Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật đã khẳng định: "hồn thơ Phạm Tiến Du
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN PHƯƠNG DUNG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
THI PHÁP HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN PHƯƠNG DUNG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
THI PHÁP HỌC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 60220120
Người hướng dẫn khoa học: TS Diêu Thị Lan Phương
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Mục đích của luận văn 5
6 Cấu trúc của Luận văn 5
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP HỌC VÀ SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 6
1.1 Khái niệm về thi pháp học 6
1.2 Phạm Tiến Duật trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam 9
1.2.1 Nhà thơ Phạm Tiến Duật 9
1.2.2 Thơ ca Việt Nam hiện đại Error! Bookmark not defined
TIỂU KẾT Error! Bookmark not defined
Chương 2 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG VÀ KHÔNG GIAN - THỜI
GIAN NGHỆ THUẬT Error! Bookmark not defined
2.1 Hệ thống hình tượng Error! Bookmark not defined
2.1.1 Hình tượng cái tôi - chủ thể trữ tìnhError! Bookmark not defined
2.1.1.1 Cái tôi trữ tình trẻ trung, tinh nghịch và hóm hỉnhError! Bookmark not defined
2.1.1.2 Thông minh, sắc sảo - đặc điểm nổi bật của cái tôi trữ tình
trong thơ Phạm Tiến Duật Error! Bookmark not defined
2.1.1.3 Cái tôi trữ tình sử thi Error! Bookmark not defined
2.1.1.4 Cái tôi trữ tình đời thường ưu tư, trăn trởError! Bookmark not defined
2.1.2 Hình tượng người lính Error! Bookmark not defined
2.1.3 Hình tượng người thanh niên xung phongError! Bookmark not defined
2.2 Không gian và thời gian nghệ thuật Error! Bookmark not defined
2.2.1 Thời gian nghệ thuật Error! Bookmark not defined
2.2.2 Không gian nghệ thuật Error! Bookmark not defined
TIỂU KẾT Error! Bookmark not defined
Chương 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN Error! Bookmark not defined
Trang 43.1 Cấu tứ trong thơ Phạm Tiến Duật Error! Bookmark not defined 3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu Error! Bookmark not defined
3.2.1 Ngôn ngữ Error! Bookmark not defined 3.2.1.1 Ngôn ngữ giản dị đời thường, tự nhiênError! Bookmark not defined 3.2.1.2 Ngôn ngữ sáng tạo, tài hoa Error! Bookmark not defined 3.2.2 Giọng điệu Error! Bookmark not defined 3.2.2.1 Giọng điệu hóm hỉnh, ngang tàngError! Bookmark not defined 3.2.2.2 Giọng điệu tâm tình, ngọt ngào Error! Bookmark not defined 3.2.2.3 Giọng điệu triết lí, suy tư Error! Bookmark not defined.
TIỂU KẾT Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tên tuổi Phạm Tiến Duật xuất hiện trên thi đàn Việt Nam từ năm 1969
gắn liền với Bài thơ tiểu đội xe không kính - tác phẩm giành giải nhất cuộc thi
thơ của tuần báo Văn Nghệ Sau đó, ông dần trở thành một trong những nhà thơ cách mạng tiêu biểu của thơ ca chống Mỹ cứu nước
Trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà thơ Hữu Thỉnh viết: “Cảm ơn Phạm Tiến Duật đã để lại cho chúng ta niềm kiêu hãnh sống, niềm kiêu hãnh sáng tạo và dâng hiến Ngọn lửa tài năng và trí tuệ của Anh đã thắp sáng trên văn đàn, đã cầm trong tay trong cuộc chạy đường trường suốt nhiều năm tháng qua sẽ còn sáng mãi Những gì anh để lại cho chúng ta sẽ được Đảng và nhân dân gìn giữ mãi mãi, sẽ được chúng tôi những người đồng đội, đồng chí của anh gìn giữ mãi mãi”
Sự nghiệp văn chương của Phạm Tiến Duật khởi sự từ tuyến đường mòn vận tải Trường Sơn 559 và ông vươn lên trở thành một gương mặt độc đáo của văn học Việt Nam 1945 - 1975 Phạm Tiến Duật đã góp phần sáng tạo một thứ ngôn ngữ thơ thô nhám, gân guốc và được đánh giá là một tác giả tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ Phạm Tiến Duật cũng là một trong những nhà thơ Việt Nam được chọn lọc đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông
Nhiều bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Trường Sơn đã để lại như: Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Nhớ, Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong có lẽ sẽ
còn in đậm trong ký ức lịch sử; bồi đắp cho thế hệ sau lòng yêu nước và tự hào dân tộc
Thơ Phạm Tiến Duật làm chúng ta như sống lại không khí của những năm tháng hào hùng, gian khổ nhưng hết sức lạc quan của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thơ ông gieo vào lòng người đọc niềm tin tưởng ở những phẩm chất tốt đẹp, vững bền của con người Việt Nam trước những thử thách lịch sử Đồng thời, thơ ông còn là tiếng nói của một thế hệ, của một thời
Trang 62
đại lịch sử Đó là thế hệ anh hùng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" đã làm nên một thời đại hào hùng, chói lọi trong lịch sử Việt Nam
Vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài “Thơ Phạm Tiến Duật nhìn từ góc độ thi pháp học” để làm luận văn nghiên cứu của mình Luận văn muốn khẳng
định những giá trị thẩm mỹ cao cả và lâu bền của thơ trữ tình cách mạng nói chung và thơ Phạm Tiến Duật nói riêng một cách cụ thể trong quá trình đổi mới văn học
2 Lịch sử nghiên cứu
Phạm Tiến Duật có thơ đăng báo từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, nhưng thơ ông lúc này vẫn còn lẫn trong thơ nhiều người Phải đến cuộc thi thơ do báo Văn nghệ tổ chức vào năm 1969 -1970, ông mới thực sự ghi được tên tuổi của mình vào làng thơ Việt Nam Chùm thơ đoạt giải nhất của ông gây được ấn tượng mạnh mẽ với độc giả về một phong cách thơ độc đáo Bắt đầu từ đây, nhiều cây bút, nhiều nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã quan tâm đánh giá thơ ông Một trong những bài viết đầu tiên về thơ Phạm Tiến
Duật là Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ Nhị Ca cho rằng chùm thơ
được giải bốn bài của Phạm Tiến Duật thực sự gây được ấn tượng với độc giả
về một phong cách thơ "rất lạ", lạ từ chất liệu, thi liệu đến giọng điệu Ông chỉ
ra rằng, đây là một hồn thơ "được nuôi dưỡng bằng chất liệu sống thực, tươi trẻ thở hết không khí mặt trận dữ dội và tự tin, có thời gian ngẫm nghĩ về cuộc chiến đấu quyết liệt, dũng cảm"[1] Nhị Ca cũng rất quan tâm đến việc tạo dựng câu thơ, một trong những yếu tố làm nên sự mới mẻ của Phạm Tiến Duật so với các nhà thơ khác là "dáng dấp xốc vác, xô bồ, cứng cáp hơn, như hạt gạo đỏ đồng chiêm vừa chắc dạ, vừa béo ngọt" Bên cạnh đó, Nhị Ca đã
có ý kiến nhận xét khá xác đáng về những thành công cũng như hạn chế qua
việc phân tích một số bài thơ tiêu biểu của tập Vầng trăng quầng lửa
Nhà văn Nguyễn Minh Châu có bài Người viết trẻ giữa cánh rừng già
cho rằng: "Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật đã làm xôn xao đời sống thơ ca
Trang 7vốn có Thơ Phạm Tiến Duật đã cổ vũ cho cuộc chiến đấu theo cách riêng của mình và đã đón nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều phía"
Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu văn
học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm Tiến Duật đã khẳng định: "hồn thơ Phạm Tiến Duật phóng khoáng, rộng mở,
cái đẹp của cuộc sống chiến đấu đi vào thơ ông tự nhiên và rất thật"[39] Ông cho rằng, thơ Phạm Tiến Duật "là tiếng nói khoẻ khoắn, đôn hậu, bắt nguồn trực tiếp từ cuộc sống chiến đấu sôi nổi mà hào hùng của dân tộc"[39]
Và từ góc nhìn vận động và phát triển của thơ ca dân tộc, nhà thơ, nhà
phê bình Vũ Quần Phương trong bài Một đóng góp của dòng thơ quân đội vào nền thơ Việt Nam đã chỉ ra sự kế thừa những kinh nghiệm của thơ ca dân
gian trong thơ Phạm Tiến Duật Theo Vũ Quần Phương, điều đó khiến cho thơ Phạm Tiến Duật "đầy rẫy những chi tiết đời sống đánh Mỹ chính xác, cụ thể như hiện vật trong bảo tàng " Năm năm sau, năm 1985, Vũ Quần Phương phát triển bài viết thành bài nghiên cứu tác giả Phạm Tiến Duật trong
cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản
năm 1985 với tư cách là một nhà thơ trẻ tiêu biểu của nền thơ trữ tình cách mạng
Năm 1986, Đỗ Trung Lai cũng có một bài viết rất công phu với nhan đề
Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật in trên Tạp chí Văn học, số 4, năm
1986 đã đánh giá, tổng kết giai đoạn sáng tác trong chiến tranh của Phạm Tiến Duật Nhà văn đã khẳng định vai trò của thực tiễn chiến tranh đối với sáng tác của Phạm Tiến Duật
Một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về thơ Phạm Tiến Duật là
của Trần Đăng Suyền trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập III (Nxb Đại
học Sư phạm I, 2002) Tác giả công trình đã giới thiệu tiểu sử, con người nhà thơ Ông cho rằng "Vùng thẩm mĩ" của thơ Phạm Tiến Duật là rừng Trường Sơn Tác giả đặc biệt quan tâm đến phong cách thơ Phạm Tiến Duật là tính chất trẻ trung, giọng thơ ngang tàng, sự xô bồ, rậm rạp mà khái quát của chi tiết, ngôn ngữ sinh hoạt ùa vào trong thơ Cũng như nhiều nhà nghiên cứu
Trang 84
khác, tác giả Trần Đăng Xuyền vẫn mong đợi một sự đổi mới của Phạm Tiến Duật để thơ ông có thể đến được, hoà nhập với cuộc sống mới
Bài nghiên cứu của Vũ Văn Sỹ, in trước ngày mất của Phạm Tiến Duật
với nhan đề Phạm Tiến Duật, người "chứa được Trường Sơn nhiều nhất"
trong Tạp chí Nhà văn, số 12, năm 2007 Vũ Văn Sỹ đánh giá cao vị trí của Phạm Tiến Duật trong hành trình thơ trữ tình cách mạng Ông cho rằng "Thơ Phạm Tiến Duật đã lưu lại trong lịch sử văn học dấu mốc của thơ trữ tình Việt Nam trên hành trình đi tìm cái đẹp trên các sự kiện và biến cố in đậm chất sử thi của một thế kỉ đầy biến động."[38] Bên cạnh đó có thể kể đến các bài của Thiếu Mai, Mai Hương, Hồ Phương, Hoàng Kim Ngọc đăng tải trên các báo
và tạp chí
Phạm Tiến Duật cũng từng được nhắc đến và giới thiệu trong các công
trình tiểu luận và nghiên cứu như Dọc đường văn học (Nxb Văn học, H, 1996); Nhà văn Việt Nam thế kỉ XX, tập III (Nxb Hội nhà văn, H, 2000); Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỉ XX (Nxb Hội nhà văn,H, 2003) Hầu hết
các cuốn sách đều tập trung phân tích, nghiên cứu những giá trị mới mẻ mà thơ Phạm Tiến Duật đưa lại
Nhìn chung, các bài viết và các công trình nghiên cứu về Phạm Tiến Duật đều cho rằng, đó là một hiện tượng lạ của thơ ca Việt Nam Sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật trên thi đàn đã làm cho thơ ca của thế hệ trẻ thời chống
Mỹ có vị trí và có cá tính
Trong công trình này, chúng tôi kế thừa các ý kiến gợi ý của những người đi trước, tập trung phân tích thi pháp thơ Phạm Tiến Duật một cách có
hệ thống, có tính thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng và phương thức nghệ thuật nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của Phạm Tiến Duật
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ của Phạm Tiến Duật dưới góc
độ thi pháp học Luận văn chủ yếu xuay quanh các vấn đề liên quan đến Thi pháp như ngôn ngữ, nhịp điệu, hiệp vần, hình tượng, điểm nhìn
Trang 9Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ thơ Phạm Tiến Duật nói riêng và thơ của một số nhà thơ cách mạng nói chung
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lý luận như: Phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp văn hóa học, phương pháp lịch sử - xã hội
- Trong luận văn, chúng tôi vận dụng các thao tác liên ngành như thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu
5 Mục đích của luận văn
Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học đã đề cập đến các khía cạnh thi pháp thơ Phạm Tiến Duật, nhưng chúng tôi hi vọng rằng đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu thi pháp thơ Phạm Tiến Duật một cách đầy đủ và hệ thống
6 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Khái lược về thi pháp học và sáng tác của nhà thơ Phạm Tiến Duật
Chương 2 Hệ thống hình tượng và không gian, thời gian nghệ thuật Chương 3 Phương thức biểu hiện
Trang 106
Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ THI PHÁP HỌC VÀ SÁNG TÁC
CỦA NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 1.1 Khái niệm về thi pháp học
Thi pháp học là bộ phận quan trọng nhất trong khoa nghiên cứu văn học
Nó nghiên cứu cấu trúc tác phẩm và những hợp thể của các cấu trúc đó: các tác phẩm của một nhà văn, các khuynh hướng văn học, các thời đại văn học
Thi pháp học đã xuất hiện ở Hy Lạp từ thời cổ đại với tác phẩm Poetica
(Nghệ thuật thơ ca) của Aristote nhưng Thi pháp học với tư cách là một bộ môn khoa học, một phương pháp nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học thì mới hình thành vào đầu thế kỷ XX ở Nga rồi dịch chuyển sang Mỹ và phổ biến khắp thế giới
Các công trình, tiểu luận về thi pháp học hoặc nghiên cứu văn học theo hướng thi pháp học đều khẳng định thuật ngữ thi pháp xuất hiện từ thời cổ
đại, trong công trình “kinh điển” của Aristote Nghệ thuật thơ ca (cách đây
hơn 2300 năm) Thuật ngữ thi pháp (poetics, póetique) có nội hàm khởi thủy
là cách, biện pháp, phương thức mô phỏng, bắt chước để sáng tạo văn học Nội hàm này được Aristote đề xuất: “Sử thi, bi kịch thì cũng như hài kịch và thơ ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn lục huyền – tất cả những cái đó, nói chung đều là những nghệ thuật mô phỏng, giữa chúng có ba điểm khác nhau; hoặc thực hiện sự mô phỏng bằng cái gì hoặc mô phỏng cái gì; hoặc mô phỏng như thế nào - cho nên không phải lúc nào cũng giống nhau”
Về sau, các nhà nghiên cứu thường dịch là nghệ thuật thơ ca, phép làm thơ
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên hiểu thi pháp là phương pháp, qui tắc làm thơ [tr.95]; Sổ tay từ Hán Việt do Phan Văn Các, Lại Cao Nguyên
biên soạn năm 1989 hiểu thi pháp có hai nghĩa: 1 Phép làm thơ, 2 Nghệ thuật thơ văn Còn Từ điển của Pháp 1998 cho biết thi pháp xuất phát từ động từ tiếng Hi Lạp nghĩa là “làm” và nó có ba nghĩa: 1 Nghệ thuật cấu tạo thơ 2
Lý thuyết thuộc về bên trong của văn bản 3 Toàn bộ những lựa chọn thuộc
về văn học được nhà văn thực hiện trong tác phẩm Như thế thuật ngữ thi
Trang 11pháp từ khởi thủy tới hiện đại được bổ sung, mở rộng nội hàm Tuy vậy, thuật ngữ này luôn bảo lưu hai nét nghĩa: 1 Cách làm thơ 2 Tính nghệ thuật được nhà văn lựa chọn để sáng tác văn chương
Ở Trung Quốc, thuật ngữ thi pháp thường được các học giả từ đời Tống
trở đi nói tới: Thế kỷ XIII có sách Thi pháp chính tông của Yết Khê Tư; thế
kỷ XVI có Thi pháp chính luận của Phó Nhược Kim Nội dung được nói tới
của thuật ngữ thi pháp thường là phép làm thơ, vận luật thơ, hay là những nguyên tắc tạo hình, cấu tứ, cốt cách
Ở Việt Nam, khái niệm thi pháp, thi pháp học xuất hiện khá muộn, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX mới được xác định Thuật ngữ thi pháp, thi
pháp học xuất hiện sớm nhất trong các bài báo như: Một số vấn đề lý thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian với văn học viết của Lê Kinh Khiên (1980), Về việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian của Chu Xuân Diên (1980), Chung quanh khái niệm thi pháp trong nghiên cứu văn học Xô viết hiện nay của Vương Trí Nhàn (1981) Và chỉ đến khi Trần Đình Sử trong
chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu năm 1985, thi pháp, thi pháp học mới được hiểu, sử dụng theo nội hàm hiện đại Nguyễn Văn Dân cho rằng, thuật ngữ thi pháp, thi pháp học, qua cách hiểu, giải thích và tiếp nhận ở Trần Đình Sử, đã mang tính nghề nghiệp, có khả năng ứng dụng cao Nguyễn Văn Dân viết:
“thuật ngữ thi pháp hay thi pháp học được dùng để chỉ một khái niệm nghề nghiệp mới, dễ có khả năng khái quát hóa thành các công thức, mô hình, các quy phạm có khả năng vận dụng, thao tác” [19, tr.23]
Giữa thi pháp và thi pháp học có mối quan hệ qua lại biện chứng, đó là: quan hệ giữa đối tượng và khoa học về đối tượng ấy, giữa nghệ thuật với khoa học, giữa cụ thể với trừu tượng, khái quát Về quan hệ giữu thi pháp và thi pháp học, Nguyễn Xuân Kính giải thích: “thi pháp là một tồn tại khách quan,
là cái có trước, nó xuất hiện từ khi loài người bắt đầu biết sáng tạo nghệ thuật một cách tự giác Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp, là cái có sau” Chính vì thi pháp có nội hàm rộng chứa đựng trong nó vừa là văn học,