước vọng đầy lý tưởng trong việc xác lập
những giá trị mới cho thi ca Việt, Dạ đài đã đưa ra những quan niệm thơ
mới lạ và giàu ý nghĩa Khởi điểm của tinh thần cách tân trong quan niệm về
thơ và nhà thơ đó là bản Tuyên ngôn tượng trưng Tinh thần đó được tiếp
nối, khai triển, hiện thực hóa thông qua cuộc đời sáng tác của nhiều nghệ sĩ trong nhóm, tiêu biểu là Trần Dần
Khi Thơ mới đang dần bước sang chặng cuối của con đường cách tân, Trần Dần đã đủ nhạy bén và tinh tế để sớm nhận thấy sự cạn kiệt của nguồn cảm xúc, sự bất lực của các thi sĩ lãng mạn Tìm hiểu về hiện tượng Trần Dần, ta nhận thấy thơ ông là một sự dấn thân đến kiệt cùng, là nỗ lực bảo vệ giá trị cá nhân trước sự đồng hóa, theo tinh thần của J Sartre “vấn đề không phải là chọn lấy thời đại của mình, mà tự chọn lấy mình trong thời đại” Sự dấn thân, nỗ lực đó được thể hiện trước hết ở quan niệm về nhà thơ và về thơ
mà Trần Dần đã đưa ra trong bản Tuyên ngôn tượng trưng và tiếp tục được
ông chiêm nghiệm, đúc kết một cách bền bỉ trong suốt đời thơ của mình Trong nền văn học Việt Nam, có lẽ không nhiều nhà thơ đưa ra một cách hệ thống các quan niệm về thơ, về nhà thơ và riết róng theo đuổi, đào sâu chúng đến tận cùng như Trần Dần Đây là một mảng thơ về thơ rất độc đáo, sáng tạo, xuất phát từ ý thức và trách nhiệm rất cao của ông đối với công việc làm thơ Ở đó người đọc sẽ tìm thấy nhiều ý kiến, quan điểm sâu sắc của Trần Dần về nghệ thuật làm thơ, về nhà thơ, về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, về truyền thống và cách tân trong thơ, về ý nghĩa của thơ đối với cuộc đời…
Trang 331.1 Quan niệm về nhà thơ
Trần Dần có một hệ thống rõ ràng về quan niệm thiên chức và phẩm chất của nhà thơ; và cả đời thơ của ông là sự hiện thực hóa, là minh chứng rõ ràng nhất cho quan niệm ấy Những quan niệm này được hệ thống hóa qua các bài viết trong cuộc tranh luận về thơ, trong các cuộc nói chuyện và trong chính các tác phẩm của Trần Dần
Nhà thơ, trong con mắt Trần Dần, trước hết là người “luôn phải biết dũng cảm đi tiên phong trong cuộc đổi mới thơ ca, dám hi sinh vì nghệ thuật, vì đời sống tinh thần của nhân loại” [37, internet] Để làm tròn phận
sự của một nhà thơ chân chính, theo ông, điều quan trọng là phải làm tròn bổn phận người, như ông từng nói: “Nhân cách là văn cách Đấy là nhân cách sáng tạo Tôi mong muốn mỗi công dân là một người thơ Đầu tiên là làm người” [37, internet] Từ quan niệm này tới hành trình sống và sáng tạo của Trần Dần là một sự nhất quán về phương hướng và từng bước đi Nhìn lại những chặng đường ông đã đi ta thấy ông đã luôn làm tròn bổn phận của con người công dân lẫn con người nghệ sĩ trước vận mệnh dân tộc và trước chính cuộc đời mình, một cách trực tiếp hay bằng những cách thức đặc biệt:
Làm một
ngôi người đến
chết?
VIẾT – KHÔN – NGUÔI (Sổ bụi 1988)
“Làm một ngôi người” và “viết” được đặt song hành với nhau, trở thành nỗi niềm “khôn nguôi", đầy ám ảnh, dằn vặt Thậm chí, ông còn luôn đặt nhà thơ trong trạng thái “không iên ổn” trong hành trình kiếm tìm nghệ thuật
và với cả chính mình:
TÔI KHÔNG IÊN ỔN VỚI TÔI MAY MẮN QUÁ (Sổ bụi 1980, 1981)
Trang 34Với tinh thần tìm tòi và cách tân mạnh mẽ, thái độ khá gay gắt của ông trong
Ghi chép về thơ được xem như một sự phê phán với kiểu thơ “dễ dãi, tầm
thường”: “Tôi ghét kiểu tạo hình ảnh bằng cách so sánh nhạt nhẽo, như: Dòng nước chảy như cái này như cái kia Chim bay như cái con khỉ con tiều
gì đó… Tôi ghét những lối tạo hình ảnh dễ dãi, tầm thường, hủ lậu” [29, internet] Mặt khác, câu nói này cũng hàm chứa một lượng năng lượng lớn của lòng khao khát muốn tìm cho được những giá trị mới mẻ và bền vững của thơ ca
Đòi hỏi về một cách nhìn mới về nhà thơ được Trần Dần và những
người bạn cùng chí hướng đưa ra từ rất sớm Trong bản Tuyên ngôn tượng trưng của nhóm Dạ đài, Trần Dần đã đặt ra vấn đề “Làm sao người ta cứ
khóc mãi, than mãi, rung động mãi theo con đường rung động cũ! Làm sao người ta cứ nhìn mãi vũ trụ ở ba chiều và thu hẹp tâm tư ở bảy dây tình cảm”, “Cho nên buổi chúng tôi xuất hiện, chúng tôi để cho tàn suy giấc mơ của những người thuở trước” [5, 53] Không bằng lòng đi trên con đường đã trở nên bằng phẳng, quen thuộc mà những nhà Thơ mới mở ra, Trần Dần và
nhóm Dạ đài đề xuất yêu cầu: phải “chôn Thơ mới” Đề xuất này không phải
là sự hạ thấp Thơ mới, mà ngược lại, những người nghệ sĩ trong nhóm Dạ
đài luôn coi Thơ mới là một giá trị không thể chối cãi; nhưng đồng thời, đó
cũng là một giá trị cần phải vượt qua để xác lập được những giá trị mới cho nghệ thuật thơ ca Những nhu cầu đó xuất phát từ tinh thần dấn thân một cách vô tư, say mê trong nghệ thuật, vì nghệ thuật Chính điều này đã trở thành động lực âm thầm mà mạnh mẽ góp phần thúc đẩy thơ Việt Nam sau thời kỳ Thơ mới tiến tới chân trời mới rộng rãi và khỏe khoắn hơn
Dấn thêm một bước để hình dung về nhà thơ chân chính, Trần Dần cho rằng: “Người thi sĩ phải mất máu trên một vần thơ như một chiến sĩ mất máu trên một lô cốt địch (…) Những vần thơ hay nhất, mới nhất là những vần
Trang 35thơ lăn lộn trong cái thực tế mưa bão ấy” [28, internet] Cách nói giàu hình ảnh và sắc sảo đó đã tô đậm thêm quan niệm của Trần Dần về nhà thơ Theo
đó, nhà thơ phải gắn mình với cuộc đời để cảm nhận được những xung động
và trăn trở trước những vấn đề của cuộc sống Nhà thơ muốn sản sinh được những câu thơ có giá trị cần phải lao động cật lực trên cánh đồng chữ như người chiến sĩ sẵn sàng “mất máu trên một lô cốt địch” Quan niệm này có phần tương đồng với những quan niệm được phổ biến rộng rãi như:
Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa
Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu
(…) Dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ,
Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền (Là thi sĩ - Sóng Hồng)
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? – Chế Lan Viên)
Những điểm tương đồng đó đóng vai trò làm nền tảng tư tưởng cho hành trình sáng tạo của Trần Dần; nhưng đồng thời, ông không để bị mất đi
cá tính, phong cách của mình Ông luôn tự nhủ:
ĐỪNG VIẾT CÁI GÌ KHÔNG RƠM RỚM BÊN KIA?
KHÔNG NGẠC NHIÊN CHÍNH MÌNH? (Sổ bụi, vở bụi 1985)
Và khẳng khái tuyên bố:
TÔI THÍCH VIẾT CÁI CHƯA BIẾT
MẶC CÁC ÔNG VIẾT CÁI ĐÃ BIẾT (Sổ bụi 1988)
Hơn thế nữa, ông luôn có một niềm tự tín cao cả và đầy kiêu hãnh về cuộc dấn thân, tìm tòi trong những thể nghiệm nghệ thuật của mình để có thể
tự tin và dõng dạc tuyên bố:
Tôi có thể mắc nhiều tội lỗi
Chẳng bao giờ
Trang 36mắc tội
không sáng tạo – nằm ỳ”
Nỗi sợ mắc tội “không sáng tạo – nằm ỳ” trở thành ý thức, và từ ý thức trở thành niềm tự trọng, thành một phẩm chất quan trọng của người nghệ sĩ nơi ông Và những lời tuyên ngôn trên đã không trở thành lời nói suông, bởi ông luôn đặt cả cuộc đời mình, cả tâm hồn và thể xác mình trên con đường không có điểm dừng trong những cuộc dấn thân khám phá thơ đến kiệt cùng Từ sự quan sát sắc sảo và tinh thần tuẫn triệt tìm kiếm đó, Trần Dần đã rút ra bài học quý giá không chỉ cho đời thơ mình:
không đi đường dễ cửa dễ
là
cửa tử (Sổ bụi 1987)
Điều này đã được thời gian nghiệm chứng Những bài thơ được viết ra một cách dễ dãi, không phải vất vả tìm tòi bởi những “động vật dễ dàng” sẽ nhanh chóng bị đẩy vào “cửa tử” Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc tất cả mọi tác phẩm được đầu tư nhiều thời gian và trí lực đều có giá trị nghệ thuật cao và có sức sống bền lâu Để không sớm bị đưa vào “cửa tử”, ít nhất
là nhà thơ phải tạo được cá tính thơ của riêng mình Vì vậy, Trần Dần rất coi trọng cá tính, phong cách viết của người sáng tạo Rút ra từ thực tiễn trải nghiệm của mình và từ quá trình sáng tác của những nhà thơ đương thời, ông đề ra yêu cầu về cá tính của nhà thơ và coi đó là một tiêu chí quan trọng:
“Người ta hay nói tới cá tính của một nhà thơ Đó là một điều rất hệ trọng
Vì rằng, cá tính của nhà thơ rõ rệt hay mờ nhạt, đặc sắc hay tầm thường là
nó chứng tỏ nhà thơ đó sống và viết có ý thức sâu sắc hay nông cạn về vị trí của mình, của nghề nghiệp mình trong mối liên quan chung xã hội Nói cách khác, cá tính biểu hiện trình độ thức nhận của thi sĩ đối với cuộc sống (…)
Trang 37Ít nhất nhà thơ phải tới mức có cá tính” [28, internet] Ở điểm này, Trần Dần coi tinh thần tìm tòi, sáng tạo không chỉ ở trên bình diện chữ nghĩa, mà còn đặt ở mức cao hơn: sáng tạo phải thấm vào từng đường gân thớ thịt, trở thành nguồn máu nóng, thành tính cách của nhà thơ Đó là tiêu chí để xác định giá trị của thơ, của nhà thơ trên thi đàn Bởi, theo ông, “Cái đau khổ của những người làm thơ: hát lên bằng một giọng hát tầm thường” [28, internet]
Thậm chí, cách viết của nhà thơ còn được nâng lên làm tiêu chí để xem
xét sự “sống – chết” của nhà thơ đó: nói tao biết mày VIẾT thế nào - tao sẽ
nói mày SỐNG – CHẾT ra sao (Sổ bụi 1986) Hay nói cách khác, chính
cách viết của nhà thơ làm nên giá trị của anh ta; nó có ý nghĩa quyết định đến sức sống hay vận mệnh của tên tuổi, nhân cách nhà thơ Có lẽ chính sự đòi hỏi này đã khiến Trần Dần ráo riết đến thế trong việc tìm kiếm cho mình một phong cách riêng, tạo cho mình một gam màu đặc biệt giữa nhiều gam màu
dễ hòa lẫn khác, làm nên “thi hiệu” Trần Dần
Trần Dần đưa ra định nghĩa thú vị và giàu sức gợi về nhà thơ: Kẻ viết?
đạp đổ chân trời? xổng xích chân mây? Kẻ viết bất biết thị phi khen chê? Thị phi hiểu? Có lẽ xuất phát từ chính cá tính và khát vọng nghệ thuật của
mình, Trần Dần muốn cấp cho nhà thơ những nguồn sức mạnh đủ để thoát khỏi vòng kiềm tỏa của những giới hạn, những lằn ranh gò bó khả năng sáng tạo của thi nhân Thậm chí, thi nhân trong mắt Trần Dần còn là người có
đủ tự tín và ngông ngạo để “bất biết thị phi khen chê”, “thị phi hiểu” Có
lẽ mục đích hướng đến của hành động này chỉ đơn thuần là để nhà thơ luôn được là chính mình, sống đúng với mình và làm nên bản sắc riêng của thơ mình Theo một cách khác, câu này cũng có thể hiểu là một sự thách thức, một kiểu ngạo đời của kẻ tự biết mình có cái hơn người, hơn đời? Nhìn lại cuộc đời và cuộc thơ Trần Dần, dường như cả hai cách hiểu
Trang 38trên cùng được chấp nhận, bổ sung ý nghĩa cho nhau để khắc họa nên một chân dung nhà thơ rất Trần Dần
gì trì trệ, mòn mỏi, song lại cũng là con người có trái tim run rẩy, cặp mắt rưng rưng trước cái mới đang sinh thành”[47, internet] Quan niệm về nhà thơ của Trần Dần tuy có nét cực đoan, nhưng trong đó chứa rất nhiều kinh nghiệm quý báu dành cho người nghệ sĩ chân chính trên hành trình đi tìm lối
đi cho nghệ thuật thi ca của mình
1.2 Quan niệm về thơ
Ngay từ khi mới bước chân vào làng thơ Việt Nam, Trần Dần cùng các
bạn đồng chí hướng đã trình làng bản Tuyên ngôn tượng trưng, dõng dạc
nói lên những vấn đề về thơ, trong đó quan niệm về thơ rất được chú trọng
Không tìm thoát ly như Thơ mới, những người trong nhóm Dạ đài chủ
trương “thi cảm phải gây trong thực tại”; “Không thể rung cảm chúng ta nữa cái văn chương cổ tích chỉ có một chiều, chỉ nhắc gợi một cõi đất, một tâm tình Thơ phải cấu tạo bằng tinh chất của vô biên Sau cái thế giới hiện trên hàng chữ, phải ẩn giấu muôn nghìn thế giới, cả thế giới đương thành và
Trang 39đương hủy” (Tuyên ngôn tượng trưng) Đó là niềm khao khát về những bài
thơ đạt đến giá trị vĩnh hằng lớn lao Đó cũng là khát vọng về việc thay đổi, làm mới thơ ca theo một lối tư duy khác, hướng đến những thang bậc giá trị thi ca mới mẻ, táo bạo hơn
Quan niệm “Thơ không cần lý luận, và cũng không còn phải tự dinh
dưỡng bằng những thi đề rõ rệt” của Dạ đài gần như là một sự nối tiếp quan niệm về thơ của Xuân Thu nhã tập: Thơ là “một cái gì không giải thích được,
mà không cần giải thích Nó chiếm đoạt ta tất nhiên, hoàn toàn, tức khắc ”
(Thơ) [29, internet] Quan niệm này được khai triển khá rõ nét trong
chặng cuối của con đường nghệ thuật mà Trần Dần đã dày công gây dựng
với Jờ Joạcx, Mùa sạch, Con trắng, Con OEE,… Vì vậy, ông đã từng
viết: Thơ với tôi như tôn giáo không nhà thờ - không giáo chủ Chẳng
tăng sư? tôi vẫn chốt ở đền Bay-on chữ Thơ là mạng sống, là lý lịch thật
đời tôi (Sổ bụi 1988)
Nhóm Dạ đài đưa ra lý thuyết tiếp nhận thơ từ rất sớm trong bản Tuyên ngôn tượng trưng Họ cho rằng muốn cảm nhận được những bài thơ siêu
thực, chúng ta không được chỉ dùng một quan năng tách bạch nào, mà phải đem tất cả linh hồn để lĩnh hội cái hay, cái đẹp của thơ một cách tức khắc Bởi lẽ, theo họ, thơ là không cần lý luận Trần Dần tự nhận “thơ tôi là một cơn ác mộng”, “Đọc thơ Trần Dần, các kinh nghiệm cảm thơ cũ luôn có nguy cơ bị xóa sổ; và rất có thể, sẽ là “ác mộng” với độc giả muốn đi tìm nghĩa trước khi tìm cảm giác… chữ không trói vào nghĩa, chữ không bôi vào chỗ trống của vô nghĩa, và cũng không cần phải tự dinh dưỡng bằng những
thi đề rõ rệt?” [33, internet] Và ông đưa ra lời khuyên đầy khiêu khích: Bạn
đọc? Nếu mày không trực hiểu? mày hãy chứi và mày không đọc nữa? mất quyền công dân đọc của mày Quan niệm này của Trần Dần có nhiều điểm
tương đồng với quan niệm của những nhà thơ Dạ đài, như Lê Đạt đã nói
Trang 40trong Bóng chữ: “Bạn đọc trước khi bước vào bài thơ xin tạm để lại cách
đọc tuyến tính thuần duy lý ở ngưỡng cửa như người khách bỏ giày trước khi vào một trà thất Nhật Bản… Bạn hãy thử để những hình ảnh, những con chữ trong câu thơ dắt dẫn trên con đường tâm thức ra khỏi lối đi ngữ nghĩa tiêu dùng một chiều quen thuộc hàng ngày”
Như vậy, theo quan niệm của nhóm Dạ đài và Trần Dần, thơ là sự cộng
cảm của nhiều quan năng; do đó, họ đòi hỏi đề cao trực cảm, đề cao những rung động hồn nhiên, đề cao sự “buông thả” tự nhiên để cho trực giác lên tiếng Đây là “hướng dẫn sử dụng” giúp người đọc có thể tiếp cận với thơ
Trần Dần ở Jờ Joạcx, Mùa sạch, thơ biến tấu âm, biến tấu chữ… Đó là biểu
hiện của sự tiếp biến lý luận thơ ca phương Tây một cách chủ động Nhưng những nhà cách tân thơ đó đã vô tình không nhận ra một điều quan trọng: từ
lý thuyết của phương Tây đến thực tiễn ở Việt Nam bao giờ cũng tồn tại một khoảng cách mà mấy chục năm sau mới có thể khỏa lấp phần nào Vì vậy, quan niệm thơ mà Xuân Diệu từng phát biểu, đại ý là: Thơ tự do là mình đặt
kỷ luật cho mình, một kỷ luật linh động tùy theo từng trường hợp nhưng luôn
có kỷ luật Muốn ca, muốn hát mà chẳng theo tiết tấu nhịp nhàng thì sẽ không có ai nghe là một lời góp ý hữu ích, tuy có phần khô cứng và dễ đưa
nhà thơ vào vòng “kỷ luật” thiếu tinh tế trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật
Tuyên ngôn tượng trưng được triển khai khá rộng rãi trong hành trình
sáng tác của các nghệ sĩ Dạ đài, nhưng tỏa ra theo những hướng không giống
nhau Nếu quan niệm về thơ được đặt ra trong bản tuyên ngôn hồi Dạ đài
mới xuất hiện mang đậm tính tượng trưng, siêu thực như cái tên của nó thì đến Trần Dần, quan niệm về thơ của riêng ông có nhiều cành nhánh hướng
về phía cuộc đời hiện thực, hiện thực ở mức cao đến độ “phải hư lên” Có lẽ không nhiều nhà thơ tỏ ra trăn trở, khắc khoải với câu hỏi “Thơ là gì?” như Trần Dần trong dặm dài đời thơ và đời người của ông Từ khi tạo được