1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học

36 2,3K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 227 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hạn chế trong tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung và Truyện Kiều nói riêng.Tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại có nhiều khó khăn với các em bởi khoảngcách thời gian và đặc trưng thi ph

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TỈNH YÊN BÁITRƯỜNG THPT TRẦN NHẬT DUẬT

TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU

Trang 2

MỤC LỤC Trang

MỞ ĐẦU

1- Lý do chọn đề tài 3

2- Mục đích nghiên cứu 3

3- Đối tượng nghiên cứu 3

4- Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

5- Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6- Phương pháp nghiên cứu 5

7- Thời gian nghiên cứu 5

NỘI DUNG 6

Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài 6

Chương II: Thực trạng của đề tài 7

2.1 Thể loại truyện Nôm 2.2 Tư tưởng, nhân vật và cách kể chuyện 7

2.3 Cái nhìn nghệ thuật về con người 8

2.4 Không gian và thời gian nghệ thuật

2.5 Ngôn ngữ và giọng điệu

Chương III: Giải quyết vấn đề 13

3.1 Vận dụng Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học vào thực tiễn giảng dạy 3.2 Kết quả khảo nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 19

* Tài liệu tham khảo 21

* Đánh giá của tổ chuyên môn và hội đồng khoa học 22

Trang 3

MỞ ĐẦU 1- Lý do chọn đề tài

1 Thi pháp học là bộ môn khoa học xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại, gắn liền với tên tuổi của Aristote và cuốn Nghệ thuật thi ca của ông Thi pháp học là

bộ môn lâu đời nhất nghiên cứu văn học Nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, nó

mới thực sự trở thành một môn khoa học được nhiều người biết đến Thi pháp học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học “Thi pháp học giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kì văn học nghệ thuật, từ

đó nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm” [Từ điển thuật ngữ văn học, tr 251] Ở Việt Nam, vấn đề Thi pháp học không còn mới mẻ nhất là sau thời kì đổi mới văn học năm 1986 Thi pháp học được nghiên cứu, giảng dạy ở bậc Cao học,

Đại học và có mặt trong tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên trung học

Thi pháp học được vận dụng trong bài giảng của giáo viên, bài làm văn của học

sinh và trở thành một hướng đi hiệu quả nhằm khám phá, tiếp nhận tác phẩmvăn học

2 Truyện Kiều mang lại niềm tự hào cho nền văn học Việt Nam Đó là tác phẩm kết tinh vẻ đẹp của ngôn ngữ và tâm hồn dân tộc Truyện Kiều là tuyệt

đỉnh văn chương trải qua thời gian vẫn vẹn nguyên tiếng kêu thiết tha về giá trị

nhân văn đích thực trong cuộc sống Trong chương trình ngữ văn 10, Truyện Kiều là tác phẩm có thời lượng tìm hiểu khá lớn Tổng số tiết học về Truyện Kiều là 5 tiết, có 4 đoạn trích được giới thiệu trong đó có 2 đoạn trích giảng

3 Trong thực tế, học sinh phổ thông gặp khó khăn trong việc tiếp thu văn

học trung đại nói chung và Truyện Kiều nói riêng Theo tìm hiểu của chúng tôi

đa số học sinh lớp 10 cho rằng học Truyện Kiều khó, không hấp dẫn và chưa đọc toàn bộ tác phẩm nhưng các em lại khẳng định rằng Truyện Kiều là kiệt tác văn học của dân tộc Điều đó cho thấy các em còn mới đánh giá theo cảm tính mà

Trang 4

hạn chế trong tiếp nhận tác phẩm văn học nói chung và Truyện Kiều nói riêng.

Tiếp nhận tác phẩm văn học trung đại có nhiều khó khăn với các em bởi khoảngcách thời gian và đặc trưng thi pháp, quan niệm nghệ thuật riêng biệt của thời kìvăn học này

4 Đổi mới phương pháp dạy học hướng tới việc lấy học sinh làm trungtâm đang là vấn đề cấp thiết đối với các giáo viên Với bộ môn ngữ văn, các giờ

lên lớp cần trở thành giờ Đọc - hiểu văn bản của học sinh nhằm đưa các em đến

với tác phẩm bằng cách tiếp xúc văn bản nghệ thuật, rung cảm và tiếp nhận toàn

vẹn tác phẩm văn học Xu hướng đó phù hợp với việc vận dụng Thi pháp vào

dạy học bộ môn vì nó đưa người đọc tới việc tiếp nhận văn bản ngôn từ tức là

“ hình thức vật chất duy nhất cho sự tồn tại nội dung tác phẩm” [150 thuật ngữ

văn học, 307]

Trong thực tế giảng dạy ở trường THPT, chúng tôi nhận thấy việc vận

dụng Thi pháp học vào khai thác tác phẩm còn nhiều hạn chế và ít được chú

trọng Để giúp học sinh tiếp nhận một tác phẩm văn học, giáo viên có nhiều conđường khác nhau Tuy nhiên, nếu khía cạnh nghệ thuật còn bị bỏ ngỏ thì sẽkhông thể khai thác tác phẩm một cách sâu sắc Với đặc trưng môn học tìm hiểu

về tác phẩm nghệ thuật như ngữ văn, nếu không đưa học sinh đến tiếp nhận tácphẩm thì không thể đạt được mục đích giáo dục Từ những suy nghĩ đó, người

viết đến với đề tài Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học với mong

muốn có được phương pháp giúp học sinh chủ động, tích cực trong quá trìnhhọc tập tiếp nhận và thưởng thức vẻ đẹp toàn vẹn của tác phẩm văn học

2- Mục đích nghiên cứu

Với đề tài: Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc độ Thi pháp học”, người viết

mong muốn hướng tới:

- Làm rõ một vài đặc điểm nổi bật trong Thi pháp Truyện Kiều.

- Vận dụng Thi pháp Truyện Kiều trong tìm hiểu đoạn trích Trao duyên.

- Đóng góp thêm một hướng đi mới trong quá trình giảng dạy tác phẩm vănhọc ở trường phổ thông

Trang 5

3- Đối tượng nghiên cứu

Khảo sát các vấn đề về Thi pháp Truyện Kiều, hướng tới vận dụng vào

việc đổi mới phương pháp dạy học qua bài giảng cụ thể

4- Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, người viết chỉ đi sâu khai thác Truyện Kiều ở góc độ Thi pháp học Đồng thời đưa ra hướng vận dụng và kết quả đạt được sau khi tiếp nhận đoạn trích Trao duyên theo hướng này

5- Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm sáng tỏ vấn đề Thi pháp Truyện Kiều và đánh giá kết quả việc vận dụng Thi pháp trong thực tiễn giảng dạy đoạn trích Trao duyên

6- Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tác phẩm

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp thực nghiệm

- Vận dụng hướng nghiên cứu Thi pháp học, ngôn ngữ học

7- Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8/2011 đến tháng 2/ 2012

NỘI DUNG

Trang 6

Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học môn văn nói riêngđang là vấn đề cấp thiết nhằm hướng tới khẳng định vai trò năng động, sáng tạocủa học sinh như một bạn đọc đích thực; phát huy vai trò chủ thể của học sinhtrong quá trình học văn Đây cũng là nguyên tắc đổi mới phương pháp dạy học.Bởi lẽ, không có sự vận động của bản thân chủ thể thì mọi hoạt động của giáoviên trở nên áp đặt Những năng lực chủ quan của học sinh có được phát huy thìviệc chiếm lĩnh tri thức, thưởng thức tác phẩm, hình thành phẩm chất, nhâncách…mới thực sự có hiệu quả Như vậy, việc giúp các em có một phương pháptiếp nhận tác phẩm phù hợp hiệu quả là hạt nhân của quá trình đổi mới phươngpháp dạy học

1.2 Đặc trưng của môn văn là môn học về tác phẩm nghệ thuật ngôn từ vớibản chất thẩm mĩ của nó Tác phẩm văn chương vẽ nên bức tranh sinh động vềđời sống con người qua ngôn từ được sử dụng một cách có nghệ thuật Nó tạonên hình tượng nghệ thuật - sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện vàcải tạo hiện thực theo qui luật của nghệ thuật Như vậy, dạy học văn cần hướngđến đặc trưng riêng của bộ môn để có cách tiếp cận phù hợp

Bản chất của quá trình dạy học văn phụ thuộc vào quá trình nhận thức sáng

tỏ và đầy đủ mối quan hệ giữa tính khoa học và tính nghệ thuật của môn văn.Đặc trưng của môn văn khiến cho quá trình dạy học văn trở thành quá trình tiếpnhận tác phẩm văn học của học sinh Quá trình tiếp nhận văn học nói chung vốn

đã phức tạp Với đối tượng học sinh trong nhà trường, quá trình này càng phứctạp hơn, vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lứa tuổi, hứng thú, nhu cầu, kinhnghiệm sống…Do đó, đổi mới phương pháp dạy học văn cần quan tâm đếnnhững cách tiếp nhận tác phẩm theo đặc thù môn học và đối tượng học sinh

Tiếp nhận tác phẩm theo hướng Thi pháp là một trong những phương pháp có

thể áp dụng trong thực tiễn dạy học

Trang 7

1.3 Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân cho rằng đó là “Ngành học thuật nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học”

và “Do chỗ mọi phương tiện biểu hiện trong văn học rút cuộc đều quy được về ngôn ngữ, cho nên có thể định nghĩa Thi học như khoa học về nghệ thuật sử dụng các phương tiện ngôn ngữ”

Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi chủ biên cũng cho rằng “Thi pháp học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của Thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu phản ánh của tác phẩm nghệ thuật”.

Như vậy, có thể hiểu Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào

văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như tiểu

sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng

xã hội… Thi pháp học chú ý đến yếu tố hình thức tác phẩm như hình tượng

nhân vật; không gian - thời gian; kết cấu - cốt truyện; điểm nhìn nghệ thuật;ngôn ngữ; thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó

là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần Đình Sử) Phương pháp chủ yếu của Thi pháp học là phương pháp hình thức Chúng ta hiểu, “Phương pháp hình thức là phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó” (Nguyễn Văn Dân) Theo tôi, để

đạt được hiệu quả tốt nhất trong giờ học, nên kết hợp nhiều phương pháp, khai

thác thế mạnh của chúng Dạy văn theo hướng Thi pháp học là phân tích hình

thức nghệ thuật tác phẩm từ đó khám phá các phương diện khác nhau của tác

phẩm Với đề tài này, người viết đi sâu khai thác, tiếp nhận Truyện Kiều của Nguyễn Du từ góc độ Thi pháp học trên những phương diện sau: thể loại, tư

tưởng, nhân vật, cách kể chuyện, cái nhìn nghệ thuật về con người, không gian,

Trang 8

thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu Sau đó, người viết thiết kế giáo án thử nghiệm

và khảo sát kết quả học tập của học sinh Bên cạnh đó, giờ lên lớp cũng cần thiếtphải chú ý đến vấn đề về tác giả, thời đại; kết hợp phương pháp giảng bình, gợi

mở, vấn đáp, nêu vấn đề…để giờ học sinh động và hấp dẫn giúp học sinh dễdàng tiếp nhận tác phẩm

Trang 9

Chương II: Thực trạng của đề tài

Truyện Kiều là tác phẩm văn học kết tinh văn hóa tinh thần, vẻ đẹp của ngôn ngữ và tài hoa của dân tộc Tìm hiểu tác phẩm trên phương diện Thi pháp giúp

người đọc đánh giá được tính sáng tạo toàn vẹn của tác phẩm nhất là với tác

phẩm dựa trên một sáng tác của nước ngoài như Truyện Kiều.

Chúng tôi nhận thấy phần sáng tạo của Nguyễn Du mang lại giá trị đích thực

cho tác phẩm Các phương diện nghệ thuật của tác phẩm như thể loại, tư tưởng,nhân vật, cách kể chuyện cho đến không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu…đều là sự thăng hoa của một tài năng nghệ sĩ

2.1 Thể loại truyện Nôm

Thể loại văn học là một phạm trù mang tính lịch sử Các thể loại xuất hiệntrong một giai đoạn phát triển nhất định và được thay thế bằng thể loại khác.Như vậy, thể loại cũng là một yếu tố hình thức mang tính nội dung của tácphẩm

Truyện Kiều của Nguyễn Du thuộc về thể loại truyện Nôm Đó là thể loại

văn học tự sự bằng thơ lục bát của người Việt, thịnh hành trong thế kỉ XVII,XVIII Truyện Nôm nằm trong mạch truyện thơ thịnh hành ở văn học vùngĐông Nam Á Truyện Nôm là truyện thơ nên có các yếu tố của tác phẩm tự sựnhư nhân vật, cốt truyện, sự kiện…

Xét hệ thống tác phẩm tự sự, Truyện Kiều thuộc loại truyện vừa, chi tiết

chọn lọc vừa đủ để thể hiện nhân vật Tác giả hướng đến khắc họa con ngườichủ thể với thế giới nội tâm, ý nghĩ, lời thoại, lời kể… để nhân vật hiện lên cụthể, gợi cảm Bên cạnh đặc trưng của tác phẩm tự sự là chất trữ tình đậm đà củatác phẩm

Nét đặc sắc trong Truyện Kiều là tác giả có ý thức kể lại rành mạch từng

chuyện Mỗi sự kiện đều được kể một cách hoàn chỉnh từ đầu đến cuối, từ cảnhđến tình Mô hình cốt truyện không giản đơn như các truyện Nôm dân gian Kết

Trang 10

cấu truyện đẩy đi, đẩy lại chứ không xuôi chiều Có thể nói, Truyện Kiều mang

cốt truyện của thể loại tiểu thuyết

2.2 Tư tưởng, nhân vật và cách kể chuyện

Tư tưởng tác phẩm văn học là sự nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn

bộ nội dung cụ thể, sống động của tác phẩm văn học, cũng như vấn đề nhân sinh

đặt ra trong đó Truyện Kiều là một tác phẩm văn chương đích thực nhưng

không chỉ là vấn đề câu chữ, nghệ thuật biểu hiện mà qua đó còn thấy quan niệm

và cảm nhận của Nguyễn Du đối với đời.

Nguyễn Du mở đầu tác phẩm bằng quan niệm tài - mệnh

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Kết thúc tác phẩm là trăn trở về tâm và tài

“Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

Tư tưởng đó chi phối việc chọn lựa và miêu tả nhân vật Truyện Kiều tái hiện một thế giới người tài Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải…cho đến Hồ Tôn Hiến, Sở Khanh, Thúc Sinh đều có tài và biết khen tài Tài ở đây là biểu hiện

cho phẩm chất và cá tính Nó đóng một vai trò quan trọng trong những biến cố

của cuộc đời nhân vật Thúy Kiều nhờ có tài đàn, tài thơ mà được coi trọng

nhưng cũng vì tài đó mà nàng mắc vạ Tài năng trở thành cái cớ cho cuộc đờitruân chuyên theo quan niệm tài - mệnh tương đố trong tác phẩm

Nhưng tài không phải là yếu tố chi phối toàn bộ tác phẩm Chính chữ tâm,

tức là cái tình, tấm lòng của nhân vật chính mới làm nên vẻ đẹp nhân văn của tác

phẩm Bởi chữ tâm này mà Kiều đã nhận lời bán mình chuộc cha và trao duyên lại cho Thúy Vân Cũng vì chữ tâm mà Kiều cam phận lẽ mọn, khuyên Thúc Sinh trở về; báo ân, báo oán rồi tha bổng cho Hoạn Thư; cũng vì thế mà Kiều khuyên Từ Hải hàng rồi chết theo Từ Hải; nàng giữ tình cầm cờ với Kim Trọng cũng vì chữ tâm đó Có thể nói Truyện Kiều là sáng tạo để thử thách cái tâm của

Trang 11

con người Bạn đọc yêu mến nàng Kiều không chỉ vì cái tài mà còn vì cái tâm

trong sáng, tấm lòng trinh bạch của nàng

Nhân vật Thúy Kiều được tác giả tập trung miêu tả trong những mâu thuẫn

nội tâm, giày vò, khắc khoải đậm chất bi kịch Tác giả hướng đến khám pháchiều sâu tâm lí của nhân vật Nỗi đau của nàng Kiều không nhìn nhận ở khía

cạnh phi ngã mà đó là chữ thân với nghĩa là mình, là thân thể, là phần vật chất,

phần nhỏ bé, hữu hạn, dễ bị hư nát, đau đớn, riêng tư và cũng bản năng nhất

Như vậy, chữ thân khiến Truyện Kiều không chỉ là chuyện của tài - mệnh tương

đố mà đó còn là phân phận con người Có thân là có nghiệp, có nghiệp là có khổ Cho nên, tài mệnh là một trường hợp của thân mệnh Như vậy, Truyện Kiều

phản ánh nỗi khổ nạn của kiếp người Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm của

Nguyễn Du đã lấy chữ thân làm nền tảng tức là đề cập đến những vấn đề nhân

bản nhất

Nghệ thuật kể chuyện cũng là một sáng tạo của Nguyễn Du Truyện Kiều

không phải là một sự nhào nặn, thêm bớt tác phẩm theo một cách khác mà là ở

quan niệm mới về nhân vật và cách kể chuyện Nguyễn Du biến con người đạo lí

thành con người tâm lí chính điều này khiến tác giả thay đổi điểm nhìn trầnthuật Người kể chuyện không kể từ bên ngoài mà đi theo cái nhìn của nhân vật,

từ tâm trạng nhân vật mà ra Vì thế, Nguyễn Du chỉ tái hiện các sự kiện theo chừng mực đủ để khêu gợi và bộ lộ tâm tư của nhân vật khiến Truyện Kiều trở thành một thiên truyện tâm lí độc đáo Nguyên tác chú trọng sự việc còn Truyện Kiều chú trọng phơi bày tâm trạng nhân vật trước sự việc đó Nguyễn Du đã huy

động các thủ pháp trữ tình để diễn tả tâm trạng nhân vật một cách tinh tế trong

đó độc thoại nội tâm được sử dụng rất hiệu quả

2.3 Cái nhìn nghệ thuật về con người

Trong khi phản ánh đời sống, nghệ thuật thể hiện cái nhìn chủ quan củamình đối với các hiện tượng từ đó bộc lộ ý nghĩa về đời sống Để hiểu được nộidung đời sống trong tác phẩm, phải tìm hiểu cái nhìn nghệ thuật, cách tư duy,cảm nhận của chính nhà văn

Trang 12

Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du gắn liền với nghệ thuật phương Đông Con người trong văn học trung đại được xây dựng theo mô típ con người vũ trụ.

Tầm vóc, hành động của con người mang qui mô khác biệt so với văn học cácthời kì khác Theo đó, người tài tình luôn được tôn xưng Những người này

thường được khắc họa với đường nét bề ngoài đầy ước lệ Đạm Tiên là đấng tài hoa; Kim Trọng là bậc tài danh; Từ Hải là đấng anh hùng…

Mặt khác, Nguyễn Du còn coi con người là sự thể hiện của những giá trị tinh thần được đề cao trong xã hội như: chí, tình, đạo, nghĩa Con người bộc lộ

các phẩm chất đạo đức và thể hiện qua nguyên tắc bày tỏ Cho nên, nhân vật

thường có hành động khác thường để hiệu quả tỏ lòng càng lớn Ví như: Kiều khóc mồ vô chủ; thề nguyền chung thủy; cậy em thay lời; Kim Trọng ốm tương

tư, khóc vật vã; Từ Hải chết đứng…Nguyên tắc này phù hợp với Thi pháp

chung của văn học trung đại Những trạng thái trong tâm hồn phải được biểuhiện thành dấu hiệu ra bên ngoài, biểu hiện càng lộ và mạnh thì càng gây chú ý

Cái mới của Nguyễn Du là từ tỏ lòng nhà thơ đi đến bộc lộ tấm lòng, phân

tích tâm lí nhân vật, khám phá sự phức hợp tâm lí trong con người Cho nên,

tình cảm đối nghịch, lưỡng tính là nét tiêu biểu của nhiều nhân vật trong Truyện Kiều Kiều vừa dứt khoát trao duyên cho em vừa nuối tiếc, đau đớn; vừa nghi ngờ Sở Khanh vừa phải liều theo y; vừa tha bổng Hoạn Thư vừa mong được trừng trị tội Từ Hải vừa khinh ghét triều đình vừa hy vọng mong manh vào sự bao dung của nó Những con người trong Truyện Kiều đều không thể vo tròn

trong một chuẩn mực

Tâm hồn nàng Kiều thuộc về phạm trù những phẩm chất cao đẹp nhất

nhưng cũng có những suy tư trần tục chỉ có ý nghĩa riêng đối với tình cảm của

nàng Kiều thường xuất hiện với những suy nghĩ rành rọt, nhưng cũng có lúc đắm mình trong ảo giác như khi gọi tên chàng Kim lúc trao duyên; nhẹ dạ bước chân theo Sở Khanh; sự xiêu lòng trước lễ hậu của Hồ Tôn Hiến…

Cuộc đời lắm bước ngoặt của Kiều cho thấy nhiều giới hạn khác nhau trong tâm hồn con người Kiều với Kim Trọng là rung động đằm thắm bên người

Trang 13

tình đồng điệu; nàng với Thúc Sinh là những ngày hạnh phúc nồng nàn của đôi

vợ chồng trẻ; sánh với Từ Hải, nàng là con người quyền uy phi phàm khiến Kiều muốn làm chủ vận mệnh, báo ân, báo oán Như vậy, Nguyễn Du đã đi sâu

vào sự khám phá tâm hồn con người với tất cả sự phong phú của đời sống thựctại

Nhân vật trong Truyện Kiều coi trọng thế giới bên trong hơn sự biểu lộ

bên ngoài Lời nói bên trong chân thực và sinh động hơn lời nói bên ngoài

Nguyễn Du nhìn thấu nhân vật của mình, nắm bắt hồn vía và miêu tả một cách

tài tình Nhà thơ có quan niệm về cá tính con người một cách rõ rệt

Người trần thuật trong Truyện Kiều thuộc kiểu người kể chuyện biết trước

và biết hết nhưng người kể chuyện đó chỉ đứng trên nhân vật ở một số phần

mang tính chất giới thiệu như : Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh / Vẫn là một đứa phong tình đã quen; Lầu xanh quen thói xưa nay / Nghề này thì lấy ông này tiên

sư Người trần thuật chủ yếu lấy điểm nhìn nhân vật làm chỗ đứng cho mình để

thể nghiệm mọi cảm xúc Trong sự miêu tả thường không báo trước cái đã biết

mà chú ý để mọi sự vật, sự việc hiện dần ra qua sự suy đoán của con người Do

đó, tác giả có cái nhìn nghệ thuật nhiều chiều đối với các hiện tượng đời sống

được miêu tả Nguyễn Du đặt các sự kiện trong cuộc đời Kiều vào sự nhìn nhận,

đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau Việc nàng bán mình được nhìn từ chuẩn

mực đạo đức xã hội đương thời “Làm con trước phải đền ơn sinh thành” Nhưng ở góc độ cá nhân, nàng Kiều không đành lòng trước mối tình tan vỡ

“ Ôi Kim lang, hỡi Kim lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây’’

Việc nhờ cậy em cũng có hai chiều: nửa cậy em, nửa không muốn; đối vớichữ trinh có quan điểm chuẩn mực nhưng cũng có hối hận thầm kín, riêng tư

“Biết thân đến bước lạc loài / Nhị đào thà bẻ cho người tình chung’’ Với ông

trời, có khi vai trò được khẳng định tuyệt đối, có khi lại cho rằng con người cókhả năng tự thay đổi vận mệnh và chịu trách nhiệm trước cuộc sống của mình

“Người dầu muốn quyết trời nào đã cho’’

Trang 14

“Trời kia đã bắt làm người có thân’’

“Bắt phong trần phải phong trần’’

“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều’’

“Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương!’’

Điều này thể hiện sự mâu thuẫn trong thế giới quan của nhà thơ nhưng cái

nhìn nghệ thuật đa chiều lại là ưu điểm Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du cho

thấy ông đã đổi mới quan niệm về con người, bao quát cuộc sống trong mộtphạm vi rộng lớn đồng thời có cái nhìn gần gũi với bản chất con người theoquan niệm nhân văn phổ quát

2.4 Không gian và thời gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về thế giới mà con người

đang sống; đang cảm thấy vị trí, số phận của mình ở trong đó Truyện Kiều là

chuyện của cuộc đời lưu lạc nên có sự xuất hiện của nhiều không gian xa lạ Saumỗi một biến cố, nhân vật lại bị đẩy vào một không gian mới, xa lạ và hàm chứanhững hiểm họa

Không gian trước lưu lạc bao giờ cũng bình yên

“Êm đềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi vê mặc ai”

Không gian lưu lạc đẩy con người vào tình thế không nơi bấu víu, lênh

đênh, trôi dạt Nguyễn Du láy đi, láy lại hình ảnh cánh bèo mặt nước; nước trôi hoa rụng; chiếc bách sóng đào…để diễn tả nỗi bơ vơ, lạc loài, buồn tủi của nàng Kiều.

Con người trung đại luôn mang trong mình sự gắn bó với quê hương, giađình Đó còn là cõi bình yên để nương tựa mà khi rời bỏ nó, người ta trở nên yếu

đuối, trống rỗng như tự đánh mất mình

“Bên trời góc bể bơ vơ”

“Chân trời mặt biển lênh đênh”

Trang 15

Không gian và thời gian trong Truyện Kiều đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ

mang tâm trạng của nhân vật Cho nên, có thể thấy hầu hết không gian và thờigian trong truyện đều được nâng lên thành không gian và thời gian tâm trạng

2.5 Ngôn ngữ và giọng điệu

Ngôn ngữ là chất liệu để nhà văn tạo lập nên tác phẩm Không có ngôn

ngữ thì cũng không có tác phẩm văn học Ngôn ngữ nghệ thuật là “một hệ thống các phương tức, phương tiện tạo hình, biểu hiện, hệ thống các qui tắc thông báo bằng tín hiệu thẩm mĩ của một ngành, một sáng tác nghệ thuật” [Từ điển

thuật ngữ văn học, tr.186] Sáng tạo về mặt ngôn ngữ cho thấy quan niệm sángtác, tư duy nghệ thuật cũng như sự đánh giá của nhà văn về hiện thực cuộc sống

Ngôn ngữ trong Truyện Kiều vừa mang màu sắc bác học với cách dùng từ

trang nhã, ước lệ; sử dụng khá nhiều điển tích, điển cố Bên cạnh đó, sức sáng

tạo của Nguyễn Du còn thể hiện ở ngôn ngữ dân tộc mà nhà thơ đưa vào tác

phẩm một cách nhuần nhuyễn Những từ thuần Việt, thành ngữ dân gian đượctác giả lồng vào đó cả lối suy nghĩ, cảm nhận theo tâm hồn người Việt đã mangđến sự đồng cảm của đông đảo thế hệ và tầng lớp bạn đọc trong xã hội

Giọng điệu là một trong những yếu tố chủ đạo cấu thành hình thức nghệ

thuật của một tác phẩm “giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học” [Từ điển thuật ngữ văn học, tr 135] Nó phản ánh lập trường xã hội, thái

độ, tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả và tạo nên sức hấp dẫn cho mỗi tácphẩm Như vậy, tìm hiểu về giọng điệu trong một tác phẩm có thể đưa đến nhận

xét về thái độ đánh giá của nhà văn về hiện thực cuộc sống “Mỗi một thời đại, nhìn chung có một giọng điệu riêng, thể hiện cách thức chiếm lĩnh hiện thực và

lí giải hiện thực riêng Gắn với điều này là quan niệm hiện thực của thời đại ấy”

Trong Truyện Kiều, giọng chủ đạo là cảm thương, là tiếng kêu thương gắn liền với cảm hứng nhân đạo trong tác phẩm Truyện Kiều là lời đau đớn, da diết,

lay động lòng người Giọng điệu này thể hiện rõ nét qua lời than, lời tâm sự, độcthoại của nhân vật và lời bình luận của chính tác giả

Trang 16

Chương III: Giải quyết vấn đề

3.1 Vận dụng Tiếp nhận Truyện Kiều theo hướng Thi pháp vào thực tiễn giảng dạy đoạn trích Trao duyên

Ở những phần trên, người viết đã đi sâu khai thác, tiếp nhận Truyện Kiều

từ góc nhìn Thi pháp Chúng tôi đã vận dụng hướng tiếp cận này vào giảng dạy

tiết 83, đoạn trích Trao duyên Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du (SGK Ngữ văn

10, Tập 2) tại lớp 10B1, 10B2 và so sánh với việc dạy học không theo hướng đinày ở lớp 10B3 trường THPT Trần Nhật Duật Chúng tôi hướng dẫn học sinhkhai thác đoạn trích này từ đặc trưng thể loại; không gian và thời gian nghệthuật, ngôn ngữ, giọng điệu; nghệ thuật xây dựng nhân vật Qua đó, học sinhthấy được sức hấp dẫn của đoạn trích, tự mình khám phá giá trị của đoạn trích

và đánh giá sáng tạo nghệ thuật của thi hào Nguyễn Du.

Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đoạn trích này, chúng tôi hướng học

sinh khai thác các khía cạnh của tác phẩm từ góc độ Thi pháp theo các bước cụ

thể

3.1.1 Yêu cầu chuẩn bị bài

- Học sinh đọc kĩ đoạn trích và phần chú thích, chuyển văn bản thơ thành vănxuôi

- Tìm hiểu nhân vật Thúy Kiều qua chi tiết, lời kể và sự miêu tả của tác giả

- Thống kê những biện pháp nghệ thuật khắc họa nhân vật được sử dụng trongđoạn trích

3.1.2 Giáo án thử nghiệm

TIẾT 83

TRAO DUYÊN

Trang 17

( TRÍCH TRUYỆN KIỀU - NGUYỄN DU)

I- Mục tiêu bài học

- Cảm nhận được tình yêu sâu nặng và bi kịch của Thúy Kiều trong đoạn

trích; nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình của tác giả

- Kiến thức: Bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và sự hi sinh quên mình

của Kiều vì hạnh phúc của người thân qua lời trao duyên đầy đau khổ; nghệ

thuật miêu tả tâm lí nhân vật, sử dụng thành công nghệ thuật độc thoại nội tâm

- Kĩ năng: Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại; phân tích nhân vật;diễn biến tâm trạng nhân vật

II- Phương pháp, phương tiện

- Phần soạn bài của học sinh, tác phẩm trong sách giáo khoa, tranh ảnh

- Giáo án soạn giảng của giáo viên

III- Hoạt động của thầy trò

- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc và tiếp nhận tác phẩm từ đặc trưng thể loại và các yếu tố nghệ thuật để thấy được nội dung của tác phẩm

- Học sinh tiếp nhận văn bản, thảo luận, đưa ra ý kiến

IV- Cách thức tiến hành

1 Ổn định lớp

2 Kiểm tra bài cũ: Tác phẩm Truyện Kiều ra đời trong hoàn cảnh

xã hội như thế nào? Cho biết đánh giá của em về tác phẩm ?

3 Bài mới

* Lời vào bài: Toàn bộ Truyện Kiều là một bi kịch Đoạn trích Trao

duyên là bi kịch nhỏ nằm trong bi kịch lớn Sau khi đã quyết định bán mình chuộc cha và em, Kiều vẫn canh cánh món nợ tình với Kim Trọng Trong đêm

Trang 18

cuối cùng trước khi theo Mã Giám Sinh, Kiều đã trao duyên cho em Đoạn trích này tái hiện lại cảnh tượng trao duyên và tâm trạng của nàng Kiều.

HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY, TRÒ NỘI DUNG CẦN ĐẠT

Học sinh đọc phần Tiểu dẫn và

nêu vị trí của đoạn trích

- Giáo viên cho học sinh xem

tranh Thúy Kiều trao duyên để

gợi không khí

Giáo viên: Tại sao Kiều phải

trao duyên?

Giáo viên: Truyện Kiều thuộc thể

loại nào? Đoạn trích này cho em

biết những gì về thể loại đó ?

Giáo viên yêu cầu học sinh thảo

luận

Giáo viên: Nên phân tích đoạn

trích này theo cách nào?

A- Tiểu dẫn

- Vị trí: đoạn trích nằm ở phần Gia biến

- Bọn sai nha gây nên vụ án oan cho gia đình

Thúy Kiều kiến nàng phải hi sinh mối tình

với Kim Trọng và bán mình để chuộc cha và

em Khi mọi việc đã an bài, Kiều ngồi trắng đêm nghĩ đến Kim Trọng và mối tình dở dang Để trả nghĩa cho chàng Kim, nàng đã trao duyên cho Thúy Vân để đền đáp tình yêu của Kim Trọng

B- Đọc - hiểu tác phẩm

- Truyện Kiều thuộc thể loại truyện Nôm

- Tác phẩm mang chất tự sự, có nhân vật, cốttruyện…

- Tác phẩm còn mang chất trữ tình qua việckhai thác nội tâm nhân vật và sử dụng ngônngữ hình tượng, biểu cảm…

=> Nên phân tích theo đặc trưng của thểloại; khai thác nghệ thuật xây dựng nhân vật;

từ đó làm rõ diễn biến tâm trạng và đánh giá

về nhân vật

I- Đọc

- Đối thoại: Thúy Kiều - Thúy Vân

- Độc thoại nội tâm: Thúy Kiều

Ngày đăng: 20/03/2015, 21:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
2. Nguyễn Đăng Điệp - Nguyễn Văn Tùng (Sưu tầm và biên soạn), (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp - Nguyễn Văn Tùng (Sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1999
4. Nhiều tác giả, SGK Văn 10 (Tập 2), (2000), Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Văn 10
Tác giả: Nhiều tác giả, SGK Văn 10 (Tập 2)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
5. Nhiều tác giả, Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn ngữ văn lớp 10, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn ngữ văn lớp 10
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
6. Trần Đình Sử (chủ biên) (2008), Lý luận văn học (tập 2), NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
7. Trần Đình Sử (2002), Văn học và thời gian, NXB ĐH Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và thời gian
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2002
8. Trần Đình Sử (2007), Thi pháp Truyện Kiều, NXB ĐH Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp Truyện Kiều
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2007
9. Hoàng Trinh (1997), Từ kí hiệu học đến thi pháp học, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ kí hiệu học đến thi pháp học
Tác giả: Hoàng Trinh
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w