Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật đã khẳng định: "hồn thơ Phạm Tiến Du
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN PHƯƠNG DUNG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
THI PHÁP HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN PHƯƠNG DUNG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Mục đích của luận văn 5
6 Cấu trúc của Luận văn 5
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP HỌC VÀ SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 6
1.1 Khái niệm về thi pháp học 6
1.2 Phạm Tiến Duật trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam 9
1.2.1 Nhà thơ Phạm Tiến Duật 9
1.2.2 Thơ ca Việt Nam hiện đại 13
TIỂU KẾT 34
Chương 2 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG VÀ KHÔNG GIAN - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 36
2.1 Hệ thống hình tượng 36
2.1.1 Hình tượng cái tôi - chủ thể trữ tình 36
2.1.1.1 Cái tôi trữ tình trẻ trung, tinh nghịch và hóm hỉnh 36
2.1.1.2 Thông minh, sắc sảo - đặc điểm nổi bật của cái tôi trữ tình trong thơ Phạm Tiến Duật 40
2.1.1.3 Cái tôi trữ tình sử thi 45
2.1.1.4 Cái tôi trữ tình đời thường ưu tư, trăn trở 50
2.1.2 Hình tượng người lính 55
2.1.3 Hình tượng người thanh niên xung phong 65
2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật 70
2.2.1 Thời gian nghệ thuật 71
2.2.2 Không gian nghệ thuật 74
TIỂU KẾT 81
Trang 43.1 Cấu tứ trong thơ Phạm Tiến Duật 83
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 85
3.2.1 Ngôn ngữ 85
3.2.1.1 Ngôn ngữ giản dị đời thường, tự nhiên 85
3.2.1.2 Ngôn ngữ sáng tạo, tài hoa 93
3.2.2 Giọng điệu 95
3.2.2.1 Giọng điệu hóm hỉnh, ngang tàng 95
3.2.2.2 Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào 99
3.2.2.3 Giọng điệu triết lí, suy tư 99
TIỂU KẾT 104
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tên tuổi Phạm Tiến Duật xuất hiện trên thi đàn Việt Nam từ năm 1969
gắn liền với Bài thơ tiểu đội xe không kính - tác phẩm giành giải nhất cuộc thi
thơ của tuần báo Văn Nghệ Sau đó, ông dần trở thành một trong những nhà thơ cách mạng tiêu biểu của thơ ca chống Mỹ cứu nước
Trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà thơ Hữu Thỉnh viết: “Cảm ơn Phạm Tiến Duật đã để lại cho chúng ta niềm kiêu hãnh sống, niềm kiêu hãnh sáng tạo và dâng hiến Ngọn lửa tài năng và trí tuệ của Anh đã thắp sáng trên văn đàn, đã cầm trong tay trong cuộc chạy đường trường suốt nhiều năm tháng qua sẽ còn sáng mãi Những gì anh để lại cho chúng ta sẽ được Đảng và nhân dân gìn giữ mãi mãi, sẽ được chúng tôi những người đồng đội, đồng chí của anh gìn giữ mãi mãi”
Sự nghiệp văn chương của Phạm Tiến Duật khởi sự từ tuyến đường mòn vận tải Trường Sơn 559 và ông vươn lên trở thành một gương mặt độc đáo của văn học Việt Nam 1945 - 1975 Phạm Tiến Duật đã góp phần sáng tạo một thứ ngôn ngữ thơ thô nhám, gân guốc và được đánh giá là một tác giả tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ Phạm Tiến Duật cũng là một trong những nhà thơ Việt Nam được chọn lọc đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông
Nhiều bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Trường Sơn đã để lại như: Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Nhớ, Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong có lẽ sẽ
còn in đậm trong ký ức lịch sử; bồi đắp cho thế hệ sau lòng yêu nước và tự hào dân tộc
Thơ Phạm Tiến Duật làm chúng ta như sống lại không khí của những năm tháng hào hùng, gian khổ nhưng hết sức lạc quan của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thơ ông gieo vào lòng người đọc niềm tin tưởng ở những phẩm chất tốt đẹp, vững bền của con người Việt Nam trước những thử thách lịch sử Đồng thời, thơ ông còn là tiếng nói của một thế hệ, của một thời
Trang 6đại lịch sử Đó là thế hệ anh hùng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" đã làm nên một thời đại hào hùng, chói lọi trong lịch sử Việt Nam
Vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài “Thơ Phạm Tiến Duật nhìn từ góc độ thi pháp học” để làm luận văn nghiên cứu của mình Luận văn muốn khẳng
định những giá trị thẩm mỹ cao cả và lâu bền của thơ trữ tình cách mạng nói chung và thơ Phạm Tiến Duật nói riêng một cách cụ thể trong quá trình đổi mới văn học
2 Lịch sử nghiên cứu
Phạm Tiến Duật có thơ đăng báo từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, nhưng thơ ông lúc này vẫn còn lẫn trong thơ nhiều người Phải đến cuộc thi thơ do báo Văn nghệ tổ chức vào năm 1969 -1970, ông mới thực sự ghi được tên tuổi của mình vào làng thơ Việt Nam Chùm thơ đoạt giải nhất của ông gây được ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về một phong cách thơ độc đáo Bắt đầu từ đây, nhiều cây bút, nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã quan tâm đánh giá thơ ông Một trong những bài viết đầu tiên về thơ Phạm Tiến
Duật là Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ Nhị Ca cho rằng chùm thơ
được giải bốn bài của Phạm Tiến Duật thực sự gây được ấn tượng với độc giả
về một phong cách thơ "rất lạ", lạ từ chất liệu, thi liệu đến giọng điệu Ông chỉ
ra rằng, đây là một hồn thơ "được nuôi dưỡng bằng chất liệu sống thực, tươi trẻ thở hết không khí mặt trận dữ dội và tự tin, có thời gian ngẫm nghĩ về cuộc chiến đấu quyết liệt, dũng cảm"[1] Nhị Ca cũng rất quan tâm đến việc tạo dựng câu thơ, một trong những yếu tố làm nên sự mới mẻ của Phạm Tiến Duật so với các nhà thơ khác là "dáng dấp xốc vác, xô bồ, cứng cáp hơn, như hạt gạo đỏ đồng chiêm vừa chắc dạ, vừa béo ngọt" Bên cạnh đó, Nhị Ca đã
có ý kiến nhận xét khá xác đáng về những thành công cũng như hạn chế qua
việc phân tích một số bài thơ tiêu biểu của tập Vầng trăng quầng lửa
Nhà văn Nguyễn Minh Châu có bài Người viết trẻ giữa cánh rừng già
cho rằng: "Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật đã làm xôn xao đời sống thơ ca
Trang 7vốn có Thơ Phạm Tiến Duật đã cổ vũ cho cuộc chiến đấu theo cách riêng của mình và đã đón nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều phía"
Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu văn
học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật đã khẳng định: "hồn thơ Phạm Tiến Duật phóng khoáng, rộng mở,
cái đẹp của cuộc sống chiến đấu đi vào thơ ông tự nhiên và rất thật"[39] Ông cho rằng, thơ Phạm Tiến Duật "là tiếng nói khoẻ khoắn, đôn hậu, bắt nguồn trực tiếp từ cuộc sống chiến đấu sôi nổi mà hào hùng của dân tộc"[39]
Và từ góc nhìn vận động và phát triển của thơ ca dân tộc, nhà thơ, nhà
phê bình Vũ Quần Phương trong bài Một đóng góp của dòng thơ quân đội vào nền thơ Việt Nam đã chỉ ra sự kế thừa những kinh nghiệm của thơ ca dân
gian trong thơ Phạm Tiến Duật Theo Vũ Quần Phương, điều đó khiến cho thơ Phạm Tiến Duật "đầy rẫy những chi tiết đời sống đánh Mỹ chính xác, cụ thể như hiện vật trong bảo tàng " Năm năm sau, năm 1985, Vũ Quần Phương phát triển bài viết thành bài nghiên cứu tác giả Phạm Tiến Duật trong
cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản
năm 1985 với tư cách là một nhà thơ trẻ tiêu biểu của nền thơ trữ tình cách mạng
Năm 1986, Đỗ Trung Lai cũng có một bài viết rất công phu với nhan đề
Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật in trên Tạp chí Văn học, số 4, năm
1986 đã đánh giá, tổng kết giai đoạn sáng tác trong chiến tranh của Phạm Tiến Duật Nhà văn đã khẳng định vai trò của thực tiễn chiến tranh đối với sáng tác của Phạm Tiến Duật
Một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về thơ Phạm Tiến Duật là
của Trần Đăng Suyền trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập III (Nxb Đại
học Sư phạm I, 2002) Tác giả công trình đã giới thiệu tiểu sử, con người nhà thơ Ông cho rằng "Vùng thẩm mĩ" của thơ Phạm Tiến Duật là rừng Trường Sơn Tác giả đặc biệt quan tâm đến phong cách thơ Phạm Tiến Duật là tính chất trẻ trung, giọng thơ ngang tàng, sự xô bồ, rậm rạp mà khái quát của chi
Trang 8khác, tác giả Trần Đăng Xuyền vẫn mong đợi một sự đổi mới của Phạm Tiến Duật để thơ ông có thể đến được, hoà nhập với cuộc sống mới
Bài nghiên cứu của Vũ Văn Sỹ, in trước ngày mất của Phạm Tiến Duật
với nhan đề Phạm Tiến Duật, người "chứa được Trường Sơn nhiều nhất"
trong Tạp chí Nhà văn, số 12, năm 2007 Vũ Văn Sỹ đánh giá cao vị trí của Phạm Tiến Duật trong hành trình thơ trữ tình cách mạng Ông cho rằng "Thơ Phạm Tiến Duật đã lưu lại trong lịch sử văn học dấu mốc của thơ trữ tình Việt Nam trên hành trình đi tìm cái đẹp trên các sự kiện và biến cố in đậm chất sử thi của một thế kỉ đầy biến động."[38] Bên cạnh đó có thể kể đến các bài của Thiếu Mai, Mai Hương, Hồ Phương, Hoàng Kim Ngọc đăng tải trên các báo
và tạp chí
Phạm Tiến Duật cũng từng được nhắc đến và giới thiệu trong các công
trình tiểu luận và nghiên cứu như Dọc đường văn học (Nxb Văn học, H, 1996); Nhà văn Việt Nam thế kỉ XX, tập III (Nxb Hội nhà văn, H, 2000); Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỉ XX (Nxb Hội nhà văn,H, 2003) Hầu hết
các cuốn sách đều tập trung phân tích, nghiên cứu những giá trị mới mẻ mà thơ Phạm Tiến Duật đưa lại
Nhìn chung, các bài viết và các công trình nghiên cứu về Phạm Tiến Duật đều cho rằng, đó là một hiện tượng lạ của thơ ca Việt Nam Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật trên thi đàn đã làm cho thơ ca của thế hệ trẻ thời chống
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ của Phạm Tiến Duật dưới góc
độ thi pháp học Luận văn chủ yếu xuay quanh các vấn đề liên quan đến Thi pháp như ngôn ngữ, nhịp điệu, hiệp vần, hình tượng, điểm nhìn
Trang 9Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ thơ Phạm Tiến Duật nói riêng và thơ của một số nhà thơ cách mạng nói chung
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lý luận như: Phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp văn hóa học, phương pháp lịch sử - xã hội
- Trong luận văn, chúng tôi vận dụng các thao tác liên ngành như thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu
5 Mục đích của luận văn
Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học đã đề cập đến các khía cạnh thi pháp thơ Phạm Tiến Duật, nhưng chúng tôi hi vọng rằng đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu thi pháp thơ Phạm Tiến Duật một cách đầy đủ và hệ thống
6 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Khái lược về thi pháp học và sáng tác của nhà thơ Phạm Tiến Duật
Chương 2 Hệ thống hình tượng và không gian, thời gian nghệ thuật Chương 3 Phương thức biểu hiện
Trang 10Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP HỌC VÀ SÁNG TÁC
CỦA NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 1.1 Khái niệm về thi pháp học
Thi pháp học là bộ phận quan trọng nhất trong khoa nghiên cứu văn học
Nó nghiên cứu cấu trúc tác phẩm và những hợp thể của các cấu trúc đó: các tác phẩm của một nhà văn, các khuynh hướng văn học, các thời đại văn học
Thi pháp học đã xuất hiện ở Hy Lạp từ thời cổ đại với tác phẩm Poetica
(Nghệ thuật thơ ca) của Aristote nhưng Thi pháp học với tư cách là một bộ môn khoa học, một phương pháp nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học thì mới hình thành vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Mỹ và phổ biến khắp thế giới
Các công trình, tiểu luận về thi pháp học hoặc nghiên cứu văn học theo hướng thi pháp học đều khẳng định thuật ngữ thi pháp xuất hiện từ thời cổ
đại, trong công trình “kinh điển” của Aristote Nghệ thuật thơ ca (cách đây
hơn 2300 năm) Thuật ngữ thi pháp (poetics, póetique) có nội hàm khởi thủy
là cách, biện pháp, phương thức mô phỏng, bắt chước để sáng tạo văn học Nội hàm này được Aristote đề xuất: “Sử thi, bi kịch thì cũng như hài kịch và thơ ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn lục huyền – tất cả những cái đó, nói chung đều là những nghệ thuật mô phỏng, giữa chúng có ba điểm khác nhau; hoặc thực hiện sự mô phỏng bằng cái gì hoặc mô phỏng cái gì; hoặc mô phỏng như thế nào - cho nên không phải lúc nào cũng giống nhau”
Về sau, các nhà nghiên cứu thường dịch là nghệ thuật thơ ca, phép làm thơ
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên hiểu thi pháp là phương pháp, qui tắc làm thơ [tr.95]; Sổ tay từ Hán Việt do Phan Văn Các, Lại Cao Nguyên
biên soạn năm 1989 hiểu thi pháp có hai nghĩa: 1 Phép làm thơ, 2 Nghệ thuật thơ văn Còn Từ điển của Pháp 1998 cho biết thi pháp xuất phát từ động từ tiếng Hi Lạp nghĩa là “làm” và nó có ba nghĩa: 1 Nghệ thuật cấu tạo thơ 2
Lý thuyết thuộc về bên trong của văn bản 3 Toàn bộ những lựa chọn thuộc
về văn học được nhà văn thực hiện trong tác phẩm Như thế thuật ngữ thi
Trang 11pháp từ khởi thủy tới hiện đại được bổ sung, mở rộng nội hàm Tuy vậy, thuật ngữ này luôn bảo lưu hai nét nghĩa: 1 Cách làm thơ 2 Tính nghệ thuật được nhà văn lựa chọn để sáng tác văn chương
Ở Trung Quốc, thuật ngữ thi pháp thường được các học giả từ đời Tống
trở đi nói tới: Thế kỷ XIII có sách Thi pháp chính tông của Yết Khê Tư; thế
kỷ XVI có Thi pháp chính luận của Phó Nhược Kim Nội dung được nói tới
của thuật ngữ thi pháp thường là phép làm thơ, vận luật thơ, hay là những nguyên tắc tạo hình, cấu tứ, cốt cách
Ở Việt Nam, khái niệm thi pháp, thi pháp học xuất hiện khá muộn, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX mới được xác định Thuật ngữ thi pháp, thi
pháp học xuất hiện sớm nhất trong các bài báo như: Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian với văn học viết của Lê Kinh Khiên (1980), Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian của Chu Xuân Diên (1980), Chung quanh khái niệm thi pháp trong nghiên cứu văn học Xô viết hiện nay của Vương Trí Nhàn (1981) Và chỉ đến khi Trần Đình Sử trong
chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu năm 1985, thi pháp, thi pháp học mới được hiểu, sử dụng theo nội hàm hiện đại Nguyễn Văn Dân cho rằng, thuật ngữ thi pháp, thi pháp học, qua cách hiểu, giải thích và tiếp nhận ở Trần Đình Sử, đã mang tính nghề nghiệp, có khả năng ứng dụng cao Nguyễn Văn Dân viết:
“thuật ngữ thi pháp hay thi pháp học được dùng để chỉ một khái niệm nghề nghiệp mới, dễ có khả năng khái quát hóa thành các công thức, mô hình, các quy phạm có khả năng vận dụng, thao tác” [19, tr.23]
Giữa thi pháp và thi pháp học có mối quan hệ qua lại biện chứng, đó là: quan hệ giữa đối tượng và khoa học về đối tượng ấy, giữa nghệ thuật với khoa học, giữa cụ thể với trừu tượng, khái quát Về quan hệ giữu thi pháp và thi pháp học, Nguyễn Xuân Kính giải thích: “thi pháp là một tồn tại khách quan,
là cái có trước, nó xuất hiện từ khi loài người bắt đầu biết sáng tạo nghệ thuật một cách tự giác Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp, là cái có
Trang 12vừa là quá trình văn học do đó, thuật ngữ thi pháp và thi pháp học thuộc vào
số những thuật ngữ được sử dụng sớm nhất và có sức sống lâu dài nhất của ngành khoa học nghiên cứu văn học
Nếu như nội dung thuật ngữ thi pháp được hiểu khá thống nhất thì khái niệm thi pháp học cho đến nay còn nhiều sự khác biệt Điều này có thể xuất phát từ chính sự mở rộng biên độ nội hàm của đối tượng nghiên cứu Vì thế, dẫn đến sự mở rộng phạm vi nghiên cứu của thi pháp học Hơn nữa, sự tiếp cận, nghiên cứu thi pháp học của các học giả phần lớn đều dựa trên những tiền đề khoa học, triết học, phê bình khác nhau Chủ nghĩa cấu trúc, hiện tượng học, phân tâm học, chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hình thức, ngôn ngữ học, dẫn đến những định nghĩa, khái niệm chưa đồng nhất
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về Thi pháp học Có thể hiểu, thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật
- không gian - thời gian, kết cấu - cốt truyện - điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính nội dung” Phương pháp chủ yếu của Thi pháp học là phương pháp hình thức Chúng ta hiểu, phương pháp hình thức là phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó Nghiên cứu, phê bình theo hướng thi pháp học nghĩa là nghiêng về phân tích hình thức nghệ thuật tác phẩm, nó đối lập với lý thuyết
Phản ánh luận trước đây là nội dung quyết định hình thức
Về phương diện định nghĩa, khái niệm, Từ điển thuật ngữ văn học do
Lê Bá Hán chủ biên có ghi: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống các phương tiện biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống
Trang 13hóa yếu tố của văn học nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ, chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật.[tr.304] Xét các chỉnh thế văn học thi pháp có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp một trào lưu thi pháp văn học một thời đại, thời kỳ lịch sử
Thi pháp học là công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách
tư duy của tác giả cũng như nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kỳ văn học nghệ thuật, từ đó nâng cao năng lực thụ cảm tác phẩm.[8,
tr 256 - 258]
1.2 Phạm Tiến Duật trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam
1.2.1 Nhà thơ Phạm Tiến Duật
Nhà thơ Phạm Tiến Duật sinh ngày 04- 01-1941 tại thị xã Phú Thọ - tỉnh Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) trong một gia đình nhà giáo Tuổi thơ của ông gắn bó với miền đất trung du "rừng cọ đồi chè", với bầu không khí văn hoá dân gian của miền quê xoan ghẹo, với những lễ hội của miền đất tổ vua Hùng Miền quê bình yên của ông những năm tháng chống Mỹ cũng sục sôi không khí kháng chiến Là con người sôi nổi, ông nhanh chóng bị cuốn vào không khí hào hùng của đời sống văn nghệ kháng chiến trên đất quê hương Phú Thọ Tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, thay vì đứng trên bục giảng làm thầy, ông đã khoác ba lô ra chiến trường Cuộc đời quân ngũ của ông gắn liền với những con đường, với rừng già Trường Sơn Kể cả khi là cán bộ tuyên truyền hay làm phóng viên thì chiến trường vẫn là địa chỉ công tác, hoạt động, sáng tác của ông Sự cộng hưởng của không khí chiến trận hào hùng cùng với trái tim rực lửa, thiết tha đã thăng hoa thành nghệ thuật thơ ca Có thể nói, sự hình thành phong cách thơ Phạm Tiến Duật gắn liền với con đường huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước
Phạm Tiến Duật là một thanh niên trí thức có cái tài hoa của một người Bắc đã từng được sống khá lâu ở Hà Nội Ông là người thích sự tinh nghịch,
Trang 14đến Trường Sơn lại càng nhiều điều mới mẻ, Phạm Tiến Duật không khỏi ngạc nhiên khi đặt chân tới cái "vùng rừng không dân" ấy Đó là sự ngạc nhiên về âm thanh, ngạc nhiên về cảnh thiên nhiên, và ngạc nhiên hơn cả là những con người đang sống, chiến đấu ở đây Cá tính ấy của hồn thơ Phạm Tiến Duật đã tìm đúng được mảnh đất riêng của mình - đường Trường Sơn trong những năm tháng chống Mỹ Và hồn thơ ấy chỉ có thể phát triển mạnh
mẽ, trở nên cường tráng trên mảnh đất hiện thực này
Đường Trường Sơn - đường mòn Hồ Chí Minh trong những năm tháng chống Mỹ là điển hình của cuộc sống sôi động ấy Nếu không có nó, Phạm Tiến Duật không thể cất lên giọng điệu thơ đích thực của mình Chính Phạm
Tiến Duật trong lời Tự bạch đã khẳng định: "Nếu không có cuộc sống với
những con người đa dạng ồn ào bao quanh với xô bồ chi tiết trôi chảy từng phút từng giờ, thì hình như tôi không có thơ" Trong lời giới thiệu tuyển thơ chống Mỹ cứu nước 1965 - 1967, nhà thơ Chế Lan Viên rất quan tâm tới sự xuất hiện của các nhà thơ trẻ Ông đã nhắc tên một số cây bút "có hay chưa có bài trong tuyển tập", nhưng tuyệt nhiên, Phạm Tiến Duật vẫn không hề được nhắc đến Chỉ đến khi Phạm Tiến Duật đoạt giải nhất cuộc thi thơ của tuần
báo Văn nghệ 1969 - 1970 với chùm bốn bài thơ: Lửa đèn, Bài thơ về tiểu đội
xe không kính, Nhớ, Gửi em cô thanh niên xung phong, tên Phạm Tiến Duật
mới gây được sự chú ý đặc biệt, khẳng định tiếng nói trữ tình của thế hệ thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ
Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ là đòi hỏi của dân tộc và thời đại, đồng thời cũng chính là đòi hỏi của chính nền thơ chống Mỹ Nhiều nhà thơ trẻ có tên tuổi thuộc nhiều thế hệ đã viết về chiến tranh bằng cách nhìn riêng,
in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của mình Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn cứ còn thiếu hụt một mảng, và người đọc vẫn khao khát được đọc những vần thơ của những người trực tiếp cầm súng - những vần thơ như còn vương bụi đất chiến trường và nồng nặc mùi lửa của
Trang 15bom đạn Phạm Tiến Duật đem đến cho thơ hiện đại Việt Nam một tiếng nói mới có cá tính riêng độc đáo
Ở nhà thơ Phạm Tiến Duật, sự cộng hưởng của không khí chiến trận hào hùng cùng với trái tim rực lửa, thiết tha đã thăng hoa thành nghệ thuật thơ ca Thơ Phạm Tiến Duật đưa người đọc đi thẳng vào giữa hiện thực của cuộc chiến tranh, đến những nơi gian khổ, nóng bỏng, ác liệt nhất Đọc những tập thơ ấy, người ta thấy được cái không khí khẩn trương, dồn dập, ác liệt, sôi động và hào hùng của những năm tháng sục sôi đánh Mỹ Phạm Tiến Duật đã gắn bó sâu sắc, đã sống hết mình, đã hoà nhập thực sự với những con người sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn Ông đã được chứng kiến tận mắt
cảnh trong đêm tối "tàn lá đầy trời như mưa tuyết màu đen" (Những mảnh tàn lá) Cảnh "xe đi trong tầm bom rơi" giữa một vùng rừng "ngổn ngang cây đổ",
đã nhìn thấy "hố bom dày như lỗ hà ăn chân"ở ngã ba Đồng Lộc Không còn
là một Trường Sơn trong trí tưởng tượng bay bổng mà là một Trường Sơn hiện thực - một trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của đế quốc Mỹ Ấy là nơi
"Mười bẩy trận bom Mỹ dội một ngày" (Tiếng cười của đồng chí coi kho), ấy
là "nơi túi bom bay mù bụi đỏ" (Niềm tin có thật) Ở chặng đường này, ít
thấy những trang thơ của Phạm Tiến Duật không có cảnh khói lửa đạn bom Tuy nhiên, đọc thơ Phạm Tiến Duật sẽ thấy ông không nghiêng về phía miêu tả cái khốc liệt, cái dữ dội của chiến tranh mà chủ yếu là thể hiện những con người mang trong mình dòng máu chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giàu lòng lạc quan, tha thiết yêu đời trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ, hiểm nguy Cái khốc liệt của chiến tranh chỉ là cái phông, cái nền làm nổi bật chân dung những người ra trận Chính hiện thực Trường Sơn và sự gắn bó sâu sắc với con đường máu lửa này đã giúp cho Phạm Tiến Duật đã đưa vào thơ mình những chi tiết đời sống rất chân thực, còn tươi ròng cảm xúc, bám đầy bụi đất chiến trường Phạm Tiến Duật đã tạo được bản giao hưởng Trường Sơn mang đầy chất lãng mạn
Trang 16Thơ Phạm Tiến Duật như một bức tranh thu nhỏ, phản ánh được hiện thực cuộc sống ở chiến trường thời kỳ chống Mỹ, trong đó nổi bật những chân dung dũng cảm, lạc quan, yêu đời của thế hệ trẻ cầm súng Hình ảnh những anh lái xe, cô thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn là những bức chân dung mà Phạm Tiến Duật đã có công góp vào bảo tàng những con người Việt Nam anh hùng thời chống Mỹ Nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật, ta được đến gần hơn với vẻ đẹp hồn nhiên, anh dũng của con người một thời đau thương mà hào hùng của lịch sử Hiện thực chiến trường và con đường Trường Sơn một thời đã giúp Phạm Tiến Duật tự phát hiện mình, phát hiện chất thơ của thế hệ mình trong những chi tiết hiện thực thô nhám và thuyết phục sự đồng cảm của người đọc bằng chất thơ trữ tình tươi trẻ, tinh nghịch, hóm hỉnh, lãng mạn
Mùa xuân năm 1975, hoà bình trở lại trên đất nước Việt Nam, người chiến sỹ - nhà thơ Phạm Tiến Duật trở về cuộc sống đời thường Thay vì cái thời trẻ trung, sôi nổi của thời thanh xuân nóng bỏng tại chiến trường, thơ ông trầm tư hơn trước những vấn đề thế sự, trước những đổi thay của cuộc sống,
trước những số phận của con người Tiếng bom và tiếng chuông chùa (1997 trường ca), Đường dài và Những đốm lửa (2002, Tuyển tập) đã thể hiện
những cố gắng tìm tòi của ông trong việc đổi mới thi pháp thơ ca, nhưng người đọc dường như vẫn mong muốn điều gì đó nhiều hơn thế ở ông Thiết nghĩ, mỗi con người, mỗi nhà thơ chỉ có một cái tạng, cái tạng ấy sẽ được thăng hoa đến đỉnh cao trong một điều kiện, một hoàn cảnh, một thời điểm nhất định Với Phạm Tiến Duật cái thời ấy là Trường Sơn những năm tháng chống Mỹ Nhà thơ chỉ có thể viết hay được về những gì mình có, những gì trở thành máu thịt của mình Sau chiến tranh ông vẫn viết tiếp những "bài ca kháng chiến" đã bổ sung thêm, làm hoàn chỉnh, đầy đủ hơn cho phong cách nghệ thuật thơ Sự từng trải cá nhân và sự chiêm nghiệm của cuộc sống trước hiện thực mới đã tạo cho thơ Phạm Tiến Duật sau này có cả niềm vui và nỗi buồn, có bề cao, bề rộng và có cả bề sâu, có tập thể và có cá nhân, có rừng núi
Trang 17và có cả phố phường, có quá khứ và hiện tại, có khoảnh khắc và có muôn thuở vĩnh hằng
Nhìn lại một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật, ta thấy rõ những nét riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân Khuynh hướng sáng tạo chủ yếu của thơ Phạm Tiến Duật, nói như Lê Đình Kỵ, là đi tìm, khám phá cái đẹp của con người từ trong các diễn biến sôi động của cuộc sống Thời gian thẩm định cho
ta thấy thơ Phạm Tiến Duật có sức hấp dẫn kỳ lạ Tài năng và lòng nhiệt tình gặp được mảnh đất hiện thực màu mỡ đã tạo nên một hồn thơ - một phong cách thơ Phạm Tiến Duật thật độc đáo
1.2.2 Thơ ca Việt Nam hiện đại
1.2.2.1 Thơ ca kháng chiến chống Mỹ
Văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1964- 1975), có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Đây là thời kỳ văn học phát triển rực rỡ trên nhiều thể loại để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình: làm cuốn
“biên niên văn học” về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc Trong sự phát triển đó, thơ ca chống Mỹ, nhất là thơ của các nhà thơ trẻ thời kỳ này đã gây được sự chú ý đặc biệt, nhanh chóng trưởng thành đạt được nhiều thành tựu xuất sắc
Từ tháng 8 năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước sang một giai đoạn mới gay go, căng thẳng và vô cùng ác liệt Phản ánh kịp thời và động viên chiến đấu, sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng trong thời
kỳ chống Mỹ Đó không chỉ là đòi hỏi cả thời đại mà còn là sự thôi thúc bên trong của chính các nhà thơ Nhanh nhạy và kịp thời, nền thơ hiện đại nóng bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu của chúng ta đã "nhập cuộc" tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của toàn dân tộc Suốt trong những năm tháng chiến tranh, các thế hệ nhà thơ đã tiếp bước nhau dàn quân
Trang 18và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam trong thời đại chống Mỹ Nền thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: Thế
hệ nhà thơ xuất hiện từ trước Cách mạng (Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh ), thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Pháp (Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông ) và thế hệ nhà thơ ra đời trong thời kỳ chống Mỹ Mỗi thế hệ nhà thơ nói trên đều có thế mạnh riêng và có những đóng góp đáng ghi nhận đối với nền thơ chống Mỹ Chỉ trong vòng mười năm, nền thơ chống Mỹ đã liên tiếp xuất hiện một đội ngũ những gương mặt thơ trẻ như Thái Giang, Nguyễn Mỹ, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Khoa Điềm, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ Đó là những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ thời kỳ chống Mỹ
Thuộc lớp người phần lớn được sinh ra từ sau Cách mạng, được trau dồi tri thức văn hoá trong nhà trường của chế độ mới, nhiều nhà thơ thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nước đã từ cánh cửa nhà trường đi thẳng tới chiến trường cầm súng chiến đấu Hiện thực đời sống những năm tháng chống Mỹ, ngọn lửa chiến tranh cách mạng đã tôi luyện họ thành những con người vững vàng trong cuộc sống, có bản lĩnh trong nghệ thuật Sáp mặt với thực tế chiến tranh, những nhà thơ trẻ thời chống Mỹ tự ý thức sâu sắc về
vị trí, vai trò của thế hệ mình Trong thực tế, các nhà thơ trẻ chỉ thực sự khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ chống Mỹ khi họ có một sự thống nhất chung cao độ của cả một thế hệ, có cách nhìn riêng, có giọng điệu riêng khi viết về cuộc chiến tranh Các nhà thơ trẻ một mặt có ý thức kế thừa, nhưng mặt khác chính điều kiện sáng tác giàu chất sử thi ấy đã tạo ra tiếng nói riêng, giọng điệu riêng cho thế hệ của họ Như những mầm cây có sức sống mãnh liệt không gì tàn phá nổi, trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh, một thế hệ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã vượt lên tự khẳng định mình, vừa tiếp nối
Trang 19truyền thống của các thế hệ trước, vừa có sáng tạo độc đáo làm nên những nét riêng của cả một giai đoạn thơ ca
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mĩ lần đầu cho máy bay bắn phá miền Bắc nước
ta, sau khi chúng đã dựng lên cái gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ” Cả nước ta bước vào cao trào kháng chiến chống Mĩ Cuộc chiến tranh giải phóng trải qua nhiều cam go, khốc liệt để đi tới thắng lợi trọn vẹn ngày 30-4-1975 Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền thơ Việt Nam Từ thơ kháng chiến chống Pháp, thơ đấu tranh thống nhất đất nước đến thơ kháng chiến chống Mĩ là sự kế tục và phát triển liền mạch của nền thơ cách mạng
Có thể khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của thơ thời kì này trước hết ở đội ngũ nhà thơ Chưa bao giờ lực lượng sáng tác thơ lại tập hợp được nhiều thế hệ và nhiều phong cách, vừa thống nhất vừa bổ sung cho nhau như thời kì này Thế hệ các nhà thơ xuất hiện từ trước 1945 như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh vẫn tiếp tục sáng tác khá dồi dào và nhiều người đạt được những đỉnh cao mới, tạo ra chặng đường mới trên con đường thơ của mình Thế hệ kháng chiến chống Pháp như Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông cũng thực sự khởi sắc Các nhà thơ trẻ xuất hiện từ đầu những năm 60, đặc biệt đông đảo trong thời kì chiến tranh chống Mĩ, đã đem đến cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, nhạy cảm, mà trong đó có không ít tài năng đã sớm được chú ý và khẳng định: Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo Đội ngũ sáng tác thơ ở vùng giải phóng và các chiến trường miền Nam đã đông đảo và vững mạnh lên nhiều Giang Nam, Thanh Hải vẫn bám trụ ở những chiến trường quen thuộc của họ; Ca Lê Hiến từ miền Bắc trở về chiến trường Nam Bộ với bút danh Lê Anh Xuân; từ các đô thị xuất hiện những tiếng thơ đấu tranh, thức tỉnh của thế hệ trẻ trong vùng kiểm soát của kẻ thù như Trần Quang
Trang 20hàng vạn thanh niên cầm súng đi vào các chiến trường tham gia cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, đã nảy nở nhiều tài năng thơ như là một nhu cầu tự
ý thức và tự biểu hiện của thế hệ trẻ
Giá trị nổi bật và bền vững của thơ kháng chiến chống Mĩ là ở nội dung
tư tưởng - cảm xúc Nó tập trung biểu hiện những tình cảm, tư tưởng lớn của thời đại, phát hiện và sáng tạo những hình tượng cao đẹp về Tổ quốc, dân tộc
và nhân dân, về những thế hệ con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước Đó cũng chính là sự kế tục một truyền thống tốt đẹp của nền thơ Việt Nam qua nhiều thời đại: gắn bó mật thiết với vận mệnh của đất nước, dân tộc và nhân dân
Chủ nghĩa yêu nước là nguồn động lực tinh thần lớn nhất của hết thảy mọi người trong cuộc kháng chiến, cũng là nguồn cảm hứng lớn bao trùm và thấm sâu trong mọi tác phẩm thơ ca Kế tục truyền thống tư tưởng yêu nước của nền thơ dân tộc, trực tiếp nhất là của thơ kháng chiến chống Pháp và thơ đấu tranh thống nhất đất nước, trong thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ chủ nghĩa yêu nước được phát triển tới những chiều cao và độ sâu mới và được biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng
Viết về Tổ quốc cũng có nghĩa là khám phá về dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, với những nét phẩm chất cao đẹp và bền vững là chủ nghĩa anh hùng và tình thương, lòng nhân ái, đức hi sinh Thơ đã xây dựng được nhiều hình tượng đẹp về con người Việt Nam thời đánh Mĩ, ở nhiều tầng lớp, thế hệ, lứa tuổi, họ đều là biểu tượng của dân tộc và nhân dân Nhận thức về đất nước luôn gắn liền với nhận thức về nhân dân, đó cũng là một nét nổi bật trong chủ nghĩa yêu nước ở thơ thời kì này Cuộc kháng chiến chống Mĩ một lần nữa thể hiện sức mạnh vô tận, phẩm chất tuyệt vời và những hi sinh vô cùng to lớn của nhân dân Tư tưởng đất nước của nhân dân đã thấm sâu vào cái nhìn và xúc cảm của mọi nhà thơ khi nói về đất nước Nhân dân, đó là những người mẹ, người cha, người chị, ở mọi nơi, mọi vùng, tiền tuyến và
Trang 21hậu phương, miền Nam và miền Bắc, mà mỗi người lính, người cán bộ đều được họ giúp đỡ, chở che, nuôi dưỡng
Những giá trị nói trên của thơ kháng chiến chống Mĩ là điều ít ai nghi ngờ và cũng khó có thể phủ nhận Nhưng lâu nay cũng tồn tại một câu hỏi, cả trong giới sáng tác và giới nghiên cứu, đó là: Thơ kháng chiến có đổi mới gì
về thi pháp, có đóng góp gì cho tiến trình vận động của thơ Việt Nam hiện đại? Trong cuộc thảo luận về thơ trên báo Văn nghệ hồi những năm 1994 -
1995, vấn đề này đã được bàn cãi sôi nổi Theo tôi, những điểm cơ bản tạo nên đặc trưng thi pháp thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ và cũng là những đóng góp của thơ thời kì này cho tiến trình thơ Việt Nam hiện đại là những điểm sau:
Thơ kháng chiến chống Mỹ thuộc loại hình thơ Cách mạng Để đánh giá đúng một hiện tượng thơ cần đặt nó vào loại hình thơ với những đặc trưng thẩm mĩ, quan niệm thơ ca của loại hình thơ ấy Thơ cổ điển, thơ lãng mạn, thơ tượng trưng đều có những quan niệm nghệ thuật riêng, những đặc trưng thẩm mĩ, quy định cái nhìn thế giới và những nguyên tắc sáng tạo riêng biệt,
và đó cũng là những đóng góp của mỗi loại hình vào tiến trình thơ của nhân loại Thơ kháng chiến chống Mỹ là sự tiếp nối liền mạch dòng thơ kháng chiến chống Pháp và thơ trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng
đã đưa loại hình thơ cách mạng đến một bước phát triển cao, mà đặc điểm nổi bật là sự kết hợp sử thi với trữ tình, tạo thành khuynh hướng trữ tình sử thi Nói sử thi ở đây không phải chỉ ở nội dung thể tài, mà còn ở quan điểm tiếp cận của nhà thơ với mọi hiện tượng đời sống, là quan điểm cộng đồng
Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ đặt dân tộc ta trước những thử thách gay gắt, vận mệnh của đất nước, tự do và độc lập của dân tộc đứng trước nguy cơ một mất một còn Trong những năm tháng ấy, đời sống và số phận của mỗi người tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước, với cuộc chiến đấu của dân tộc Trong hoàn cảnh lịch sử và khí quyển tinh thần
Trang 22ngôn cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống nhất của mọi người, của toàn dân tộc Đó là lúc như cách nói của nhà thơ Chế Lan Viên: Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau, bởi vậy, không có con đường nào khác cho thơ ngoài con đường Bay theo đường dân tộc đang bay Quan điểm sử thi tạo cho nhà thơ một chỗ đứng ở tầm cao để bao quát thời đại, lịch sử Đồng thời quan điểm ấy cũng định hướng cho sự suy ngẫm, phát hiện, liên tưởng của nhà thơ trước mọi hiện tượng và vấn đề, kể cả đời sống riêng tư, cá nhân hay thế sự Nhờ thế mà thơ kháng chiến chống Mĩ đã tạo dựng được nhiều hình tượng đẹp, kì vĩ, mới mẻ về đất nước, nhân dân, về cuộc chiến đấu của dân tộc mang tầm thời đại Cũng nhờ đó mà trong thơ thời kì này có nhiều phát hiện, liên tưởng, mở rộng và đào sâu ý nghĩa khái quát, biểu tượng của những chi tiết, hình ảnh hiện thực
Cùng với sự kết hợp chất sử thi và chất trữ tình trong loại hình trữ tình -
sử thi, thơ kháng chiến chống Mĩ có những tìm tòi, sáng tạo trong việc kết hợp thể tài lịch sử với những chất liệu của cái hàng ngày và đời sống riêng tư Bên cạnh việc ưu tiên cho chất liệu lịch sử, các sự kiện trọng đại của đời sống dân tộc, phương thức khá phổ biến trong thơ kháng chiến chống Mĩ là phát hiện ý nghĩa lịch sử, tính thời đại trong các chi tiết, hình ảnh của đời sống hàng ngày, cả trong đời sống riêng Chế Lan Viên có ý thức về điều này khi
ông đặt hai mảng thơ Hoa ngày thường và Chim báo bão vào trong một tập
thơ Các nhà thơ thuộc thế hệ trẻ thì luôn tiếp cận những vấn đề thời đại, lịch
sử từ trải nghiệm của chính mình, của thế hệ mình Thanh Thảo viết trong
trường ca Những người đi tới biển:
Buổi sáng ấy tôi bước vào tuổi 25
Ở đường dây 559 - trạm 73 Ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt
Cổ đắng khô ngồi thở trên
Trang 23đỉnh dốc Bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng Hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt
đầu tiên Ngày sinh nhật tuổi 25 mình được uống
Còn với Xuân Quỳnh thì gió, cát ở vùng tuyến lửa Quảng Bình đã trở thành Ngọn gió Lào, cát trắng của đời tôi
Về cái “tôi” trữ tình, thơ kháng chiến chống Mĩ tập trung xây dựng hai hình tượng: cái “tôi” sử thi và cái “tôi” thế hệ trẻ Đó là hai dạng thức làm phong phú thêm cho hình tượng cái “tôi” của thơ Việt Nam hiện đại Cái “tôi”
sử thi đã xuất hiện trong thơ thời kì kháng chiến chống Pháp và được tiếp tục
ở mười năm hòa bình, đến cuộc kháng chiến chống Mĩ đã trở thành hình tượng cái “tôi” trữ tình chủ đạo và đặc trưng Cái “tôi” sử thi tạo cho nhà thơ tâm thế trữ tình cao rộng với tư cách phát ngôn cho cả dân tộc, đất nước, nhân dân Bởi vậy, cái tôi ấy có thể cất lên lời kêu gọi, mệnh lệnh, hô hào, cổ vũ: Hãy gầm lên như sấm sét đùng đùng/ Tất cả pháo và xông lên dũng sĩ (Tố Hữu), Hãy yêu, hãy yêu và bảo vệ/ Mây nước, cửa nhà, văn học, ngữ ngôn (Chế Lan Viên) Cái “tôi” sử thi đại diện cho tiếng nói của dân tộc, lương tri của nhân loại để vạch mặt, lên án, chất vấn, truy kích kẻ thù, tố cáo những âm mưu và tội ác của chúng Tư thế của cái “tôi” sử thi cho nhà thơ chỗ đứng ở đỉnh cao của thời đại để bao quát cả thời gian và không gian, lịch sử và hiện tại, dân tộc và nhân loại, quá khứ và tương lai, để mà phát hiện, suy ngẫm, hình dung, dự đoán về mọi vấn đề hệ trọng, lớn lao của vận mệnh đất nước, lịch sử dân tộc Nhờ thế mà thơ thời kì chống Mĩ đã có sự mở rộng rất đáng
kể về không gian và thời gian được chiếm lĩnh trong thơ, nối liền quá khứ lịch
sử với hiện tại và tương lai, liên kết dân tộc với thời đại và nhân loại
Cái “tôi” sử thi chủ yếu hiện ra trong sự tự nhận thức, phát hiện và tự thể
Trang 24phần trên khi nói về chủ nghĩa yêu nước trong thơ thời kì chống Mĩ đã đề cập tới điều này Ở đây chỉ lưu ý thêm rằng, khi nói về dân tộc, đất nước, nhà thơ thường sử dụng cái “tôi” với hai bình diện Một mặt, đó là sự tự khẳng định,
tự biểu hiện của cộng đồng dân tộc, nhân dân; mặt khác, nhà thơ lại trong vai trò người chiêm ngưỡng, nhìn ngắm, ngợi ca với tất cả sự cảm phục, thành kính và tự hào Nhờ sự kết hợp hai bình diện này mà cái “tôi” sử thi trong thơ thời kì chống Mĩ tuy rất thống nhất nhưng không đơn điệu, không hoàn toàn thủ tiêu cái “tôi” của tác giả, vì thế bản sắc, cá tính của mỗi nhà thơ vẫn có chỗ để bộc lộ, phát huy
Cùng với cái “tôi” sử thi, cái “tôi” thế hệ là dạng thức tiêu biểu, nổi bật của cái “tôi” trữ tình trong thơ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ Cái “tôi” thế
hệ thống nhất với cái “tôi” sử thi và có thể coi là một biến thể, một dạng độc đáo và cụ thể của cái “tôi” sử thi Có lẽ, sau phong trào Thơ Mới (1932-1945) đến thời kì này xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà thơ trẻ của cùng một thế hệ Thơ của các nhà thơ trẻ là tiếng nói tự ý thức, tự biểu hiện của thế hệ trẻ tự nguyện nhập cuộc và được trải nghiệm qua thử thách của chiến tranh Mỗi nhà thơ trong số họ đều ý thức rõ ràng về thế hệ mình và về tính chất đại diện cho tiếng nói thế hệ của thơ mình Thế hệ ấy thấu hiểu trách nhiệm và sứ mệnh của mình:
Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai
(Bằng Việt) Lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính Trùng điệp áo màu xanh là một tiếng trả lời
Trang 25cuộc đời mình
(Hữu Thỉnh) Cái “tôi” thế hệ còn được thể hiện trong hình ảnh những con người cụ thể, tiêu biểu cho thế hệ ấy, và đây là đóng góp xuất sắc của thơ trẻ vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật về con người Việt Nam của thời đại chống
Mĩ Người đọc không thể quên chân dung của những người lính lái xe, cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong thơ Phạm Tiến Duật, người lính bộ binh trong thơ Nguyễn Đức Mậu và sự hi sinh, tình đồng
đội của họ trong Nấm mộ và cây trầm, người chiến sĩ giải phóng hi sinh trong
tư thế nổ súng tiến công trong thơ Lê Anh Xuân, chân dung những người lính
xe tăng, xạ thủ trung liên trong thơ Hữu Thỉnh và còn bao nhiêu những hình ảnh khác vẫn lưu lại trong thơ và trong lòng bạn đọc
Mười năm thơ kháng chiến chống Mĩ cũng là chặng đường mà cái “tôi” thế hệ ghi lại quá trình trưởng thành về ý thức của thế hệ trẻ đã đi qua suốt một cuộc chiến tranh ngày càng dữ dội, quyết liệt Từ cái náo nức, say sưa với cảm hứng lãng mạn của buổi đầu đến sự trải nghiệm với nhiều suy tư trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, cái “tôi” của thơ trẻ muốn tìm cho mình một tiếng nói trầm tĩnh, trực tiếp, thậm chí đến trần trụi, chối bỏ những gì hoa mĩ
và sáo mòn trong thơ Cái “tôi” thế hệ tạo nên sự thống nhất trong tiếng thơ của các nhà thơ trẻ, nhưng vẫn có thể nhận ra những giọng điệu riêng mang rõ bản sắc của từng người, ở những nhà thơ có tài năng và cá tính Sau năm
1975, một số tác giả trong thế hệ này vẫn tiếp tục hành trình sáng tạo với những nỗ lực tìm kiếm, trăn trở đầy nhọc nhằn, có cả sự bứt phá tự vượt lên mình để tìm đến một giọng thơ mới, phù hợp với giai đoạn mới Nhưng đọc
họ, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra những nét cơ bản và bền vững của một cá tính, một chất giọng đã được hình thành từ giai đoạn chống Mĩ
Cùng với xu hướng tăng cường tính chính luận, chất triết lí, thơ chống
Mĩ đặc biệt chú trọng mở rộng chất liệu thơ từ hiện thực đời sống Nhằm đề
Trang 26đến khuynh hướng trữ tình chính trị với sự tăng cường yếu tố chính luận Bám sát thời sự diễn biến của cuộc chiến đấu, kịp thời đề cập và giải đáp những vấn đề hệ trọng về tư tưởng chính trị, khẳng định đường lối và quyết tâm chiến đấu của dân tộc, lên án kẻ thù trong những âm mưu thủ đoạn và tội ác của chúng , đó là những cảm hứng và chủ đề thường trực trong thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên và nhiều nhà thơ khác Tính chính luận thường gắn bó và được
bổ sung bằng chất suy tưởng, triết lí Nhà thơ vừa như một nhà tuyên truyền,
cổ động lại vừa là nhà tư tưởng, nhà nghệ sĩ để phát hiện, khám phá và say mê khẳng định Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, thời đại Tính chính luận và chất triết
lí, suy tưởng là đặc điểm nổi bật trong thơ của các nhà thơ lớp trước đã thấm đượm cả trong thơ các nhà thơ trẻ Nhưng trong thơ của thế hệ này, ưu thế nổi trội và cũng là sự đóng góp quan trọng nhất của họ chính là việc gia tăng chất liệu hiện thực đời sống, mở rộng khả năng cho thơ chiếm lĩnh thực tại bộn bề, phong phú và đa dạng của hiện thực chiến tranh Các nhà thơ đã đưa vào trong thơ nhiều chân dung thế hệ trẻ với những chi tiết chân thực, sinh động
và đặc sắc về cuộc sống chiến đấu và sinh hoạt của người lính, tình đồng đội
và cả tình yêu, niềm vui và nỗi đau của họ Người đọc không thể không nhớ những chi tiết, hình ảnh như trái cây - ngọn đèn của Phạm Tiến Duật, mái tăng “bầu trời vuông” của Nguyễn Duy, chùm hoa bưởi tỏa hương lặng lẽ mà nồng nàn trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn hay tiếng ve theo cùng những người lính trẻ ra mặt trận trong thơ Hoàng Nhuận Cầm, những dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo, khúc hát ru của người mẹ Tà Ôi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm , và còn rất nhiều hình ảnh thơ giàu chất thực nhưng cũng đậm tính khái quát đã trở thành những biểu tượng của một giai đoạn lịch sử Đặc biệt, ở các trường ca xuất hiện trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh và ngay sau khi chiến tranh kết thúc, yếu tố tự sự với rất nhiều hình ảnh, sự việc, con người đã thâm nhập mạnh mẽ, kết hợp với chính luận và trữ tình, tạo nên tính tổng hợp của thể loại này Xu hướng đưa chất liệu hiện thực đời sống vào thơ
đã được mở ra từ thời kì kháng chiến chống Pháp và thu được nhiều thành
Trang 27công; thơ những năm chống Mĩ tiếp tục đẩy mạnh xu hướng ấy, đồng thời đạt được sự kết hợp nhuần nhuyễn hơn giữa ngoại cảnh với nội tâm, miêu tả và biểu hiện, cụ thể và khái quát Chất liệu hiện thực trong thơ kháng chiến chống Pháp thường giữ nguyên được vẻ hồn nhiên, tự nhiên của nó nhưng ít khi có được sức chứa lớn, tính khái quát cao Việc xử lí chất liệu hiện thực của các nhà thơ thời kì chống Mĩ nhìn chung ở một trình độ cao hơn, chủ động hơn trong sự chọn lọc và nhất là bằng suy tưởng, liên tưởng để phát hiện
ý nghĩa khái quát, triết lí tiềm ẩn trong đó Từ sau 1975, nhất là từ thời kì đổi mới, quan niệm về hiện thực của văn học đã được biến đổi, mở rộng tới mọi biên độ và tầng bậc của đời sống, thì chất liệu của thơ cũng hết sức đa dạng Cái hàng ngày bộn bề, trần trụi, bụi bặm ở bên cạnh đời sống tâm linh, những vùng mờ chập chờn của tiềm thức, vô thức, những khát khao bản năng và những suy nghiệm về bản thể , tất cả đều có thể hiện diện trong thơ hôm nay Thơ kháng chiến chống Mĩ đã thúc đẩy xu hướng tự do hóa hình thức thơ lên một bước mới Cuộc “cách mạng thơ ca” của phong trào Thơ Mới, xét
về mặt hình thức nghệ thuật, đã phá vỡ nhiều khuôn khổ ràng buộc với những quy phạm chặt chẽ, tạo ra những khả năng mới và rộng rãi cho thơ trong việc khám phá và biểu hiện đời sống, đặc biệt là đời sống bên trong của con người
cá nhân cá thể, vì vậy đã mở ra xu hướng tự do hóa cho hình thức thơ Tuy nhiên, xu hướng ấy mới chỉ đi được những bước khởi đầu Thơ cách mạng từ
1945 đứng trước yêu cầu mở rộng khả năng phản ánh và phạm vi ôm chứa hiện thực rộng lớn, phong phú của đời sống cách mạng và kháng chiến, nên
đã thúc đẩy mạnh mẽ những tìm tòi theo hướng tự do hóa hình thức thơ Thơ kháng chiến chống Mĩ, bên cạnh việc kế thừa những kinh nghiệm nghệ thuật truyền thống, đã rất chú ý tìm tòi, sáng tạo trên phương diện hình thức theo hướng tự do hóa
Một trong những cống hiến quan trọng nhất của Thơ Mới cho tiến trình thơ dân tộc, như Trần Đình Sử khẳng định, là đã tạo dáng lại cho câu thơ, đưa
Trang 28Mới cũng mới là bước đầu Thơ kháng chiến đã tiếp tục con đường ấy và làm phong phú hơn cho câu thơ điệu nói, theo hướng đưa tiếng nói của thơ về gần hơn với tiếng nói hàng ngày, tiếng nói của đông đảo nhân dân trong thời đại cách mạng Câu thơ điệu nói đến thơ chống Mĩ đã thực sự đa dạng với nhiều cách tổ chức và nhiều phong cách lời nói Có lời đối thoại, lời tự bạch, tự khẳng định, lời suy ngẫm, triết lí, lời kêu gọi, mệnh lệnh, lại có lời kể và tả như những phóng sự, ghi nhanh Câu thơ điệu ngâm đặt trọng tâm ở thể điệu, còn câu thơ điệu nói lại tạo sức hấp dẫn chủ yếu bằng giọng điệu Mặc dù vẫn trong khuôn khổ của loại hình thơ trữ tình sử thi nhưng thơ chống Mĩ đã có nhiều giọng điệu khác nhau, tạo được ấn tượng cho người đọc Có thể dễ dàng nhận ra giọng tinh nghịch có chút ngang tàng của Phạm Tiến Duật, giọng trầm tư hơi khắc khổ của Nguyễn Duy, giọng suy tư triết lí mang tính đối thoại của Thanh Thảo, giọng nồng nàn mà hồn nhiên của Xuân Quỳnh
Về cấu trúc bài thơ, ngoài những cách thức quen thuộc kế thừa từ Thơ Mới và thơ ca dân gian, thơ kháng chiến chống Mĩ có nhiều tìm tòi theo hướng mở rộng khuôn khổ, đa dạng hóa kết cấu bài thơ Có bài thơ theo lối tùy bút, lại có những bài thơ được tổ chức thành từng chùm, thành chuỗi thơ theo một chủ đề, hoặc như những giao hưởng, tổ khúc có chia thành nhiều chương, đoạn Nhu cầu mở rộng khuôn khổ và sức dung chứa của tác phẩm thơ đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thể trường ca trong những năm cuối chiến tranh và sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ Trong giai đoạn này, trường ca không còn kết cấu theo mạch cốt truyện như những trường ca xuất hiện trước đó, mà được tổ chức theo sự phát triển của chủ đề Các trường ca này là một thể loại mang tính tổng hợp cả trữ tình, tự
sự, chính luận Cùng với việc mở rộng phạm vi phản ánh và biểu hiện, các trường ca này cũng thể hiện xu hướng tự do hóa rất mạnh trong cấu trúc tác phẩm và ngôn ngữ thơ Tác phẩm thường được tổ chức thành nhiều chương, khúc, mà mỗi chương, khúc có thể được đặt tên Mạch liên kết của các chương là mạch triển khai của chủ đề mang tính chính luận - trữ tình Thể thơ
Trang 29được sử dụng chủ yếu là thơ tự do hoặc hợp thể giữa thơ tự do và các thể cách luật
1.2.2.2 Thơ ca sau năm 1975
Sau đại thắng mùa xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn tiếp tục
là nguồn cảm hứng lớn của thơ, nhất là ở nửa cuối thập kỷ 70 và đầu những
năm 80 Bên cạnh niềm hân hoan "toàn thắng về ta", là niềm xúc động sum
họp Bắc - Nam, của những người con miền Nam được trở lại quê hương sau
hơn hai mươi năm nhớ thương, xa cách (Bài ca quê hương - Tố Hữu, Tôi muốn đi thăm khắp cả miền Nam - Xuân Diệu, Trở lại con sông quê hương -
Tế Hanh) Khi cuộc chiến tranh đã đi qua và đứng ở vị thế người chiến thắng, các nhà thơ thuộc thế hệ thơ trẻ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ có nhu cầu nhìn lại con đường mà thế hệ mình cùng với cả dân tộc vừa đi qua, chiêm nghiệm về lịch sử qua những trải nghiệm của chính mình và thế hệ mình Thể loại trường ca với khả năng tổng hợp trong nó cả trữ tình, tự sự, chính luận đã đáp ứng tối đa nhu cầu nói trên Vì thế đã có một giai đoạn nở rộ của trường
ca trong khoảng từ 1976 đến 1980 Cảm hứng sử thi vẫn là nền tảng của các trường ca và nhiều bài thơ về đề tài chiến tranh chống Mỹ, nhưng những trải nghiệm cá nhân của mỗi người làm thơ đã làm cho sự khái quát lịch sử có được cái nhìn cụ thể, xác thực và thấm thía hơn Giọng điệu cũng trầm lắng, hướng vào suy tư chứ không còn cất lên ở âm vực cao đầy hào sảng hoặc bay bổng lãng mạn Sự khẳng định dân tộc, ngợi ca sức mạnh của nhân dân thường được thể hiện qua những mất mát, hy sinh, nỗi đau thầm lặng của vô vàn con người, bao nhiêu số phận
Trở về với cuộc sống thời bình, con người có điều kiện trở về với đời sống thế sự và riêng tư Ý thức về thời gian đời người, khát vọng hạnh phúc đời thường trở thành cảm hứng thường trực và da diết trong thơ Xuân Quỳnh,
Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 30Bước vào những năm 80 đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế -
xã hội ngày càng nặng nề, thực trạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái, nhiều vấn
đề bức xúc Bằng cái nhìn tỉnh táo và ý thức trách nhiệm, thơ đã không né tránh những sự thật đau lòng, những bất công ngang trái và cả những trì trệ ngủ yên trong lối mòn tự mãn Nguyễn Duy cay đắng nhận ra: "lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao ta ca hát quá nhiều về tiềm lực / tiềm lực còn
ngủ yên" (Đánh thức tiềm lực) Đối mặt với đời thường cũng có nghĩa là đứng
trước bao nhiêu vấn đề của thế sự, nhân sinh, của sự lựa chọn không hề dễ dàng: "Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi / câu trả lời thật chẳng dễ dàng chi"
(Tản mạn thời tôi sống - Nguyễn Trọng Tạo) Cảm hứng hào hùng và bi tráng
khi nói về đất nước, nhân dân, về thế hệ trẻ trong chiến tranh đã nhường chỗ dần cho những cảm xúc đậm nỗi buồn, niềm xót xa hay sự hoài nghi Thơ nói nhiều đến nỗi buồn - buồn nhân thế, buồn thân thế và cả nỗi buồn trước sự bất lực của thơ ca và vị thế mới của nó - nói như Chế Lan Viên: "Giờ là lúc của
xe cúp, ti vi, phim màu ngũ sắc / Vị trí nhà thơ như rác đổ thùng" Tuy đã có không ít người làm thơ tỏ ra chới với, không bắt kịp được với bước chuyển của cuộc sống, không tìm được giọng điệu phù hợp với thời đại, nhưng cũng
có không ít nhà thơ bằng mẫn cảm nghệ sĩ đã tìm được những hướng đi mới, giọng điệu mới Chế Lan Viên đã có ý thức tự giác cao về yêu cầu chuyển giọng này: "Xưa tôi hát giọng cao, giờ tôi hát giọng trầm" và khao khát muốn được về làm "nhà thơ cưỡi trâu", để được nghe lại "mùi bùn, mùi trâu, rơm rạ" Một số nhà thơ của thế hệ chống Mỹ vẫn kiên trì gắn bó với thơ và không
từ bỏ chính mình, họ tiếp tục cuộc hành trình nhọc nhằn với thơ trên hướng dấn thân đầy đủ hơn vào cuộc đời và tìm sâu hơn vào những giá trị vững bền, muôn thuở của dân tộc, của nhân dân Nguyễn Duy dù phiêu bạt nơi xứ lạ hay giữa cuộc sống phức tạp nơi đô thị, vẫn hướng về thiên nhiên, đồng ruộng, quê hương khó nghèo, về mẹ và em như những điểm tựa cho niềm tin và cho
thơ của mình Thanh Thảo rất tỉnh táo ở Khối vuông Ru - Bích trước sự biến
Trang 31ảo của đời sống hiện tại, lại vẫn nồng nhiệt ngợi ca và đặt niềm tin ở nhân dân
trong Những ngọn sóng mặt trời
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thúc đẩy tinh thần dân chủ
và sự phát triển mạnh mẽ ý thức cá nhân trong văn học Thơ ở thời kỳ này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, vào con người bên trong con người, đặc biệt là thế giới tâm linh, những vùng mờ của tiềm thức, vô thức; cũng trong tinh thần dân chủ ấy mà nhiều xu hướng thơ được nảy nở, nhiều thể nghiệm mạnh bạo được ra mắt công chúng Quan niệm thơ có nhiều biến đổi và ý thức cách tân thơ ngày một mạnh mẽ Khởi động cho những cách tân này lại là một số nhà thơ thuộc các thế hệ trước 1975 Sự xuất hiện một số tập thơ (mà phần lớn các
bài trong đó được viết từ trước 1975) của Hoàng Cầm (Về Kinh Bắc, Mưa Thuận Thành), Lê Đạt (Bóng chữ), Trần Dần (Cổng tỉnh, Mùa sạch, Jờ joạcx),
rồi Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng đã đem lại nhiều cái mới
từ quan niệm đến sự thể nghiệm trên văn bản những xu hướng hiện đại trong thơ, từ bóng dáng siêu thực đến thứ "thơ vụt hiện", thơ như trò chơi của ngôn từ Một thế hệ mới xuất hiện từ thời kỳ đổi mới đã đem đến thêm sự phong phú,
đa dạng và nhiều khát vọng cách tân táo bạo cho thơ Việt Nam ở cuối thế kể XX
và sang đầu thế kỷ XXI Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Quốc Chánh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Vi Thùy Linh là những gương mặt khá nổi bật của thế hệ này
Trong diện mạo rất đa dạng và sự vận động khá phức tạp của thơ từ sau 1975, cũng có thể và cần phải chỉ ra một số xu hướng ít nhiều nổi rõ, có vai trò đáng kể trong ba mươi năm thơ từ sau 1975 Theo Nguyễn Đăng Điệp
(trong Thơ Việt Nam sau 1975, diện mạo và khuynh hướng phát triển) thơ
Việt Nam lúc này có các khuynh hướng:
1 Xu hướng tiếp tục nói về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về
số phận của dân tộc
Trang 322 Xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, những âu lo của đời sống thường nhật
3 Xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh đậm chất tượng trưng siêu thực
4 Xu hướng hiện đại chủ nghĩa
* Tiếp tục mạch cảm hứng sử thi, nhưng thiên về bi tráng và gắn với những trải nghiệm, kinh nghiệm cá nhân
Hầu hết các trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ xuất hiện ngay sau khi kết thúc chiến tranh, trong khoảng từ 1976 đến 1980, về cơ bản vẫn tiếp tục cách tiếp cận từ quan điểm sử thi với hiện thực chiến tranh Nhưng cũng có thể dễ dàng nhận ra những nét mới từ cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu khi so sánh những tác phẩm này với những hiện tượng cùng loại xuất hiện trước 1975 Hành trình của dân tộc đi qua một cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt để tới đích cuối cùng đã được hình dung, tái hiện ở các
trường ca của Thanh Thảo (Những người đi tới biển), Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố) Họ nói về niềm vui chiến thắng, nhưng còn nói nhiều hơn về sự
hy sinh, về những chịu đựng thầm lặng của nhân dân, về những gương mặt đồng đội, kẻ còn người mất nhưng không thể phai nhòa trong ký ức của
những người hôm nay tới được cái đích của cuộc hành trình
Cảm hứng sử thi cũng còn được tiếp tục khai thác trong những trường
ca về lịch sử (Những ngọn sóng mặt trời của Thanh Thảo), về đất nước trong cuộc hồi sinh và dựng xây hôm nay (Sức bền của đất của Hữu Thỉnh, Trầm Tích của Hoàng Trần Cương, Ba dan khát của Thu Bồn)
* Hướng vào đời sống thế sự và trở về với cái tôi cá nhân
Đây là xu hướng bao trùm và chiếm số lượng lớn hơn cả trong thơ từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước đến nay Hướng vào đời sống thế sự và chiêm nghiệm về nhân sinh, phần lớn các nhà thơ đều đã mất đi cái cảm giác bình yên mà thay vào đấy là nỗi âu lo, nỗi buồn nhân thế Mối quan hệ giữa
Trang 33người với người, giữa cá nhân và xã hội trong một hoàn cảnh mới đã đổi khác rất nhiều so với thời chiến tranh Khi ý thức cá nhân được trỗi dậy mạnh mẽ thì cũng là lúc các quan hệ cộng đồng trở nên lỏng lẻo, phai nhạt
Đối với nhiều nhà thơ, chặng đường thơ sau 1975 là hành trình tìm lại chính mình, nhà thơ hiện ra như "người đi tìm mặt" (Hoàng Hưng) Chế Lan
Viên trở lại với câu hỏi day rứt: Ta là ai?, cái câu hỏi mà một thời tưởng chừng nhà thơ đã rũ bỏ được nó Mượn hình ảnh biểu tượng Tháp bay - on bốn mặt, nhà thơ muốn bộc lộ những phía bị khuất lấp bấy lâu nay của khuôn
mặt bên trong của mình Bài thơ như một lời tự thú:
Anh là tháp Bay - on bốn mặt Giấu đi ba, còn lại đấy là anh Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình
(Tháp Bay-on bốn mặt)
* Đi sâu khai thác con người bản thể ở phần phần tâm linh, vô thức
Xuất phát từ quan niệm thơ là hình ảnh và tiếng nói của tâm linh, vô thức, xu hướng này muốn khước từ, loại bỏ sự ám ảnh và áp lực của lý trí, của
tư duy lôgic trong thơ Các nhà thơ thuộc xu hướng này đề xuất "lối viết tự động", kiểu "thơ vụt hiện" và một số trường hợp đi theo hướng siêu thực, tượng trưng Những nhà thơ thuộc lớp trước như Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần đã đến với xu hướng này ngay từ cuối những năm 50 và những năm 60 ở thế kỷ trước (riêng Trần Dần đã là thành viên của nhóm Dạ Đài theo khuynh hướng tượng trưng, từ trước 1945) Hoàng Hưng lại đưa ra lối "thơ vụt hiện" như là bản tốc ký của những chớp lóe từ tiềm thức, vô thức Bài thơ là tập hợp của những câu, những mệnh đề rời, không có mối liên kết nào với nhau, tập hợp một cách ngẫu nhiên
Trang 34* Xu hướng thiên về cách tân hình thức thơ theo hướng hiện đại chủ nghĩa
Với ý muốn thoát ra khỏi những quan niệm thơ và thi pháp truyền thống, muốn giải phóng thơ ra khỏi những chức năng làm phương tiện biểu đạt những cái ngoài nó, đưa thơ về với chính nó, những nhà thơ theo xu hướng này đã đưa ra một quan niệm mới về chữ và nghĩa của thơ Điều đáng ghi nhận ở các nhà thơ theo xu hướng này là họ đã rất chú trọng khai thác và làm giàu các giá trị của mỗi chữ trong tiếng Việt, làm mới những chữ đã quá quen thuộc bằng cách tạo ra những kết hợp chữ khác với cách thông thường của một thứ trật tự ngữ pháp cứng nhắc
Trong thơ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ nổi lên hai dạng thức chính của cái tôi trữ tình: Cái tôi sử thi đại diện cho cả cộng đồng và cái tôi thế hệ trẻ của lớp nhà thơ trẻ Trong những năm ngay sau chiến tranh, ở những trường
ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cái tôi sử thi và cái tôi thế hệ vẫn là chủ đạo, tuy đã có những nét mới Cái nhìn sử thi được bổ sung bằng những trải nghiệm cá nhân, chất liệu hiện thực được gia tăng cùng với xu hướng khái quát, chiêm nghiệm, chất bi tráng nổi trội trong các sắc điệu thẩm mỹ của tác phẩm
Bước vào những năm 80, cái tôi sử thi trong thơ mờ dần, thay vào đó là cái tôi thế sự với những xúc cảm khác, những nỗi buồn, sự lo âu, tâm trạng xót xa, day dứt trước hiện trạng xã hội, nhân thế Sự chuyển hướng này có thể thấy ở cả trường hợp những nhà thơ tiêu biểu hàng đầu cho khuynh hướng sử thi trong thơ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Với Chế Lan Viên, tập
Hoa trên đá (1984) đánh dấu sự chuyển biến từ "giọng cao" sang "giọng
trầm", hướng vào những vấn đề nhân sinh, thế sự và bản thể Ở Tố Hữu, sự
chuyển hướng này cũng bộc lộ với tập Một tiếng đờn (1992)
Với xu hướng tập trung vào đời sống riêng tư, đào xới đến tận cùng bản thể con người, cái tôi cá nhân được khai thác ở mọi bình diện, tầng bậc, trong mọi mối quan hệ Nhà thơ như là kẻ tự đi tìm gương mặt bên trong của
Trang 35chính mình với niềm khao khát nhận biết, khám phá cái thế giới tâm linh, vô thức đầy bí ẩn ở mỗi con người
Trong những xu hướng hiện đại chủ nghĩa, lại thể hiện quan niệm khác về cái tôi, về chủ thể Khi đề cao lối viết tự động, quan niệm "làm thơ là làm chữ", cái tôi cũng bị xóa mờ đi, để vai trò của chữ nổi bật lên và các chữ trong bài thơ như là tự nó tạo ra mọi tác động đến độc giả
Không muốn dừng lại ở cảm xúc như thơ lãng mạn, nhiều người có ý thức đưa chất văn xuôi, chất tiểu thuyết vào thơ, đề cao sự tỉnh táo, lý tính Chất liệu của thơ vì thế đã được mở rộng, đặc biệt là những cái tầm thường, trần trụi, thô tục của đời sống mà trước đây bị xem là phi thơ Thơ của Nguyễn Duy, Bùi Chí Vinh và một số nhà thơ trẻ gần đây thể hiện rõ ý thức
đó
Cùng với xu hướng đưa chất văn xuôi vào thơ, nhiều nhà thơ lại đưa thơ về phía trí tuệ, gia tăng chất suy tưởng, triết lý Xu hướng này thực ra đã được Chế Lan Viên, Huy Cận theo đuổi từ giai đoạn trước Cái khác là ở thơ sau 1975, sự suy tưởng, triết lý không chủ yếu hướng vào những vấn đề của đời sống tư tưởng - Chính trị mà nhằm vào những vấn đề triết học nhân sinh,
về bản thể, về thơ
Một trong những đặc điểm của hình ảnh thơ trong giai đoạn này là xu hướng biểu tượng hóa Biểu tượng nghệ thuật được sử dụng rộng rãi và phát huy ưu thế của nó trong thơ của mọi thế hệ Các loại biểu tượng cũng hết sức
đa dạng, từ những hình ảnh sẵn có trong thiên nhiên, những "mẫu gốc" trong tâm thức văn hóa dân tộc, các bộ phận của con người đến các hình ảnh kỳ ảo
là sản phẩm của trí tưởng tượng hoặc đột hiện từ tâm linh, vô thức
Thơ tự do không vần trước đây còn là một hiện tượng hiếm hoi, như trường hợp thơ Nguyễn Đình Thi trong kháng chiến chống Pháp, thì bây giờ
đã trở nên hiện tượng rất phổ biến Thơ văn xuôi với cách viết không phân dòng cũng được sử dụng rộng rãi ở nhiều trường ca và cả ở những bài thơ
Trang 36theo những thể cách luật Họ muốn giải phóng thực sự cho ý tưởng cảm xúc khỏi những khuôn mẫu thể loại có sẵn Một số cây bút khác vẫn sử dụng các thể thơ quen thuộc như lục bát, 7 chữ, 8 chữ, thì cũng cố gắng tạo ra những thay đổi theo hướng tự do hơn về cách tổ chức câu thơ, về nhịp điệu (thơ lục bát của Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn và nhiều người khác)
Tổ chức kết cấu bài thơ cũng hết sức đa dạng và ở nhiều trường hợp
đã vượt ra khỏi những cách kết cấu, lập tứ quen thuộc Đặc biệt ở lối thơ
"vụt hiện", hay ở những thể nghiệm của Trần Dần, Lê Đạt để cho các chữ tự tạo sinh ý nghĩa Còn ở các trường ca thì tác phẩm thường được tổ chức thành các chương, khúc mà kết cấu bên trong là mạch trữ tình - chính luận Một số tác giả lại thử nghiệm lối thơ rất ngắn, bài thơ chỉ gồm 2, 3 dòng
Tự do hóa cũng được thể hiện ở việc tổ chức câu thơ Câu thơ điệu nói được hình thành trong quá trình hiện đại hóa thơ ca, đã được đẩy mạnh hơn trong thơ giai đoạn 1945 - 1975 Nhưng nhìn chung câu thơ ở giai đoạn ấy được tổ chức như những phát ngôn hướng ngoại Cùng với xu hướng trở về đời sống thế sự và riêng tư, cái tôi trữ tình trong thơ 1975 cũng mang xu hướng hướng nội và vì thế câu thơ, lời thơ cũng là những phát ngôn hướng nội Khi thơ tự do và thơ không vần đã trở thành phổ biến thì các dòng thơ cũng được giãn nở hoặc co lại một cách rất tự do, sự liên kết giữa các dòng thơ, câu thơ cũng có xu hướng phá bỏ những trật tự lôgíc thông thường Nhịp điệu tuy vẫn còn là một yếu tố cần thiết, nhưng nó đã hết sức linh hoạt, ngay
cả trong những thể thơ có số chữ hạn định ở mỗi dòng Đặc biệt ở một số trường hợp, nhịp điệu câu thơ đã gần như câu văn xuôi và gần như không có vai trò gì đáng kể trong việc tổ chức câu thơ
Tự do hóa về kết cấu bài thơ, tổ chức câu thơ cũng đi liền với sự tự do trong sử dụng ngôn từ Trường từ ngữ trong thơ đã được mở rộng đến gần như không có giới hạn nào Những từ thông tục, khẩu ngữ, biệt ngữ đã có mặt khá thường xuyên trong thơ của nhiều tác giả, nhất là lớp trẻ Một số người lại
Trang 37muốn tạo sinh nghĩa mới cho các chữ bằng cách kết hợp chúng không theo quy tắc thông thường hoặc tạo ra những chữ mới từ những âm tiết chưa có nghĩa Các nhà thơ theo quan niệm "làm thơ là làm chữ" rất coi trọng việc tái tạo chữ, tạo sinh nghĩa mới cho chữ, bỏ qua những nghĩa đã quen thuộc của mỗi chữ - mà họ gọi là "nghĩa tự vị, nghĩa tiêu dùng"
Thơ kháng chiến chống Mĩ (và cả chặng nối dài của nó đến khoảng 1980) đã đưa nền thơ cách mạng đến giai đoạn phát triển cao và đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Chặng đường thơ ấy đã đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại mình, đồng thời cũng là một giai đoạn không thể bỏ qua trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam Từ sau 1980, cùng với cả nền văn học, thơ cũng phải tự làm mới mình, tìm lại vị trí trong đời sống hàng ngày của con người, cái hàng ngày không hề giản đơn mà chứa đựng bao sự phức tạp, những xung đột, những sóng ngầm và những khát vọng không cùng Thơ đã
đi tìm những hướng mới, tạo nên diện mạo và giọng điệu mới Nhưng thơ kháng chiến không hề mất đi những giá trị bền vững của nó Không phải nó chỉ sống trong tiềm thức và kỉ niệm của những lớp người đã đi qua cuộc chiến tranh, mà vẫn nằm sâu ở những lớp đáy của đời sống tinh thần toàn xã hội, góp phần tạo dựng nền tảng tinh thần cho những thế hệ hiện nay và sau này Còn đối với tiến trình vận động của thơ, thì những thành công và hạn chế của thơ kháng chiến có thể là sự gợi mở, kích thích cho những tìm tòi, đổi mới của thơ hôm nay
Trang 38TIỂU KẾT
Văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ cứu nước (1964 - 1975), có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Đây là thời kỳ văn học phát triển rực rỡ trên nhiều thể loại Trong sự phát triển đó, thơ ca chống Mỹ, nhất là thơ của các nhà thơ trẻ nhanh chóng trưởng thành đạt được nhiều thành tựu xuất sắc
Giá trị nổi bật và bền vững của thơ kháng chiến chống Mĩ là ở nội dung
tư tưởng - cảm xúc Đó là những tình cảm, tư tưởng lớn của thời đại, phát hiện và sáng tạo những hình tượng cao đẹp về Tổ quốc, dân tộc và nhân dân,
về những thế hệ con người Việt Nam trong chiến tranh Văn học thời kỳ này
do đó đậm chất sử thi và chất trữ tình với hai hình tượng: cái “tôi” sử thi và cái “tôi” thế hệ trẻ Về mặt thể loại, thơ kháng chiến chống Mĩ kế thừa những thể loại sẵn có của Thơ mới, đồng thời cũng có nhiều tìm tòi theo hướng mở rộng khuôn khổ, đa dạng hóa kết cấu bài thơ
Với bốn bài thơ Lửa đèn, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Nhớ, Gửi em
cô thanh niên xung phong, Phạm Tiến Duật đã trở thành cái tên được người
đọc thơ yêu mến, trở thành tiếng nói trữ tình của thế hệ thơ trẻ thời kỳ chống
Mỹ Thơ ông trước 1975 là sự cộng hưởng, thăng hoa của không khí chiến trận hào hùng cùng với trái tim rực lửa, thiết tha của người lính Thơ ông là chân dung những con người mang trong mình dòng máu chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giàu lòng lạc quan, tha thiết yêu đời trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ, hiểm nguy Sau năm 1975, thơ Phạm Tiến Duật trầm tư hơn trước và ông chủ yếu viết về những vấn đề thế sự, trước những đổi thay của
cuộc sống, trước những số phận của con người Tiếng bom và tiếng chuông chùa (1997 trường ca), Đường dài và Những đốm lửa (2002, Tuyển tập) đã
thể hiện những cố gắng tìm tòi của ông trong việc đổi mới thi pháp thơ ca Thơ Việt Nam sau năm 1975 cũng đóng góp nhiều vào nền văn học nước nhà nói chung Đó là sự thể hiện của một thời kì mới của đất nước trong sự đổi mới về khuynh hướng và sự đổi mới về nghệ thuật thơ
Trang 39Nghiên cứu thi pháp thơ Phạm Tiến Duật là nghiên cứu toàn bộ hình thức từ ngôn ngữ, hệ thống hình tượng, không gian, thời gian đến giọng điệu trong mối quan hệ tương quan với nội dung thơ Qua đó, luận văn hi vọng khơi được những giá trị quý giá chưa ai khơi của thơ ông đồng thời đánh giá đúng vị trí của thơ ông trong dòng thơ cách mạng Việt Nam
Trang 40Chương 2 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG VÀ KHÔNG GIAN, THỜI
GIAN NGHỆ THUẬT 2.1 Hệ thống hình tượng
2.1.1 Hình tượng cái tôi - chủ thể trữ tình
2.1.1.1 Cái tôi trữ tình trẻ trung, tinh nghịch và hóm hỉnh
Cái tôi trữ tình trong thơ là sự thể hiện của thế giới chủ quan, sự biểu cảm của chính tác giả, là một trong những yếu tố bộc lộ phong cách nhà thơ
Là một người con đất Bắc, được mạng trong mình nét hào hoa của người Hà Nội, Phạm Tiến Duật đến với chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ Vừa rời ghế nhà trường, ông đã đến với con đường Trường Sơn đầy ác liệt để vừa làm nhiệm vụ của một người lính đồng thời cũng làm duyên với bút mực thơ ca Cái duyên thơ ấy đã theo ông đến tận cuối cuộc đời Nhìn lại mỗi chặng đường sáng tác của Phạm Tiến Duật, ta thấy cái tôi trữ tình trong thơ ông laị
có những sắc thái biểu hiện riêng, mang sắc điệu riêng, độc đáo, hấp dẫn
Đọc những tập thơ đầu tay của ông như Vầng trăng quầng lửa, Thơ một chặng đường, ta thấy ở đó có một cái tôi trẻ trung, tinh nghịch, hóm hỉnh, lạc
quan, đậm chất lính Trở lại những năm tháng đau thương mà hào hùng của dân tộc, ta mới thấy cái hồn nhiên, lãng mạn, lạc quan vô cùng đáng yêu, đáng trân trọng của con người ấy Nếu không có được tinh thần ấy của con người thời đại thì có lẽ dân tộc ta khó có thể vượt qua được hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ Chân dung tinh thần của những con người thời đại được phản ánh thật rõ nét qua nhiều hình thức nghệ thuật nhưng có thể nói hiệu quả nhất là thơ ca
Đến với thơ Phạm Tiến Duật, ta bắt gặp một cái tôi hồn nhiên, trẻ trung, trong sáng Trong thơ Phạm Tiến Duật, ta thấy ông nhìn cuộc sống, nhìn sự khốc liệt của chiến tranh qua lăng kính của tuổi trẻ và tình yêu Thực ra, không phải đến bây giờ mới xuất hiện trong thơ ca cái tôi tác giả hồn nhiên, trong sáng mà nó đã có từ trước đó trong thơ của các nhà thơ cách mạng trước
1954 Ngay từ đầu ngày kháng chiến chống Pháp, người đọc đã bắt gặp những