Nó thường là do tác động phức hợp của nhiều yếu tố baogồm những bệnh về cơ thể, bệnh tâm thần, sự nhiễu loạn trong gia đình, nghiệnhút, sự mâu thuẫn cá nhân và những sang chấn gặp phải t
Trang 1Một triệu người chết do tự sát mỗi năm, và khoảng 20 đến 50 lần con sốnày có hành vi tự sát Những hành động này có ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình
và bạn bè người tự sát bởi vì những hành động đó được coi như sự từ chối mạnh
mẽ nhất Dường như họ bị xã hội từ bỏ hoặc họ có mặc cảm quá lớn, cảm thấycuộc đời này không đáng sống
Làm thế nào để phòng ngừa tự sát có hiệu quả nhất Bước đầu tìm hiểumột số vấn đề về tự sát cũng không nằm ngoài mới đích phục hồi sức khoẻ vàgiảm bệnh tật Nó giúp chúng ta có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về tựsát, những nguyên nhân gây ra tự sát và từ đó có thể đánh giá được nguy cơ tựsát, đưa ra được những biện pháp phòng ngừa, hỗ trợ, chăm sóc sức khoẻ banđầu đối với những bệnh nhân tự sát Ở Việt Nam hiện nay, những kiến thức về
tự sát và sự nhận thức của mọi người về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế và sailệch
Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ hơn một phần nào những kiến thức
về tự sát, để chúng ta có thể có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề này, tôi đã chọn đề
tài “ Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về tự sát dưới góc độ tâm lý học”
Trang 2Phần II: Nội dung nghiên cứu
I Thực trạng của vấn đề tự sát
Tự sát có lẽ là cách kết thúc bi thảm nhất cuộc đời của một con người
Tỉ lệ của tự sát trên toàn thế giới đã tăng lên từ 10 đến 16 trên 100000 kể
từ năm 1950 Theo tổ chức y tế Thế giới (WHO) có khoảng một triệu người đã
tự sát trong năm 2000 Cứ 40 giây có một người thực hiện tự sát ở nơi nào đótrên thế giới Cứ 3 giây có một người doạ chết Tự sát nằm trong số 10 nguyênnhân hàng đầu gây tử vong ở mọi nước và là một trong 3 nguyên nhân đứng đầugây tử vong ở nhóm người từ 15 đến 35 tuổi Tác động về tâm lý và xã hội của
tự sát lên gia đình và xã hội thì không thể đo lường được Trung bình mộttrường hợp tự sát tác động sâu sắc đến ít nhất 6 người khác Nếu tự sát xảy ra ởtrường học hoặc nơi làm việc thì có thể tác động tới hàng trăm người
Hiện nay trên toàn thế giới các nước có tỷ lệ chết do tự sát cao nhất là:
Trang 3động giữa 2,3% ở các nước thu nhập cao và 1,7% ở các nước thu nhâp thấp.Điều này ngang với gánh nặng chiến tranh và tội phạm giết người, gấp 2 lầngánh nặng chi phí cho bệnh đái tháo đường, và ngang với hậu quả của ngạt vàchấn thương lúc đẻ.
II Các khái niệm và vấn đề lý thuyết liên quan
1 Khái niệm về tự sát
+ Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì tự sát bao gồm 3 thành phần: ý tưởng tựsát (chỉ thể hiện trong ý nghĩ); toan tự sát (có hành vi để tự sát nhưng khôngthành công); tự sát (có hành vi tự sát đi đến tử vong)
+ Theo B.S Trần Thị Thanh Hương (Bộ môn Giáo dục Y học- Đại học Y
Hà Nội) đã đưa ra các khái niệm sau:
- Tự sát: là một hành động có cân nhắc, có chủ tâm, tự làm tổn thương, đedoạ tới tính mạng và kết quả là dẫn tới cái chết
- Khuynh hướng tự sát: là một thái độ có đặc điểm là dự kiến, kế hoạch và
Đây sẽ là những khái niệm được sử dụng chính trong niên luận này
2 Nguyên nhân của tự sát
Tự sát là một vấn đề phức tạp không chỉ do một nguyên nhân hay lý dođơn thuần nào gây ra Nó thường là do tác động phức hợp của nhiều yếu tố baogồm những bệnh về cơ thể, bệnh tâm thần, sự nhiễu loạn trong gia đình, nghiệnhút, sự mâu thuẫn cá nhân và những sang chấn gặp phải trong cuộc sống Sẽ làhữu ích nếu thừa nhận tính đa dạng của những yếu tố cấu thành nên tự sát
2.1 Tự sát và rối loạn tâm thần
Trang 4Tự sát bản thân nó không phải là một bệnh, và cũng không nhất thiết làbiểu hiện của bệnh, nhưng rối loạn tâm thần là yếu tố chính có liên quan với tựsát.
Các nghiên cứu ở các nước phát triển và các nước đang phát triển đã pháthiện 2 yểu tố :
Thứ nhất, phần lớn những người tự sát có rối loạn tâm thần có thể chẩnđoán được
Thứ hai, tự sát và hành vi tự sát có tần suất cao hơn ở bệnh nhân tâm thần.Các nhóm chuẩn đoán khác nhau xếp theo thứ tự giảm dần của nguy cơ tựsát là:
-Các rối loạn cảm xúc(điển hình là trầm cảm ở tất cả các thể)
-Rối loạn nhân cách(nhân cách ranh giới và nhân cách chống đối xã hộivới đặc điểm các cơn xung động , sự công kích và thường xuyên thay đổi cảmxúc)
-Nghiện rượu (và/hoặc lạm dụng chất ở vị thành niên)
-Tâm thần phân liệt
-Rối loạn tâm thần thực tổn
-Rối loạn tâm thần khác
Nghiên cứu ở các nước phát triển và đang phát triển có các rối loạn tâmthần ở 80%-100% các trường hợp chết do tự sát Người ta ước lượng rằng nguy
cơ tự sát trong cuộc đời của những người có rối loạn cảm xúc(chủ yếu là trầmcảm) là 6%-15%,với người nghiện rượu là 7%-15%,và với tâm thần phân liệt là4%-10%
2.1.1 Các rối loạn cảm xúc (trầm cảm):
Tất cả các thể của rối loạn cảm xúc đều liên quan tới tự sát Các rối loạnnày bao gồm rối loạn cảm xúc lưỡng cực,giai đoạn trầm cảm,rối loạn trầm cảmtái diễn và các rối loạn khí sắc dai dẳng khác(khí sắc chu kì va loạn khí sắc),những rối loạn này được xếp loại trong ICD-10 từ F31-F34
Trang 5Mọi người thỉnh thoảng đều cảm thấy chán nản,buồn,cô đơn và mất thăngbằng ,nhưng thường những cảm giác này qua đi.Tuy nhiên ,khi những cảm giácnày dai dẳng và gây rối loạn cuộc sống bình thường,chúng không còn là cảmgiác chán nản, mà tình trạng đã trở thành bệnh trầm cảm.Vậy trầm cảm là mộttrạng thái rối loạn cảm xúc biểu hiện sự buồn rầu chán nản,thất vọng quá mứcbình thường làm ức chế toàn bộ các quá trình hoạt động tâm thần.Tự sát dođó,có nguy cơ đáng kể ở những trường hợp trầm cảm không được nhận biết vàkhông được điều trị.
Một số triệu chứng phổ biến của trầm cảm là:
- Cảm giác buồn gần như suốt cả ngày, mọi ngày
- Mất hứng thú trong hoạt động thông thường
- Sụt cân (khi không ăn kiêng) hoặc tăng cân
- Ngủ quá nhiều hoặc quá ít hoặc thức giấc quá sớm
- Cảm thấy mệt mỏi và yếu sức mọi lúc
- Cảm thấy vô dụng, có tội hoặc mất niềm tin
- Cảm thấy dễ cáu và bồn chồn mọi lúc
- Có khó khăn trong việc tập trung, ra quyết định hoặc nhớ lại một điều gìđó
- Có sự lặp lại suy nghĩ về cái chết và tự sát
Các yếu tố dưới đây làm tăng nguy cơ tự sát ở người bị trầm cảm:
- Tuổi dưới 25 ở nam
- Giai đoạn sớm của bệnh
Trang 6Trầm cảm là yếu tố quan trọng trong tự sát ở cả hai lứa tuổi thanh thiếuniên và người lớn tuổi, nhưng những người bị trầm cảm khởi phát muộn có nguy
cơ cao hơn
Tỷ lệ trầm cảm khá cao trong dân số (5%) nên việc phát hiện và điều trịcho bệnh nhân trầm cảm là cách ngăn ngừa tự sát tốt nhất trong chăm sóc sứckhoẻ ban đầu
2.1.2 Nghiện rượu:
Nghiện rượu (cả lạm dụng rượu và nghiện rượu) thường hay được chẩnđoán trong số những người có khả năng tự sát, đặc biệt ở người trẻ Có những sựgiải thích về mặt sinh học, tâm lý và xã hội trong mối tương quan giữa nghiệnrượu và tự sát Khoảng 1/3 số trường hợp tự sát được phát hiện có lệ thuộc rượu.5%-10% người nghiện rượu kết thúc cuộc đời bằng tự sát Tại thời điểm hànhđộng tự sát nhiều trường hợp được phát hiện đang trong tình trạng bị tác dụngcủa rượu
Những yếu tố liên quan đặc biệt với việc phát triển nguy cơ tự sát ở nhómngười nghiện rượu là:
- Nghiện rượu từ lúc còn trẻ tuổi
- Sử dụng rượu trong một thời gian quá dài
- Nghiện rượu ở mức nặng
- Cảm xúc (khí sắc trầm)
- Thể trạng giảm sút, sức khoẻ tồi
- Cảm giác bị ức chế
- Có sự lo lắng và lộn xộn trong cuộc sống cá nhân
- Phải chịu đựng sự mất mát quan hệ cá nhân quan trọng như sự chia ly vợchồng hoặc người thân bị chết
- Hiệu suất làm việc giảm
Những người nghiện rượu tự sát không chỉ bắt đầu uống rượu ở tuổi trẻ vàuống rượu nặng mà có thể trong giai đoạn còn có người nghiện rượu Người có
cả nghiện rượu và trầm cảm sẽ có nguy cơ tự sát tăng lên rất nhiều
Trang 72.1.3 Tâm thần phân liệt:
Tự sát là nguyên nhân đáng quan tâm nhất gây chết trẻ ở nhóm tâm thầnphân liệt Ước chừng 10% bệnh nhân tâm thần phân liệt cuối cùng thực hiện tựsát Tâm thần phân liệt được đặc trưng bởi sự rối loạn trong ngôn ngữ, tư duy,nghe và nhìn, vệ sinh cá nhân và hành vi xã hội
Tâm thần phân liệt có nguy cơ tự sát tăng nếu bệnh nhân là:
- Trẻ tuổi, độc thân, đàn ông thất nghiệp
- Trong giai đoạn sớm của bệnh
- Bệnh tái phát thường xuyên
- Sợ mất giá trị, đặc biệt ở những người có khả năng trí tuệ cao
- Các triệu chứng dương tính: các ý tưởng nghi ngờ và các hoang tưởng
- Các triệu chứng trầm cảm
Tâm thần phân liệt thường thực hiện tự sát vào các thời điểm sau:
- Trong giai đoạn sớm của bệnh, khi mà họ đang bị hoang mang, bối rối
- Ngay khi mới hồi phục, khi bề ngoài các triệu chứng đã bớt đi song bêntrong họ lại cảm thấy rất dễ bị tổn thương
- Giai đoạn đầu của tái phát, khi họ cảm thấy đã vượt qua được bệnh tậtnhưng các triệu chứng lại quay trở lại
- Ngay sau khi xuất viện
2.1.4 Rối loạn nhân cách:
Các nghiên cứu gần đây ở người trẻ tuổi tự sát cho thấy một tỉ lệ cao củarối loạn nhân cách (20%-50%) Những rối loạn nhân cách liên quan nhiều hơnđến tự sát là nhân cách ranh giới và rối loạn nhân cách chống đối xã hội
Rối loạn nhân cách kiểu nghệ sĩ, tự yêu mình và những nét tâm lý đặc biệtnhư xung động, gây gổ cũng có liên quan đến tự sát
Trong các rối loạn lo âu, rối loạn hoảng sợ liên quan nhiều nhất với tự sát.Theo sau là rối loạn ám ảnh nghi thức (OCD) Rối loạn dạng cơ thể và rối loạn
ăn uống (chán ăn tâm thần) cũng liên quan với hành vi tự sát
Trang 8Nhìn chung, bệnh nhân rối loạn tâm thần có nguy cơ tự sát cao gấp 10 lầnngười bình thường Tự sát được hiểu là rối loạn đa dạng Việc có nhiều rối loạntâm thần ở những người có ý tưởng tự sát là phổ biến Tất cả những người tự sátđều có quan điểm lệch lạc về thế giới Các quan điểm đó thường bó hẹp vàchuyển sang ý muốn tự sát Do đó, tăng cường phát hiện, chuyển và quản lýnhững người rối loạn tâm thần trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu là một bướcquan trọng trong ngăn ngừa tự sát.
2.2 Tự sát và các rối loạn cơ thể:
Nguy cơ tự sát tăng ở nhóm bệnh cơ thể mãn tính, nó là yếu tố đi kèmthường gặp của tự sát, sự kết hợp này đặc biệt mạnh ở những người trên 50 tuổi.Thêm nữa là, nói chung có sự tăng tỷ lệ rối loạn tâm thần, đặc biệt trầm cảm,trong số những người có bệnh cơ thể Bệnh mạn tính, loạn hoạt năng và tiênlượng bệnh nặng có liên quan với tự sát
2.2.1 Các bệnh thần kinh:
Chứng động kinh có liên quan với việc tăng tự sát Việc tăng tính xungđộng, công kích, và các loạn hoạt năng mạn tính thấy ở người bị động kinhthường là lí do dẫn đến phát triển hành vi tự sát của bệnh nhân động kinh
Các tổn thương cột sống và não bộ cũng làm tăng nguy cơ tự sát Nhữngnghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sau đột qụy, đặc biệt trong các thương tổn phíasau, là nguyên nhân gây ra loạn hoạt năng và tật chứng cơ thể nặng nề 19% cácbệnh nhân đột qụy này có trầm cảm và tự sát
- Sớm sau khi chẩn đoán (trong vòng 5 năm đầu)
- Khi bệnh nhân đang phải trải qua hoá liệu
2.2.3 HIV/AIDS:
Trang 9Nhiễm HIV/AIDS được xem là làm tăng nguy cơ tự sát ở người trẻ tuổi,với tỷ lệ tự sát cao Sự phân biệt đối xử, tiên lượng nặng và tính chất của bệnhtật làm tăng nguy cơ tự sát ở người nhiễm HIV Tại thời điểm xác định chẩnđoán và trong giai đoạn đầu của bệnh, khi bệnh nhân chưa có được sự tư vấn sauxét nghiệm, nguy cơ tự sát cao.
2.2.4 Bệnh tật khác:
Các bệnh mãn tính khác như đái tháo đường, xơ cứng rải rác, bệnh thận,gan, và các bệnh tiêu hoá mãn tính khác, bệnh xương và khớp với đau mãn tính,bệnh tim mạch và thần kinh mạch máu, rối loạn dạ dày, rối loạn tình dục cũng
có liên quan tới tự sát Loạn hoạt năng trong vận động (khó khăn trong đi lại),
mù và điếc cũng có thể dẫn đến tự sát
Nguy cơ tự sát tăng ở các bệnh gây đau đớn và mãn tính
2.3 Tự sát và các yếu tố dân số- xã hội- môi trường:
Tự sát là hành động cá nhân, bốc đồng Tuy nhiên, nó xuất hiện trongnhững hoàn cảnh xã hội nhất định và các yếu tố xã hội cũng có liên quan đến tựsát
Trang 10Số người có ý định tự sát nhiều hơn số người tự sát 20 đến 50 lần, đặc biêt
ở phụ nữ trẻ Trong nhóm người lớn tuổi, sự ưu thế của nữ giới ít rõ ràng hơn, tỉ
số giữa người có ý định tự sát và người tự sát thấp hơn
2.3.3 Tình trạng hôn nhân:
Những người ly hôn, goá bụa và độc thân có nguy cơ tự sát cao hơnnhững người có gia đình Hôn nhân dường như bảo vệ cho nam giới khỏi nguy
cơ tự sát nhưng lại tác động không đáng kể cho nữ giới Những người có ý định
tự sát thường là phụ nữ trẻ ở tầng lớp kinh tế xã hội thấp đã ly thân hoặc ly dị
Sự ly thân vợ chồng, những người sống cô đơn hoặc sống cách biệt dễ có tự sáthơn
2.3.5 Thất nghiệp:
Thất nghiệp có liên quan chặt chẽ đến cả tự sát và hành vi tự sát, nhưngthực chất mối liên quan này khá phức tạp Các tác động của thất nghiệp có thể làgián tiếp bởi các yếu tố như nghèo nàn, mất địa vị xã hội, khó khăn trong giađình và mất niềm tin
Mặt khác, những người có rối loạn tâm thần thường hay thất nghiệp hơnngười có sức khoẻ tâm thần tốt Những người bị thất nghiệp trong thời gian dàithường có nguy cơ tự sát cao hơn những người thất nghiệp gần đây Tuy nhiên,một người không có việc làm có thể tự sát không phải do tuyệt vọng mà có thể
là do các strees liên quan như sự áp lực với vấn đề việc làm, mất niềm tin vàocông việc, xã hội cũng thúc đẩy con người đến hành vi tự sát
2.3.6 Các yêu tố môi trường và xã hội:
Trang 11- Cư trú ở nông thôn/ thành thị: ở một số nước tự sát thường nhiều hơn ởkhu vực thành thị trong khi ở những nước khác chúng xuất hiện nhiều hơn ở khuvực nông thôn.
- Di cư: đây cũng là một yếu tố nguy cơ đẩy con người tới hành vi tự sát
Sự di cư từ nông thôn tơi khu vực thành thị hoặc tới vùng khác hoặc nước khácvới các vấn đề trợ cấp đói nghèo, thiếu nhà ở, thiếu trợ giup xã hội, mất hi vọnglàm tăng nguy cơ tự sát
Nghiên cức trên những người nhập cư sau chiến tranh ở Úc và Mỹ: ở Úc,những người nhập cư từ những nước châu Âu nơi có tỷ lệ tự sát cao thường có
xu hướng có nguy cơ tự sát cao hơn những người sinh ra ở Úc Còn nhữngngười đến từ các nước vung Địa Trung Hải, nơi có tỷ lệ tự sát thấp, thì vẫn có tỷ
lệ thấp hơn Con cái của những người nhập cư, dù có nguồn gốc từ đâu đi nữa,thì cũng có tỷ lệ tự sát xấp xỉ những người Úc chính gốc Rất khó mô tả toàn bộcác yếu tố làm tăng nguy cơ tự sát ở những người nhập cư bởi vì cuộc sống của
họ ở quê hương thường bị phá vỡ do sự chia ly cưỡng bức với bạn bè và giađình, đồng thời tình trạng kinh tế luôn bất ổn
- Một trong nhiều nhân tố có thể hướng một cá nhân tới tự sát là việc công
bố về tự sát trên phương tiện truyền thông Việc thông báo trên các phương tiệthông tin đại chúng về những trường hợp tự sát có thể ảnh hưởng tới nhữngngười tự sát khác Có đủ chứng cớ gợi ý rằng một vài loại báo không hư cấu vàtin truyền hình đề cập đến tự sát ; tác động dường như mạnh nhất ở nhóm ngườitrẻ tuổi và có thể bị ảnh hưởng dẫn đến hành vi tự sát
2.3.7 Các căng thẳng trong cuộc sống:
Hầu hết những người thực hiện tự sát đã từng trải qua một số sự kiện gâycăng thẳng trong cuộc sống trong 3 tháng trước khi tự sát, như:
-Vấn đề quan hệ cá nhân – ví dụ cãi nhau với vợ/ chồng, gia đình, bạn bè,người yêu
- Bị từ bỏ - ví dụ bị chia ly với gia đình, bạn bè
- Các sự kiện mất mát: mất tài sản, người thân chết
Trang 12- Các rắc rối về tài chính – ví dụ mất việc, nghỉ hưu, khó khăn về tàichính.
- Biến động của xã hội – ví dụ sự thay đổi nhanh chóng về chính trị vàkinh tế
- Những căng thẳng khác như sự xấu hổ và đe doạ bị coi là phạm tội.2.4 Các yếu tố di truyền :
Yếu tố di truyền trong tự sát được minh hoạ một cách rõ ràng trong giađình của Ernest Hemingway Ngoài việc ông ta tự sát ,bố ông ta, hai đứa conông ta và cháu gái của ông ta cũng tự sát Các nghiên cứu trên các cặp sinh đôi
đã chỉ ra sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền ở một số trường hợp
Ví dụ , trong nghiên cứu của Đan Mạch và Mỹ về những người tự sát, thì
số người có quan hệ ruột thịt có tỉ lệ tự sát cao hơn những người con nuôi.Những cặp sinh đôi cùng trứng có tỉ lệ tự sát cao hơn sáu lần tỉ lệ này ở nhữngcặp sinh đôi khác trứng
Sự ảnh hưởng của di truyền có thể liên quan đến tính di truyền của mộtbệnh tâm thần như trầm cảm hoặc tâm thần phân liệt, hoặc do nghiện ma tuý
Sơ đồ : Con đường dẫn tới tự sátYếu tố di truyền Yếu tố sinh học Yếu tố xã hội
Thể trạng
Stress