1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiếp nhận truyện kiều dưới góc nhìn nhạc hoạ

139 1,8K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, để giảng dạy sâu sắc Truyện Kiều, một trong những nội dung chủ lực của chương trình giảng dạy từ cấp phổ thông đến đại học và trên đại học, người làm công tác giảng dạy ịkhông

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

MỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

M Ở ĐẦU 8

1.Lý do ch ọn đề tài mục đích nghiên cứu: 8

2.Ph ạm vi đề tài và tư liêu nghiên cứu: 9

3.L ịch sử nghiên cứu vấn đề: 9

4.Phương pháp nghiên cứu: 13

5.Đóng góp của luận án : 14

6.C ấu trúc của luận văn: 14

Chương 1: Những vấn đề lý luận 17

1.1.Thi trung h ữu nhạc: 17

1.1.1.Thơ và nhạc: 17

1.1.2.Sư gặp gỡ giữa thơ và nhạc: 17

1.1.3.Cơ sở tính nhạc trong Truyện Kiều: 18

1.1.3.1.Ngôn ng ữ Tiếng Việt: 18

1.1.3.2.Th ể thơ lúc bát: 20

1.2.Thi trung h ữu họa: 23

1.2.1.Thơ và hoạ: 23

1.2.2.Mối quan hệ giữa thơ và hoạ : 24

1.3.Cơ cở chất họa trong tác phẩm Truyền Kiều: 24

1.3.1.Ngôn ngữ tiếng Việt: 24

1.3.2.Tính tạo hình trong hình tượng văn học: 25

1.4.Lý thuy ết tiếp nhận và các hình thức tiếp nhận Truyện Kiều: 25

Trang 4

1.4.1.Lý thuyết tiếp nhận: 25

1.4.2.Các hình thức tiếp nhận Truyện Kiều: 27

1.4.2.1.T ập Kiều: 27

1.4.2.2.Bói Ki ều: 28

1.4.2.3.Đố kiều : 28

1.4.2.4.Ti ếp nhận Truyện Kiều dưới hình thức sáng tạo ra tác phẩm văn học mới: 28

1.4.2.5.Nghiên c ứu phê bình Truyện Kiều qua các giai đọan lịch sử: 29

Chương 2: Truyện Kiều -tính nhạc và tác phẩm nhạc trong cảm hứng của người đời sau 30

2.1.Tính ch ất "Thi trung hữu nhạc " trong tác phẩm Truyện Kiều: 30

2.1.1.Tính nhạc thể hiện qua luật thơ: 30

2.1.1.1.V ần: 30

2.1.1.2.Nh ịp: 32

2.1.1.3.Lu ật bằng trắc: 35

2.1.2.Tính nhạc thể hiện ở một số hình thức khác: 40

2.1.2.1.Hình th ức phối âm, điệp âm: 40

2.1.2.2.Dùng t ừ láy từ ghép có âm giống nhau: 45

2.1.2.3.Dùng điệp từ, điệp ngữ: 47

2.1.2.4.Đối: 53

2.1.2.5.K ết cấu tác phẩm: 55

2.1.3.Tính nhạc thể hiện qua những âm hưởng âm nhạc: 57

2.1.3.1.Ti ếng đàn của Thuý Kiều: 57

2.1.3.2.Âm hưởng âm nhạc trong ngày họ Mã rước dâu : 65

2.1.3.3.Ti ếng nhạc của vũ trụ: 65

Trang 5

2.2.Tác ph ẩm nhạc về Truyện Kiều trong cảm hứng của người đời sau: 67

2.2.1.Nhạc: 68

2.2.1.1.Nh ạc sĩ Vũ Đình Ẩn và đàn hợp xướng Kiều: 68

2.2.1.2.Nh ạc sĩ Nguyễn Văn Nam với bản giao hưởng số 7-Truyện nàng Kiều: 69

2.2.1.3.Nh ạc Phạm Duy: 69

2.1.2.4.Nh ạc của Trương Thìn: 70

2.2.2.Sân khấu: 72

2.2.2.1.Ca vũ nhạc kịch của Đan Phú: 72

2.2.2.2.Chèo: 73

2.2.2.3.Ca k ịch cải lương: 73

2.2.2.4.K ịch: 74

Chương 3: Truyện Kiều - chất hoạ và tác phẩm hoạ trong cảm hứng của người đời sau 76

3.1.Tính ch ất "Thi trung hữu họa" trong tác phẩm Truyền Kiều: 76

3.1.1.Chất họa trong những bức chân dung nhân vật: 76

3.1.1.1.Nhân v ật chính diện: 76

3.1.1.2.Nhân v ật phản diện: 87

3.1.1.3.Nhân v ật trung tính: 93

3.1.2.Chất họa trong những bức tranh phong cảnh: 95

3.1.2.1.C ảnh xuân, hạ, thu, đông: 96

3.1.2.2.C ảnh lầu Ngưng Bích: 103

3.1.2.3.Trăng: 105

3.1.2.4.C ảnh Kiều ra đi: 109

3.1.2.5.C ảnh sông Tiền Đường: 110

Trang 6

3.1.3.Chất họa trong những bức tranh cảnh sinh hoạt: 110

3.1.3.1.C ảnh du xuân: 110

3.1.3.2.C ảnh lầu xanh: 112

3.1.3.3.C ảnh xử kiện: 113

3.1.3.4.C ảnh đốt nhà bắt cóc: 114

3.1.3.5.C ảnh Kiều bị đánh đập: 114

3.1.3.6.C ảnh Kiều hầu hạ vợ chồng Hoạn Thư: 116

3.1.3.7.C ảnh Thụy Kiều báo ân báo oán: 117

3.1.3.8.C ảnh Hồ Tôn Hiến đánh úp Từ Hải: 118

3.1.3.9.C ảnh Thuý Kiều hầu rượu Hồ Tôn Hiến: 119

3.1.3.10.C ảnh sum họp gia đình: 119

3.1.4.Chất họa thể hiện qua bức tranh tùng: 120

3.2.Tác ph ẩm họa về Kiều trong cảm hứng của người đời sau : 122

3.2.1.Tranh minh hoạ: 123

3.2.1.1.Tranh minh ho ạ dùng làm trang bìa: 123

3.2.1.2.Tranh minh ho ạ nhân vật: 125

3.2.1.3.Tranh minh ho ạ cho những câu thơ: 125

3.2.1.4.Truy ện tranh: 127

3.2.1.5.Tranh minh ho ạ cho nhạc về Kiều: 128

3.2.1.6.Tranh minh ho ạ cho trang phục sân khấu: 129

3.2.2.Tranh và ảnh dàng trong trang trí: 129

3.2.2.1.TranhKi ều ở dinh Độc lập: 129

3.2.2.2 Ảnh Nguyễn Quốc Phẩm: 130

Kết luận 131

Trang 7

Thư mục tham khảo 134

Trang 8

MỞ ĐẦU

Mặc dù phải trải qua đời sống thăng trầm nhưng cuối cùng Truyện Kiều đã được mọi người thừa nhận là tập đại thành, hòn ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam, xứng danh

với tên gọi "Đại Việt thiên thu tuyệt diệu từ"(Lời văn hay để lại nghìn năm nước Việt) (Phan

Thạch Sơ) Gần hai trăm năm qua "Người Việt đã tắm gội trong dòng suối Hồng Lĩnh kia, để tự nuôi dưỡng và khám phá những châu ngọc còn ẩn giấu, mỗi người theo một cách riêng"[ 85,1]

Có người đi tìm cái hay cái đẹp trong văn chương Truyện Kiều, có người đi tìm những tư tưởng giá trị tiềm ẩn trong tác phẩm, có người đi tìm phong cách riêng của thi hào, có người mượn Truyện Kiều để đố Kiều, bói Kiều, lẩy Kiều, song cũng có người xem Truyện Kiều là nguồn cảm hứng, đề tài sáng tác: sáng tác nhạc, sáng tác thơ, xây dựng một dàn hợp xướng,

soạn ca vũ nhạc kịch, vẽ tranh minh hoa, dàn dựng vở diễn đưa lên sân khấu

Với một mảnh đất lắm người khai phá thì việc khám phá thêm những điều mới mẻ chắc không phải là dễ Nhưng với lòng say mê Truyện Kiều, trân trọng một kiệt tác văn học, người

viết luận văn cố gắng tiếp cận Truyện Kiều ở một góc nhìn khác, góc nhìn nhạc-hoạ với hy

vọng tìm ra vài điều có ích Việc làm đó có thể xem như một nén hương xin được cắm trên mộ người đã khuất, là một hí nh động hướng về cội nguồn, trân trọng vốn quí của văn hoá dân tộc Ngoài ra, để giảng dạy sâu sắc Truyện Kiều, một trong những nội dung chủ lực của chương trình giảng dạy từ cấp phổ thông đến đại học và trên đại học, người làm công tác giảng

dạy ịkhông thể không nghiên cứu tác phẩm Truyện Kiều ở nhiều bình diện, trong đó có bình

diện nhạc- hoa, một trong những đặc trưng nổi bật của tác phẩm

- Trên những ý tưởng đó, luận án hướ ng đến những mục đích sau:

1)Dựa trên cơ sỡ đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt, thể thơ truyền thống người viết nghiên cứu một cách tí mỉ, có hệ thống về chất hoa và tính nhạc trong kiệt tác Truyện Kiều

Trang 9

2)Tập hợp đánh giá những hình thức âm nhạc, những sáng tác nhạc và những bức tranh minh hoa của người đời sau để cho thấy rằng Truyện Kiều là niềm cảm hứng của nhiều người nghệ sĩ- kể cả những nghệ sĩ nước ngoài, đã xâm nhập vào rất nhiều loại hình nghệ thuật- nhạc, hoa, sân khấu, và đã ảnh hưởng rất sâu rộng trong đời sống văn hoá dân tộc

3)Từ đó, người viết tìm hiểu tác dụng ngược của những cảm tác về Truyện Kiều

4)Tất cả những phương diện trên đều được nghiên cứu dựa trên mối quan hệ giữa thi ca

và hội hoa, thi ca và âm nhạc

2.Phạm vi đề tài và tư liêu nghiên cứu:

Giá trị nghệ thuật tác phẩm và các hình thức tiếp nhận Truyện Kiều rất phong phú, luận văn chỉ đi vào hai vấn đề: tính nhạc và chất hoa trong tác phẩm và nhạc hoa trong cảm hứng

của người đời sau

Về tính nhạc và chất họa trong tác phẩm, luận văn chỉ khai thác thêm trên cơ sở những ý

kiến của các nhà nghiên cứu tiền bối Có những câu thơ vừa có tính nhạc vừa có chất hoa, phần này luận văn sẽ đề cập đến trong một lần khác

Về nhạc và họa trong cảm hứng của người đời sau, luận văn chỉ đi sâu khảo sát tìm hiểu giá trị minh họa của những bức tranh mà người viết luận văn biết được đích xác tên tác giả (do nhiều tác phẩm ỉn tranh Kiều nhưng không ghi rõ tên hoa sĩ) và những phương thức phổ nhạc

Việc phê bình thẩm định những tác phẩm này xin để dành cho những nhà phê bình uyên thâm

về âm nhạc và hội họa

Do hạn chế tư liệu về những vỡ tuồng viết về Truyện Kiều, người viết luận văn cố gắng tham khảo những ý kiến của các nghệ sĩ nhà hát tuồng, nhà hát ca kịch cải lương hoặc những đạo diễn sân khấu

Trang 10

+ Về tính chất 'Thi trung hữu nhạc":

*Những bài nghiên cứu dưới góc nhìn phong cách học:

-Phan Ngọc trong công trình "Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều", đã nghiên cứu rất khoa học về nhịp điệu, cách tạo nên từng khổ độc lập, biện pháp lặp từ, phương pháp hiệp vần tìm ra mặt mạnh và mặt yếu của thể thơ lục bát, so sánh lục bát trong Truyện

Kiều với những tác phẩm viết bằng thể lục bát hoặc song thất lục bát cùng thời Cuối cùng, ông cho rằng "Phương pháp đem đến tính âm nhạc của Nguyễn Du là tạo nên một tính đa dạng tối

đa về nhịp điệu, về sự trùng lặp, về hài âm trong khuôn khổ của tính đều đặn của nhịp điệu, vận

luật vav âm hưởng trong thơ lục bát Ông là nhà thơ đạt đến trình độ âm nhạc cao nhất trong

lục bát." [63, 253]

*Những bài nghiên cứu dưới dạng phê bình lịch sử:

- Đào Duy Anh, có thể là người đầu tiên nghiên cứu khá kỹ về hiện tượng đối ngẫu trong

lục bát Kiều Theo ông, nhờ sử dụng đối ngẫu mà những câu Kiều có "âm điệu nhịp nhàng câu văn biến hoá"[61,49]

-Trong công trình nghiên cứu về Nguyễn Du, Lê Trí Viễn đã nghiên cứu rất kỹ thể thơ lục bát dưới ngòi bút của thi hào Cuối cùng ông đã kết luận"Nguyễn Du nghiên cứu rất kỹ loại cân đối này, ứng dụng vào câu thơ lục bát, làm cho câu thơ thành thiên biến vạn hoá; âm điệu ngọt ngào, gây vô cùng hứng thú Khi thì ngắt đôi câu lục, khi thì ngắt đôi câu bát, khi thì ngắt 4 chữ trong câu lục, khi thi ngắt 4 chữ trong câu bát, khi thì ngắt 6 chữ trong câu bát, khi thì cho 2

chữ đối nhau trong một câu, khi thì xé một tiếng đô i ra làm hai xen vào một tiếng đôi khác, v.v Nhạc điệu trong thơ vì thế luôn luôn biến đổi" [27,187]

- Nguyễn Bách Khoa trong bài viết "Chất thơ và cái đẹp của tác phẩm Truyện Kiều" đã cho rằng âm hưởng Truyện Kiều rất êm ái nhẹ nhàng như đang "ngồi trên con thuyền êm ấm trôi xuôi theo dòng nước hiền lành đầy ánh trăng "[76,89]

-Nguyễn Lộc trong công trình nghiên cứu "Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến

hết thế kỷ XIX", có nghiên cứu về nhịp, vần, thanh bằng trắc, đối, thể thơ lục bát Ông cho

rằng "Ngôn ngữ Truyện Kiều vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu."[49,433]

Trang 11

- Nguyễn Tường Tam trong bài "Mấy lời bình luận văn chương Truyện Kiều" đã hết lời

ca ngợi cách gieo vần của cụ Nguyễn Du Nhờ cách gieo vần tài ba mà văn cụ "Đọc trơn tru lưu loát lắm Câu thơ như lướt theo tư tưởng."[76,64]

-Xuân Diệu trong công trình nghiên cứu "Nhà thơ thiên tài dân tộc Nguyễn Du", đã dành riêng một phần viết về "Nhạc điệu dào dạt" trong tác phẩm Truyện Kiều Ông kết luận "Truyện

Kiều còn là một bản nhạc dài, văn Kiều dễ nhớ dễ thuộc, huyễn diệu người ta, một phần lớn cũng do nhạc điệu Nhạc điệu ấy chan hoà khắp cả quyển, thấm vào mỗi câu "[92 ,151]

-Hà Như Chi trong công trình "Việt Nam thi văn giảng luận” có đề cập đến tính chất

"Phong phú về âm điệu” Ông cho rằng"Chính đặc điểm này cũng đã giúp nhiều cho sự phổ thông câu Truyện Kiều Có những người ít học, hoặc không biết chữ thế mà nhờ âm điệu du dương thuộc được nhiều câu Kiều"[14,506]

-Lê Hữu Mục trong công trình" Truyện Kiều và tuổi trẻ" viết chung với Phạm Thị Nhung, Đặng Quốc Cơ cũng đã nghiên cứu khá kỹ tính giàu nhạc điệu thể hiện trong thể thơ lục bát Theo ông "Về bề dọc cũng như bề ngang, Truyện Kiều đều được xây dựng bằng những âm thanh và những nhịp điệu phong phú; tính giàu nhạc điệu của câu thơ đã nâng giá trị của tập thơ lên cao đến nỗi nhiều khi người ta không hiểu nội dung của câu thơ, nhưng người ta cứ tìm đọc Truyện Kiều như tìm đến một nhạc phẩm, trong đó âm thanh được sắp đặt một cách phù

hợp hoàn toàn với nhịp điệu của lòng người"[22, l18]

Ngoài những tác giả trên, "Phạm Quỳnh, cũng như Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Quảng Tuân,

Phạm Thị Nhung, Đặng Quốc Cơ ai cũng đồng thanh ca tụng Truyện Kiều là một bản giao hưởng tuyệt mỹ." [22,117]

+ Về tính chất" Thi trung hữu họa" trong tác phẩm Truyện Kiều:

So với nội dung trên, nội dung này ít có những bài nghiên cứu mang tính chất riêng biệt Các tác giả trong quá trình phân tích tính cách nhân vật, những đoạn thơ đặc sắc thường lồng vào những nhận định hoặc đưa ra một số dẫn chứng minh hoa

-Trong bài viết "Vài nét về bút pháp của Nguyễn Du" Lê Trí Viễn đã chỉ rõ những nét nổi

bật trong văn tả cảnh, tả người và đưa ra kết luận"Nếu kể luôn nét bút tả thân hình Thúy Kiều

nữa thì phải nói rằng Nguyễn Du có một ngòi bút tạo hình hết sức sắc sảo Không có truyền

Trang 12

thống hội hoa Trung Quốc, của văn học dân gian Việt Nam, không có ảnh hưởng của nền nghệ thuật tạo hình Việt Nam bấy giờ thì không sao có được" [27,193]

-Dương Quảng Hàm khi bàn về văn chương Truyện Kiều có nói lướt qua chất họa “Tả

cảnh thì theo lối phác họa mà cảnh nào cũng linh hoạt khiến cho người đọc cảm thấy cái thi vị

của mỗi cảnh và cái tâm hồn của mỗi vai trong cảnh ấy Tả người thì vai nào rõ ra tích chất vai

ấy, chỉ một vài nét mà như vẽ thành bức truyền thần của mỗi vai, khám phá được tâm lý của vai

ấy, khiến cho nhiều vai đã trở thành mô dạng cho đời sau " [6, 374]

-Hà Như Chi khi đánh giá về văn tả người của cụ Nguyễn Du, ông cho rằng có ba đặc điểm nổi bật trong văn tả người: Tính cách hoạt họa, tính cách ước lệ, tính cách đồng nhất giữa hình dung, tướng mạo và tính tình nhân vật Theo ông, những bức chân dung của cụ "Bao giờ cũng có tính cách hoạt họa, nét bút chỉ phớt qua nhưng vô cùng linh động, nét bút của một nghệ

sĩ tài hoa mà cũng là một nhà tâm lý sâu sắc, trong phút chốc phơi bày trên mặt giấy những vẻ đặc biệt của tâm hồn"[14,478]

-Nguyễn Lộc khi viết về ngôn ngữ Truyện Kiều có nhận xét "Dường như ngôn ngữ thơ lý tương của Nguyễn Du bao giờ cũng kết hợp giữa âm nhạc với hội họa" [53,433]

-Đặng Thanh Lê trong tác phẩm "Giảng văn Truyện Kiều" cho rằng "Nói thơ tả cảnh của Nguyễn Du là lối thơ "Thi trung hữu họa” không có nghĩa là nói đoạn tả gió, tả trăng, mây, nước mà phải nói cả cái cảnh gia đình họ Bạc lăng xăng rối rít ( ) và cả khung cảnh duyệt binh khá sinh động ở đây cũng đều là những cảnh có sắc thái “Thi trung hữu hoạ" [10, 94]

-Lê Ngọc Trà trong bài "Đôi điều về quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Du "khi so sánh

nhạc và hoa trong thơ Nguyễn Trãi và thơ Nguyễn Du, ông cho rằng “Tới Truyện Kiều của Nguyễn Du chúng ta mới hiểu rõ hơn cái bản tính cầm kỳ thi họa của một nhà nghệ sĩ phương Đông" [23,162]

-Trần Đăng Xuyên trong quá trình phân tích đoạn thơ "Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều" cũng đã viết "Cảnh chia tay được dựng lên bằng bút pháp hội họa" [46,19]

-Hoàng Như Mai khi viết về những bức tranh tả cảnh mùa xuân trong Truyện Kiều cũng

đã đưa ra nhận xét “Thi hào Nguyễn Du vẽ bức tranh - hay tâm tranh - của cả một mùa xuân: sáng, chiều, chiều tối, đêm, vẽ lối chấm phá, đường nét màu sắc không rậm rạp ồn ào, mà diễn

Trang 13

tả cả một thiên nhiên và tình người: Tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này thật tuyệt vời" [55,113]

*Đặc biệt, xuất phát từ góc độ chuyên môn, khi quan sát bức chân dung Kiều và Từ Hải, hoa sĩ Nguyễn Tiến Chung đã cho rằng: "Tả Kiều và Vân, Nguyễn Du xây dựng những hình tượng thuần những đường cong - làn nước mùa thu, ngọn núi mùa xuân, khuôn trăng nét ngài, tóc mây tả Từ Hải vạm vỡ khác thường" [61 -79]

+ Về nhạc và họa trong cảm hứng của người đời sau:

Về phần này dường như có rất ít những bài viết dưới dạng nghiên cứu phê bình tranh và

ta cố cái nhìn chính xác và tòan diện hơn về một kiệt tác

4.Phương pháp nghiên cứu:

Xuất phát từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của luận văn, chứng tôi thực hiện đề tài theo những phương pháp sau:

-Chất nhạc, chất họa trong tác phẩm Truyện Kiều thuộc lãnh vực mỹ học tiếp nhận Người nghiên cứu không thể không khảo sát kỹ tác phẩm trên nền tảng đặc điểm của ngôn ngữ

Tiếng Việt và thể thơ truyền thống để tìm ra một cách có hệ thống và khoa học về chất họa và tính nhạc trong tác phẩm

-Để có thể qui kết một vấn đề, một khái niệm, tạo chỗ đứng vững chắc cho những kết luận khoa học, người nghiên cứu phải tiến hành thống kê những tần số xuất hiện của những hiện

Trang 14

tượng như hiện tượng sử dụng từ láy âm, điệp từ, điệp âm, sự biến đổi nhịp điệu Như vậy, phương pháp thống kê rất cần thiết cho người nghiên cứu

-Không riêng gì tác phẩm Truyện Kiều mới sử dụng thể thơ truyền thống, rất nhiều tác

phẩm có giá tri khác được viết bằng thể thơ này, muốn tìm hiểu giá trị hơn hẳn về tính nhạc

chất hoa người viết phải sử dụng đến phương pháp so sánh

-Cũng là chất họa nhưng tính chất ở mỗi bức tranh có khác nhau, nhân vật chính khác với nhân vật phụ, nhân vật chính diện khác nhân vật phản diện, miêu tả nhân vật khác với tả cảnh sinh hoạt và tả phong cảnh Để thấy rõ điều này, người nghiên cứu không chỉ dùng phương pháp so sánh mà còn sử dụng đến phương pháp phân loại

-Những tác phẩm hội họa và những tác phẩm nhạc trong cảm hứng của người đời sau về tác phẩm Truyện Kiều được đăng tải rải rác ưên nhiều tài liệu ở nhiều thời điểm khác nhau, vì

vậy người nghiên cứu phải sưu tẩm, tập hợp phân loại tổng hợp khảo sát và đánh giá

Trên cơ sở kế thừa thành tựu của người đi trước, luận án có những đóng góp :

-Người viết mạnh dạn vận dụng những kiến thức về âm nhạc hội họa để khai thác tính

nhạc chất họa trong tác phẩm

-Dưới góc nhìn của hội họa, luận văn đưa ra một cách nhìn khác khi thẩm định các chân đung nhân vật, những đoạn thơ tả cảnh để người đọc có sự so sánh đối chiếu

-Luận văn cố gắng tập trung về một điểm những hoa tác, những nhạc phẩm, những vở

diễn về Kiều của nhiều hoa sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn, soạn giả Có thể xem đây là nguồn tư liệu cần thiết có ích đối với những ai khi cần nghiên cứu về vấn đề này

Việc làm trên không nằm ngoài mục đích khẳng định thêm giá trị của Truyện Kiều và ảnh hưởng của nó đối với nhiều lĩnh vực

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận án gồm ba chương :

Chương một: Những vấn đề lý luận

Trang 15

I)Thi trung h ữu nhạc:

1)Thơ và nhạc

2)Sự gặp gỡ giữa thơ và nhạc

3)Cơ sở tính nhạc trong Truyện Kiều

II)Thi trung h ữu hoạ:

1)Thơ và hoạ

2)Mối quan hệ giữa thơ và hoa

3)Cơ sở chất hoa trong tác phẩm Truyện Kiều

III)Lý thuy ết tiếp nhận và cắc hình thức tiếp nhận:

1)Lý thuyết tiếp nhận

2)Các hình thức tiếp nhận

Chương hai:Truyện Kiều - tính nhạc và tác phẩm nhạc trong cảm hứng của người đời sau

I)Tính ch ất thi trung hữu nhạc trong tác phẩm Truyện Kiều

1)Tính nhạc thể hiện qua luật thơ

2)Tính nhạc thể hiện qua hiện tượng phối âm, sử dụng từ láy, điệp ngữ, đối, kết cấu tác

phẩm

3)Tính nhạc thể hiện qua những âm hưởng âm nhạc

II)Tác ph ẩm nhạc về Kiều trong cảm hứng của người đời sau:

Trang 16

1)Chất họa qua những bức chân dung nhân vật

2)Chất họa trong những bức tranh phong cảnh

3)Chất họa trong những bức tranh cảnh sinh hoạt

4)Chất họa trong chính một bức họa- bức tranh tùng

II)Tác phẩm họa về Kiều trong cảm hứng của người đời sau: 1)Tranh minh họa

2)Tranh và ảnh dùng trong trang trí

Trang 17

Chương 1: Những vấn đề lý luận

1.1.1.T hơ và nhạc:

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ảnh cuộc sống thể hiện những tâm trạng, những

cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn từ hàm súc giàu hình ảnh và nhất là có nhạc điệu Bàn về thơ Sóng Hồng có viết "Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý tinh vi Người làm thơ phải có tình

cảm mãnh liệt, nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua lời thơ ương sáng vang lên nhịp điệu khác thường "[20,210] Trong thơ, nhạc tính rất quan

trọng, vì thế Chế Lan Viên và nhiều người khác đã khẳng định: "Thơ đi giữa ý nhạc"

Khác với thơ, nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh làm phương tiện để diễn đạt tư tương tình cảm Nhưng không phải âm thanh nào cũng gọi là âm nhạc Những tiếng động không có độ cao như tiếng gõ, tiếng đập, tiếng rì rào của cây cỏ, tiếng sấm, những âm thanh này không gọi là âm nhạc "Những âm thanh có tính nhạc được xác định bởi bốn thuộc tính-độ cao, độ dài, độ mạnh, độ nhẹ và âm sắc "[67, 4]

1.1.2 Sư gặp gỡ giữa thơ và nhạc:

Trong bảy loại hình nghệ thuật đơn tính - điêu khắc, hội họa, văn chương, âm nhạc, múa, sân khấu, film ( điện ảnh, truyền hình ) ranh giới thơ và nhạc gần gũi nhất Lê Đình Diên khẳng định"Thơ là sự biểu hiện của nhạc, thanh là sự biểu hiện của thơ Tình rung động phát ra thành thanh, người ta có thanh rồi sau đó có thơ Thanh biểu hiện ra lời, nhạc có thơ mà sau đó có thanh Cho nên biết chỗ giống nhau của chúng cũng nên biết chỗ khác nhau của chúng

".[39,158] Còn Nguyễn Văn Hạnh thì khẳng định :"Trong văn chương thì thơ ca là loại thể gần

âm nhạc vì có tính chất trực tiếp nhất, thiên về tự biểu hiện, gắn với cái tôi của người nghệ sĩ nhiều hơn, so với truyện ký văn xuôi nói chung "[57,112] Hà Minh Đức thì cho rằng "Ngôn

ngữ thơ ca là ngôn ngữ có nhịp điệu" [13,151] Bloc cũng định nghĩa"Nhà thơ là người mang

tiết tấu" Trong tiểu luận ngôn ngữ đại cương, Roman Jacobson cũng đã thừa nhận công thức

của Valery:"Bài thơ là một sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa" [73,31] Sự phân

Trang 18

vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa âu cũng là sự tương tác giữa nội dung và hình thức, giữa cái biểu đạt và cái cần biểu đạt, giữa nhạc tính và các tầng nghĩa

Rõ ràng điểm gặp gỡ lớn nhất giữa thơ và nhạc đó là nhịp điệu tiết tấu Nhưng cần thấy

thêm rằng nhịp trong thơ và nhịp trong nhạc vẫn có khoảng cách Nhịp trong một bản nhạc tồn

của một thể thơ có những qui định rõ ràng về nhịp

1.1.3 Cơ sở tính nhạc trong Truyện Kiều:

1.1.3.1.Ngôn ng ữ Tiếng Việt:

Từ trong cội nguồn, qua các giai đoạn phát triển, Tiếng Việt tạo ra được bản sắc riêng

1.1.3.1.1.V ề mặt loại hình: Tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm này bộc lộ rõ

rệt ở các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

1.1.3.1.2.V ề mặt ngữ âm: Mỗi tiếng là một âm tiết Hệ thống âm vị Tiếng Việt phong phú

và có tính cân đối tạo ra tiềm năng to lớn của ngữ âm Tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị

có nghĩa Nhiều từ tượng hình, tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc Khi tạo câu, tạo lời, người

viết rất chú ý đến sự hài hòa về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn

1.1.3.1.3.V ề đặc điềm từ vựng : Mỗi tiếng nói là một yếu tố có nghĩa Từ tiếng, người ta

tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật, hiện tượng nhờ phương thức ghép, phương

thức láy Phương thức láy là một phương thức góp phần rất lớn trong việc tạo ra tính nhạc

1.1.3.1.4.V ề đặc điềm ngữ pháp : Từ Tiếng Việt không biến đổi hình thái Đặc điểm này

chi phổi các đặc điểm ngữ pháp khác Khỉ kết hợp từ thành các két câu như ngữ, câu, tiếng Việt

rất coi trọng phương thức trật tự từ và hư từ Nếu một nhà văn nhà thơ có ý thức sử dụng trật tự

từ cũng có thể tạo nên tính nhạc

Đặc biệt so với ngôn ngữ Ấn Âu, ngôn ngữ Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu Trong

hệ thống thanh điệu của Tiếng việt có thanh cao - ngang, ngã, sắc; có thanh thấp - huyền, hỏi,

nặng ; có thanh không bằng phảng - ngã , hỏi, sắc, nặng; có thanh đổi hướng - ngã, hỏi; có thanh không đổi hướng, kết thúc bằng một nét tắc họng - sắc, nặng Đặc điểm này không những

là yêu cầu về mặt chính xác trong khu biệt nghĩa mà còn là yêu cầu về mặt nhạc tính của ngôn

Trang 19

bản, nhất là ngôn ngữ nghệ thuật Thơ ca cổ truyền - lục bát, song thất lục bát, vè , thơ Đường đều rất chú ý đến qui luật hài hoà về thanh điệu

Nói chung, “Trong Tiếng Việt, sự cân đối, trầm bổng, nhịp nhàng, uyển chuyển, biện pháp trùng điệp, các thanh, vần, ngữ điệu, các từ tượng thanh, từ láy đều góp phần tạo nên nhạc tính cho câu thơ" [57,175]

Không riêng gì thơ, trong văn xuôi, một số nhà văn có ý thức cũng chú ý đến đặc điểm này để tạo ra nhạc tính:

+Trần Quốc Tuấn, một thiên tài quân sự đã để lại một kiệt tác văn chương "Hịch tướng sĩ Trong bản địch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, người dịch đã cố gắng dịch gần như chính xác ngôn bản về nội dung lẫn nhịp điệu Câu văn “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù "

là một câu văn có sự cân đối về nhịp ( 6-4, 4-4, 8-6).Vì thế, âm điệu khá nhịp nhàng rất dễ nhớ

dễ thuộc

+Câu văn"Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi"trong tác phẩm"Cây tre" của Thép Mới có nhịp điệu rất nhịp nhàng 3-3-6-6 và cân

xứng về thanh bằng trắc - Vế một có 3 thanh bằng, vế hai lại 3 thanh trắc, vế ba có 3 bằng 3

trắc, vế bốn có 4 bằng 2 trắc Nhờ sự cân xứng về nhịp, thanh, câu văn trở nên uyển chuyển

Hoặc cấu "Cối xay tre, nặng nề quay, nghìn đời nay, xay nắm thóc "ngắt theo nhịp 3- 3-3 -3 tạo

ra được nhịp điệu lao động nặng nhọc, sự bền bỉ chịu đựng của người dân quê

+"Tôi đi học"của Thanh Tịnh có âm điệu rất êm ái phù hợp với việc diễn tả những cảm giác sung sướng hạnh phúc, lâng lâng của cậu học sinh trong ngày đầu tiên đến trường Khác

với Thép Mới, Thanh Tịnh lại chú ý đến việc sử dụng những thành phần lặp lại và những từ láy

âm để tạo ra nhạc tính: Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không

có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu

trường Buổi mai hôm ấy mốt buổi mai đầy sương thu và giá lạnh Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng

lần này tôi tự nhiên thấy lạ Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi có SƯ thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học

Trang 20

1.1.3.2.Th ể thơ lúc bát:

1.1.3.2.1.Ngu ồn gốc thơ lục bát:

Về nguồn gốc, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất với nhau rằng, lục bát thoát thai từ ca dao

tục ngữ Nó là con đẻ của ca dao Thời gian định hình của thể lục bát hiện nay chưa xác định

một cách chắc chắn Có người cho rằng'Thời gian định hình của thể lục bát từ thế kỷ thứ X đến

thế kỷ XV Trong thời gian này, giới trí thức chỉ lo làm các thể thơ gốc Trung Hoa Các bài thơ thường viết bằng chữ Hán Giới bình dân thường truyền miệng nhau những câu thành ngữ quen thuộc, những câu tục ngữ có giá trị đạo lý, lúc đầu chưa có điệu, chưa có vần nhitag dần dần được hoàn chỉnh để trở thành ca đao với vần điệu và âm vận rõ ràng"[22,105]

Câu thơ lục bát lức đầu chưa được thuần nhất, đôi khi còn vụng về, cứng nhắc, hình thức

mộc mạc “Trong nhiều truyện Nôm của dân gian được lưu truyền xuất hiện cuối Lê đầu Nguyễn hình thức ấy vẫn có nhiều: vần ở câu bát không gieo vào chữ thứ sáu mà gieo vào chữ

thứ tư Hoặc giả niêm luật bằng trắc của câu thơ cũng chưa cố định, qui luật nhạc điệu của câu thơ cũng chưa thành hình" [27,185] Ngay cả Thiên Nam Ngữ Lục được viết vào thế kỷ XVII thể lục bát cũng chưa hoàn toàn ổn định về âm luật và vần Hiện tượng chữ thứ hai vần

trắc, chữ thứ 8 vẫn còn vần với chữ thứ tư:

Nghe nhau, ai nấy ngó nhau, (4685)

Một đứa nhổ sào, cả vạn cũng xuôi (4686) Đến thế kỷ XVIII hiện tượng này ít thấy xuất hiện Đặc biệt khi Nguyễn Du sử dụng thể

lục bát để viết Truyện Kiều thì lục bát đã đạt đến đỉnh cao

1.1.3.2.2.Nh ững nguyên tắc của thể thơ lục bát:

+V ề số chữ trong thể thơ lục bát:

Lục bát theo nghĩa đen là sáu tám Vì theo thể này cứ lần lượt đặt một câu sáu chữ lại đến

một câu tám chữ, muốn đặt dài ngắn bao nhiêu cũng được, miễn là phải dừng lại ở cuối câu tám

+V ề luật bằng trắc, thể thơ lục bát được qui định như sau:

Câu sáu: Ob Otr Ob

Trang 21

Câu tám: Ob Otr Ob Ob

Ví dụ: Thân em như hài mưa sa,(b-tr-b)

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.(b-tr-b-b) Trong đó b -bằng; tr- trắc; 0-tự do (bằng hoặc trắc) Trong câu tám, tuy chữ thứ sáu và

chữ thứ tám đều là tiếng bằng nhưng không được cùng một thanh, nghĩa là chữ thứ sáu thuộc phù bình thanh thì chữ thứ tám phải trầm bình thanh và ngược lại

Ví dụ: Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Trường hợp câu sáu chia thành hai đoạn dài bằng nhau thì chữ thứ hai có thể đổi bằng thành trắc

Ví dụ: Dù mặt lạ, đã lòng quen (Bích Câu kỳ ngộ)

+V ần và cách hiêp vần :

Vần trong thơ lục bát thường là vần bằng nhưng cũng có một số ít trường hợp là vần trắc:

Tò mò mà nuôi con nhện, Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi (Ca dao)

vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu bát lại gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo, thành ra câu tám có hai vần, một yêu vận ở chữ thứ sáu và một cước vận ở chữ thứ tám Theo một số nhà nghiên cứu, vần lưng cũng có khi gieo ở chữ thứ tư câu tám, thí dụ:

-Núi cao chi lắm núi ơi, Núi che mặt trời chẳng thấy người thương (Ca dao)

-Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao (Ca dao)

+Nh ịp và cách ngắt nhịp:

Trang 22

Xét về tính chất hoàn chỉnh về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm và ngữ điệu thì "cả cặp

lục bát mười bốn từ được coi như một đơn vị nhịp điệu, trong đơn vị đó lại có thể ngắt ra từng

tiết tấu tuy theo cách diễn đạt của câu thơ, do đó người ta có thể ngắt thành đơn vị tiết tấu mà ta

gọi là nhịp hai, nhịp ba, nhịp bốn "[ 4,174]

Nói chung, ngắt nhịp trong thơ lục bát thông thường ngắt theo nhịp chẩn, mỗi nhịp hai

tiếng Tuy vậy, ta cộ thể gặp lối ngắt nhịp lẻ, mỗi nhịp ba tiếng Trường hợp này xuất hiện khi nào câu sáu chia thành hai đoạn dài bằng nhau:

Chồng gì anh/ vợ gì tôi,

Chẳng qua là cái nợ đời chi đây! (Ca dao) Ngoài ra, còn có lục bát biến thể Thể này cũng là thể lục bát, nhưng thỉnh thoảng có xen vào một ít câu mà cách hiệp vần và luật bằng trắc khác thể lục bát nói trên Thể này thường dùng để viết các truyện có tính cách bình dân như Quan Thế Âm, Phạm Công Cúc Hoa, Lý Công

+Ưu và nhược điểm trong thể thơ lục bát:

Ưu điểm:

Với số lượng thanh bằng nhiều trong một cặp lục bát- tối thiểu là 5 thanh bằng trong một

cặp, tối đa là 12 thanh bằng trong một cặp, thể thơ lục bát cố khả năng diễn tả cao đời sống tình

cảm của người dân lao động

Đối với những thể thơ khác, người làm thơ phải dùng nhiều câu mới tạo thành tác phẩm -

ít nhất là 4 câu, còn lục bát chỉ cần một cặp câu cũng cố thể tạo ra một chỉnh thể hoàn chỉnh " Cái kỳ lạ của thơ lục bát và song thất lục bát là nó được cấu trúc ở đơn vị câu thơ, và đây là cấu trúc vừa khép vừa mở Khép, vì nó liên hệ ràng buộc bên trong về thanh điệu, về nhịp, về vần làm cho mỗi câu thơ trở thành một cấp độ chỉnh thể ( ) Mở, vì câu thơ lục bát và song thất

lục bát luôn mở ra cấu trúc hoa với những câu thơ lục bát và song thất lục bát khác, một cách

liền mạch và có thể nói là không giới hạn" [57,87]

H ạn chế của thơ lục bát:

Trang 23

Theo Nguyễn Khuyên thơ lục bát là một thể thơ rất khó viết dài, khó viết hay Cụ là một nhà thơ lớn, nhưng không làm thơ lục bát Người ta hỏi vì sao, cụ trả lời rằng "Thể thơ lục bát

với những cái ngọt ngào tình tứ thì cụ Nguyễn Du vớt hết cả rồi Nay có làm cũng chỉ vớt lấy

Bằng tài năng của mình, Nguyễn Du đã phát huy được ưu điểm, khắc phục những hạn chế

của thể thơ lục bát để viết một tác phẩm dài hơi có chất lượng, giàu nhạc điệu như tác phẩm Truyện Kiều

1.2.1 Thơ và hoạ:

Nếu người nhạc sĩ dùng những nốt nhạc để tạo nên những giai điệu êm ái ngọt ngào hay hùng tráng làm cho người nghe say sưa thích thú thì người hoa sĩ cũng có những vật liệu để hình thành tác phẩm Những nguyên liệu ấy Mendelowiits gọi là yếu tố tạo hình; Edmund Burk Felman gọi là yếu tố thị quan: ngữ pháp ; Đặng Ngọc Trân gọi là cấu trúc ngữ pháp Theo Đặng Ngọc Trân thì "Dù là người tiền sử hay người hiện đại, dù là hoa sĩ cổ điển hay hoa sĩ

trừu tượng đều phải dùng tới các yếu tố: Đường nét, hình dạng, giá trị, độ nhẩn và màu sắc để

tạo nên một tác phẩm hội hoa 7 [11,47]

Hội họa có nhiều trường phái khác nhau - Hiện thực, ấn tượng, lập thể, siêu thực, dã thú Khác với các nhạc sĩ, hoa sĩ, các nhà văn nhà thơ lại dùng ngôn từ để tạo nên những tác

phẩm văn chương làm mê hoặc người đọc Nói như M.Gorki "Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và - cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - là

chất liệu của văn học" [32,206] Ngôn từ trong tác phẩm văn chương phải là những ngôn từ đã được nâng lên đến trình độ nghệ thuật và phải đảm bảo tính chính xác, tính hàm súc, tính biểu

cảm, tính hình tượng

Trang 24

1.2.2.M ối quan hệ giữa thơ và hoạ :

Cùng thuộc nhổm nghệ thuật đơn tính (Không kể hội họa ứng dụng, văn chương ứtìg

dụng) hoa và thơ có mối quan hệ gần gũi Trác Ngô Tử khi nhận xét mối quan hệ giữa thơ và hoa thì cho rằng "Hoa đâu chỉ có vẽ hình, mà phải có cả hình lẫn thần; thơ đâu phải ở bên ngoài hoa, mà ở chỗ nêu được cái thần thái trong họa" [18,164] Còn nhà họa sĩ vĩ đại Léonaard de Vinci thì cho rằng "Hoạ là thi ca bằng thị giác" [11,51]

Tác phẩm nghệ thuật tạo hình- một bức tranh, một pho tượng, một công trình kiến trúc dù được thực hiện bằng tay song nổ chủ yếu là sản phẩm thẩm mỹ của con mắt "Con mắt là kênh đối thoại giữa người xem và tác phẩm Vì vậy thông tin thị giác, thông tin thẩm mỹ thị giác, ngôn ngữ thị giác và cụ thể hơn là ngôn ngữ nghệ thuật tạo hỉnh xây dựng trên cơ sở cơ

cấu hoạt động và đặc trưng chức năn g của con mắt" [50, 6] Hội họa thuộc loại hình "nghệ thuật không gian, nghệ thuật tĩnh có sở trường diễn đạt cái cụ thể -theo nghĩa nhìn thấy trước

mắt - và đứng yên Khả năng này giúp con người tạo môi trường không gian đẹp quanh mình, giúp cho sự lắng đọng cảm xúc" [19,78]

Những sắc độ màu, sự chuyển động của nét và những biến thể của hình khối thể hiện trong tác phẩm văn chương không cố tính chất cụ thể như trong tác phẩm của loại hình nghệ thuật tạo hình

Nhưng không phải bất cứ tác phẩm văn chương nào cũng có chất hoa Mức độ ít hay nhiều đậm hay nhạt còn tuỳ thuộc vào khả năng của người sáng tác, tuy thuộc vào loại hình của

từng tác phẩm văn chương

1.3.1.N gôn ngữ tiếng Việt:

“Trong tiếng Việt, cổ một loại đơn vị đặc biệt gọi là tiếng, về ngữ âm, một tiếng là một

âm tiết Hệ thống âm vị tiếng Việt rất phong phú và có tính chật cân đối, tạo ra tiềm năng to lớn

của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa Nhiều từ tượng hình tượng

nên không ít bức họa trong văn thơ Khuôn mặt Chí Phèo khi hắn uống rượu say, khuôn mặt

Trang 25

Lão Hạc khi bán con chó vàng là những bức hoa sinh động bằng ngôn ngữ sống mãi với thời gian

1.3.2.Tính t ạo hình trong hình tượng văn học:

Tính tạo hình trong hình tượng văn học là một phẩm chất không thể thiếu được của hình tượng, không có tạo hình thì hình tượng không có cơ sở để tồn tại Tạo hình bao gồm việc tạo cho hình tượng một không gian, thời gian, những sự kiện và những mối quan hệ giàu cảm xúc

Nhờ tạo hình mà hình tượng hiện lên một cách cụ thể qua chất liệu."Trong hội họa tạo hình

biểu hiện trực tiếp qua đường nét, màu sắc, trong điêu khắc tạo hình biểu hiện qua đường nét hình khối, trong văn học, tính tạo hình được xác lập gián tiếp qua ngôn từ".[13,30] Ngôn từ có tính hình tượng là ngôn từ giàu hình ảnh có màu sắc, âm thanh, nhạc điệu có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ tác động sâu xa vào trí tưởng tượng và cảm nghĩ của người đọc Như vậy tính hình tượng, một đặc điểm của ngôn ngữ vãn học có khả năng phản ảnh, thể hiện các yếu tố của ngôn ngữ hội họa Vận dụng tính chất này, các nhà văn, nhà thơ đã tạo ra không ít những chân dung về nhân vật, những bức tranh phong cảnh lấp lánh những sắc màu, đa dạng về đường nét

Trong bài thơ “Thuật hứng XXIV" của Nguyễn Trãi hai câu luận "Kho thu phong nguyệt đầy

gam màu vàng, thực và ảo được kết hợp hài hòa ấn tượng

Gió thu vận động êm nhẹ, trăng thu tràn ngập, không gian mùa thu êm ả, yên bình Trong

một không gian mênh mông ngập tràn sương khói, con thuyền thơ nhỏ bé- hình ảnh trung tâm

của bức tranh không bị mất hút trong những sắc màu hư ảo là nhờ cách trọng lượng hóa vật thể

"Thuyền chở yên hà nặng vạy then" của một nhà thi họa Bức tranh được phác hoa bằng những nét bút hào hoa mỹ lệ tao nhã nên thơ đậm đà phong vị dân tộc Có thể nói, đây là một cảnh tiên giữa đời thường Nhờ tính tạo hình của văn học, những bức tranh thơ như trên sẽ rất dễ dàng biến thành những họa tác

1.4.1 Lý thuyết tiếp nhận:

Mỹ học tiếp nhận ra đời khấ muộn màng mặc dù nó không xa lạ gì đối với truyền thống văn học Đông Tây Mãi đến những năm đầu thế kỷ XX một số công trình về vấn đề này mới

Trang 26

thấy xuất hiện Người đưa ra mô hình hoàn thiện cho mỹ học tiếp nhận là Hans Robert Jauss Ông cho rằng văn học là kết quả của hai quá trình- sản xuất và tiêu thụ Người tiêu thụ được xem là đồng tác giả Quyết định số phận của tác phẩm của mỗi thời theo Jauss là do "tầm đón

nhận" của người đọc, thế hệ đọc (Khái niệm này là của nhà triết học và xã hội học người Đức Karl Mannheim được Jauss vận dụng vào văn học) Nhất trí với quan niệm xem mối quan hệ

giữa tác phẩm và người đọc là vấn đề có ý nghĩa then chốt nhiữig không thống nhất với quan

niệm cho rằng người đọc có vai trò quyết định đối với ý nghĩa tác phẩm, hai nhà nghiên cứu Mác-xít ManFred Naumann(Đức) và Khrapchenkô(Liên xô) bổ sung thêm Họ cho rằng tác

phẩm là một đề án tiếp nhận, là nhân tố hàng đầu, còn tính năng động của người đọc là thứ yếu,

phụ thuộc Cho đến nay quan niệm này dường như đã được khẳng định Ở Việt Nam Nguyễn Văn Hạnh là người đầu tiên đề cập đến mối quan hệ tác phẩm -người đọc trên bình diện lý

luận Trên tạp chí văn học số 4- năm 1971, vận dụng quan điểm thực tiễn trong nhận thức luận

của Lê Nin, ông cho rằng khâu "thưởng thức" mới có ý nghĩa xã hội thực tế của nó Quan điểm này buộc các nhà nghiên cứu khi đánh giá tác phẩm phải chú ý đến tác dụng thực tế của tác

phẩm, phản ứng của người đọc đối với nó Năm 1980 Hoàng Trinh lại đề cập đến vấn đề tiếp

nhận văn học như là đ ối tượng của khoa học văn học so sánh Sau đó 1985 lý thuyết "mỹ học

tiếp nhận" của trường phái Konstanz được giới thiệu rộng rãi Tiếp đó, một số công trình của tác giả Huỳnh Vân, Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Lai đào sâu hơn những khía cạnh của mỹ học tiếp nhận trong mối quan hệ với mỹ học sáng tác Từ

những vấn đề nghiên cứu nói trên chúng ta càng hiểu rõ hơn giá trị của mỹ học tiếp nhận

"Chính từ chỗ hoà hợp, trùng hợp kinh nghiệm của nhà văn với kinh nghiệm của người đọc mà

ta có được sự thật nhgệ thuật - cái sức thuyết phục đặc biệt của văn học vốn là cội nguồn của

sức ảnh hưởng của nó với con người "[Theo 58,97] Như vậy có thể thấy rằng Nhà văn -Tác

phẩm - Bạn đọc là một chu trình khép kín Trong đó, nếu nhà văn là chủ thể sáng tạo thì người đọc là chủ thể tiếp nhận với nhiều kiểu nhìn nhận đánh giá khác nhau Nói theo Baudel aire

"Một tác phẩm hoàn thành chưa nhất thiết hoàn tất" Sự hoàn thành là do nhà văn, còn sự hoàn

tất là do bạn đọc, do thời gian, do lịch sử mà nhiều khi nhà văn không can dự vào Như vậy, người đọc có khả năng tạo ra những tác phẩm mới Và từ đó tác giả mới cũng xuất hiện bởi vì

"quá trình hoạt động của một tác phẩm không phải là một chu trình đóng kín, nia nó mở ra về phía đời sống Và đối với tác phẩm lớn thì cuộc đời của nó luôn luôn ẩn chứa những khả năng

Trang 27

mới sẽ bộc lộ khi nó viễn du qua không gian và thời gian."[57,136)] Truyện Kiều của Nguyễn

Du là một trường hợp tiêu biểu "mở ra về phía đời sống" với nhiều cách tiếp nhận khác nhau

Nhận xét về quá trình tiếp nhận Truyện Kiều, Lưu Trọng Lư có ý kiến :'Tôi đi giữa những trang

Kiều Đây là những giọt sương rơi từ những hoa lá Hôm nay là của Mận, Đào, ngày mai của Xoan, Trúc Cứ động cành là sương rơi hoa rụng Bao giờ cho hết Bao giờ cho cạn vì Truyện

Kiều là một sự không cùng Hôm qua nó là của Phạm Quí Thích, của Chu Mạnh Trinh - Ngàn

liễu rung cương gỢn sóng tình Hôm nay là của chúng tôi Ngày mai là của các bạn Và mãi mãi là của các mẹ, các chị, các em Truyện Kiều sẽ nối lại những thế hệ tuổi thơ"

1.4.2 Các hình thức tiếp nhận Truyện Kiều:

Trước hết đó là hiện tượng lẩy Kiều, tập Kiều, đố Kiều, bói Kiều, nghiên cứu phê bình về Truyện Kiều, dựa vào Truyện Kiều để sáng tạo ra tác phẩm văn học hậu Truyện Kiều

1.4.2.1.T ập Kiều:

Khái niệm này cố rất nhiều ý kiến khác nhau:

+Triêu Dương trong công trình "Đi tìm ảnh hưởng Truyện Kiều trong văn học dân gian" cho rằng tập Kiều và lẩy Kiều là hai hình thức khác nhau:

Tập Kiều là những sáng tác mô phỏng theo lời Truyện Kiều

♦Lẩy Kiều có ba hình thức: mượn nguyên cả câu để đố, lấy nguyên văn nhưng ngắt câu khác đi để biến nghĩa, lấy trong Kiều những câu khác nhau ghép lại thành bài

♦Phạm Đan Quế trong công trình “Tập Kiều một thú chơi tao nhã" thì cho rằng tập Kiều

"là lựa chọn số câu ỡ những chỗ khác nhau trong 3254 câu của Truyện Kiều nối vần lại được

với nhau để tạo thành một bài có ý nghĩa theo một chủ đề nào đó"[70,9]

+Nguyễn Đăng Cư trong quyển "Kiều vận tập thành " cũng có ý kiến tương tự

+Đào Duy Anh trong "Khảo luận về Truyện kiều” xem ngâm kiều chính là hát Kiều lẩy +Lãng Nhân trong quyển "Chơi chữ" xem lẩy Kiều và tập Kiều là một

+Lê Trung Hoa, Cù Đình Tú (Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt) cũng có quan điểm tương tự

Trang 28

+Nhưng theo Từ điển tiếng Việt "lẩy là chọn rút ra một vài câu, đoạn trong tác phẩm thơ

Bói Kiều có hai kiểu - kiểu mang tính dân gian đơn giản và kiểu có kết hợp với thập can

và bát quái Nhưng nguyên tắc chung là bối khấn các nhân vật chính diện và giở một trang

Kiều bất kì rồi bình giải

1.4.2.3 Đố kiều :

Đây có thể xem là một hình thức tiếp nhận Truyện Kiều sinh động và độc đáo ĐỐ Kiều cũng có hai loại: loại mượn Truyện Kiều để đố và loại đố về Kiều Cả hai đều sử dụng lối thơ

tập Kiều Loại mượn Kiều để đố có vế đố tập Kiều, loại đố về Truyện Kiều có vế đáp tập Kiều

*Trong thế kỷ XIX có hai tác phẩm hậu Truyện Kiều :

-Mộng Liên Đình với « Đào hoa mộng ký» có khoảng 3000 câu lục bát (in trong Tổng tập

tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam-Tập 4 -Nhà xuất bản thế giới, 1995)

-Hà Đạm Hiên với « Đào hoa mộng ký diễn ca »- 1910 câu lục bát (Mạc Đình Tư xuất

bản tại Hà Nội, năm 1917)

*Trong thể kỷ XX cổ 5 tác phẩm:

-Bạch Diện với « Kiều tân thời»- 304 câu lục bát (Nhà in Trung Bắc Hà Nội, 1935)

-Nguyễn Văn Trinh với « Kiều bình dân học vụ »- 2050 câu lục bát (Sở giáo đục Hà Nội, 1958-1985)

-Trần Thanh Vân với « Đoạn trường nhất thanh«- 1028 câu lục bát (Nhà xuất bản Kiên Giang, 1990),

Trang 29

-Phạm Đan Quế với « Truyện Kiều đọc ngược« 3254 câu lục bát (Nhà xuất bản Thanh Niên, 2002)

Trong những nhà thơ lấy cảm hứng từ tác phẩm Truyện Kiều để sáng tạo ra những tác

phẩm hậu Truyện Kiều, có lẽ Phạm Thiên Thư là người thành công nhất "ít nhất là cái bình dị,

tự nhiên đậm chất ca dao, dân ca trong câu thơ lục bát" [69, 32]

Tác phẩm « Đoạn trường vô thanh » của Phạm Thiên Thư dài 3296 câu lục bát đã đoạt

giải nhất văn chương tại miền Nam tạm chiếm năm 1973 Cuộc thi do thi sĩ Á Nam Trần Tuấn

Khải làm chủ khảo

Đây cũng có thể xem như một trong nhiều cách tiếp nhận Truyện Kiều Có thể điểm qua các giai đoạn:

-Các nhà nho thế kỷ XIX với Truyện Kiều: giai đoan này các nhà nho chủ yếu thẩm bình

Kiều

-Trong thời gian từ đầu thế kỷ đến 1945, Truyện Kiều đã trở thành đề tài trong cuộc bút chiến Ngô Đức Kế- Phạm Quỳnh, trong cuộc tranh luận - nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật

vị nhân sinh 1935-1939

-Sau cách mạng tháng tám đến nay, Truyện Kiều được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn:

lịch sử văn học, phương pháp sáng tác, phong cách học, thi pháp học, so sánh văn học, tiếp

nhận văn học

Ngoài những phương thức trên, Truyện Kiều còn xuất hiện trong chèo, cải lương, kịch, film, sáng tác nhạc và vẽ tranh minh hoa về Kiều

Trang 30

Chương 2: Truyện Kiều -tính nhạc và tác phẩm nhạc trong cảm hứng

của người đời sau

Tính nhạc trong tác phẩm Truyện Kiều thể hiện ở các khía cạnh :

2.1.1.Tính nh ạc thể hiện qua luật thơ:

2.1.1.1 Vần:

Theo các nhà lý luận "vần" là một phương tiện tổ chức văn bản thơ dựa ưên sự lặp lại không trùng khớp hoàn toàn của các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ Nó có ba chức năng- tách biệt các dòng thơ và tạo nên sự liên kết giữa chúng với nhau, tạo âm hưởng, tiếng vang trong thơ, tạo tâm thế chờ đợi vần đối với các tiếng xuất hiện sau đó nhằm làm nổi bật ý nghĩa Có nhiều loại vần -vần chân, vần lưng, vần chính, vần thông Trong đó "Vần lưng là

hiện tượng đặc sắc của luật vần Việt Nam, tạo nên tính chất giàu nhạc điệu của tiếng Việt và câu thơ Việt Nam" [20, 292] So với thơ tự do, vần trong thơ lục bát rất quan trọng Nghiên cứu tác phẩm Truyện Kiều, ta thấy có hai loại vần chủ yếu góp phần rất lớn trong việc tạo nên tính

nhạc:

2.1.1.1.1.V ần trên trục ngang:

Đây là hiện tượng nằm ngoài luật thơ lục bát Nó thường xuất hiện nhiều trong những câu

tục ngữ (Tốt danh hơn lành áo; Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh; Con hơn cha là nhà có phúc ) Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Dư'sử dụng nó như một biện pháp tạo ra nhạc điệu Nếu

vần chân và vần lưng tạo nên tính nhạc trên trục hàng dọc thì vần trong câu tạo nên tiết điệu trên trục hàng ngang Trong 3254 câu thơ lục bát có 156 lần Nguyễn Du sử dụng vần trong câu, chiếm tỉ lệ 4,8% Những trường hợp này ngoài việc tạo ra nhạc điệu, Nguyễn Du còn dùng nó

Trang 31

Trông xa, nàng đã tỏ chừng nẻo xa: (1806) Khi tâm trạng con người có sự âu lo, mang một niềm mơ tưởng, Nguyễn Du lại viết

những dòng thơ miên man ngân nga như xoáy vào lòng người:

Nàng càng thổn thức gan vàng , (1125) Còn ra khi đã đa mồi, tóc sương (2240)

Tiếng Kiều đồng vong, bóng xiêm mơ màng (2854)

Có lẽ, Tú Bà dạy những câu vần điệu như thế này Thúy Kiều sẽ dễ nhớ dễ thuộc hơn nhiều:

Dạy rằng :"con lạy mẹ đây , (951)

Những lời nhận xét, lời than, lời kiến nghị cần có nhiều vần, nhiều nhạc tính để người đọc suy nghiệm bày tỏ cảm xúc hoặc đánh gi á cái gọi là "chân lý" của thời đại Nguyễn Du:

+Người hồng nhan thì:

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen (6) +Nghề buôn phấn bán hương lại:

Đưa người cửa trước, rước người cửa sau!" (946)

Lời than vãn tâm tình đến tội nghiệp của nàng Kiều được thốt ra bằng những câu thơ nhiều vần điệu sẽ làm cho Thúc Sinh, Kim Trọng phải nao lòng :

Thôi thôi, ta đã mắc tay ai rỗi !" (1826)

Có làm chi nữa, cái mình bỏ đi! (3146) Nói chung, những trường hợp vần trong câu thường được sắp xếp ở nhiều vị trí khác nhau Có lúc gieo vần kề, có lúc gieo vần cách Điều đó góp phần không nhỏ trong việc tạo nên

sự biến hoá, linh hoạt về âm điệu

2.1.1.1.2.V ần trên trục dọc:

Phan Ngọc cho rằng tính nhạc trong vần của thơ được qui định bồi tính đều đặn và tính đa

dạng "Đều đặn nghĩa là nó chấp nhận một mô hình hiệp vần rất hẹp, thí dụ mô hình chung âm đồng nhất của Nguyễn Du, đã dạng nghĩa là trong nội bộ của mô hình ấy nó tận dụng được tất

Trang 32

cả mọi khả năng mà mô hình cho phép" [63, 265] Cả hai yêu cầu trên, theo ông, Truyện Kiều

của Nguyễn Du đều đảm bảo Trong số 4480 va n của Truyện Kiều chỉ có một ngoại lệ (Tin nhà ngày một vắng tín, Mặn tình cát lũy nhạt tình tào khang.)(Câu 1479-1480), trong khi đó

"Song tinh bất dạ" với 212 câu lục bát đã có 5 ngoại lệ về chung âm (an- thanh, chàng -con, hư- qua, ai-yên, bàn-vàng; "Sơ kính tân trang" của Phạm Thái có 6 ngoại lệ (đàn- chàng, tràng an-hang, chàng-than, phù-lưu, trướng-mượn, ru-sầu); “Tỳ bà Hành" của Phan Huy Thực có một ngoại lệ (nước-sạt) Theo thống kê của Phạm Đan Quế 'Trong Truyện Kiều viết bằng thể thơ

lục bát, Nguyễn Du dùng tới 64/74 vần bằng tức tác giả đã sử dụng tới 86,5% khuôn vần bằng,

một tí lệ khá cao để các vần được đa dạng" [71,117] Như vậy, so với 74 khuôn vần bằng của

Tiếng Việt, Truyện Kiều chỉ thiếu li khuôn vần bằng, đó là những khuôn vần ít thông dụng- eng, om, oong, um, ưm, im, ưi, ưu, ươn, ươu Sử dụng nhiều khuôn vần bằng tạo nên sự biến điệu trên cái nền chung - êm ả, nhẹ nhàng, lan tỏa, mênh mông Ngược lại, nếu sử dụng nhiều khuôn vần trắc sẽ tạo nên nhiều sắc thái của các hoạt động- mạnh mẽ, dữ dội, tâm trạng dằn

vặt Mặc dù khuôn vần trắc chỉ xuất hiện rải rác trong một số câu thơ trên trục ngang song nhờ

nó âm hưởng trong bản hòa tấu Kiều phong phú hơn

Nói về cách gieo vần, từ xưa đến nay các nhà nghiên cứu đều tỏ ra thán phục trước tài năng của tíu hào Nguyễn Du Nhà văn Nguyễn Tường Tam cho rằng "Muốn cho văn trơn tru

cần phải gieo vần cho hợp; tưởng thế cũng là một việc khó lắm, có khi nghĩ mãi mệt cả óc, lựa mãi mỏi cả mồm cũng không tìm được một vần xứng đáng về phần cụ Nguyễn Du không biết

cụ lựa vần có phải khó nhọc thế không hay cụ đặt bút là có vần rồi? Văn cụ không câu nào lạc

vần cả, nên đọc đến trơn tru lưu loát lắm Câu văn như lướt theo tư tưởng." [76,64]

2.1.1.2.Nh ịp:

"Nhịp tức là cách lặp lại một cách đều đặn một đơn vị thời gian, một số âm tiết trong dòng thơ, câu thơ hoặc bài thơ Yếu tố tạo nhịp quan trọng nhất trong bài thơ là dòng thơ Cuối

mỗi dòng thơ là một chỗ nghỉ hơi kéo dài chấm dứt rõ rệt một nhịp để lại bắt đầu một nhịp

mới" [57,83] Thơ có thể bỏ vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ qui luật bằng trắc nhưng không thể vứt bỏ nhịp điệu Bởi vì nhịp là xương sống của thơ Nhịp điệu nền của thơ lục bát là

nhịp chẩn Truyện Kiều cũng không phải là ngoại lệ Vậy làm thế nào để tạo ra một tác phẩm Truyện Kiều khác với những truyện Nôm khác Theo Nguyễn Lộc: "Truyện Kiều kết hợp được

Trang 33

một cách hài hoa, biện chứng đặc điểm vốn có về nhịp điệu của thơ lục bát do đặc trưng vốn có

của ngôn ngữ qui định với việc dùng cách ngắt nhịp như một biện pháp tu từ để bộc lộ ý nghĩa,

bộc lộ nội dung." [49,435]

Nhịp trong thơ lục bát thường là nhịp chẩn Nhưng nếu chỉ sử dụng nhịp điệu đều đặn này

để viết 3254 câu thơ lục bát thì tác phẩm Truyện Kiều sẽ trở nên đơn điệu, thi hào Nguyễn Du

đã biến hoá thành rất nhiều nhịp khác nhau:

Trong Truyện Kiều, câu lục có các nhịp 2-2 -2, 3-3, 1-5, 2-4, 4-2, câu bát có các nhịp 2-2, 4-4, 6-2, 2-6, 3-3-2, 3-5, 3-1-4, 2-2-4, 2-4-2 Như vậy, không kể nhịp điệu nền, Truyện

2-2-Kiều đã có 4 lần biến nhịp trong câu lục và 8 lần biến nhịp trong câu bát Cả câu lục và câu bát

có tới 12 lần biến nhịp

Xét về mối quan hệ giữa hình thức biến nhịp và nội dung cần chuyển tải, nhóm Cao Thuý

Ái Bích, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Mộc, Nguyễn Văn Mùi, Nguyễn Thị Bạch Nhạn đã

có bài viết "Vài nhận xét sơ bộ về một số câu có cách ngắt quãng không bình thường trong Truyện Kiều của Nguyễn Du" [5] và Phan Ngọc đã kết luận như sau:

Số câu chia làm hai vế cân đối 3-3, 4-4 chiếm một tỉ lệ khá lớn Trong truyện Kiều có 80 câu theo nhịp 3-3 tỉ lệ 4,9 % ương số 1627 câu lục của toàn bộ tác phẩm, có 312 câu theo nhịp 4-4 tỉ lệ 19,1%

-Nhịp thơ 1-5 trong câu lục được sử dụng 28 lần Nhưng trước sau chỉ bó hẹp vào việc mở đầu một câu chuyện kể, chữ thứ nhất là rằng, và sau đó là 5 chữ khác :

Rằng: 'Trăm năm cũng từ đây, (355)

Rằng: 'Ta có ngựa truy phong, (1107)

Rằng :"Con biết tội đã nhiều, (1395) -Nhịp thơ 2-4 cũng dùng với mục đích giới thiệu một lời nói:

Sinh rằng :"lân lí ra vào, (311) Nàng rằng : "Xin hãy rốn ngồi, (2351) Hai nhịp này làm cho câu thơ đa dạng nhưng không đem đến một chức năng biểu cảm riêng

Trang 34

-Nhịp thơ 3-5 xuất hiện 12 lần Nó đem đến sự đa dạng trong cách đọc, trong nhạc điệu:

Nửa chừng xuân,/ thoắt gãy cành thiên hương (66)

Vạch da cây/, vịnh bốn câu ba vần (100)

Với Vương quan, /trước vốn trước là đồng thân (154) -Nhịp 2-6 cũng như ba nhịp trên :

Thưa rằng :/"Ai có muốn đâu thế này" (1022)

Mắng rằng /:"Những giống bơ thờ quen thân," (1728) -Nhịp 6-2 xuất hiện khá ít 8 lần nhitog mang một ý nghĩa quan trọng và sức nặng ý nghĩa

dồn vào hai chữ cuối:

Rộn đường gần với nỗi xa / bời bời: (178)

Hoặc nó khẳng định một sự ngờ vực :

Mắt xanh chẳng để ai vào,/có không ? (2182) Oan này còn một kêu ười /,nhưng xa ! (596)

Hoặc gây nên sự tương phản, thúc đẩy sự suy nghĩ:

Để sau nên thẹn cùng chàng /bởi ai ? (520) Thiệt minh mà hại đến ta /hay gì ? (1014) -Nhịp 3-3-2 thể hiện trong 23 trường hợp, trong đó có 9 trường hợp 6 chữ đầu mang hình

thức tiểu đối:

Vẻ non xa/ tấm trăng gần ,/ở chung (1034) Đĩa dầu vơi/ nước mắt đầy,/ năm canh (1884) Trong 14 trường hợp còn lại, không có hình thức tiểu đối ở 6 chữ đầu:

Đoá trà mi đã ngậm gương/ nửa vành (1092) Theo nghiêm đường mở ngôi hàng / Lâm Truy (1278)

Trang 35

-Nhiều khi cách ngắt nhịp còn phá vỡ cấu trúc quen thuộc vì vần lưng của câu bát lại rơi vào giữa từ láy âm hoặc vần chia cắt hẳn một từ kép song tiết:

Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao, (251)

Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng (252) Trót vì tay đã nhúng chàm, (1397)

Dại rồi, còn biết khôn làm sao đây? (1398) Nói chung, "Câu thơ lục bát đã đạt đến mức đa dạng tối đa về nhịp, nhờ đó mà không đơn điệu."[65,224]

2.1.1.3 Luật bằng trắc:

Như trên đã nói, trong thể lục bát thanh bằng nhiều hơn thanh trắc Bình thường câu lục

chỉ bắt buộc có một thanh trắc (chữ thứ tư) còn câu bát cũng chỉ bắt buộc có một thanh trắc (cũng chữ thứ tư) Nếu tỉ lệ thanh trắc quá thấp tác phẩm sẽ "mất đi sức mạnh và tính đa dạng"(

chữ dùng của Phan Ngọc) Để khắc phục những hạn ch ế này, thi hào đã phải dùng đến hiện tượng phá khuôn hoặc sử dụng tối đa thanh trắc ở những chữ luật thơ không bắt buộc

Hiện tượng phá khuôn thường rơi vào những trường hợp câu lục được ngắt theo nhịp 3-3 Trong những trường hợp này thanh trắc từ một tăng lên hai, ba Chẳng hạn như câu:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần, (17) Làn thu thủy, nét xuân sơn, (25) Khi cần diễn đạt những nội dung mạnh mẽ, Nguyễn Du cũng tăng số lượng thanh trắc ở

những chữ luật thơ không bắt buộc Toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều có 215 câu thơ có từ 4 thanh trắc trở lên Đoạn nối về Kiều bị Hoạn Thư hành hạ là đoạn thơ có nhiều thanh trắc nhất (câu 1835, 1837,1838,1840,1841,1859, 1860, 1861)

Những câu thơ có nhiều thanh trắc thường được Nguyễn Du chuyển tải những nội dung

nhất định:

-Câu thơ có nhiều thanh trắc rất phù hợp với việc diễn tả những hoạt động huyên náo,

mạnh mẽ, sự xuất hiện đột ngột, tai họa áp đến bất ngờ, sự vận động khó khăn, thông tin nhanh

chổng, cảnh đánh đập dữ dội, cảnh sóng nước mạnh mè, cảnh áo oan:

Trang 36

Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp thanh (44)

Vổ câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh (870) Phút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay (120)

Sự đâu sổng gió bất kỳ (729)

Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng (1128)

Một đoàn đổ đến trước sau, (1131)

Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, (221)

Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người! (594) Nghĩ đi, nghĩ lại, một mình: (859)

Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng cam (1396) Nghĩ mình, mặt nước, cánh bèo, (2475)

Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay (3036)

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, (619)

Rỉ rằng:" nhân quả dở dang, (995)

Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao ? (996)

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường (1526)

Trang 37

Trước là Bạc Hạnh, Bạc bà, (2383)

Tú Bà với Mã giám Sinh, (2385) Tóc tơ các tích mọi khi (2907) Oán thì trả oán, ân thì ttả ân (2908)

-Để góp phần diễn tả khát vọng tự do và đòan quân hùng dũng cuả Từ Hải, Nguyễn Du cũng dùng tới những câu thơ có nhiều thanh trắc:

Chọc trời, khuấy nước, mặc dầu, (2471) Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng la (2258) Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu (2262) Trúc tơ nổi trước kiệu vàng theo sau (2268) Kéo cờ lũy, phát súng thành, (2271) -Tiếng đàn của Thúy Kiều khi được đẩy lên "tone" cao, mạnh mẽ, Nguyễn Du lại dừng câu thơ có nhiều thanh trắc:

Khúc đâu Hán, Sở chiến trường, (475) Cùng với việc sử dụng thanh trắc trong khuôn khổ cho phép, Nguyễn Du còn sử dụng tối

đa thanh bằng ỏ những chỗ cần thiết Truyện Kiều có 217 câu có số lượng 5 thanh bằng trong câu hạc và 7 thanh bằng trong câu bát Đoạn có nhiều thanh bằng là đoạn nổi về cuộc gặp gỡ

3011, 3013, 3019, 3187, 3191, 3193 ) Những câu thơ có nhiều thanh bằng thường sử dụng trong các trường hợp:

-Trong ngôn ngữ kể hoặc đối thoại Nguyễn Du thường dùng những câu thơ có nhiều thanh bằng- câu 9, 59, 107, 193, 331, 677, 1105, 1167, 1175, 1176, 1315, 1329, 1333, 1505,

1901, 2219, 2321, 2381, 2549, 2679, 2844, 2959, 3091, 3193 Có thể đơn cử một số trường

hợp:

Rằng: năm Gia tĩnh triều Minh, (9) Thưa rằng :" Thanh khí xưa nay, (193)

Trang 38

Ngần ngừ nàng mới thưa rằng : (331)

Rằng không, thì cũng vâng lời rằng không!" (1176) Sinh rằng:'Từ thuở tương tri, (1329)

Rằng:'Tài nên trọn, mà tình nên thương ! (1901)

Từ rằng:"Tâm phúc tương tri, (2219)

Nếu trong lời thoại số thanh trắc tăng lên số thanh bằng giảm xuống thì nội hàm ý nghĩa

lại khác Điều này ta thấy rất rõ ương câu: "Hỏi tên, rằng: "Mã Giám Sinh, Hỏi quê, rằng:

"huyện Lâm Thanh cũng gần"(625-626) Đây không còn là những lời nói êm nhẹ mà là những ngôn từ cộc lộc thiếu văn hóa

-Những cảnh tượng êm đềm vắng lặng, có lẽ dừng những câu thơ cố nhiều thanh bằng là phù hợp nhất:

Ngày xuân con én đưa thoi (39) Gương nga chênh chếch dòm song, (173) Trông theo nào thấy đâu nào, (215)

Buồn trông phong cảnh quê người, (565)

Rừng thu từng biếc chen hồng, (917) -Khi diễn tả tình cảm nhẹ nhàng, sự quyến luyến, nỗi buồn miên man, nỗi khổ triền miên,

sự kiên nhẫn, lời thề sắt son, những thông tin như ngày càng mở rộng, Nguyễn Du cũng dừng

rất nhiều thanh bằng trong một câu thơ:

Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai (1064) Song sa vò võ phương trời, (1267) Chàng càng nghe nói, càng dâu như dưa (2794) Sinh càng trông thấy, càng thương, (2809) Càng âu duyên mới, càng dài tình xưa (2846)

Trang 39

Càng yêu vì nết, càng say vì tình (3188) Tình xưa lai láng khôn hàn, (3191)

Dòng thu như gội cơn sầu, (2533) Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần (2668) Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường? (2696) Trăng thề còn đó trơ trơ, (541) Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao (622)

- Nguyễn Du còn dùng những câu thơ có nhiều thanh bằng để diễn tả thời gian chuyển đổi hay không gian mênh mông-câu 867, 881, 942, 1006, 1083, 1091, 1494, 1791,1796,2033,2215,

2635, 2555, 2703,2741 :

Lầu mai vừa rúc còi sương, (867) Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu (942) Hoa xuân đương nhuỵ, ngày xuân còn dài (1006) Chim hôm thoi thóp về rừng, (1091) Lâm Truy từ thuở uyên bay, (1791)

Trời đông vừa rạng ngàn dâu, (2033) Trông vời con nước mênh mông, (2635) Thanh bằng chiếm một tỉ lệ khá lớn tro ng thơ lục bát, "Định thức này đã làm ra sự tuyệt

mỹ của thể thơ lục bát"(Chữ dùng của Nguyễn Bách Khoa) Lục bát lại là sở trường của thi hào

và ông đã đưa nó lên đến tột đỉnh vinh quang Và vì thế "Đọc thơ Kiều ta có cảm tưởng ngồi trên một con thuyền êm ấm trôi xuôi theo dòng nước hiền lành đầy ánh trăng mát dịu của đêm thu; ta có cảm tưởng được vào một thế giời trong đó cái gì cũng mong manh, mềm yếu, lả lướt, cái gì cũng như đan g biến ra chất khối, chất mây, cái gì cũng bây bổng nhẹ nhàng trên cánh nhung của mộng ảo Đố là thế giới của thơ, của sầu muộn, của ai oán, của giấc mơ, của tàn tạ." [76, 89]

Trang 40

Để góp phần tạo nên tính nhạc-lúc trầm, lúc bổng, lúc lên, lúc xuống, Nguyễn Du còn tạo

ra sự cân đối về thanh, cứ một câu thơ có nhiều thanh bằng thì lại có một, hai câu thơ có nhiều thanh trắc hoặc ngược lại Định thức này không chỉ được sắp đặt theo kiểu câu lục rồi đến câu bát mà còn được sắp đặt theo kiểu ngược lại Câu 1-2, 1063-1064, 1101-1102, 1341-1342, 1525-1526, 2186-2187, 2211-2222, 2451-2452, 2467-2468, 2414-2415, 2608-2609-2610, 2702-2703 là những câu thơ có sự phối hợp như vậy:

Trăm năm, trong cõi người ta, (1)

Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau (2) Trai anh hùng, gái thuyền quyên, (2211)

Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cỡi rồng (2212) Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương (2114) Trông vời trời bể mênh mang, (2115)

Nắm xương biết gởi tử sinh chốn nào? (2608) Duyên đâu, ai dứt tơ đào, (2609)

Nợ đâu, ai đã dắt vào tận tay? (2610) Qua sự khảo sát trên, ta nhận thấy rằng: thanh bằng, thanh trắc khi sáng tác ít khi người ta tính toán đến Song đối với Nguyễn Du, nó đã trở thành máu thịt Khi cần diễn đạt một nội dung nào đó ông có thể dùng ngay những hình thức ngữ âm phù hợp

2.1.2 Tính nhạc thể hiện ở một số hình thức khác:

Trong ngôn ngữ quan hệ giữa ngữ âm và ngữ nghĩa có tính chất võ đoan Tuy vậy trong

một số trường hợp, ngữ âm có thể gợi ra những liên tưởng cảm xúc tương ứng với ngữ nghĩa

Chỉ xét về mặt ngữ âm thì "Ngữ âm tiếng Việt có những đặc điểm và những yếu tố rất thuận lợi trong việc tạo hình tạo nhạc cho thơ vãn [3,224] Ở góc độ phong cách học, người ta đặc biệt chú ý đến sự đối lập ngữ âm chẳng hạn như nguyên âm trầm- nguyên âm bổng, nguyên âm sáng- nguyên âm tối, phụ âm hữu thanh- phụ âm vô thanh, thanh cao- thanh thấp Trong

Ngày đăng: 02/12/2015, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w