1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố phi truyền thống trong thơ Trần Thế Xương

101 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng đã có công trình nghiên cứu và khảo sát thơ Tú Xương một cách hệ thống để tìm ra nét hiện đại trong thơ ông nhưng đều chưa thể hiện được dòng chảy liền mạch từ nhà nho hành đạo, nhà

Trang 1

ĐẬU THỊ THƯỜNG

YẾU TỐ PHI TRUYỀN THỐNG TRONG THƠ

TRẦN TẾ XƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội, 2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC……… 1

PHẦN MỞ ĐẦU……… ……… 3

1 Lí do chọn đề tài……… 3

2 Lịch sử vấn đề……… 3

3 Phạm vi đề tài……… 8

4 Phương pháp nghiên cứu……… 8

5 Bố cục……… 8

PHẦN NỘI DUNG……… 9

Chương 1: TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG BỐI CẢNH VĂN HÓA BUỔI GIAO THỜI VÀ ĐẶC TRƯNG MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÓA Ở NAM ĐỊNH……… 9

1.1 Tú Xương đối diện với cảnh mất nước và văn hóa buổi giao thời………… 9

1.2 Môi trường đô thị hóa truyền thống chuyển dần sang đô thị hoá tiền tư bản ở Nam Định ……… 14

Chương 2: NHẬN DIỆN LẠI CON NGƯỜI TÚ XƯƠNG QUA CÁCH ỨNG XỬ TRƯỚC SỰ BIẾN ĐỔI CUĂ VĂN HÓA- XÃ HỘI BUỔI GIAO THỜI……… 18

2.1 Tú Xương với tư cách là con người xã hội……… 18

2.1.1 Tu thân……… ……… 18

2.1.2 Đối với gia đình……… 21

2.1.3 Đối với minh quân lương tướng……… ……… 27

2.1.4 Con đường học vấn khoa cử………… ……… 29

2.1.5 Đối với thương nhân và những lề thói khác……… ……… 31

2.2 Tú Xương với tư cách là tác giả văn học……… 34

2.2.1 Quan niệm về tư tưởng thẩm mỹ trong văn học…… ……… 34

2.2.1.1 Cảm quan thời đại của Tú Xương ……… 34

Trang 4

2.2.1.2 Tinh thần tự vấn……… 38

2.2.1.3 Nhà nho phá vỡ sự quân bình trong cảm xúc……… ……… 42

2.2.2 Hệ thống chủ để, đề tài… ……… 47

2.2.3 Hệ thống hình tượng… ……… 52

2.2.4 Ngôn ngữ, bút pháp…… ……… 58

2.2.5 Thể loại……… ……… 67

Chương 3: PHONG CÁCH THƠ PHI TRUYỀN THỐNG TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG TƯƠNG QUAN VỚI VĂN HỌC NHÀ NHO TRUYỀN THỐNG … 73 3.1 Trong tương quan với văn học nhà nho truyền thống…… ……… 73

3.2 Con đường từ Nguyễn Khuyến đến Tú Xương trong sự khác biệt giữa nhà nho nông thôn và nhà nho thành thị……… 79

3.3 Nhà nho thị dân hoá đầu tiên ở Việt Nam… ……… 85

PHẦN KẾT LUẬN ……… 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 94

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Thơ Tú Xương được đánh giá là đặc sản của quê hương Nam Định nói riêng và của văn học Việt Nam nói chung “Ăn chuối ngự, đọc thơ Tú Xương” là truyền ngôn tự hào của người dân thành Nam về quê hương mình Có thể nói, Tú Xương là người đã tạo ra những biến đổi quan trọng trong văn chương nhà nho cuối thế kỉ XIX

Tú Xương là nhà thơ được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu, với số lượng bài viết phê bình tương đối nhiều Đa phần các công trình nghiên cứu tập trung khai thác ở khía cạnh trào lộng, nghệ thuật trào phúng, yếu tố trữ tình, tính hiện đại Cũng

đã có công trình nghiên cứu và khảo sát thơ Tú Xương một cách hệ thống để tìm ra nét hiện đại trong thơ ông nhưng đều chưa thể hiện được dòng chảy liền mạch từ nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử đến nhà nho thị dân Khái niệm nhà nho thị

dân được gọi tên lần đầu ở luận án Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam của Đoàn Hồng Nguyên Có thể nói, nhà nho thị dân là loại hình nhà nho mới

xuất hiện khi xã hội đang trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ Do vậy việc đặt Tú Xương trong cái nhìn tổng quan theo chiều lịch đại của văn chương nhà nho, cũng như soi sáng dưới góc nhìn văn hóa buổi đầu giao thoa đông- tây, của môi trường bước đầu

đô thị hóa tiền tư bản sẽ quán chiếu toàn diện về tư tưởng và tâm hồn của nhà nho thị

dân này Chúng tôi chọn đề tài Yếu tố phi truyền thống trong thơ Trần Tế Xương với

mong muốn nhìn nhận Tú Xương trong mạch văn học trung đại, đã có những yếu tố khác lạ so với văn học truyền thống, chứ không chủ ý áp đặt quan điểm, cái nhìn hiện đại để tìm ra nét hiện đại trong thơ ông Trong dòng văn học trung đại, Tú Xương là nhà nho thị dân đầu tiên, nên tư tưởng và tâm hồn có những nét đặc biệt, hứa hẹn sự khám phá thú vị

2 Lịch sử vấn đề

Tú Xương điển hình cho giai đoạn giao thời từ văn chương truyền thống sang văn chương hiện đại Ý thức được điều đó, nên việc tìm hiểu và nghiên cứu tác gia tác

Trang 6

phẩm Tú Xương ở hai lĩnh vực là nghiên cứu văn bản và nghiên cứu tiếp nhận đã được chú ý đúng mức Hơn một thế kỷ tiếp nhận thơ Tú Xương, có thể tạm chia việc nghiên cứu này thành các giai đoạn như sau:

Trước 1945: Thơ văn Tú Xương được sưu tầm và bình giá đầu tiên trên Nam

phong tạp chí Phạm Quỳnh là người khởi đầu công việc nghiên cứu tiếp nhận về Tú

Xương trong bài viết Văn chương trong lối hát ả đào Bài viết bàn về những nét đặc sắc trong “cái ngông” và giọng điệu tự trào, hoạt kê trong bài hát nói Câu đối tết

Tiếp đó là những khảo cứu của Phan Khôi trong Chương dân thi thoại (1928)

chỉ ra giọng điệu khôi hài trào phúng trong thơ Tú Xương Rồi những bài viết của Quang Phong, Dương Quảng Hàm, Sở Cuồng Lê Dư… Các bài viết này mặc dù có sưu tầm và khảo cứu thơ Tú Xương, song về cơ bản vẫn chưa đầy đủ Đây là những khám phá bước đầu còn hết sức sơ lược về tác phẩm của Tú Xương, mới chỉ chú trọng vào giọng điệu trào phúng trong thơ ông Đặt trong bối cảnh đương thời thì thấy việc nghiên cứu thơ Tú Xương chưa được chú ý đúng mức, càng hiếm hơn những ý kiến coi

Tú Xương như một tác gia lớn hay là đối tượng của bộ môn văn học sử

Có thể nói giai đoạn này, Trần Thanh Mại là người đã viết nhiều và sâu hơn cả

về Trần Tế Xương trong tác phẩm Trông dòng sông Vị (1935) Trần Thanh Mại chia tập sách của mình thành 14 chương đoạn: Khoa thi Đinh Dậu, Lễ xướng danh, Nhà làm thi với nhà làm đại sự, Ông Tú Xương, Một nhà duy vật triết học, Bà Tú Xương, Một vị thiên thần, Văn Chương ông Tú Xương, Một nhà trào phúng, Lối thơ khẩu khí, Một tì vết trên bức tơ, Một cái án nặng chưa từng có trong các hình luật, Những đoạn cuối của đời một nhà đại thi sĩ, Cái chết của ông Tú Xương Tập sách là những khảo cứu

nghiêm túc, những lời bình sâu sắc, những nét phác hoạ chân dung sinh động về cuộc đời và thơ văn Tú Xương Tuy chưa đạt yêu cầu về công trình khoa học, một chuyên luận sâu sắc nhưng Trần Thanh Mại đã định hướng và mở ra một hướng nghiên cứu về

Tú Xương

Trang 7

Từ 1945-1975: Đây là giai đoạn có nhiều công trình nghiên cứu Tú Xương công

phu Những chuyên luận, những tuyển tập thơ văn về nhà thơ non Côi sông Vị được hình thành Nhân dịp 50 năm ngày mất và 100 năm ngày sinh của Tú Xương, nhiều công trình nghiên cứu được công bố

Trong Thân thế thơ văn Tú Xương, Vũ Đăng Văn đã chỉ ra nét độc đáo của Tú

Xương qua giọng điệu trào phúng phúng thế, tính thời sự, tính bình dân và tính nhân bản

Cũng trong khoảng thời gian này, Nguyễn Duy Diễn soạn Luận đề về Trần Tế Xương chủ yếu nhằm phục vụ cho việc giảng dạy và học tập thơ văn Tú Xương Ngoài phần Tiểu sử ngắn gọn, tập sách gồm 4 đề bài, kèm theo các mục Dàn bài và Làm bài

chi tiết, có tác dụng nhấn mạnh, đánh giá đúng mức vị trí Tú Xương trong nhà trường

Tập sách Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX của tác giả Nguyễn Tường

Phượng và Bùi Hữu Sủng đã tìm thấy được những nét độc đáo qua tư tưởng hoài cổ của Tú Xương, đặc biệt là phát hiện ra nét độc đáo trong thơ trào phúng của Tú Xương

Làm rõ hơn thơ trào phúng của Tú Xương, Nguyễn Sỹ Tế đã tiếp cận Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương (1957) theo chiều lịch đại cũng như đồng đaị Ông đã

tìm hiểu nguyên nhân và tiếng cười của Tú Xương trong sự so sánh với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, qua đó khẳng định Tú Xương là một “thiên tài trào phúng đã

đi vào cõi bất diệt” Tác giả đã sử dụng hướng tiếp cận tương đối mới là so sánh Tuy nhiên, so sánh ở mức độ đối chiếu đơn thuần mà chưa đặt nó trong một hệ văn hoá

Từ năm 1960, việc nghiên cứu Tú Xương có những khởi sắc và thành tựu Nhà

nghiên cứu Trần Thanh Mại đã có bài nói chuyện Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương tại Câu lạc bộ Đoàn kết Hà Nội Bài nói chuyện chịu ảnh hưởng khá

rõ quan điểm đấu tranh giai cấp và lối phê bình văn chương xã hội học đơn giản Cũng

trong thời gian này, chuyên luận Tú Xương- con người và thơ văn của Trần Thanh Mại-

Trần Tuấn Lộ được xuất bản và có tác động tích cực tới quá trình nghiên cứu

Trang 8

Cùng với hướng tiếp cận này, tác giả Văn Tân đã đi sâu nghiên cứu Tính chất và giá trị thơ văn của Tú Xương qua các khía cạnh: Tiểu sử, Xã hội Việt Nam trong thời

đại Tú Xương, Cá tính hay những nhân tố tạo nên ý thức tư tưởng, Nội dung tư tưởng,

Tú Xương đối với quan lại và tây… Có thể nói, những khám phá về “giá trị văn thơ”

Tú Xương của Văn Tân rất độc đáo, nhưng trong khi tìm hiểu giá trị văn thơ trào phúng Tú Xương, tác giả thường lược quy về vấn đề giai cấp và những chi tiết sự kiện

cụ thể nên hạn chế tính chất khách quan của các kết luận khoa học Đây cũng là hạn chế có tính lịch sử của không ít công trình nghiên cứu văn học bấy giờ, trong buổi đầu tập sự vận dụng phương pháp luận duy vật và biện chứng vào đời sống văn học

Ngoài ra, trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu còn vận dụng hướng tiếp cận

phản ánh lịch sử và đạt được một số thành quả Đó là các bài viết Xã hội trong thơ văn

Tú Xương (Hoàng Ngọc Phách), Tâm sự Tú Xương (Lê Thước), Văn chương Tú Xương

(Đỗ Đức Hiểu) Họ đánh giá, sau Hồ Xuân Hương, trong thời kỳ văn học cận đại, Tú Xương là nhà thơ kế nghiệp xứng đáng nhất của văn thơ trào phúng cả phương diện tư tưởng và nghệ thuật

Đặc biệt, những bài viết của nhà thơ, nhà văn như Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân với những nét khám phá tài hoa, làm phong phú giọng điệu phê bình Nguyễn Tuân là đại biểu kiệt xuất của dòng nghiên cứu tiếp nhận nghệ sĩ Ông

không chỉ thể hiện cảm nhận tài hoa qua các bài thơ Sông lấp, Đi hát mất ô, mà còn

phát hiện ra mối quan hệ giữa trữ tình và hiện thực trong thơ Tú Xương Về sau, ông

còn có dịp cảm nhận sâu hơn nữa trong Thời và thơ Tú Xương

Nhà văn Nguyễn Công Hoan góp phần bàn về văn bản, nêu nghi vấn về sự lầm lẫn trong việc sưu tầm tác phẩm, việc lầm lẫn chữ trong bài thơ, những sai sót trong việc chú thích cũng như cách hiểu và cách đánh giá tư tưởng bài thơ Trong khi nhà thơ Xuân Diệu bình luận tinh tế cái hay cái đẹp của từng câu, từng chữ trong thơ Tú Xương, thì nhà thơ Tú Mỡ lại triệt để khai thác tính chất trào lộng, sắc thái trào phúng

tự nhiên trong thơ

Trang 9

Như vậy, việc nghiên cứu Tú Xương ở giai đoạn này vẫn dừng lại ở hướng tiếp cận chủ yếu theo phương pháp xã hội học, chú trọng đến giá trị phản ánh hiện thực, bước đầu có phát hiện về chất trữ tình, cái tôi, tính hiện đại

Từ 1975-nay: Tú Xương được đưa vào Từ điển văn học Việt Nam và Tác giả

văn học Việt Nam Tổng tập những công trình nghiên cứu Tú Xương của Lữ Huy

Nguyên, Ngô Văn Phú, Mai Hương, Nguyễn Văn Huyền được biên soạn

Chuyên luận Tú Xương- tác phẩm giai thoại của Nguyễn Văn Huyền (1987) là

một trong những công trình tin cậy để nghiên cứu văn bản học tác phẩm Tú Xương

Trong khoảng vài năm cuối của thế kỷ XX, các trang viết của Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Trần Lê Văn, Trần Thị Trâm, Kiều Văn… đã có những cố gắng tiếp cận,

bổ sung những cách nhìn mới về Tú Xương

Trong bài viết Tú Xương- nhà thơ lớn của dân tộc (1988), Nguyễn Đình Chú đã

đính chính và bổ sung nhiều chi tiết có ý nghĩa Ông quan tâm lý giải cội nguồn “gốc rễ trữ tình”, và tài năng của bậc “thần thơ thánh chữ”.Bằng hướng nghiên cứu hệ thống, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhấn mạnh phương diện ý thức cá nhân và tiếng cười giải thoát Ông kết luận, Tú Xương đi ngược lại truyền thống thơ ngôn chí, đánh dấu sự phai nhạt của không gian truyền thống, mở ra không gian sinh hoạt đời thường, đô thi Mặc dù đây chỉ là những nhận định khái quát, song nó góp phần mở ra những vấn đề nghiên cứu mới về Tú Xương

Gần đây nhất, Trung tâm nghiên cứu Quốc học giới thiệu cuốn sách Tú Xương toàn tập của tác giả Đoàn Hồng Nguyên (2010) Đây là tác phẩm có sự khảo cứu tỉ mỉ

về văn bản học, cũng như nêu lên một số nhận định, đánh giá Tú Xương trong tiến trình hiện đại hoá văn học

Như vậy, giai đoạn này, nhiều phương pháp nghiên cứu được vận dụng như so sánh, thi pháp học và đạt nhiều thành tựu đáng kể Nhưng hầu hết các công trình này vẫn chỉ dừng lại ở việc xem Tú Xương như người khai sáng cho dòng thơ hiện thực trào phúng và những cách tân nghệ thuật ít nhiều mang tính hiện đại

Trang 10

3 Phạm vi đề tài

Trong Tú Xương toàn tập của Đoàn Hồng Nguyên (2010), tác giả đã khảo cứu các văn bản Nôm: Vị Thành giai cú tập biên, Quốc văn tùng kí, Việt Tuý tham khảo, Nam âm thảo, Thi văn tạp lục, Tiên đan gia bảo cũng như các văn bản tiếng Việt từ

trước đến nay và đã so sánh đối chiếu và kết luận về số lượng tác phẩm của Tú Xương Chúng tôi thấy đây là nguồn tài liệu mới và có độ tin cậy về văn bản Dựa vào đó, luận văn nghiên cứu và khảo sát trong 134 tác phẩm và cả 56 bài tồn nghi của Trần tế Xương Đồng thời chúng tôi có tham khảo những giai thoại để xây dựng chân dung Tú Xương với tư cách là nhà nho thành thị và với tư cách người nghệ sĩ

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi vận dụng hướng tiếp cận văn hóa học cùng với các phương pháp thống kê, miêu tả, so sánh, phân tích, mong có được cái nhìn hệ thống và toàn diện nhất về Tú Xương

5 Bố cục

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Trần Tế Xương với bối cảnh văn hoá buổi giao thời và đặc trưng môi trường đô thị hoá ở Nam Định

Chương 2: Nhận diện lại con người Trần Tế Xương thông qua cách ứng xử trước sự biến đổi của văn hoá- xã hội giao thời

Chương 3: Phong cách thơ phi truyền thống Trần Tế Xương trong tương quan với văn học nho gia truyền thống

Trang 11

mẽ là hai thực tế khác trước nhiều nhất mà Tú Xương trải nghiệm Đó là những biến động xã hội quan trọng khiến Trần Tế Xương phải đối diện, không giống với thực tế quen thuộc mà các nhà nho truyền thống “từng trải”: môi trường nông thôn, nhà trường nho giáo, công đường, cung đình Ở thời điểm này, Tú Xương sống trong bối cảnh hoàn toàn mới, khiến cách ứng xử của ông trước thời cuộc không còn giống các nhà nho truyền thống: không hăng hái và mặn mà hành đạo với mong muốn phò vua giúp nước, cũng không lánh đục khơi trong ẩn dật chốn thâm cùng ngõ vắng khi vấp phải thời loạn lạc, cũng không phải đề cao tài- tình như các nhà nho tài tử, Tú Xương mang một tâm thế và một cá tính riêng, trước đây chưa từng thấy trong văn học truyền thống, tâm thế của nhà nho thành thị trong văn hóa giao thời Hoàn cảnh mới đã tạo nên một

cá tính mới

1.1 Tú Xương đối diện với cảnh mất nước và văn hóa buổi giao thời

Tuổi thơ Tú Xương lớn lên trong cảnh nước nhà lần lượt rơi vào tay Pháp Đế quốc Pháp từng bước xâm chiếm và bình định các vùng miền trên toàn quốc Nước ta rơi vào tay một thế lực mới, kẻ thù lần này không phải là Trung Hoa cường quốc phong kiến đồng văn đồng chủng, mà là một đế quốc phương tây với kinh nghiệm mấy trăm năm thực dân, với chính sách khai hóa thuộc địa bài bản và một nền văn hóa hoàn toàn mới

Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn Năm 1862, Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thực dân

Trang 12

Cochinchine (Nam kỳ) Từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc Miền Bắc khi đó rất hỗn độn do những mối bất hòa giữa người Việt và người Hoa lưu vong Chính quyền Việt Nam không thể kiểm soát nổi mối bất hòa này

Năm 1873, biến cố ở Bắc Kỳ đã xảy ra Sau khi chiếm Hà Nội, hạ thành Hải Dương, Ninh Bình, quân Pháp quyết tâm đánh chiếm Nam Định Đại uý Garnier chỉ huy quân Pháp thẳng tiến xuống Nam Định theo hai hướng Nam và Đông, ngày 10 tháng 12 năm 1873, quân Pháp tiến sâu vào thành Nam Định, thành Nam Định bị mất

Ngày 21 tháng 12 năm 1873, Garnier bị giết tại Cầu Giấy Trước tình hình đấy, Philastre- thống soái việc hình luật ở Nam Kỳ theo lệnh của chính phủ Pháp trả thành Hải Dương cho Việt Nam, rồi lên Hà Nội làm giao ước trả lại bốn thành cho quan triều đình coi giữ Quân lính Pháp đợi Hoà ước ký xong thì rút về

Đến năm 1881, chỉ huy Henri Riviere, vốn được cử ra Hà Nội với một lực lượng mỏng để xem xét các phàn nàn từ phía Việt Nam về các thương gia Pháp Tuy nhiên, Riviere đã ngang nhiên đi ngược lại các chỉ thị của mình, và đánh thành Hà Nội năm

1882 Sang năm 1883, chỉ huy Riviere đánh hạ thành Nam Định, thành phố thứ nhì ở Bắc Kỳ, với một hạm đội pháo thuyền nhỏ và một đoàn thuỷ quân đánh bộ Như vậy, thành Nam thực sự rơi vào tay Pháp Sự thất thủ của thành Nam Định và một số thành khác ở Bắc Kỳ khép lại quá trình đánh chiếm Việt Nam của thực dân Pháp, bắt đầu xây dựng bộ máy thuộc địa và bước vào quá trình khai thác của chúng

Hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương Pháp ra sức khai thác vùng thuộc địa và từng bước áp đặt vùng ảnh hưởng của văn hóa phương tây vào nước ta

Do cuộc kháng chiến có tính chất toàn dân nên cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp phải kéo dài tới tận năm 1896 Từ năm đó chế độ thuộc địa mới có thể thực sự được thiết lập do cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta tạm thời bị chặn lại Việc cử Paul Doumer sang làm toàn quyền Đông Dương tỏ rõ ý đồ của đế quốc Pháp muốn

Trang 13

thiết lập một chế độ thuộc địa cổ điển với đầy đủ mọi thành trì của chế độ này: kinh tế, hành chính, quân sự và văn hóa

Sau khi bình định, Doumer đã tung ra những quyết định để giải phóng những nguồn tài chính mới, tạo ra cơ chế mới cho lực lượng sản xuất ở xứ Đông Dương có thể thay đổi Sau này, vào năm 1901, đại úy Bernard ghi lại: “Vào năm 1897, chỉ trong vài tuần lễ, một cơn mưa đá đã thực sự đổ xuống: tăng thuế thân và thuế địa ốc, thuế những người không đăng kí, thuế đăng kí sắc phong của các quan, thuế diêm, thuế quế, thuế giấy có đóng dấu, thuế muối, rượu, thuyền trên sông, giấy phép chặt gỗ, thuế thuốc lào, thuế cau, thuế củi, thậm chí cả thuế rơm, thuế ra để lợp những cái lều thảm hại nhất” Từ nay, Đông Dương đã được tạo thành, được tổ chức và cơ cấu hóa với những ngân sách dư thừa, một nền ngoại thương đang phát triển và đã tăng gấp đôi từ năm 1896, và những kinh phí riêng của mình Nó đã trở thành một vòng hoa của đế quốc Pháp, “một ban công Pháp trên Thái Bình Dương” [8; tr.605]

Thực dân Pháp đã nắm quyền điều khiển cuộc đổi thay, thay bộ máy thống trị quan liêu kiểu phong kiến phương đông bằng bộ máy quan liêu kiểu mới, với sự cấu kết giữa thực dân và phong kiến Thu hẹp hơn nữa quyền hành và uy tín của các quan, bây giờ trong thực tế phái ở dưới quyền của những công chức Pháp có đủ loại, và đủ ngành Còn về dân chúng, ở nông thôn và các nơi khác thì phải chịu một sự thúc ép thuế càng ngày càng cao, một sự giám sát và kiểm tra càng ngày càng cưỡng bức cùng với một thứ quyền hành hà khắc và đàn áp

Sự lớn lên của các đô thị là minh chứng cho sự đổi thay dễ nhận thấy Nhiều công trình lớn được xây dựng, từ kiến trúc đến giao thông, nhà máy, xí nghiệp Tất cả

đã đem lại thuận lợi cho phát triển đô thị trong các xứ ở An Nam Các công ty tư nhân bắt đầu đầu tư, như các công ty than 1888, hội bông sợi ở Hải Phòng, nhà máy dệt Nam Định Tất cả đều mang nhân sự mới: các giám đốc, kĩ sư, đốc công, tài vụ “Những sáng kiến của chính quyền về đô thị hóa ở các thành phố là nơi có những biến đổi nhiều khi rất ngoạn mục” [8; tr.596]

Trang 14

Cho tới khi người Pháp đặt nền bảo hộ lên Việt Nam, các tỉnh lị chỉ là một hình thức quần tụ của vài làng xóm xung quanh một thành trì, nơi sở tại của nền hành chính quân sự và dân sự Hoạt động kinh tế phát sinh với sự đô hộ của người Pháp và sự thành lập hệ thống giao thông đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sinh hoạt tỉnh thành

Có thể nói, đây là cuộc đổi thay lớn lao, ghê gớm nhất từ trước đến nay Sự va chạm giữa nền văn hóa cổ truyền với một nền văn hóa hoàn toàn xa lạ trong buổi đầu tiên không khỏi tạo tâm lý ngỡ ngàng và bất an Sau 1874, khi các cuộc tiếp xúc với người Âu Tây nhiều hơn, chặt chẽ hơn, đã có nhiều chương trình hiện đại hóa được thảo ra Những cố gắng về trí tuệ để thích ứng với thế giới mới càng tỏ ra cần thiết hơn, khi mà những thực tại thì đang đổi thay và những đổi thay đó đã phát sinh ra đủ thứ phản ứng xã hội, đặc biệt tại Bắc Kì [46; tr.304]

Quan chức và tầng lớp văn thân (các nhân sĩ và thân hào) trên lý thuyết là

“rường cột” “tự nhiên” của triều đình, bởi vì được gắn liền với triều đình trên các mặt chính trị, xã hội và kinh tế Sau khi đỗ đạt, quan chức làm việc trong chính quyền, nhân

sĩ lo dạy viết, dạy đạo và dạy đạo Khổng Mạnh, còn thân hào ở các xã thôn có trách nhiệm thu thuế, tuyển mộ binh lính và phân bổ sưu dịch do nhà nước quy định [45;tr.240] “Biết chữ, làm quan là kì vọng lớn nhất của bất cứ người An Nam trẻ nào” [45;tr.242] Cũng theo Tsu bôi, trung tâm của giới nhân sĩ là nhóm tú tài, một vị trí không rõ rệt giữa quan và dân: “gần thành công”- sánh với các quan vì họ không lên đến được tột đỉnh của kì thi- không đỗ cử nhân, tiến sĩ- nhưng trái lại, họ thành công ở chỗ hơn các người hỏng thi và quần chúng, ít ra họ đã đỗ thi hương Các nhân sĩ có đặc điểm rất nhạy cảm và chú ý đến tình hình chính trị Một khi biến động chính trị hoặc xã hội bùng nổ, một số người của họ với tư cách lãnh đạo, đứng ra tập trung dân chúng chống lại những người mà họ cho là kẻ thù [46; tr 258] Ngoài ra, là người truyền bá Nho giáo, họ đặc biệt xem người Pháp và người công giáo là cừu địch, còn các người này cũng trả đũa ngay và xem các nhân sĩ là “kẻ thù số một của họ”

Trang 15

Thực dân Pháp đưa Thiên chúa giáo vào nước ta một phần nhằm lấn át nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, cắt đứt mối quan hệ văn hóa Việt Nam với các nước Phương Đông, áp đặt vùng ảnh hưởng văn hóa Phương Tây

Mặt khác, nền Hán học, Nho học ở nước ta ngày càng suy yếu Sau nhiều thế kỉ giành giật chỗ đứng, bắt rễ ngày càng sâu rộng, tạo ảnh hưởng và gây dựng uy tín, đến đầu thế kỉ XV, sự kết hợp nho giáo với chế độ quân chủ chuyên chế đã hình thành Tuy nhiên, đến hết thế kỉ XVIII, nho học đứng trước nhu cầu điều chỉnh, cách tân Từ nhận thức những cái được xem là “nguy cơ”, bằng thói quen có từ trong quá khứ của học thuyết nho giáo, do tầm tri thức và những hạn chế của thời đại đã đưa các nhà nho Việt Nam thời đó tới chỗ chọn hướng giải quyết: lấy giáo dục và khoa cử làm điểm then chốt của sự điều chỉnh Những nho sĩ kêu gọi cải cách văn thể với hi vọng chấn hưng nho giáo và nho học bằng con đường truyền bá nho, đào tạo nhà nho, hi vọng tăng cường nhận thức lí luận nho giáo từ kinh điển, chấn chỉnh nho phong sĩ khí, cải cách văn thể xuất phát từ nhu cầu bức thiết của nho học Cuộc vận động này được tiến hành rầm rộ thu hút nhiều nho sĩ tham gia góp tiếng Cuộc cải cách văn thể có ảnh hưởng đáng kể tới nho học và nhất là tới văn học, vì trung tâm của cuộc vận động này chính là văn chương cử tử Nho học Việt Nam thời kì này với những đặc điểm, thành tựu, cái mới và hạn chế của nó được quy định bởi những điều kiện kinh tế, xã hội và những nguyên nhân nội sinh của nó Sự xuất hiện của các yếu tố phi cổ truyền do môi trường kinh tế hàng hóa, đô thị và thị dân tạo ra, vừa là điều kiện vừa là nguyên nhân tạo ra những dấu hiệu phi cổ truyền tẻ tẻ, cục bộ trong nho học

Cuối thế kỉ XIX, đất nước ta rơi vào ách nô dịch của thực dân Pháp, kéo theo việc xây dựng chính quyền thực dân, phát triển kinh tế công thương nghiệp ở các thành phố, thì nhà nho mất dần vai trò “kẻ tiên tri, tiên giác”, bị đẩy xuống hạng dân thường [5;tr.103]

Trước thời Doumer, những viên quan toàn quyền đầu tiên đã nghĩ tới việc sử dụng nền giáo dục truyền thống làm công cụ phục vụ cho họ Doumer đã duy trì chế độ

Trang 16

thi tuyển quan trường cũ ở Bắc kì cho đến 1915, ở Trung kì cho đến 1918 Từ năm

1862, chữ quốc ngữ, hình thức chuyển ngôn ngữ Việt bằng chữ cái la tinh, được sử dụng ở Nam kì rồi lan dần sang cả nước Năm 1896, chính quyền thuộc địa cho đưa chữ quốc ngữ vào một số môn thi của các kì thi tuyển chọn quan lại Năm 1903, một môn thi tiếng Pháp trở thành bắt buộc trong các kì thi [51;tr.215] Như vậy, sự thay đổi chữ viết, sự xuống cấp của nền hán học, cựu học tạo điều kiện cho sự du nhập văn hóa phương tây được nhanh chóng

Cùng với sự chuyển biến của các giai cấp liên hệ với sự sản xuất truyền thống, cũng như sự xuất hiện của những giai cấp mới dưới ảnh hưởng của diễn biến kinh tế, Việt Nam dần dần thay đổi theo lối sống “tư sản hóa”, “Âu hóa” dần hình thành, xâm nhập và tấn công vào lối sống cổ truyền của dân tộc Việt Nam Trong đô thị, lúc đầu, Pháp kiều sống trong những khu riêng biệt lập nên một xã hội đóng chặt, có những thành kiến và những quy định riêng của nó Họ rất ít tiếp xúc với dân Việt, ngoài những cuộc tiếp xúc kinh tế hay hành chính cần thiết Đa số người Pháp ở Việt Nam đã tiêm nhiễm một mặc cảm tự tôn khiến họ khinh bỉ dân bản xứ: đối với một người Pháp,

sự sỉ nhục nặng nề nhất là bị gán danh hiệu “dân bản xứ”[1;tr.239] Mặc dù có sự tách biệt và phân biệt đối xử, nhưng với sự tiếp xúc lâu dần đã hình thành nên lối sống mang tính tư sản hóa ở các thành thị Việt Nam

1.2 Môi trường đô thị hoá truyền thống chuyển dần sang đô thị hoá tiền tư bản ở Nam Định

Tính chất đô thị hóa ở Việt Nam có những nét khác biệt so với Phương tây Đó

là sự xây dựng và đầu tư có chừng mực của thực dân Pháp, bên cạnh phát triển đô thị theo kiểu phương tây thì vẫn giữ nét cổ truyền phương đông Sự va chạm này tạo ra nét riêng trong quá trình đô thị hóa Việt Nam Quê hương Nam Định của Tú Xương được coi là kinh kì thứ hai thời kì đó Đây là đô thị lớn trong thời phong kiến và cũng là một trong những đô thị trung tâm của xã hội giao thời thực dân- phong kiến

Trang 17

Trước khi Pháp xâm lược, Nam Định cũng giống như vùng tỉnh khác của cả nước, vẫn chịu sự thống trị của nhà nước phong kiến tập quyền

Nam Định là một trong những thành có ngành thủ công và làng nghề truyền

thống xuất hiện sớm và tiếp tục phát triển trong thế kỷ XIX Sách Đại Nam nhất thống chí có chép về các làng dệt có tiếng như Vân Cát, Tương Đông, Hà An… Trong lĩnh

vực thương nghiệp, hệ thống chợ làng mở rộng tạo thành một mạng lưới rộng khắp Nối tiếng nhất là chợ Vị Hoàng (thuộc xã Vị Hoàng), còn có tên là chợ Vị Xuyên thuộc tổng đốc Đông Mặc, nay là thành phố Nam Định Các làng chuyên nghề buôn đã xuất hiện từ hàng trăm năm trước vẫn tiếp tục duy trì ở thế kỷ XIX Đầu thế kỷ XIX, khu vực trung tâm thành phố Nam Định ngày nay đã trở thành một nơi phố xá đông đúc, buôn bán tấp nập

Năm 1883, sau khi bình định Nam Định, thực dân Pháp đã nhanh chóng phân chia lại địa giới hành chính và bắt tay vào khai thác thuộc địa Dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cấu trúc kinh tế- xã hội và bộ mặt của Nam Định đã có những biến đổi sâu sắc và toàn diện Chỉ trong vòng hơn chục năm, bộ mặt thành phố đã hoàn toàn đổi khác Tòa thành cũ đã bị người Pháp phá dỡ từng phần Thay vào đó là những công sở, dinh thự mới mọc lên Những đường phố mới được rải nhựa, đèn điện thắp sáng đêm đêm Kho tàng, bến bãi, nhà ga xe lửa được xây dựng, tạo cơ sở cho việc xuất hiện Nhà máy dệt, Nhà máy tơ, Nhà máy chai

Dân cư thành Nam cũng tăng nhanh với một kết cấu mới, đủ mặt mọi thành phần của cư dân đô thị cận đại: công nhân, tư sản, tiểu tư sản, học sinh, trí thức tự do, quan chức thực dân và bản xứ cùng một số không nhỏ nông dân ven thị Nam Định dần trở thành một trong ba đô thị lớn nhất Bắc Kỳ thời Pháp thuộc

Ngoài các tầng lớp cũ, tư sản được hình thành Cuối thế kỷ XIX, đầu XX, đội ngũ tiểu tư sản phát triển nhanh chóng theo đà đô thị hoá ở Nam Định Họ bao gồm các thị dân, thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ…

Trang 18

Dưới tác động của hai cuộc khai thác thuộc địa trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm xuất hiện các giai tầng xã hội mới ở Nam Định, đại diện cho phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa Các lực lượng xã hội mới chỉ là thiểu số, nắm trong tay một tiềm lực kinh tế hết sức hạn hẹp

Cơ cấu xã hội truyền thống ở Nam Định đã bị biến đổi và xáo trộn mạnh, nhưng chưa bị phá vỡ và thay đổi căn bản Chính điều này đã làm bộc lộ rõ tính chất nửa thuộc địa nửa phong kiến của xã hội Việt Nam nói chung và Nam Định nói riêng

Những biến đổi về kinh tế - xã hội và quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây ở Nam Định đã dẫn đến những chuyển biến mới trong sinh hoạt văn hóa Sự chuyển biến đó được biểu hiện rõ nét nhất trong sự hình thành nếp sống đô thị ở thành phố Nam Định Nhưng mặt khác, quá trình đô thị hóa và việc du nhập lối sống phương Tây vào Thành Nam cũng làm nảy ra nhũng thói hư tật xấu mới như trộm cướp, đĩ điếm, nghiện hút

Chuyển biến lớn nhất về giáo dục ở Nam định từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế

kỷ XX là sự tàn lụi của nền giáo dục Nho học và thay vào đó là nền giáo dục mới –Tây học Giáo dục ở Nam định mới chỉ dừng lại ở một cấp độ thấp, chủ yếu là tiểu học và chỉ một số rất ít người được đi học, còn lại đại đa số nhân dân là mù chữ

Sau khi chiếm được thành Nam Định năm 1884 thực dân Pháp đã bắt đầu tính đến việc xây dựng một thành phố ở đây Các công sở của người Pháp lần lượt mọc lên trên các phố phường như: Toà công sứ, Toà án Tây, Sở kho bạc , bên cạch đó là các nhà máy, xí nghiệp như: Nhà máy chai, nhà máy rượu, nhà máy sợi Hệ thống chợ phục vụ nhu cầu trao đổi hàng hóa rất phát triển trong đó có 4 chợ lớn: Chợ Rồng, chợ

Vị Hoàng, chợ Của Trường

Thành phố Nam Định, không chỉ là một thành phố công thương nghiệp nổi tiếng đầu thế kỷ XX, mà còn trở thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa - tư tưởng lớn, một điểm tiếp xúc của luồng giao lưu văn hóa Đông - Tây Các cụ Phan Bội Châu, Lương

Trang 19

Văn Can đều đã tìm đến Nam Định, tuyên truyền và vận động sự ủng hộ của nhân dân Nam Định tham gia phong trào Đông Du và Đông Kinh nghĩa thục

Tiểu kết:

Sống trong cảnh mất nước và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, Trần Tế Xương được coi là nhà nho thị dân đầu tiên ở Việt Nam Trong xã hội đặc biệt, mọi trải nghiệm của Trần Tế Xương khác các nhà nho truyền thống- không cung phụng trong chốn quan đường, không thả mình, ngâm vịnh ở chốn thiên nhiên u tịch , tính chất thị dân của Tú Xương đã được khẳng định qua cách ông tự giới thiệu: “Ở phố hàng Nâu”

(Tự vịnh), và “Quen lối sống thị thành” (Phú hỏng thi), “Sáng vác ô đi tối vác về” (Tự ngụ)

Trang 20

Chương 2: NHẬN DIỆN LẠI CON NGƯỜI TRẦN TẾ XƯƠNG THÔNG QUA CÁCH ỨNG XỬ TRƯỚC SỰ BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HOÁ- XÃ HỘI BUỔI GIAO THỜI

2.1 Tú Xương với tư cách là con người xã hội

Nếu dựa vào tiêu chí Nho gia để đánh giá Tú Xương là nho hay phi nho, ta thấy tuy bề ngoài có mâu thuẫn vì lúc thế này lúc thế kia, nhưng về bản chất trong ông vẫn

có sự thống nhất trong một mẫu nhà nho khác, mới hình thành trong xã hội cuối thế kỉ XIX, đó là nhà nho thành thị

2.1.1 Tu thân:

Tu thân là khái niệm then chốt của nho giáo, là hành xử quan trọng đối với bậc quân tử Tú Xương vẫn là một nhà nho chăm chăm đèn sách, hòng mong tiến thân trên con đường khoa cử, nhưng dường như không thấy xuất hiện ý niệm tu, tề, trị, bình ở con người ông Đối với nho sĩ, một khi đã bước chân vào cửa Khổng sân Trình thì đều thấm nhuần tinh thần của nho giáo là con người phải ý thức vấn đề tu thân và coi trọng việc giữ gìn truyền thống đạo lý

Trong thơ ca truyền thống, nhà nho luôn luôn đề cao và ý thức việc tu thân, rèn luyện mình thành người quân tử Khái niệm tu thân được nhắc tới khá nhiều, ngoài việc thể hiện tấm lòng luôn hướng về nghĩa quân thân với ước mong được báo đáp đền

ơn của một kẻ bề tôi hết lòng vì dân vì nước, còn là thái độ coi thường công danh phú quý

Coi thường công danh phú quý họ tìm đến với cuộc sống giản dị, hoà hợp với thiên nhiên để di dưỡng tinh thần Họ vui với bữa cơm dưa muối, áo bô, hài cỏ, chè mai, hiên nguyệt, con lều, am quán

Sống vui với thiên nhiên, các nhà nho cũng luôn dặn lòng mình nhớ cho bền đạo trung dung, giữ lấy cái đạo của người quân tử Có được đạo trung dung là có được sự điều hòa, sự quân bình trong cuộc sống Đó mới là bí quyết của cuộc sống, bí quyết của hạnh phúc

Trang 21

Đối với họ, ý thức tu thân còn là ý thức học tập các vị tiền bối, coi họ là tấm gương sáng để noi theo Đó là các tấm gương của các bậc trung thần nghĩa sĩ, các bậc tài cao đức trọng, các văn nhân thi sĩ đã trở thành biểu tượng cho nhân cách sáng ngời của các nhà nho: Trương Lương, Tiêu Hà, Văn Chính, Chu Công, Y Doãn, Đỗ Phủ, Đào Tiềm

Con người cũng nên tránh xa những thói xấu, tránh xa sắc, xa rượu chè, cờ bạc Những lời khuyên này không chỉ là lời giáo huấn khô khan mà là lời của những người từng trải, tha thiết muốn giữ gìn thế đạo, tha thiết muốn giữ lấy đạo lý dân tộc đang bị mai một

Như vậy, đạo lý nói chung và vấn đề tu thân nói riêng là nội dung quan trọng trong thơ ca trung đại Bởi theo Nho giáo, văn chương phải có tác dụng cải tạo con người, động viên, tổ chức hoàn thiện xã hội Do đó, mệnh đề “văn dĩ tải đạo” đề cao chức năng giáo huấn của văn chương trở thành quan điểm chính thống chi phối đến sự phát triển của toàn bộ nền văn học trung đại

Với Tú Xương, ta lại thấy xuất hiện một con người sống buông xả, để cảm xúc

và ứng xử chảy theo bản năng và sở thích Ông không ngại ngần tự nhận mình rằng:

Bài bạc, kiệu cờ cao nhất xứ Rượu chè, trai gái đủ tam khoanh

Cao lâu biết vị, thanh lâu biết mùi

(Hỏi ông trời)

Trang 22

Lối sống tu thân khắc kỷ không còn là tiêu chuẩn đầu tiên để hành xử theo đối với nhà nho thị dân Tú Xương Ông thả mình ăn chơi và ngông ngược nói lên những

“thú” vui đấy một cách trâng tráo Những thú vui đi ngược lại với truyền thống cũng như cung cách vốn có của một nhà nho Nó không chỉ phá vỡ ý thức tu thân đầy chỉn chu của nho giáo mà còn vượt ra ngoài tính quy phạm của giọng điệu ngôn chí nho gia

Cái tôi Tú Xương được bộc lộ rõ đầy cá tính Tuy vẫn dùi mài theo khoa cử, vẫn lều chõng đi thi, nhưng không chú tâm nơi sách vở, mà “Mỗi năm ông học một vài câu”, và chủ yếu chỉ học “Lạc nhạn Xuyên tâm đủ ngón chầu” Ta thấy Tú Xương không để chí nơi học hành, mà mải mê với những cuộc chơi nằm ngoài truyền thống nho giáo Không những không tu thân lập chí theo gương thánh hiền, Tú Xương cũng không tha thiết đạo thánh hiền Đỗ tú tài, mở lớp dạy học, nhưng ông Tú chỉ dạy:

Dạy câu kiều lẩy, Dạy khúc lí Kinh, Dạy ngón trống phách, Dạy khúc Dương tranh

Dạy những khi xuống ngựa lên xe, đứng ngồi phải phép Dạy những lúc cao lâu chiếu hát, ăn nói cho sành

(Phú thầy đồ dạy học)

Đối với nhà nho truyền thống, tu thân còn là giữ cho tình cảm luôn luôn ở trạng thái ôn nhu, quân bình Họ luôn cố gắng giữ mình, không để cho bản thân tức giận quá, vui mừng quá, say sưa quá, bởi ưu toan quá mức sẽ hỏng việc Nhưng với Tú Xương, ông để cảm xúc chảy theo bản năng Người đọc thấy thú vị khi đọc những câu thơ thể hiện sự “ân hận” của ông sau những cuộc chơi, cuộc say

Đây là Chừa gái:

Một trà, một rượu, một đàn bà

Ba thứ linh tinh nó hại ta Chừa được thứ nào hay thứ ấy

Trang 23

Phải chăng chừa rượu với chừa trà

Và đây là Chừa rượu:

Những lúc say sưa cũng muốn chừa Muốn chừa nhưng lại tính hay ưa Hay ưa nên nỗi không chừa được Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa

Tú Xương không ép mình trong “lễ” nghiêm ngặt của một nhà nho đạo mạo, ứng xử theo đạo nho, ông thích sống theo bản năng và sở thích như một con người bình thường cần có nhiều nhu cầu, nhiều ước muốn Con người ấy khi hành động không phải ngước nhìn ai, không phải nhìn trước nhìn sau, không phải dè chừng hay ái ngại bất cứ một điều gì Hơn một lần ông ca ngợi hình tượng chú Mán, một tính cách có nhiều nét lạ, rất ngông và phớt đời:

Phong lưu nhất ai bằng chú Mán Trong anh em chúng bạn đều thua xa Buổi loạn li bốn bể không nhà

Răng chẳng nhuộm, vợ chẳng lấy, lụa là chẳng mặc

Mán chỉ làm đủ tiền tiêu vặt Khi cao lâu, khi cà phê, khi nước đá, khi thuốc lá, khi đủng đỉnh ngồi xe

Sự đời Mán chẳng buồn nghe

(Chú Mán)

Hình tượng chú Mán sống ngoài vòng cương tỏa của lễ nghi nho giáo được Tú Xương ca ngợi đầy thích thú và ngưỡng mộ Đối với nhà nho này, lối sống tu thân khắc

kỉ không còn là tiêu chuẩn đầu tiên để ông hành xử theo

2.1.2 Đối với gia đình

Theo nho giáo, mọi người đều bị trói buộc trong các quan hệ gia đình: vợ- chồng, cha- con, anh-em Học thuyết này cũng vạch ra rằng, để giữ được sự bình ổn

Trang 24

trong gia đình thì mọi cá nhân đều phải thực hiện đúng chức phận của mình, có nghĩa

là cha ra cha, con ra con, chồng ra chồng, vợ ra vợ Và trong mối quan hệ vợ chồng thì phu xướng phụ tùy, người phụ nữ rất ít khi được coi trọng

Hình ảnh người vợ đã đem lại nhiều cảm hứng cho không ít nhà nho trung đại

Nguyễn Bỉnh Khiêm có Thơ vịnh đạo vợ chồng (Phu phụ thi), Phạm Nguyễn Du có Đoạn trường lục, Phạm Thái có Văn tế Trương Quỳnh Như, Nguyễn Khuyến cũng có khá nhiều thơ viết cho các bà vợ: Nhất vợ nhì giời, Khuyên vợ cả, Vãn thiếp Phạm thị (Khóc người vợ thiếp họ Phạm) Tuy nhiên, Văn tế sống vợ thì đến Tú Xương mới có

Hình ảnh người vợ hiện lên trong thơ các nhà nho là hình ảnh người phụ nữ cần mẫn, chịu khó, giữ trọn phận người phụ nữ tao khang Nhưng những chân dung ấy chỉ mang tính khái quát, ý tưởng cốt để ngôn chí, cảm hoài Đến Tú Xương, ông khắc họa

chân dung người vợ cụ thể, mang đậm tính cá thể hóa trong các bài Thương vợ, Văn tế sống vợ, Đang ốm nghe vợ khấn cầu Đó là những bài thơ Tú Xương lấy cảm hứng trực

tiếp từ người vợ Phạm Thị Mẫn tần tảo của ông

Qua những lời thơ đó, ta thấy Tú Xương một mực yêu thương và tôn trọng vợ Ông vì hoàn cảnh đặc biệt (thi mãi chỉ đỗ tú tài) nên cuộc sống của nhà thơ và các con ông đều trông cậy ở tài làm ăn xoay xở của bà Tú:

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

(Thương vợ)

Các nhà nho xưa dẫu hết sức cảm thương nỗi vất vả của các bà vợ nhưng chỉ có thể giãi bày nỗi thương cảm một cách chừng mực và kín đáo Nhưng Tú Xương lại mạnh bạo “đặc tả” chân dung, tính cách của vợ qua những suy nghĩ bằng việc tường thuật, miêu tả công việc:

Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ

Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ

Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn,

Trang 25

Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một bệnh hay gàn hay dở

Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười,

Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ

Gần xa nô nức, lắm gái nhiều trai,

Sớm tối khuyên răn, kẻ thầy người tớ

Ông tu tác cửa cao nhà rộng, phó mặc tay dâu,

Anh lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ

(Văn tế sống vợ)

Bằng lối tả chân, Tú Xương đã khắc họa chân dung vợ cụ thể từ diện mạo, tính tình đến lai lịch Ông bỡn cợt tính gàn dở, sự vụng về của vợ cũng là để khen tính thật thà và sự tần tảo của bà Tú Bài văn tế là cách bộc lộ tình cảm yêu thương trìu mến của ông đối với người vợ hiền thục

Tú Xương thương vợ bởi ông ý thức được sự vất vả khó nhọc của vợ, ông ý thức được sự ăn chơi vô trách nhiệm cũng như sự “dài lưng tốn vải” của mình Theo tiểu sử, Tú Xương cũng thuộc dòng dõi nho gia, nhưng do thời thế và việc làm ăn thua

lỗ, gia đình dần đi vào bại sản Ông kết hôn với bà Phạm Thị Mẫn và có với nhau tám người con Tú Xương sinh thời hầu như ngoài việc học hành, thi cử, làm thơ phú thì không có nghề gì cả Cuộc sống vật chất nhờ cả vào bà vợ đảm đang tần tảo Ý thức được vai trò của vợ, dường như Tú Xương biết ơn và trân trọng vợ nhiều hơn Những tình cảm dành cho vợ là có thực nhưng ta vẫn thấy ở ông “thương” nhiều hơn “yêu”

Còn bản tính ăn chơi của Tú Xương thì không phải bàn Mặc dù nhà không lấy

gì khá giả, nhưng lúc nào cũng ăn mặc “hợp thời trang”:

Quanh năm phong vận, áo hàng tàu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh

Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giầy Gia Định bóng

(Phú hỏng khoa Canh Tý) Người vợ lúc nào cũng lo đủ cho chồng, kể cả việc ăn chơi Theo giai thoại Mùa nực mặc áo bông, việc nhà thơ mặc áo bông trong lúc bức sốt là để chọc vợ Số tiền bà

Trang 26

đưa cho ông may áo sa hoa Tàu đã bị ông trót tiêu hết, nên ông mặc áo bông cho bà sốt ruột mà phải đưa tiền cho ông lần thứ hai Cũng có nhiều ý kiến cho rằng, những bài

thơ Thương vợ, Văn tế sống vợ được viết ra sau những lần vợ giận như thế Những lời

thơ thể hiện sự tôn kính đó chẳng qua lại là những lời vuốt đuôi nịnh vợ- một người vợ tần tảo, đảm đang và tháo vát Đó là những lời xoa dịu cơn giận của vợ sau những đợt

ăn chơi tơi bời và quá tay của ông

Có thể với Tú Xương, người vợ cần mẫn và chịu khó ấy, ông chỉ biết ơn và tôn trọng, còn tấm tình với nghĩa tình yêu, tình trai gái ông lại để chỗ khác: Đã rất nhiều

lần ông viết thơ cho cố nhân (Áo bông che đầu, Tự tiếc), thơ cho nhân tình (Gửi cho cô đào, Đi hát mất ô, Thú cô đầu ), thơ cho một bóng hồng thoáng gặp (Hóa ra dưa)

Bài thơ Áo bông che đầu, ông viết cho người tình cũ là bà Hai Đích Theo giai

thoại, trước khi lấy bà Tú, Tú Xương yêu cô con gái của ông tiến sĩ Vũ Công Độ, tức

cô Hai Đích Hai người không đến được với nhau, nàng đi lấy chồng rồi chàng cũng đi lấy vợ Nhưng sau đó, bà Hai Đích góa chồng, đưa con về sống với bố mẹ Gặp lại người tình cũ, tình cảm của ông vẫn còn tha thiết:

Ai ơi, còn nhớ ai không?

Trời mưa, một mảnh áo bông che đầu

Nào ai có tiếc ai đâu?

Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô

Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ

Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình Non non, nước nước, tình tình

Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ!

(Áo bông che đầu)

Nhà thơ nhắc nhớ người bạn tình về một hoài niệm đẹp Đó là sự cảm thông, đồng cảm với nỗi mất mát của người tình:

Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ

Trang 27

Kẻ về khóc trúc, than ngô một mình Rồi cả những bài thơ gửi tặng tình nhân đầy tình tứ, nồng nàn:

Đêm qua anh đến chơi đây Giày giôn anh dận, ô tây anh cầm

Rạng ngày sang trống canh năm Anh dậy, em hãy còn nằm trơ trơ

Hỏi ô, ô mất bao giờ, Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa

Chỉ e rày gió mai mưa Lấy gì đi sớm về trưa với tình?

(Đi hát mất ô)

Lời thơ ban đầu nhuốm sự sỗ sàng, táo bạo, tưởng chừng như chỉ là thứ tình

cảm ăn bánh trả tiền Đọc đến đây, Nguyễn Đình Chú trong bài viết : Tú Xương, nhà thơ lớn của dân tộc đã phải thốt lên: “Tình gì mà tệ mạt thế!” “Nhưng điều đáng quý

là Tú Xương phong tình ở đây đã không chịu để cho cái tầm thường, cái đớn hèn từ phía kia đè tất cả xuống, mà chỉ một nỗi băn khoăn:

Chỉ e rày gió mai mưa Lấy gì đi sớm về trưa với tình?”

Chỉ hai chữ “với tình”, Tú Xương đã làm cho bài thơ kết lại rất đẹp, nâng tình cảm ấy lên mức thanh cao

Tú Xương quả là đa tình Bất chợt gặp người con gái đẹp, ông sân si ngay:

Ước gì ta hoá ra dưa

Để cho người tắm nước mưa chậu đồng !

Ước gì ta hoá ra hồng

Để cho người bế người bồng trên tay !

(Hóa ra dưa)

Trang 28

Đây là cách tỏ tình, chọc ghẹo vừa tình tứ, ý nhị giống như trong ca dao dân gian, nhưng cũng đầy sỗ sàng, bốp chát kiểu Tú Xương Nỗi ước ao và khát khao yêu đương của Tú Xương dẫu tha thiết, gần gũi trần tục nhưng được diễn tả đầy cách điệu mang hơi hướng ca dao

Nói thế ra để thấy Tú Xương, một bên vẫn hết mực yêu quý và tôn trọng vợ; nhưng một bên là chân dung của một kẻ đa tình, ong bướm Đây là đạo đức lệch chuẩn với tiêu chí tam cương của nho giáo, người chồng không làm đúng chữ danh của mình

Không chỉ nhà nho Tú Xương không làm tròn danh phận của một người chồng Đối với tư cách một người con, người anh, người cha, ông cũng không làm tỏ rõ lòng hiếu đễ Không lo được cho vợ đã đành, lại ăn bám vợ, ‘làm thuê’ cho vợ Ông Tú mải rong chơi không màng việc nhà, không quan tâm đến con cái, nên bà Tú phải đón về dạy con, trả lương như thầy đồ người ngoài Nhận thấy mình không được đối đãi chu tất «Quần áo rách rưới Ăn uống xô bồ », nên ông « nhăn nhở »:

Sao dám khinh mình, thầy đâu thầy vậy Không biết trọng đạo, cô lốc cô lô

(Phú thầy đồ tại gia)

Trách vợ, nhưng bản thân ông lại không làm đúng công việc của một thầy đồ dạy chữ nghĩa, dạy khuôn phép thánh hiền mong cho con sau này đỗ đạt, mà ông chỉ dạy các ngón đàn, điệu hát, cách cầm chầu, nhịp phách dạy đủ các ngón ăn chơi

Như vậy, trong gia đình, đối chiếu với cách xử sự lẽ ra phải có, thì Tú Xương là người bài bây, vô trách nhiệm, "lạm dụng sự tín nhiệm", và khi bị vợ phản ứng thì

"nhăn nhở" Nhà Nho truyền thống (trong bối cảnh nông thôn xưa) không bao giờ xử

sự với vợ con như thế Đối với các con, ông cũng không quan tâm thực sự và chu đáo Được vợ "thuê" dạy học cho chính con mình (để rồi "Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ") thì ông ấy "dạy " con toàn chuyện đàn đúm, ăn chơi sành điệu, chứ không phải dạy theo phương pháp và nội dung của lớp học truyền thống Xét với tư cách người cha, ông là

Trang 29

người vô trách nhiệm, xét tư cách người thầy, ông không phải là một "thầy giáo mẫu mực" theo cách nhìn truyền thống

2.1.3 Thái độ của Tú Xương đối với minh quân lương tướng

Trong thơ Tú Xương, không có bài nào lấy cảm hứng ca ngợi vua sáng tôi hiền,

ca ngợi đấng minh quân lương tướng, ca ngợi mẫu hình hoàng đế điển hình phương đông Cũng trong thời biến loạn, Tú Xương lại rất khác với nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu Dù thời cuộc có chuyển biển, có thay đổi, vua chúa có hèn kém từng bước dâng nước cho ngoại xâm, nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn một mực ca ngợi những con người “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc” bởi theo ông, họ luôn luôn ý thức “tấc đất ngọn rau ơn chúa”, hiểu được “chữ thiên dân”, “câu vương thổ” Nhưng với Tú Xương, cũng trong thời cuộc biến động đó, thiên tử dường như vắng bóng Và chắc hẳn trong quan niệm của ông, vai trò của vua đã mờ nhạt Mối quan hệ vua- tôi không được đề cập trong những tác phẩm của nhà nho này Có chăng chỉ là thấp thoáng hình ảnh đấng trượng phu với tâm thế và thái độ mới:

Mấy năm vượt bể lại trèo non

Em hỏi thăm qua bác hãy còn

Mái tóc Giáp Thìn đà nhuộm tuyết Điểm đầu Canh Tý chửa phai son

Vá trời gặp hội, mây năm vẻ Lấp bể ra công, đất một hòn

Có phải như ai mà chẳng chết?

Giương tay chống vững cột càn khôn

(Gửi ông thủ khoa Phan)

Bằng cảm quan của kẻ sĩ thị dân, Tú Xương đã bước một bước dài ra khỏi sự cách điệu và điển phạm trong sự thể hiện cảm hứng về con người mang đậm chất lí tưởng tạo nên một hệ thống cảm hứng mới về con người và thế giới Bài thơ xây dựng

“hình ảnh người anh hùng “vượt bể trèo non” và “giương tay chống vững cột càn

Trang 30

khôn” thật hiên ngang và đầy tráng khí Con người ấy mang một trọng trách nặng nề với một tinh thần quyết chí xả thân vì nước Nhưng con người ấy cũng thật cô độc:

“Lấp bể ra công đất một hòn” Bài thơ khép lại thật đẹp với một hình tượng con người

lí tưởng, nhưng so với âm điệu của câu thơ ca ngợi tráng khí cái thế của người anh hùng mà Nguyễn Khuyến đã dành cho Nguyễn Trãi “Xắn tay đỡ trời ôm chí lớn” thì quả là âm điệu ở đây không vút cao hào sảng mà chùng hẳn xuống đượm vẻ ngậm ngùi cay đắng

Ngoài ra, một bài thơ khác, đề là Nhớ bạn, nhiều ý kiến cho rằng nhà thơ thể

hiện tấm lòng đối với cụ Phan khi ông “xuất dương lưu biệt”:

Ta nhớ người xa cách núi sông, Người xa, xa lắm, nhớ ta không?

Đã từng vui lắm, thêm buồn bã, Vừa mới quen nhau hóa lạ lùng

Khi thấy thấy gì trong mộng mị, Nỗi riêng riêng cả mảnh tình chung

Tương tư lọ phải là trai gái, Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng

“Bài ấy có câu 7 tỏ ra là không phải thơ tương tư trai gái rồi, nhưng nói rằng nhớ cụ Sào Nam thì cũng chẳng lấy gì làm đích xác, duy có bốn chữ "người xa xa lắm", cho là chỉ kẻ đi trốn ra nước ngoài, không mong về được thì hoạ chăng có lẽ mà thôi Song có người biết việc lúc bấy giờ, nói ông Tú Xương làm bài ấy là ngụ ý nhớ

cụ Phan thật, có điều giấu đi mà không đặt đầu đề rõ ràng, chỉ dùng chữ “tương tư” đó

thôi” (Phan Khôi)

Thời đại Tú Xương đang sống- cũng là thời đại Nguyễn Khuyến đang sống- là thời đại của những anh hùng thất bại, thời đại của buổi giao thời đông tây với nhiều điều lố lăng bỉ ổi, lí tưởng nhà nho phong kiến đang sụp đổ thảm hại trước sức mạnh vật chất và vũ khí của phương tây Con người trong thơ Tú Xương ở đây là con người

Trang 31

của thực tại- tuy là người anh hùng cái thế nhưng là anh hùng của thời đại thất bại, hoàn toàn khác với con người trong thơ của Nguyễn Khuyến là con người của quá khứ- người anh hùng của thời đại chiến thắng Còn những anh hùng của thời đại mới, thời đại cách mạng chưa xuất hiện Cũng sống trong không khí thất bại bao trùm của thời đại như Nguyễn Khuyến, nhưng Tú Xương lại không có được cái cảm hứng trong ánh hồi quang về thời quá khứ như nhà nho hiển đạt Nguyễn Khuyến, do vậy mà, nhà thơ-

kẻ sĩ thất bại thành Nam đã không thể bay bổng trong cảm hứng về con người anh hùng, con người vũ trụ- sử thi theo mạch cảm hứng của tư duy thơ ca cổ điển

2.1.4 Con đường học vấn khoa cử

Như các nhà nho khác, Tú Xương cũng gắn liền với khoa cử Cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của ông đã trải qua 8 lần thử thách nơi cửa Khổng sân Trình Đó là minh chứng cho khát vọng được vinh thân hiển danh của bao sĩ tử thời xưa Lập thân bằng khoa cử là ước mơ và con đường duy nhất của các nho sĩ Con đường tiến thân của Tú Xương không mấy bằng phẳng Tám lần lều chõng đi thi và chỉ đỗ tú tài thiêm thủ (lấy thêm, đỗ vớt) Có thể nói, Tú Xương không phải là người xoàng về chữ nghĩa, song có

lẽ do tinh thần nghệ sĩ phóng khoáng, lại đề cao “phong nguyệt tình hoài, giang hồ khí cốt” nên ông khó có thể ép mình theo lối văn chương cử tử gò bó Ông đã không khiêm tốn mà nói rằng:

Rõ thực nôm hay mà chữ dốt Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy

Trang 32

Êm ái cung đàn chen tiếng hát

La đà kẻ tỉnh dắt người say Thú vui chơi mãi mà không chán

Vô tận kho trời hết lại vay

(Thú cô đầu)

Hay:

Có phải rằng ông chẳng học đâu Một năm ông học một vài câu

Ví dù vua mở khoa thi trống

“Lạc nhạn”, “Xuyên tâm” đủ ngón chầu

(Ngón chầu)

Học hành thi cứ đối với Tú Xương cứ dở dở ương ương, ông vừa muốn “Lăm le bảng vàng cho vang mặt vợ”, vừa lại “Cứ việc ăn chơi chẳng học hành”, để đến nỗi vào trường thi mà vẫn “Sờ bụng thấy không một chữ nào” Theo sát con đường hoạn lộ của

Tú Xương, ta thấy lúc đầu tưởng chừng như ông chỉ dềnh dàng trong chuyện thi cử:

“Tấp tểnh người đi tớ cũng đi, Cũng lều cũng chiếu cũng đi thi” (Đi thi) Đối với ông,

thi cử và đỗ đạt may ra chỉ:

No ấm chưa qua vành mẹ đĩ

Đỗ đành may khỏi tiếng cha cu

(Hỏi mình)

Nhưng thi mãi không với lấy được chữ cử nhân, dần dần ông đã sốt ruột:

Học đã sôi cơm nhưng chửa chín;

Thi không ăn ớt thế mà cay!…

(Thi hỏng)

Rồi phát hoảng:

Một việc văn chương thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế có ra gì!…

Trang 33

(Buồn thi hỏng)

Và tức giận:

Đổi Tế thành Cao mà chó thế Kiện trông ra tiệp hỡi trời ơi

(Hỏng thi khoa Quý Mão 1903)

Sự ôn nhu đôn hậu và quân bình trong tình cảm vốn có của nhà nho dường như không thấy trong con người Tú Xương, đằng sau những bài thơ đả kích ta dễ thấy một tâm tính không mấy phóng khoáng và một tâm địa có phần hẹp hòi

Khác với nhà nho tài tử Nguyễn Công Trứ, dù có thi hỏng thi rớt nhưng vẫn nuôi chí nam nhi và ý thức được phận mình trong xã hội, trời đất để kiên trì lập thân cho bằng được:

Nặng nề thay hai chữ “quân thân”

Đạo vi tử, vi thần đâu có nhẹ

(Trên vì nước, dưới vì nhà)

nhưng với Tú Xương, tâm thế của người học hành thi cử dường như cũng khác, có dấu hiệu của một cá thể muốn vượt ra ngoài những quy tắc của khoa cử nho giáo đương thời

2.1.5 Đối với thương nhân và những lề thói khác

Ở Tú Xương, thái độ với con buôn, những người làm thương mại có sự mâu thuẫn Cuối thế kỉ XIX, đô thị hóa phát triển, hình thành tầng lớp thương nhân nhỏ Đặc biệt, Nam Định quê hương ông lại là kinh đô thứ hai, là nơi phát triển nhất nhì thời

đó Cái phi nho của Tú Xương là thái độ với thương nhân Ông không coi khinh, miệt thị tầng lớp này Bố mẹ, vợ ông đều là những người buôn bán nhỏ, ông hết sức ca ngợi

và biết ơn họ:

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng

(Thương vợ)

Trang 34

Tuy nhiên, Tú Xương lại “dị ứng” hoặc có thể chưa thích ứng với cách thức buôn bán mới, kiểu cò mồi, ngoại giao, coi khách hàng là thượng đế, đút lót rất con buôn Trong bối cảnh sinh hoạt thành thị sầm uất, nhộn nhịp, Tú Xương vẫn chú ý đến

những đổi thay tiểu tiết, khó nhận biết nhất Bài thơ Mồng hai tết viếng cô Ký thấm

đẫm niềm cảm thương của nhà thơ về cái chết của cô gái trẻ, chê trách thái độ hờ hững của người chồng phụ bạc, nhưng đồng thời phê phán thái độ của người chồng- tiểu thương- coi trọng mối lợi nhuận của cửa hàng hơn là người vợ:

Cô Ký sao mà đã chết ngay?

Ô hay, trời chẳng nể ông Tây!

Gái tơ đi lấy làm hai họ Năm mới vừa sang được một ngày

Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ, Ông chồng thương đến cái xe tay!

Gớm gan cho những cô con gái Còn rủ rê nhau lấy các thầy!

(Mồng hai tết viếng cô Ký)

Cô là vợ hai của một ông Ký, mở hiệu xe tay, được chồng sai đi giao dịch với tên cẩm Tây để kiếm lợi Nhưng cái chết đột ngột của cô không hề khiến ông chồng mảy may thương tiếc mà hắn chỉ thương cái xe tay từ nay không ai lo Bài thơ thể hiện

sự băng hoại đạo đức, dùng vợ làm phương tiện để kiếm tiền một cách vô liêm sỉ Hình ảnh “cái chết” của cô Ký và hình ảnh “câu đối đỏ” ngày tết thành một cặp đối lập, tăng thêm tính chất bi kịch của cuộc đời con người

Tú Xương tinh tường phát hiện những kiểu mồi chài, chèo kéo khách mới của đám thương nhân thành thị Đây là kiểu làm ăn mới, coi khách hàng là thượng đế, vì lợi nhuận, họ có thể làm bất cứ điều gì, kể cả trái với thuần phong mĩ tục và trái với lẽ thường của nhân cách:

I Nước buôn như chị mới ăn người

Trang 35

Chị thấy ai đâu chị cũng cười Chiều khách quá hơn nhà thổ ế Ðắt hàng như thể mớ tôm tươi Tiền hàng kẻ thiếu, mi thường đủ Giá gạo đầu năm, đấy vẫn mười Thả quýt nhiều anh mong mắm ngấu Lên rừng mà hỏi chú đười ươi

II Ai đấy ai ơi khéo hợm mình ! Giàu thì ai trọng, khó ai khinh Thằng Ngô mất gánh, say câu chuyện Chú lái nghiêng thoi, mắc giọng tình

Có khéo có khôn thì có của Càng giàu càng trẻ lại càng xinh Xuống chân lên mặt ta đây nhỉ ! Chẳng biết rằng dơ dáng dạng hình

(Gái buôn)

Từ việc Tú Xương không thể hòa nhập với cách thức buôn bán mới, kéo theo một loạt hiện tượng phê phán mới xuất hiện Ông nhìn ra rất nhiều hiện tượng mạo phạm với quy tắc nho gia: sư đi lọng, cô gái thị dân mặc váy dài, đội khăn to như tày

rế, Mán ngồi xe

Khăn là bác nọ to tày rế Váy lĩnh cô kia quét sạch hè Công đức tu hành sư có lọng

Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe

(Năm mới)

Trang 36

Những sự kiện mà chỉ xã hội này mới có, lại được soi dưới hệ quy chiếu cũ, nên

nó vừa “chân lý” lại vừa “thành kiến” Những cái gọi là “lẽ phải thông thường”, hệ quả tất yếu của sự biến đổi xã hội, đã không được Tú Xương kịp thích ứng và chấp nhận, thế nên xuất hiện những lời đả kích và trào lộng chua cay nhưng đầy bất lực Đây chính

là những yếu tố mang tính thời đại mà chỉ đến xã hội này mới có Và cũng chỉ có nhà nho thị dân mới được chứng kiến, mà cũng chỉ có với con mắt sắc sảo của Tú Xương mới nhận ra

Trên đây là những thái độ, quan niệm, lối sống của Tú Xương trong buổi giao thời Nhà nho thị dân này dường như đang dần bật ra khỏi những quan niệm cố hữu của nho giáo để ứng xử với xã hội, với con người mới

2.2 Tú Xương với tư cách là tác giả văn học

Dựa vào tiêu chí mang tính chất hệ hình của văn học để xét những yếu tố phi truyền thống trong thơ Trần Tế Xương

2.2.1.Quan niệm và tư tưởng thẩm mỹ trong văn học

2.2.1.1 Cảm quan thời đại của Tú Xương:

Bối cảnh văn hóa buổi giao thời và đặc trưng môi trường đô thị hóa ở Nam Định tác động sâu sắc đến con người nho gia như Tú Xương Sự va chạm giữa văn hóa cổ truyền với một nền văn hóa hoàn toàn xa lạ cùng với tính chất đô thị hóa trong xã hội Phương Đông có sự khác biệt làm nên những đổi thay nhanh chóng, chắc chắn sẽ khiến tâm thế và tâm lý của con người mang những nét rất riêng Với sự nhạy cảm vốn có,

Tú Xương thấy được sự đổ vỡ của trật tự đời sống; tính áp đặt của cái chính thống; sự đảo lộn của các thang bảng giá trị; sự bất an, mất niềm tin của con người

Những thay đổi căn bản từ bên trong thể hiện qua cái nhìn nhuốm màu bất lực của ông:

Nhà kia lỗi phép con khinh bố,

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

Keo cú người đâu như cứt sắt,

Trang 37

Tham lam chuyện thở những hơi đồng

(Đất Vị Hoàng)

Tú Xương đã nhìn nhận những biến đổi của đất Vị Hoàng bằng cảm nhận thế sự:

Trời kia xui khiến sông nên bãi

Ai khéo xoay ra phố nửa làng

(Vị Hoàng hoài cổ)

Vị Hoàng là quê cha đất tổ của nhà thơ Tú Xương Làng Vị Hoàng xa xưa có sông Vị Thủy chảy qua Ngày Tây chiếm đóng thành Nam, khi cờ ba sắc xuất hiện thì sông Vị Thủy bị lấp dần Vị Hoàng vốn là “nơi sang trọng, chốn nhiều quan” Nhưng rồi biển dâu biến đổi, trong buổi giao thời hổ lốn dở Tây dở ta, ngày càng lộn xộn tang thương, đạo lý sa sút, suy đồi, cái sự “phố nửa làng” thể hiện sự biến đổi và xáo trộn nhưng không thành một chỉnh thể toàn vẹn, nó khiến cho cuộc sống không mang màu sắc đặc trưng nông thôn, cũng không ra chốn thành thị đô hội Vùng đất Vị Hoàng nửa tỉnh nửa quê, là cơ hội cho sự du nhập những lối sinh hoạt bát nháo trà trộn Qua câu thơ ta thấy được sự xót xa của nhà thơ nhưng hoàn toàn bất lực, và qua lăng kính của cái nhìn đạo lý, ông chỉ có thể nêu lên những thói đời thoảng chút mỉa mai cay nghiệt

Buổi đầu đô thị hóa đã tạo nên sự bát nháo trong các mối quan hệ Đạo lý và các giá trị xã hội bị đảo lộn Bắt đầu là tầng lớp nhà nho, những trí thức của thời đại đương thời, là rường cột tương lai của quốc gia hiện lên trong thơ Tú Xương với bộ dạng:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa

(Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu)

Bộ dạng “lôi thôi” đối lập hoàn toàn với vẻ cung kính đạo mạo của những bậc trí thức xưa Hai câu thơ miêu tả cảnh nhập trường và xướng danh bằng hai nét vẽ đặc sắc Trường thi không còn là chốn tôn nghiêm nền nếp nữa, quá lộn xộn, quá ồn ào, khác nào cảnh họp chợ Sĩ tử thì lôi thôi nhếch nhác, mất đi cái vẻ nho nhã thư sinh

Trang 38

Quan trường, giám thị, cũng chẳng còn cái phong thái nghiêm trang, trịnh trọng vốn

có Bức tranh nhị bình biếm hoạ độc đáo này gợi tả lại cảnh hoàng hôn của chế độ phong kiến ở nước ta

Tú Xương cũng nhìn ra được bản chất của những trí thức của xã hội Không chú tâm vào cương thường đạo lý mà chỉ lo nỗi cờ bạc rong chơi:

Ông về đốc học đã bao lâu,

Cờ bạc rong chơi rặt một màu Học trò chúng nó tội gì thế?

Để đến cho ông vớ được đầu

(Ông cử nhu)

Ông cử nhu là con một nhà bán thuốc bắc, học lực tầm thường nhưng lại có bằng cử nhân, được cử làm chủ trì kì thi sơ khảo trường thi Nam Định khoa Canh Tí (1900) Tú Xương chế giễu ông chấm bài thi như bán thuốc bắc, vì nhà hàng thuốc bắc cũng có kiểu đánh dấu vào đơn thuốc lúc bốc thuốc, giống như dùng bút đỏ khuyên một vòng ở câu văn hay

Qua những bằng chứng cụ thể, Tú Xương rút ra được bản chất của những trí thức đương thời chẳng khác chi một thằng hề:

Nào có ra chi lũ hát tuồng!

Cũng hò cũng hét cũng y uông;

Dẫu rằng dối được đàn con trẻ

Trang 39

Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn!

(Hát tuồng)

Sự nhếch nhác, ảm đạm của con người và không gian trường thi qua cảm nhận của Tú Xương cáo chung cho buổi hoàng hôn của khoa cử Việt Nam Không khí còn sót lại là sự xô bồ, hỗn độn, trường thi dường như bị biến thành chợ thi, buổi chợ xế chiều chỉ còn sự tẻ nhạt, ảm đạm:

Mười người đi học chín người thôi

Cô hàng bán sách lim dim ngủ Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi

(Than đạo học)

Tú Xương thấy cái suy đồi và xuống dốc của đạo học Bằng cái nhìn phủ định, ông phác họa một bức tranh thể hiện sự rệu rã và tâm lý chán chường của kẻ sĩ Họ không còn sự hưng phấn và quyết chí, kiên trì theo đuổi khoa bảng Khoa cử không còn có sự sàng lọc tốt nhất nữa, nó như một phương tiện thăng tiến hổ lốn, và đượm mùi kim tiền Khung giá trị cho sự tiến thân vinh hiển của nhà nho mấy trăm năm nay,

đã đến hồi kết Thấy sự đổ vỡ của sự quy chuẩn một thời, không ai không khỏi xót xa

và hụt hẫng Với Tú Xương, đau lòng nhưng bất lực

Sự đô thị hóa chưa thực sự vào nếp, sự thay đổi trong văn hóa không chỉ khiến cho đạo học sa sút mà xã hội đang có sự xáo trộn ghê gớm Chứng kiến cảnh bản sắc đang dần mai một, đạo lý truyền thống đang bị phá vỡ, Tú Xương chỉ muốn:

Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ Giương mắt trông chi buổi bạc tình

Trang 40

những thói đời đó mới được phơi bày trần trụi và mới được bóc tách tới tận cùng Chính nhờ cảm nhận lạnh lùng mà Tú Xương đã quan sát được những cái tham lam, ích kỉ, vô nghĩa, sáo rỗng đằng sau tiếng “Năm mới chúc nhau” Hay là phơi bày được những hiện tượng tham lam, nhũng nhiễu, đĩ thõa, dâm ô, cúi luồn, kèn cựa, đủ thứ xấu xa:

Chồng chung vợ chạ kìa cô Bố Đậu lạy quan xin nọ chú Hàn

Tóm lại, bằng con mắt tinh tế, Tú Xương đã kéo tuột xã hội đương thời lên thơ một cách trần trụi Ông chứng kiến tất cả những đổi thay theo hướng tiêu cực theo quan điểm của nho gia, ông đau lòng và xót xa trước sự đổ vỡ của thang bảng giá trị cũng như chuẩn mực đã chung đúc và xây dựng qua mấy trăm năm Đằng sau những hình ảnh tưởng như lạnh lùng là cả một tấm lòng xót xa nhưng bất lực Bó tay trước thực tại, ông chỉ còn vùng vẫy chơi ngông, một kiểu thoát tục rất nghệ sĩ và rất Tú Xương

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
49. Trần Lê Văn (2000), Tú Xương- “Khi cười, khi khóc, khi than thở”, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi cười, khi khóc, khi than thở
Tác giả: Trần Lê Văn
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2000
1. Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nxb Văn học, Hà Nội Khác
2. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Cường b.s (1999), Từ điển văn học Việt Nam: từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
3. Nguyễn Thị Hoà Bình (1999), Con đường từ Nguyễn Khuyến đến Trần Tế Xương của văn học trào phúng, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
4. Hà Như Chi (2001), Thơ Tú Xương: Tác phẩm, phê bình- nhận định, NXb Đồng Nai, Đồng Nai Khác
5. Phan Đại Doãn chủ biên (1998), Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Sĩ Đại (2006), Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, Nxb Văn học, Hà Nội Khác
7. Trần Thanh Đạm (1967), Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi, Nxb Giáo dục, Hà Nội 8. Philippe Deviller (2006), Người Pháp và người An Nam bạn hay thù, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
9. Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên (1982), Hồng Đức quốc âm thi tập, Nxb Văn học, Hà Nội Khác
10. Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu (1999), Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
11. Đoàn Hồng Nguyên (2003), Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hoá văn học, Luận án tiến sĩ, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
12. Đoàn Hồng Nguyên (2010), Tú Xương toàn tập, Nhà xuất bản văn học, Tp Hồ Chí Minh Khác
13. Mai Hương tuyển chọn và biên soạn (2002), Tú Xương, thơ, lời bình và giai thoại, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Khác
14. Trần Đình Hươu (1991), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
15. Trần Đình Hượu (1995), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hoá, Hà Nội Khác
16. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1990- 1930, Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Khác
17. Trần Đình Hượu (1986), Về vấn đề tìm đặc sắc văn hoá dân tộc, Tạp chí nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, số 3, trang 7 Khác
18. Nguyễn Văn Huyền (1986), Tú Xương- tác phẩm, giai thoại, Hội văn hoá nghệ thuật Hà Nam Ninh Khác
19. Vũ Ngọc Khánh (1996), Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Khác
20. Phương Lựu (2002), Góp phần xác lập hệ thống quan điểm văn học trung đại Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w