Là một nước có nền văn hóa nông nghiệp gắn liền với các làng nghề truyền thống với những hình ảnh mang đầy bản sắc về đất nước và con người Việt Nam, du lịch làng nghề là một phương hướn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THUÝ
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG GỐM PHÙ LÃNG Ở BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của luận văn 10
6 Bố cục của luận văn 10
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ LÀNG GỐM PHÙ LÃNG 11
1.1 Lý luận về du lịch và du lịch làng nghề 11
1.1.1 Du lịch là gì? 11
1.1.2 Du lịch làng nghề là gì? 13
1.1.2.1 Khái niệm làng nghề 13
1.1.2.2 Đặc điểm làng nghề 15
1.1.2.3 Du lịch làng nghề 16
1.2 Khái quát về làng gốm Phù Lãng 18
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 18
1.2.1.1 Vị trí địa lý. 18
1.2.1.2 Địa hình 18
1.2.1.3 Khí hậu 19
1.2.1.4 Lượng mưa và độ ẩm 19
1.2.2 Điều kiện xã hội 19
1.2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 20
1.2.2.2 Cơ cấu dân cư 20
1.2.2.3 Cơ cấu kinh tế 20
1.2.2.4 Giáo dục – đào tạo 22
1.3 Những giá trị để phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng 22
1.3.1 Cảnh quan thiên nhiên 24
1.3.2 Cảnh quan lịch sử nhân văn 25
1.3.3 Lễ hội và Phong tục tập quán 36
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH LÀNG GỐM
PHÙ LÃNG - BẮC NINH 43
2.1 Du lịch Bắc Ninh nói chung và du lịch làng gốm Phù Lãng nói riêng……….43
2.1.1 Thị trường du lịch 43
2.1.2 Khách du lịch 46
2.1.3 Nguồn lao động 49
2.2 Thực trạng dịch vụ du lịch 51
2.2.1 Cơ sở vật chất dịch vụ du lịch 51
2.2.1.1 Dịch vụ lưu trú 51
2.2.1.2 Cơ sở vui chơi giải trí, nhà hàng ăn uống và cửa hàng bán đồ lưu niệm 53 2.2.1.3 Dịch vụ vận chuyển 54
2.2.2 Cơ sở hạ tầng du lịch 54
2.2.2.1 Hệ thống giao thông 54
2.2.2.2 Điện nước và bưu chính viễn thông 56
2.3 Doanh thu từ dịch vụ du lịch 57
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG GỐM PHÙ LÃNG 61
3.1 Những giải pháp trước mắt 62
3.1.1 Tăng cường số lượng du khách đến Phù Lãng 62
3.1.2 Xây dựng Phù Lãng là điểm đến và điểm kết hợp dừng chân 63
3.1.3 Quảng bá xúc tiến du lịch tại Phù Lãng 64
3.2 Những chiến lược lâu dài 66
3.2.1 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch theo hướng chuyên nghiệp 67
3.2.2 Nâng cao tính độc đáo, hấp dẫn của sản phẩm 69
3.2.3 Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực 70
Trang 53.2.4 Bảo tồn và phát triển du lịch làng nghề theo hướng bền vững 72
3.2.5 Đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh, thành phố và các vùng phụ cận khác trong việc khai thác tài nguyên du lịch làng nghề 76
3.3 Thiết kế tour du lịch 77
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH –HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 75 Bảng 2.4 Số lượng cơ sở lưu trú tỉnh Bắc Ninh 2004-2009
6 Bảng 2.5 Bảng doanh thu từ dịch vụ du lịch tỉnh Bắc Ninh
từ 2004 - 2008
7 Bảng 2.6 Bảng doanh thu từ sản phẩm gốm Phù Lãng
2005 - 2010
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt hàng trăm năm nay, ngành du lịch đã mang lại những lợi ích
về kinh tế, văn hóa và xã hội cho các cộng đồng và quốc gia trên khắp địa cầu Từ xa xưa, khi con người còn đi trên những con thuyền được đẽo bằng tay từ những thân cây lớn vượt qua hết thảy những ghềnh thác dữ dội nhất cho tới ngày nay, khi mà người ta chế tạo những chiếc phi cơ khổng lồ để di chuyển trên những quãng đường xa nhất có thể, lợi nhuận và tri thức luôn là chất xúc tác mạnh mẽ nhất, thúc đẩy loài người đi tới tiến bộ và một cuộc sống tốt đẹp hơn Hiện nay, thật dễ dàng để con người có thể đi dọc ngang địa cầu tìm kiếm một thiên đường kì thú, thỏa mãn mọi nhu cầu từ mua sắm, du lịch, giải trí đến nghỉ dưỡng, chữa bệnh…
Du lịch Việt Nam ngày càng phát triển mạnh với nhiều ngành dịch vụ phong phú, trong đó du lịch làng nghề đang trở thành hướng đi mới đầy triển vọng Là một nước có nền văn hóa nông nghiệp gắn liền với các làng nghề truyền thống với những hình ảnh mang đầy bản sắc về đất nước và con người Việt Nam, du lịch làng nghề là một phương hướng hoạt động hợp lý với tiềm năng sẵn có của dân tộc Phát triển du lịch làng nghề không những góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, quảng bá và giới thiệu hình ảnh cuộc sống và con người Việt Nam với các nước trên thế giới mà nó chính
là cách để mỗi làng nghề trên mọi miền đất nước giữ gìn được bản sắc truyền thống mà cha ông truyền lại
Kinh Bắc xưa, Bắc Ninh ngày nay từng là cái nôi của nền văn hoá văn minh đất Việt Nó tích tụ đậm đặc trong mình cả bề rộng lẫn chiều sâu của mấy ngàn năm lịch sử với những giá trị văn hoá vô cùng độc đáo và hấp dẫn như những đình chùa đền miếu cổ kính uy nghi, những hội hè đình đám rộn rã
Trang 9tưng bừng, những làn điệu quan họ đắm say mượt mà, những tên đất, tên người nhuộm màu cổ tích và huyền thoại Đặc biệt, Bắc Ninh còn nổi tiếng với những làng nghề thủ công truyền thống cùng những sản phẩm thủ công đặc sắc Có thể nói hiếm có vùng quê nào trên đất nước này mà cả đất và người lại thấm đẫm truyền thống văn hóa và hồn dân tộc như miền đất này
Với lịch sử lâu đời, với di sản làng nghề phong phú, Bắc Ninh hàm chứa trong mình những tiềm năng quý giá để thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch của tỉnh Đặc biệt là phát triển loại hình du lịch văn hoá làng nghề - một loại hình có sức hấp dẫn, bởi phát triển loại hình du lịch làng nghề là hướng phát triển du lịch bền vững - bảo tồn các giá trị tài nguyên nhân văn
Làng Phù Lãng (thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) từ
xa xưa đã nổi tiếng với nghề làm gốm Sản phẩm gốm của làng mang một sắc thái riêng độc đáo, được đánh giá là đậm chất dân gian và mang tâm hồn người Việt Nằm bên bờ sông Cầu thơ mộng, lại gần với quốc lộ 18, mang trong mình những giá trị được coi là những tài nguyên du lịch hấp dẫn, làng gốm Phù Lãng có nhiều điều kiện, tiềm năng để trở thành điểm du lịch nổi tiếng
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân cho đến nay Bắc Ninh nói chung, Phù Lãng nói riêng vẫn chưa khai thác được triệt để và hiệu quả những tiềm năng
và lợi thế của mình để đưa ngành du lịch khởi sắc và cất cánh Trong đời sống văn hoá của các thế hệ trước để lại, làng nghề truyền thống có tác dụng hữu hiệu với ngành du lịch không chỉ hôm nay mà cả ngày mai ở cả hai mặt: giới thiệu vùng đất con người và khai thác kinh doanh, giới thiệu những làng nghề truyền thống, biến nó thành bạn đồng hành trong cuộc sống hôm nay Đó là công việc không riêng của làng nghề mà còn là của ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh Về cả phương diện giới thiệu bản sắc văn hoá lẫn phương diện kinh doanh, ngành rất cần một thái độ khoa học đúng hướng, cần cả sự hỗ trợ của
Trang 10các nhà khoa học, cùng sự gắng sức, sự đóng góp, sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý, của mỗi người dân ở làng nghề nói riêng và người dân Bắc Ninh nói chung
Xuất phát từ thực tế trên, với niềm tự hào, ý thức trách nhiệm và tình cảm sâu nặng với truyền thống Bắc Ninh, cùng những trăn trở muốn đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của một người con sinh ra trên mảnh đất này vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương, tôi đã quyết định chọn đề tài:
“Nghiên cứu phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Gốm Phù Lãng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Có thể kể ra một số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như: “Làng gốm Phù Lãng”, “Làng gốm Phù Lãng Quế Võ (Hà Bắc) qua tư liệu mới”,
“Lò gốm thời Lê ở Phả Lại, Quế Võ (Hà Bắc)” của hai tác giả Trần Anh Dũng
và Trần Đình Luyện Gần đây có “Nghề gốm Phù Lãng - truyền thuyết về tổ nghề và lịch trình phát triển”, “Gốm sành nâu ở Phù Lãng” của TS.Trương Thị Minh Hằng v.v… Nhưng những bài viết và công trình nghiên cứu đó chỉ tập trung nghiên cứu về lĩnh vực khảo cổ và văn hóa Riêng lĩnh vực phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng gần đây mới được các tác giả là cá nhân, cơ quan quan tâm nghiên cứu như Đề án “Phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” do Sở Du Lịch Bắc Ninh thực hiện năm 2004 Hội thảo
“Phát triển du lịch làng nghề tỉnh Bắc Ninh” do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức tháng 2/2007 có bài viết “Phù Lãng với phát triển du lịch làng nghề” của công ty Hanoitourist Tiếp đó là khoá luận “Bước đầu nghiên cứu
tổ chức hoạt động du lịch sinh thái tại một số làng nghề tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh” của sinh viên Cao Thị Hà (khoa Du lịch, trường ĐHKHXH&NV).v.v…
Trang 11Những công trình này mới chỉ khái quát được tiềm năng, thực trạng và đưa ra một vài giải pháp phát triển du lịch của Phù Lãng nói riêng và tỉnh Bắc Ninh nói chung Luận văn này được thực hiện sẽ đưa ra những định hướng giải pháp phát triển du lịch làng Phù Lãng một cách thiết thực và hiệu quả, đồng thời xây dựng những tour du lịch chuyên đề có mặt ở làng Phù Lãng Đó chính là nội dung mà những công trình khoa học đi trước chưa đi sâu nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Tiếp cận, khảo sát, điều tra tại làng gốm Phù Lãng trên cơ sở kết hợp với tri thức khoa học sẵn có của tác giả Nghiên cứu đánh giá thực trạng xã Phù Lãng nói riêng và tình hình phát triển du lịch Bắc Ninh nói chung Từ đó xây dựng chương trình du lịch chuyên đề và đưa ra những định hướng, giải pháp phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng một cách thiết thực, toàn diện và bền vững
4 Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Đối tượng: Hệ thống làng nghề truyền thống là thành phần chủ yếu của hệ thống di sản văn hoá, là những gì của thế hệ trước còn lại với thời gian Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu làng gốm Phù Lãng - Bắc Ninh Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, tác giả khảo sát làng gốm Phù Lãng trong bối cảnh của Bắc Ninh như là một cách đặt “điểm” trong “diện” Sự chú
ý của tác giả tập trung vào xưởng gốm trong các làng thuộc xã Phù Lãng Về thời gian, tài liệu và số liệu nghiên cứu chủ yếu được sử dụng từ năm 2004 đến năm 2010
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Trang 12- Phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh trên cơ sở những tư liệu, số liệu được cập nhật qua các tài liệu nghiên cứu khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng
- Phương pháp khảo sát điều tra thực địa tại làng gốm Phù Lãng
5 Đóng góp của luận văn
Qua việc nghiên cứu xu hướng phát triển du lịch làng nghề tỉnh Bắc Ninh
và khái quát thực trạng làng Phù Lãng, luận văn xây dựng tour du lịch có điểm đến là làng gốm Phù Lãng mà hiện nay trên thị trường du lịch chưa có Bên cạnh đó, luận văn đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm phát triển du lịch làng gốm này với mong muốn thu hút khách du lịch đến với Phù Lãng, góp phần gìn giữ và phát triển nghề, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân nơi đây
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các phụ lục, luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan về làng gốm Phù Lãng
- Chương 2: Hoạt động du lịch ở làng gốm Phù Lãng - Bắc Ninh
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng
Trang 13CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ LÀNG GỐM PHÙ LÃNG 1.1 Lý luận về du lịch và du lịch làng nghề
1.1.1 Du lịch là gì?
Hoạt động du lịch trên thế giới hình thành sớm, từ thời kỳ cổ đại đến thời
kỳ phong kiến, rồi đến cận đại và hiện đại Hoạt động kinh doanh du lịch cũng dần phát triển và ngày càng được nâng cao cả về cơ sở vật chất kỹ thuật đến các điều kiện về ăn, ở, đi lại, vui chơi, giải trí,… Ngày nay, hoạt động du lịch mang tính toàn cầu, và đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của người dân các nước kinh tế phát triển Du lịch cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá mức sống của dân cư nước đó Do vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch
Có một thực tế là mặc dù hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu và phát triển với tốc độ nhanh, song cho đến nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất Ở mỗi hoàn cảnh khác nhau (về thời gian và không gian), mỗi góc
độ nghiên cứu khác nhau, mỗi cá nhân lại có cách hiểu khác nhau về du lịch Hai giáo sư người Thụy Sĩ Hunzikeer và Krapt là những người đặt nền móng cho lý thuyết về du lịch đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [9, tr 16]
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học người Bỉ Picara Edmod đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hòa của việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến
Trang 14với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.” [9,tr.18]
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): "Du lịch là hoạt động đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm" [48,tr.17] Theo luật Du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [22,tr.2]
Qua một số định nghĩa trên, du lịch được hiểu là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá – xã hội Quán triệt tinh thần đó, tại Điều khoản 1 Pháp lệnh
Du lịch được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 02/02/1999 đã khẳng định
“Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [22, tr.1]
Các nhà làm luật thường coi khái niệm “du lịch” gắn với việc “di chuyển của khách ngoài địa điểm cư trú thường xuyên của mình” [16, tr.22-24] Du lịch quốc tế là một trong những hình thức cơ bản của du lịch xét theo không gian lãnh thổ di chuyển, cư trú, tham quan, giải trí… và ngày càng trở thành một bộ phận hữu cơ của toàn bộ hoạt động du lịch quốc gia Hoạt động du lịch quốc tế có hai đặc điểm chính: khách du lịch mang quốc tịch nước ngoài
và quá trình thanh toán được thực hiện bằng ngoại tệ Trong điều kiện hội
Trang 15nhập kinh tế quốc tế, du lịch quốc tế được coi như động lực tăng trưởng và phát triển nhanh của quốc gia
1.1.2 Du lịch làng nghề là gì?
1.1.2.1 Khái niệm làng nghề
Để hiểu thế nào là làng nghề, trước hết cần phải nắm rõ khái niệm nghề truyền thống: “Nghề truyền thống là nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một, thất truyền Nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm; Thứ hai tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Thứ ba phải gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.” [36, tr2]
Sự phát triển của nghề truyền thống là nhân tố trực tiếp và chủ yếu nhất đưa tới sự xuất hiện của các làng nghề Vậy “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn hoặc các điểm dân cư tương tự trên một địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau Làng nghề phải đạt 3 tiêu chí sau: Thứ nhất có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề; Thứ hai phải có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm; Thứ ba phải chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước.” [36, tr2]
Từ hai khái niệm trên ta thấy: “Làng nghề truyền thống là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo khái niệm trên Tuy nhiên đối với những làng chưa đạt tiêu chí thứ nhất và thứ hai của làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí trên thì vẫn được coi là làng nghề truyền thống” [ 36, tr2]
Trang 16Từ hàng ngàn năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam Các làng nghề được hình thành từ các nghề được cư dân tranh thủ làm trong lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính Nghề trồng lúa chỉ vất vả những ngày đầu vụ như cầy, bừa, cấy, làm cỏ… và những ngày cuối vụ như gặt hái, phơi khô Những ngày còn lại, người nông dân rất nhàn
Từ đó, nhiều người bắt đầu tìm kiếm công việc phụ để làm, nhằm mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình Nhiều nghề phụ đã dần thể hiện được vai trò của nó, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân, như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, lụa… phục vụ cho sinh hoạt thường ngày hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ cho sản xuất Sản phẩm của những nghề phụ này ban đầu chỉ đáp ứng cho nhu cầu riêng, về sau đã trở thành hàng hóa để trao đổi, mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, rồi nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó lan rộng ra phát triển trong cả làng hay nhiều làng gần nhau Chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa, nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng dần bị mai một Từ đó hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó như làng làm đồ đồng, làng làm đồ gỗ, làng làm đồ gốm sứ… Như vậy ta có thể hiểu làng nghề là làng của các cư dân làm nghề nông có thêm một hoặc vài nghề nào đó như mộc, gốm sứ, dệt…Nghề của họ có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng
Làng nghề không chỉ là nơi sản xuất hàng hóa, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung mà còn là cái nôi của văn hóa, là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống, nghệ thuật và lưu truyền từ đời này sang đời khác Hơn nữa,
Trang 17làng nghề cũng là nơi sinh ra biết bao nghệ nhân với những bàn tay tài hoa và khéo léo Với sự hình thành và tồn tại hàng trăm năm, sản phẩm của làng nghề không chỉ đặc sắc, phong phú, đa dạng về chủng loại mà còn mang tính chuyên sâu cao Đó là những công trình, tác phẩm là mồ hôi công sức của những nghệ nhân tài hoa
1.1.2.2 Đặc điểm làng nghề
* Về mặt kỹ thuật công nghệ: Trước kia kỹ thuật thủ công hầu hết mang tính truyền thống của một vùng nào đó hoặc bí quyết riêng của từng dòng họ Nhưng ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã giúp cho quá trình sản xuất ngày một nâng lên và đạt hiệu quả cao Tuy sử dụng công nghệ tiên tiến nhưng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa điều đó với công nghệ truyền thống vẫn là bí quyết giúp sản phẩm tạo ra không mất đi chất lượng vốn có
* Về sản phẩm: Mỗi sản phẩm đều mang những đặc điểm riêng nhất không giống nhau Sản phẩm của mỗi vùng, mỗi làng đều có những phương thức sản xuất riêng và đặc trưng từng vùng Do vậy, có thể phân biệt sản phẩm của từng vùng miền Các sản phẩm là sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với khả năng sáng tạo của nghệ nhân, nên tính nghệ thuật được thể hiện cao trong từng sản phẩm Những sản phẩm đó mang tâm tư tình cảm của con người Con người thổi hồn mình vào những sản phẩm đó Đặc trưng của sản phẩm truyền thống thông thường là mang tính đơn lẻ
* Về nguồn lao động: Phương thức sản xuất chính trong các làng nghề là phương pháp thủ công thô sơ nên sản phẩm được tạo ra là do bàn tay con người Đối với các nghề, làng nghề truyền thống thì vai trò của những nghệ nhân tạo ra sản phẩm vô cùng quan trọng Họ là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm, lưu giữ và truyền dạy nghề từ thế hệ này tới thế hệ khác, giúp các cách thức không bị xói mòn và mất mát
Trang 18* Về thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước kia mục tiêu của sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu trao đổi hàng hoá trong nước (gia đình, làng xóm lân cận hoặc trong dòng họ…) Hiện nay, việc trao đổi và tiêu thụ hàng hoá được chú trọng nên thị trường ngày càng được mở rộng, sản phẩm đa dạng và phong phú hơn đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng Một số mặt hàng của làng nghề truyền thống tại Việt Nam đã thu hút được thị trường nước ngoài như: đồ gốm, đồ gỗ chạm khắc, sơn mài, mây tre đan
* Về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh: Hình thức phổ biến nhất từ trước đến nay là hộ gia đình Bên cạnh hình thức này nay đã xuất hiện một số hình thức khác như hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty…
* Hướng phát triển: Làng nghề ngày nay đã và sẽ trở thành điểm đến du lịch của rất nhiều du khách trong và ngoài nước Du lịch làng nghề có bước phát triển khá nhanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quảng
bá được hình ảnh và vẻ đẹp của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc
1.1.2.3 Du lịch làng nghề
Các làng nghề truyền thống không chỉ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như là một nguồn lực, nguồn thu ngoại tệ cho đất nước mà còn có những giá trị lớn về văn hóa – xã hội Mỗi làng nghề chính là một địa chỉ văn hóa phản ánh nét độc đáo của từng địa phương Giá trị của làng nghề còn thể hiện ở lối sống, phong tục tập quán của từng cộng đồng dân cư Chính
vì vậy mà làng nghề được xem là “tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa quan trọng bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao gồm trong nó cả nội dung giá trị vật thể và phi vật thể” [19]
Có thể thấy du lịch làng nghề là loại hình du lịch dựa vào việc khai thác giá trị văn hóa truyền thống, các kỹ năng nghề nghiệp thể hiện trong sản phẩm thủ công để phục vụ du khách Đồng thời du lịch làng nghề còn là loại hình
Trang 19du lịch dựa vào sản phẩm thủ công và văn hóa bản địa có đóng góp cho sự bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, nền kinh tế nói chung và kinh
tế du lịch nói riêng có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng và tính
đa dạng Khách du lịch ngày càng có nhu cầu khám phá về văn hóa, phong tục tập quán của mỗi vùng miền theo bước chân đi của họ Các làng nghề hội tụ
và biểu hiện một cách sinh động bản sắc độc đáo về cuộc sống con người của mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi dân tộc Khi đến với làng nghề, khách du lịch
sẽ được biết đến hoạt động sản xuất từ thời cổ xưa, xem cách thức người xưa làm ra sản phẩm Từ việc tìm hiểu các yêu tố văn hóa truyền thống, quy trình sản xuất các sản phẩm truyền thống, du khách được trực tiếp tham gia vào một công đoạn nào đó trong quá trình làm ra sản phẩm và lưu giữ nó làm kỷ niệm trong chuyến đi của mình “Du lịch làng nghề là một cách học Du khách sẽ không chỉ được học cách thức làm ra sản phẩm truyền thống mà còn hiểu được những câu chuyện văn hóa đằng sau mỗi sản phẩm Đó là một bài học độc đáo và sinh động” [27, tr13]
Trong xu thế hội nhập và mở cửa như hiện nay, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), làng nghề đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc Làng nghề trở thành hình ảnh mang đầy bản sắc, khẳng định nét riêng độc đáo không thể thay thế, giới thiệu sinh động về đất nước và con người của mỗi vùng miền, mỗi địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn
Trang 20lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Bởi vậy phát triển làng nghề ngày càng trở thành hướng đi quan trọng trong quá trình phát triển du lịch của mỗi quốc gia cả hiện tại và tương lai Thực tiễn trên thế giới, du lịch làng nghề đã được phát triển thành công ở những nước như Thái Lan, Nhật Bản, Pháp, Đức, Nga… Ở Việt Nam, du lịch làng nghề mới được khai thác trong
hệ thống nguồn tài nguyên du lịch, cho nên mảnh đất đó vẫn còn biết bao sự
kì thú cần khám phá
1.2 Khái quát về làng gốm Phù Lãng
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Làng gốm Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng, nằm ở phía Đông huyện Quế
Võ của tỉnh Bắc Ninh, cách sông Lục Đầu khoảng 4km về phía Nam, cách thành phố Bắc Ninh khoảng 20km về phía Tây, từ quốc lộ 18 đi vào 7km là tới làng Phù Lãng, phía Đông và phía Bắc giáp sông Cầu, phía Nam và một phần phía Tây giáp núi Châu Sơn và các xã Châu Phong, Phù Lương, Ngọc
Xá Nằm ở hữu ngạn sông Cầu, có ba mặt là sông, lưng làng dựa núi Châu Sơn – nơi có phong cảnh hữu tình của đất Kinh Bắc, làng Phù Lãng hội tụ đủ các điều kiện cho nghề gốm phát triển
15 độ[4] Trải qua quá trình thiên tạo, Phù Lãng hiện nay là nơi có địa hình
Trang 21cao thấp đan xen Ngoài dãy Châu Sơn là dãy núi lớn nhất, là chỗ dựa và là nền cho cảnh quan sinh thái vùng này, Phù Lãng còn có các ngọn núi Mang, núi Cáng, núi Bờ Rùa, núi Chùa Vân Xen kẽ với núi đồi là những bãi đất cao trồng hoa màu, những cánh đồng trũng mưa về là ngập nước, không có bờ và
cả những cánh đồng cao đất pha cát, các cánh dộc trũng như dộc Đông Quan, dộc Đồng Song, dộc Cổ Cò… Do địa thế như vậy nên hầu hết các xóm làng quanh vùng này thường xuyên rơi vào tình trạng “chớm nắng đã hạn, chớm mưa đã úng”
1.2.1.4 Lượng mưa và độ ẩm
Lượng mưa phân bố không đều trong năm Mùa mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9, lượng mưa và số ngày mưa chiếm ưu thế (lượng mưa chiếm tới 80% so với cả năm), độ ẩm cao Mùa mưa có giông bão và mưa kéo dài Mùa đông có gió mùa đông bắc, không có băng tuyết, lượng mưa và số ngày mưa giảm, độ ẩm xuống thấp, có mưa nhỏ và mưa phùn ở cuối đông sang xuân Giống như những nơi khác thuộc đồng bằng Bắc Bộ, ngoài hai mùa trên thì Phù Lãng cũng có mùa xuân và thu nhưng chuyển tiếp không thật rõ rệt Với điều kiện tự nhiên như vậy, Phù Lãng hoàn toàn phù hợp để phát triển du lịch
Trang 221.2.2 Điều kiện xã hội
1.2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Theo các vị cao niên trong làng kể lại thì người Phù Lãng xưa là ở vùng Lục Đầu Giang, sau đó chuyển về Vạn Kiếp (Hải Dương) vào thời Trần rồi rời đến địa điểm Phù Lãng hiện tại – ngay bên bờ sông Cầu Ông tổ làng gốm Phù Lãng tương truyền đã nhập vào đoàn quân của Trần Hưng Đạo dự lễ xuất quân ở đền Gốm (thuộc làng Gốm, huyện Chí Linh) tham gia trận đánh Bạch Đằng lịch sử Sau khi giặc tan, ông chiêu mộ một số người trong làng rời lên đây lập nghiệp Như vậy, làng gốm Phù Lãng đã ra đời và tồn tại cách ngày nay bảy, tám thế kỷ Nhưng theo những phát hiện khảo cổ học của các nhà khảo cổ nước ta cho biết Lục Đầu Giang (bao gồm một phần đất Bắc Ninh và một phần đất tỉnh Hải Dương) là một trung tâm sản xuất gốm suốt từ thời Lý đến thời Lê, Nguyễn Sở Văn Hoá Thông Tin Hà Bắc và Viện Khảo Cổ Học
đã có một cuộc điều tra điền dã khảo cổ học năm 1987 và phát hiện ở rìa làng
có khá nhiều lò nung gốm và di vật gốm thời Lê, Nguyễn
1.2.2.2 Cơ cấu dân cư
“Xưa kia, Phù Lãng là nơi “nhất xã tam thôn” có số nhân khẩu nhiều nhất tổng Theo tài liệu của thực dân Pháp thì từ năm 1944 làng Phù Lãng đã
có 280 họ, với 981 nhân khẩu” [30, tr31-37] Hiện nay xã Phù Lãng có năm làng là Phù Lãng (hay còn gọi là thôn Phấn Trung), Đoàn Kết, An Trạch, Đồng Sài, Thủ Công, toàn xã có trên 7000 nhân khẩu, trong đó làng Phù Lãng chiếm một nửa dân số toàn xã, mà đất canh tác chỉ có 457ha Như vậy diện tích đất canh tác là rất nhỏ so với số nhân khẩu
1.2.2.3 Cơ cấu kinh tế
Ruộng ít mà địa hình lại phức tạp nên nghề nông nơi đây khó khăn hơn những vùng khác Theo một quy luật tất yếu, người dân Phù Lãng phải phát
Trang 23triển nghề phụ để dựa vào đó mà sống Nghề sản xuất gốm từ lâu đã trở thành nguồn thu nhập chính của dân làng Tuy rằng trên danh nghĩa chỉ có làng Phù Lãng làm nghề gốm nhưng để làm được điều này thì cần nhiều nhân lực với hàng loạt dịch vụ khác như mua bán, sơ chế nguyên vật liệu, chuyên chở, tiêu thụ sản phẩm.v.v… Chính vì thế nghề gốm ở đây đã thu hút khá đông nhân công của các làng xã lân cận tham gia
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng trong nông nghiệp giảm từ 36,4% năm 2005, xuống còn 32,8% năm 2009, ước năm 2010 xuống
31,4% Về trồng trọt, năng xuất lúa bình quân năm 2009 đạt 56 tạ/ha, tăng 9,64%
so với năm 2005 Tổng sản lượng lương thực năm 2009 đạt 640kg/người/năm, tăng 0,97% so với năm 2005 Giá trị nghành trồng trọt năm 2009 đạt 28 tỷ 811 triệu
đồng, đưa giá trị canh tác 45,3 triệu đồng/ha Về chăn nuôi, do ảnh hưởng của dịch
bệnh và giá cả đầu vào tăng mạnh đã hạn chế nhân dân đầu tư nên chăn nuôi có xu
hướng giảm Doanh thu ước tính từ chăn nuôi đạt khoảng 4 tỷ đồng Về phát triển
trang trại, kinh tế trang trại gắn với nuôi trồng thủy sản đang được đầu tư mở rộng
với tổng diện tích 67ha, thu hoạch trên diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 50 triệu
đồng/ha, cao hơn cấy lúa 0,9% Về lâm nghiệp, giữ ổn định diện tích rừng hiện có,
tập trung công tác chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng Thu hoạch từ
cây ăn quả, cây công nghiệp của vườn đồi là 280 triệu/năm Về công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và xây dựng, năm 2009 đạt 25,8%, sản xuất gốm mỹ nghệ có
chiều hướng giảm song giá cả lại tăng, năm 2009 đạt 18 tỷ 800 triệu đồng, tăng 44% Công tác xây dựng những năm qua được quan tâm đầu tư, giá trị xây dựng
6,9 tỷ đồng Về dịch vụ thương mại, hiện tại toàn xã có 30 hộ kinh doanh buôn
bán hàng hóa dịch vụ, ở trong các thôn, xóm và trung tâm chợ Lãng mới, hơn 400 lao động đi làm kinh tế ở các tỉnh thu nhập năm 2009 đạt 10 tỷ đồng Hoạt động vận tải thủy bộ được phát triển, toàn xã có 120 ô tô các loại trong đó có 90 ô tô hoạt động trong công ty Đại Tân Tuy trong những năm qua bị ảnh hưởng bởi việc suy
Trang 24thoái kinh tế thế giới nhưng doanh thu năm 2009 đạt 41 tỷ 300 triệu đồng, tăng so với năm 2005 là 150% [4]
1.2.2.4 Giáo dục – đào tạo
Trong năm năm qua sự nghiệp giáo dục ở Phù Lãng tiếp tục có bước phát triển, cơ sơ vật chất về cơ bản đảm bảo cho việc dạy và học Trường Mầm non nhiều năm liền đạt danh hiệu tiên tiến, năm 2010 có 253 cháu chia ra 11 lớp, so với năm 2005 tăng 69 cháu, tỷ lệ trẻ 5 tuổi đi học đạt 100% Trường Tiểu học có tổng
số học sinh năm 2009 là 490 em trong đó có 21 học sinh giỏi, 98% học sinh xếp loại đạo đức tốt, 100% trẻ trong độ tuổi đến lớp và hoàn thành chương trình tiểu học Trường Trung học cơ sở có 16 lớp với số học sinh năm 2009 là 476 em, 98% học sinh tốt nghiệp, trong đó có 46 em tốt nghiệp loại giỏi 90% học sinh của xã Phù Lãng thi đỗ vào các trường Trung học phổ thông và có 150 em đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng [4]
Chất lượng giáo dục được nâng cao, công tác khuyến học được tăng cường, ngoài quỹ khuyến học vận động thu hàng năm theo quy định, các dòng họ đã xây dựng quỹ khuyến học với trị giá 150 triệu đồng, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ở Phù Lãng hướng tới thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
1.3 Những giá trị để phát triển du lịch làng gốm Phù Lãng
Làng nghề thủ công truyền thống không chỉ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như là một nguồn lực, nguồn thu ngoại tệ cho đất nước mà còn có những giá trị lớn về văn hoá, xã hội Mỗi làng nghề chính là một địa chỉ văn hoá phản ánh nét văn hoá độc đáo của địa phương, là nơi hội
tụ kinh tế - văn hoá – xã hội có tính chất lịch sử, là một bộ phận không thể tách rời cuộc sống cộng đồng Những đặc sắc trong sản phẩm của làng nghề khắc họa văn hóa địa phương rõ rệt, nó vừa duy trì và làm phong phú thêm di
Trang 25sản văn hoá Việt Nam, vừa có những đóng góp nhất định vào kho tàng văn hóa nhân loại Làng nghề có giá trị lớn trong đời sống văn hoá xã hội, là sự hoà điệu giữa thiên nhiên – con người – văn hoá - nghề nghiệp, trong đó không chỉ có sự giao tiếp với nhau mà còn bao hàm cả ý nghĩa như là cội nguồn, quê hương của mỗi người từ thuở thơ ấu Làng nghề truyền thống là nơi gìn giữ và phát triển những bản sắc văn hoá của dân tộc bởi đây chính là nơi ngưng tụ của ngàn năm văn vật, gìn giữ và phát huy được vốn quý tinh thần do cha ông đã hun đúc truyền lại tự ngàn đời
Phù Lãng là mảnh đất có bề dày văn hóa hàng trăm năm, có nghề gốm vừa là nguồn sống chính của dân làng, vừa góp phần làm rạng rỡ tên tuổi diện mạo một làng gốm xứ Kinh Bắc Là ngôi làng lâu đời nên Phù Lãng có những giá trị văn hoá riêng như phong tục tập quán, truyền thuyết tổ nghề, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc… cùng với cảnh quan của một làng quê trung du Bắc Bộ núi non sông nước hữu tình, những đống củi chất cao ngất đẹp như một bức tranh xếp đặt Phù Lãng có nét đẹp của ngôi chùa Phúc Long Tự với lối kiến trúc của riêng cư dân làm gốm, không u tịch cổ kính như bất kỳ ngôi chùa nào của miền quê xứ Bắc bởi đã bị tàn phá sau chiến tranh, mà mang vẻ đẹp hiện đại bởi các bức tranh gốm mỹ thuật gắn trên những bức tường xung quanh chùa Ngoài những công trình kiến trúc tôn giáo, Phù Lãng còn lưu giữ những nếp nhà tranh, nhà mái ngói của làng quê mà không phải là những ngôi biệt thự hay nhà cao tầng chót vót Đây chính là yếu tố hấp dẫn khách du lịch khi đến Phù Lãng Đặc biệt hơn cả là Phù Lãng có sản phẩm gốm hấp dẫn, không những đặc trưng về chất liệu, cách chế tác mà còn phong phú đa dạng
về kiểu dáng, chủng loại, không hào nhoáng bóng bẩy ở bề ngoài mà xù xì, chân chất, mộc mạc của mầu sắc thôn quê Những sản phẩm ấy không chỉ kích thích trí tò mò mà còn đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của khách, từ
Trang 26những vật dụng nhỏ như chậu trồng hoa, cây cảnh, bình cắm hoa đến vật dụng trang trí nội thất lớn hơn như tranh gốm, gốm phong thủy v.v…
Ngoài giá trị văn hoá, làng nghề còn mang những giá trị du lịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn bao gồm trong đó cả nội dung giá trị vật thể và phi vật thể Làng gốm Phù Lãng hấp dẫn khách du lịch bởi sản phẩm của nó chứa đựng những giá trị kỹ thuật thể hiện qua nguyên liệu thô, quá trình thiết kế và sản xuất sản phẩm và giá trị về văn hoá nghệ thuật trong di sản tín ngưỡng tôn giáo và sinh hoạt đời thường của họ Tất cả những giá trị đó được chứa đựng trong các sản phẩm của làng như một tài nguyên du lịch nhân văn có sức quyến rũ và có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch nơi đây
1.3.1 Cảnh quan thiên nhiên
Bắc Ninh nằm ở trung tâm châu thổ Bắc Bộ, có địa hình và cảnh quan phong phú, đa dạng: đồng bằng màu mỡ, sông ngòi xen lẫn với gò đồi, rừng núi tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa và giao lưu với mọi miền đất nước, với các nước trong khu vực và thế giới
Làng gốm Phù Lãng là một làng nghề truyền thống lâu đời của Bắc Ninh Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 60 km, cách sông Lục đầu khoảng 4 km về phía Nam, cách thành phố Bắc Ninh khoảng 10 km về phía Tây Địa danh Phù Lãng có thể có từ cuối thời Trần đầu thời Lê
Phù Lãng nằm bên bờ sông Cầu và có nhiều bến đò ngang suốt ngày chở khách qua lại Đối diện bên kia sông là xã Tư Mại, xã Thắng Cương của huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang Sông Cầu là con sông dài nhất chảy trên hai địa phận tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, được coi là con sông hiền hòa nhất trong các sông ngòi của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Thái
Trang 27Bình Vì lòng sông có độ dốc thấp nên vào mùa cạn nước sông chảy lững lờ
Từ bao đời nay, sông Cầu đã đi vào thi ca, huyền thoại của xứ Kinh Bắc Quế
Võ nằm bên hữu ngạn sông Cầu, là dải đồng bằng phù sa cổ, nơi mà các nhà thổ nhưỡng học gọi là vùng “nhiều ruộng, ít đồi”, là vùng thể hiện rõ nét nhất tính chất trung du của đất Kinh Bắc xưa Bởi vậy mà dòng sông này đã gắn bó với đời sống sinh hoạt và đời sống văn hóa tinh thần của người dân Phù Lãng
từ hàng trăm năm nay
Phù Lãng còn có những dấu tích lịch sử gắn kết với những giai thoại, truyền thuyết lưu truyền rộng rãi trong dân gian như “Đấu đong đầu”, “Cây đa vua ngự”, “Bến đò giăng vương”, hay những địa danh như đèo Gạo, bãi Tắm Ngựa, và một loạt xứ đồng mang những cái tên rất độc đáo: Mả Vường, Mả Cháy, Mả Ngòi, Mả Bầu, Mả Yên… Điều đó tạo nên một Phù Lãng bí ẩn đầy huyền thoại
Phù Lãng có cảnh quan của một làng quê trung du Bắc Bộ với núi non, sông nước hữu tình, những cánh đồng lúa xanh lộng gió, những nếp nhà lợp bằng ngói đỏ đã phủ màu thời gian, với những đống củi chất cao ngất theo kiểu “toang trâu” Tất cả tạo thành một bức tranh đầy màu sắc mang vẻ đẹp bình dị đậm chất làng quê Bắc Bộ Việt Nam Chính cảnh sắc thiên nhiên đó
đã đáp ứng được tâm lí hoài cổ của nhiều du khách trong và ngoài nước
1.3.2 Cảnh quan lịch sử nhân văn
Làng quê Bắc Ninh với nghề nông là chính đã được biết đến qua những nghề thủ công truyền thống, với những sản phẩm nổi tiếng như: gốm Phù Lãng, tranh Đông Hồ, đồ đồng Đại Bái, sơn mài Đình Bảng, sắt thép Đa Hội,
tơ tằm Võng Nguyệt… Làng nghề ở đây được tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ của cộng đồng cư dân, được hình thành rộng khắp các làng quê trên địa bàn tỉnh và hoạt động trong nhiều ngành kinh tế Theo thống kê hiện nay, Bắc
Trang 28Ninh có 62 làng nghề truyền thống (chiếm 30% tổng số làng nghề truyền thống của cả nước) Có những làng nghề truyền thống tuổi đời hàng trăm năm, hiện đang phát triển rất mạnh với những sản phẩm độc đáo Ngoài các sản phẩm tinh xảo được làm ra từ quy trình sản xuất thủ công, tại hầu hết các làng nghề tỉnh Bắc Ninh vẫn giữ được phong tục tập quán, các di tích lịch sử văn hóa ghi đậm dấu ấn văn hóa đặc trưng vùng Kinh Bắc Làng gốm Phù Lãng là một điển hình của làng Việt Bắc Bộ
Làng gốm Phù Lãng được xem là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn và
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi các sản phẩm du lịch của làng nghề bao gồm trong đó cả nội dung giá trị vật thể và phi vật thể Phù Lãng hấp dẫn khách du lịch không chỉ bởi non nước hữu tình, cảnh sắc có một không hai mà quan trọng nhất bởi các sản phẩm thủ công gốm thể hiện qua nguyên liệu thô
sơ, quá trình thiết kế và sản xuất sản phẩm Đến làng gốm Phù Lãng, dọc hai bên con đường làng bê tông quanh co, du khách dễ nhận ra nét đặc trưng của làng nghề gốm nông thôn Bắc Bộ với những đống củi, ngôi nhà gạch trần, mái ngói nhấp nhô Ở trên sân nhà, bờ ruộng hay dọc các lối đi, sản phẩm của nghề gốm với những tiểu, quách, chậu cảnh, bình gốm, chum vại xếp hàng tầng tầng lớp lớp Cái còn ướt đỏ màu đất, hay đã phơi màu bạc phếch, hoặc
đã qua lò nung lên nước bóng loáng
* Truyền thuyết về tổ nghề gốm Phù Lãng
Nước ta có hàng trăm ngàn làng nghề thủ công và mỗi làng nghề lại có vị
tổ nghề riêng Vì vậy mà có hiện tượng cùng làm một nghề nhưng mỗi làng lại thờ tổ nghề riêng của làng mình Cùng nghề sản xuất gốm nhưng Bát Tràng thờ ông Hứa Vĩnh Kiều, Thổ Hà thờ ông Đào Trí Tiến, còn Phù Lãng thờ ông Lưu Phong Tú Theo Tô Nguyễn, Trịnh Nguyễn trong sách “Kinh Bắc - Hà Bắc” thì ông tổ nghề gốm Phù Lãng là Lưu Phong Tú Vào cuối thời
Trang 29Lý, ông được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc Trong dịp đi này, ông học được nghề làm gốm và truyền dạy cho người trong nước Đầu tiên, nghề này được truyền vào vùng dân cư đôi bờ sông Lục Đầu, sau đó chuyển về vùng Vạn Kiếp (Hải Dương) Vào khoảng đầu thời Trần (thế kỷ XIII) nghề được truyền đến đất Phù Lãng Trung Nhưng theo lời kể của các vị cao niên và những nghệ nhân lớn tuổi trong làng thì vị tổ nghề của làng Phù Lãng là ông Hứa Vĩnh Kiều, bởi từ trước tới nay người dân ở đây có tục kiêng chữ Kiều
mà đọc chệch thành chữ Cầu Truyền thuyết vẫn chỉ là truyền thuyết mà chưa
có cơ sở nào xác định được tính xác thực của nó, cũng không thể dựa vào tục kiêng chữ của dân làng mà khẳng định được chính xác tên tuổi vị tổ nghề của làng Phù Lãng Hiện nay dân làng Phù Lãng không ai khẳng định được tên tuổi chính xác vị tổ nghề làng mình nhưng trong tâm khảm mỗi người dân nơi đây luôn nhớ và hàm ơn người đã truyền dạy nghề cho họ Tình cảm của
họ đối với tổ nghề đã ăn sâu vào trong nếp nghĩ, trong sinh hoạt của họ Hàng năm họ vẫn tổ chức thờ cúng để tưởng nhớ vị tổ nghề làm gốm
* Nghề và sản phẩm gốm Phù Lãng
Nghề gốm Phù Lãng đã để lại dấu ấn lịch sử ngót 10 thế kỷ Sản phẩm chính của gốm Phù Lãng xưa là chum vại, ấm đất, chậu cảnh, tiểu sành Ngày nay với những bàn tay tài hoa muốn khôi phục và gìn giữ nghề truyền thống của làng, các nghệ nhân thế hệ mới như nghệ nhân Vũ Hữu Nhung - với tên quen gọi Gốm Nhung, nghệ nhân Nguyễn Minh Ngọc với tên quen thuộc Gốm Ngọc đã phát triển tinh hoa của nghề gốm bằng nghệ thuật tạo hình khối, hoa văn đặc sắc Nhiều sản phẩm và mẫu gốm mới như: tranh gốm, lọ hoa gốm, ấm chén gốm, gốm trang trí, gốm ốp tường, lư hương đã và đang được khách, doanh nhân, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước yêu thích
Trang 30Gốm Phù Lãng được làm công phu ngay từ khâu lựa chọn và xử lý đất Khác với những sản phẩm gốm lấy chất liệu từ “xương” đất sét xanh của Thổ
Hà, sét trắng của Bát Tràng, đất để làm gốm Phù Lãng là loại đất sét có màu hồng nhạt, xen lẫn các mảng màu nâu đỏ, trắng được lấy từ vùng Thống Vát, Cung Khiêm (Bắc Giang) cách làng khoảng 15 km Riêng loại đất để làm hàng mỹ nghệ hoặc những mặt hàng chất lượng cao phải dùng loại đất màu xanh lá dong, hoặc màu vàng lõi mít, không pha cát, không có sạn đầu ruồi Đất được chở về Phù Lãng theo đường sông Điều này rất thuận lợi do Phù Lãng không phải lấy đất sét tại chính làng họ, tránh phá vỡ cấu trúc địa chất
và cảnh quan làng nghề Lấy được đất về, người thợ phải phơi cho ải rồi đạp rồi ve thành những viên nhỏ bằng ngón chân cái, sau đó mới cho "ngậm" nước, xéo tròn, nề đất, chọn sạn, phá, sa cho tới khi đất phải nhuyễn mịn như một miếng giò mới thôi Người thợ dùng “nề”, một dụng cụ có lưỡi là một dây thép mảnh, được căng bởi một khung cố định làm bằng cật tre, thái thành những lát mỏng.Thái xong lại đắp đất thành đống, xéo lại lẫn nữa cho thật nhuyễn và quánh rồi đem ủ, chờ chuyển giao cho thợ chuốt Một miếng đất trước khi chuốt phải nề, xéo tới chục lần mới thành khoanh cho lên bàn xoay nắn thành sản phẩm
Gốm Phù Lãng tập trung vào 3 loại hình: Gốm dùng trong tín ngưỡng (lư hương, đài thờ, đỉnh ); gốm gia dụng (lọ, bình, ang, chum, vại, bình vôi, ống điếu ); gốm trang trí (bình, ấm hình thú như ngựa, voi ) Về mặt tạo hình, gốm Phù Lãng được sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong nghệ thuật tạo dáng, hình khối đa dạng Nhưng nhìn chung có thể quy vào hai phương pháp cơ bản: tạo hình trên bàn xoay và in trên khuôn gỗ hoặc khuôn đất nung rồi dán ghép lại Mỗi loại hình sản phẩm, mỗi chủng loại hàng đều có những
kỹ thuật, kỹ xảo riêng, tất cả đều nhằm đạt được hiệu quả tối đa về hai phương diện: kinh tế và thẩm mỹ
Trang 31Cũng như nghề gốm Bát Tràng (Gia Lâm), và Thổ Hà (Bắc Giang), phương pháp tạo hình sản phẩm (có tiết diện tròn) là chuốt Tất cả các sản phẩm được đưa lên bàn xoay tay Hoạt động xung quanh bàn xoay tay cần phải có 2 người, trong đó một người chuyên ngồi chuốt, một người vần bàn xoay Người vần bàn xoay đồng thời làm nhiệm vụ lăn đất thành đòn để chuốt (còn gọi là xe đòn) Sản phẩm sau khi đã tạo hình xong, để cho se dần, đến khi sờ tay vào không thấy dính, lúc bấy giờ người thợ tiến hành thúng, đấm, thúc bên trong của sản phẩm cho thành hình đồ vật, rồi lại để cho ráo Lúc này nếu thấy sản phẩm có vết rạn nứt thì được vá lại bằng đất mịn và nát Bước cuối cùng trong khâu hoàn thành sản phẩm là ve, nạo sản phẩm sau khi sản phẩm đã thành bạc hàng (chuyển màu trắng) Ve, nạo xong sản phẩm được tráng một lớp men lên, tạo màu sắc Chất liệu làm men tráng gồm có: Tro cây rừng (loại cây mà khi đốt, tàn tro trắng như vôi, như tàn thuốc Ngày nay nghệ nhân Phù Lãng thường dùng tứ thiết là lim, sến, táu, nghiến), hai là vôi sống (vôi tả), ba là sỏi ống nghiền nát, bốn là bùn phù sa trắng Bốn chất liệu này, sau khi sơ chế trộn đều với nhau theo một tỷ lệ nhất định rồi để khô, đập nhỏ cho vào nước, gạn qua rây bột, từ đó chế thành một chất lỏng quánh, vàng như mật ong Khi sản phẩm còn ẩm, người thợ dùng chổi lông quét men lên bên ngoài của sản phẩm một lớp mỏng thích hợp rồi đem phơi Sau khi quét men và phơi khô, sản phẩm có màu trắng đục Sản xuất men là cả một bí quyết kỹ thuật mà người thợ thủ công ngày xưa giữ kín
Sau công đoạn vào men và tạo mầu, phơi khô, sản phẩm được đưa vào lò nung ở nhiệt độ đến 1.000 độ C, để đảm bảo gốm sành nâu có lớp da ngoài đanh mặt, nhẵn bóng và chắc Xếp sản phẩm trong lò nung phải tuân theo nguyên tắc tiết kiệm tối đa không gian trong lò Chi phí cho mỗi mẻ đốt lò trung bình cũng phải 25 đến 30 triệu đồng, nếu không nắm vững kỹ thuật chọn đất, đốt lò thì cả mẻ gốm phải bỏ đi Một lò thường được một nghìn
Trang 32sản phẩm và phải đun liền trong ba ngày ba đêm Vì vậy những sản phẩm đạt tiêu chuẩn phải có mầu da lươn vàng óng hay mầu cánh dán, khi gõ vào sản phẩm có tiếng vang Trước đây gốm Phù Lãng được nung bằng phương pháp truyền thống với rất nhiều nguyên liệu hỗn tạp, rẻ tiền và dễ kiếm như: rơm,
rạ, cỏ, lá, tre, nứa… nhưng do nhiều lần cải tiến lò nung, yêu cầu kỹ thuật và nhiệt độ trong lò được nâng cao hơn nên người dân Phù Lãng dùng củi gỗ để đốt Mặc dù nằm tiếp giáp với vùng than (Quảng Ninh) nhưng người dân Phù Lãng không dùng than để nung gốm mà vẫn dùng củi gỗ chính là vì nhờ sự biến nhiệt khác nhau tạo ra những vết táp trên bề mặt gốm mà không phương pháp nào có thể thay thế nổi Cách nung gốm truyền thống bằng những lò đốt củi đã khiến cho gốm Phù Lãng luôn mới nhưng lại vẫn giữ được những nét nguyên sơ bí ẩn, luôn là sự khám phá và sáng tạo không giới hạn Nhiều tác phẩm về mặt lý thuyết tưởng như thất bại nhưng lại tạo ra những hiệu quả thẩm mỹ không ngờ có giá trị nghệ thuật cao mà những người làm ra nó cũng không thể tưởng tượng nổi Xương đất sét có màu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt
độ cao, xương gốm chuyển màu gan gà, với hai màu men chủ đạo là nâu vàng
và nâu đen (thường gọi là men da lươn) Câu "Nhất xương nhì da, thứ ba dạc lò" là để nói về công nghệ làm gốm đầy kỳ công để cho ra đời những sản phẩm đẹp, mang hồn đất Kinh Bắc của người dân Phù Lãng
Gam màu chủ đạo của gốm Phù Lãng vẫn là gam trầm nguyên thuỷ, tưởng như nó đứng một cõi riêng bên ngoài cuộc sống hiện đại, nhưng lại không phải vậy, nó đi vào cuộc sống tự nhiên như khí trời Gốm Phù Lãng có nét sắc thái riêng biệt, đó là những sản phẩm gốm men nâu, nâu đen, vàng nhạt, vàng thẫm, vàng nâu mà người ta gọi chung là men da lươn Nếu vẻ đẹp của Bát Tràng là sự đa dạng về nước men, những nét vẽ tinh tế, thì hồn cốt của Phù Lãng được tạo nên từ sự dân dã, mộc mạc của nước men da lươn này Thêm nữa, nét đặc trưng nổi bật của gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi
Trang 33theo hình thức chạm bong, còn gọi là chạm kép các đề tài: tứ linh, nghê, hạc, mặt hổ phù, chữ Thọ, cánh sen, sóng nước… Đối với những sản phẩm được sản xuất đại trà như gốm dân dụng, người Phù Lãng rất ít trang trí Tuy nhiên, gốm Phù Lãng có ưu thế ở chất men màu tự nhiên, bền và lạ, dáng của gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất với lửa, và rất đậm nét của điêu khắc tạo hình
Trên cái chất liệu mà hàng trăm năm trước cha ông từng dùng, những nghệ nhân của làng gốm đã tạo ra nhiều dòng sản phẩm khác nhau, từ bình hoa đến các vật dụng trang trí khác như đèn ngủ, các bức phù điêu, gạch trang trí, tranh… Các đường nét có thể được vẽ, khắc chìm hay đắp nổi… thậm chí khoét lỗ nhằm khắc hoạ chân dung một thiếu nữ, một bông hoa sen được cách điệu, một con thuyền, những mái ngói lô xô, những ô cửa sổ… hay đơn giản hơn đó chỉ là những mảng khối đầy ngẫu hứng theo phong cách Châu Âu để tạo ra những “mắt” gốm Cũng vì lẽ đó mỗi sản phẩm gốm Phù Lãng là một
cá thể được tạo ra bởi sự sáng tạo của bàn tay và khối óc người thợ cùng với
sự thăng hoa của tạo hoá, là sự tri ân giữa đất và người
Năm 1998 gốm mỹ thuật bắt đầu xuất hiện khi có những nghệ nhân thế hệ mới được đào tạo từ trường mỹ thuật Người khởi đầu cho dòng sản phẩm này
là anh Vũ Hữu Nhung, hiện là giảng viên trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội Các nghệ nhân với kiến thức được học tại các trường mỹ thuật đã thổi hồn vào đất, sáng tạo và phát triển những tinh hoa của nghề gốm với nghệ thuật tạo hình khối, hoa văn mới lạ Nhiều sản phẩm và mẫu gốm mới như tranh gốm, lọ hoa gốm, ấm chén gốm, gốm trang trí, gốm ốp tường, lư hương đã
ra đời và được thị trường đón nhận Thương hiệu gốm Ngọc từ những xưởng gốm mỹ thuật bắt đầu đến được với thị trường nội địa và thế giới Nhiều doanh nghiệp gốm tại Phù Lãng giờ đã mở những chi nhánh, cửa hàng tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh Hay như Gốm Ngọc đã chủ động đưa sản
Trang 34phẩm của mình lên mạng Internet Bước đầu các sản phẩm Gốm Ngọc đã được khách hàng quan tâm chú ý Gốm Ngọc cũng đang tự thành lập cho mình 1 website riêng với sự giúp đỡ của Hội Nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh… Gốm Ngọc hiện đang có 2 cơ sở sản xuất tại huyện Quế Võ, Bắc Ninh, mỗi xưởng sản xuất có khoảng 20 lao động Sản phẩm Gốm Phù Lãng hiện đã có mặt tại nhiều nước Đông Nam Á, Nhật Bản, châu Âu… và được đánh giá cao bởi nó không chỉ là sản phẩm thủ công 100% mà còn bởi sự độc đáo, có giá trị thẩm mỹ cao
Từ khi xuất hiện những xưởng gốm mỹ thuật, du khách đến với làng nghề Phù Lãng nhiều hơn Khách đi tour được dẫn thẳng tới các xưởng gốm thăm các công đoạn làm nghề và chọn mua sản phẩm Khoảng hơn một năm lại đây, dân du lịch “bụi” rất mê đến Phù Lãng bởi mỗi góc vườn, mỗi con đường, mỗi bờ rào là một khuôn hình bình dị, cùng những sản phẩm gốm mộc mạc hấp dẫn du khách Khách du lịch quốc tế đến đây chủ yếu là mua sản phẩm mỹ thuật, bởi vì đây là những món đồ nhỏ gọn Còn những người khách đặc biệt đam mê, họ sẽ đặt hàng mua theo dạng hàng xuất khẩu Do đặc trưng của gốm Phù Lãng là dáng gốm mộc mạc, thô phác, chứa đựng vẻ đẹp nguyên
sơ của đất và đậm nét điêu khắc nên mua làm quà chủ yếu là khách nội địa
* Đối sánh gốm Phù Lãng và gốm Bát Tràng
Nói đến gốm Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thì không thể không kể đến gốm Chu Đậu, gốm Bát Tràng, gốm Phù Lãng Không thể nói loại gốm nào là nhất bởi mỗi một dòng gốm có một vẻ đẹp và sắc thái riêng không dễ
gì pha trộn Cho dù công đoạn làm gốm có thể giống nhau ở một vài khâu nào
đó nhưng mỗi loại gốm lại có cái bí quyết để tạo nên nét riêng biệt trong từng sản phẩm của mình Mỗi một sản phẩm đều chứa đựng trong nó giá trị nhân văn to lớn của mỗi một cộng đồng người Chính điều đó là yếu tố quyết định
Trang 35nhất đến sự phát triển du lịch của làng nghề Trong phạm vi luận văn này, tác giả không có tham vọng đưa đến cho người đọc cái nhìn khái quát, toàn vẹn
về tất cả loại gốm nổi tiếng, nhưng tác giả cũng tiến hành so sánh một số tiêu chí của gốm Phù Lãng với gốm Bát Tràng nhằm tìm ra nét riêng, ấn tượng của gốm Phù Lãng
Sản xuất hàng loạt, các sản phẩm giống nhau Sản phẩm là các đồ gia dụng
Xương đất
(Nguyên
vật liệu)
Xương đất đỏ, mang đậm chất nguyên thủy
Đất sét trắng (cao lanh) trộn với bột Quart
Tạo hình Bằng tay: chuốt Bằng máy và khuôn
Nung Bằng lò đốt củi Bằng lò gaz
Men gốm - Màu da lươn, vàng sẫm, vàng nhạt,
nâu, nước dưa, vàng duối, sành, màu
đỏ của đất
- Màu men chịu lửa trực tiếp
- Màu men trầm ấm
- Men lam, ngọc và men rạn
- Màu men được bảo vệ bởi lớp thủy tinh bên ngoài
- Màu men sặc sỡ với màu xanh lam, màu tam thái, màu huyết dụ… trên nền trắng của xương đất
Trang 36Chủng loại Sản phẩm chủ yếu là chum vại, tiểu,
quách… Gần đây là gốm mỹ thuật trang trí Sản phẩm chủ yếu của các
lò gốm mỹ thuật là để trang trí nội, ngoại thất như chao đèn, tranh ghép,
lọ hoa, lồng đèn…
Sản phẩm là đồ gia dụng: bát, đĩa, ấm chén, lọ hoa, những đồ thông dụng trong đời sống hàng ngày và đồ thờ phụng: độc bình,
lư, đỉnh, đèn thờ, con giống, các loại tượng Phật, tượng Tam Đa…
Trang trí Sử dụng bút tre nhọn vẽ họa tiết
phân mảng, sau đó mới vẽ màu lên
và men được tách bạch không chồng lên nhau Dùng phương pháp chạm khắc và đắp nổi với những họa tiết khỏe khoắn
Sử dụng phương pháp vẽ trực tiếp theo lối “công bút”, vẽ bằng bút lông sau đó phủ men
Qua bảng so sánh trên ta thấy gốm Phù Lãng có nhiều lợi thế hơn gốm Bát Tràng Sản phẩm gốm Phù Lãng không đơn thuần chỉ là sự nhào nặn cố hữu
từ đời này qua đời khác mà trong mỗi sản phẩm là sự kết hợp tuyệt vời giữa tính truyền thống với nghệ thuật đương đại Gốm Phù Lãng có màu men đặc biệt, cách tạo hình độc đáo, chủng loại đa dạng và nhất là đường nét trang trí thì không một làng gốm nào có thể giống với nó Cách tạo hình và nung, rõ ràng gốm Phù Lãng trội hơn hẳn Đó là nhờ cách tạo hình bằng tay của các nghệ nhân Phù Lãng, khác hẳn với phương thức chế tác bằng máy và khuôn của gốm Bát Tràng Nếu như chất men của Bát Tràng sặc sỡ với màu xanh lam, màu tam thái, màu huyết dụ… trên nền trắng của xương đất thì gốm Phù Lãng lại có men trầm ấm màu da lươn, vàng sẫm, vàng nhạt, nâu, sành, màu
đỏ của đất… Men gốm Phù Lãng chịu lửa trực tiếp, được nung bằng lò đốt
Trang 37củi Nhờ đó mà màu men của gốm Phù Lãng rất khác biệt so với các làng gốm khác của vùng đồng bằng Bắc Bộ hay của cả Việt Nam nói chung
Như vậy làng gốm Phù Lãng chính là một địa chỉ văn hóa phản ánh nét văn hóa độc đáo của địa phương nơi đây, nơi hội tụ các giá trị kinh tế - văn hóa- xã hội có tính chất lịch sử, là một bộ phận không thể tách rời của vùng đất Kinh Bắc huyền diệu Tiềm năng du lịch của Phù Lãng là lớn, khả năng thu hút khách du lịch tham quan làng nghề cao, nhưng hiện nay làng gốm Phù Lãng chưa trở thành điểm đến tham quan cho khách du lịch, chưa trở thành chốn dừng chân, là điểm tìm về của những người yêu mến hồn dân tộc nước nhà
So với Bát Tràng, công tác làm du lịch ở Phù Lãng cần phải học hỏi rất nhiều Bát Tràng thu hút được số đông khách du lịch không chỉ vì sản phẩm gốm phong phú mà còn vì có cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ du lịch khá tốt Trong khi ở Bát Tràng, chợ gốm đã được xây dựng và hoạt động từ lâu, các xưởng gốm vừa sản xuất vừa có cửa hàng trưng bày và bán gốm rất chuyên nghiệp, rất nhiều nhà hàng ăn uống hợp vệ sinh có thể đáp ứng nhu cầu cao của khách du lịch Thì ở Phù Lãng, chợ gốm mới được quy hoạch và xây mới
từ năm 2009, hoạt động kinh doanh còn hạn chế, các xưởng gốm chủ yếu là sản xuất, sản phẩm gốm xếp tràn lan khắp sân, vườn, thậm chí cả đường đi cũng có mà không có cửa hàng trưng bày hay cửa hàng kinh doanh ngoài xưởng gốm của anh Vũ Hữu Nhung, chưa có nhà hàng ăn uống phục vụ khách v.v… Nói đến làm du lịch ở Phù Lãng, rất cần ý tưởng sáng tạo, anh
Vũ Hữu Nhung - một người con của Phù Lãng tâm sự “Nhung sẽ thuyết phục dân làng gốm xây dựng một con đường Gốm Phù Lãng từ đường lộ vào làng dài 6 km là những sản phẩm từ bao đời nay như một bảo tàng gốm sứ ấn tượng Anh cũng sẽ mở rộng khu gốm Nhung Phù Lãng như một khu du lịch thu hẹp vừa kinh doanh sản xuất, vừa phục vụ du lịch, giới thiệu các dây
Trang 38chuyền sản xuất, quy trình khai thác cho các tour du lịch và công nghệ bán hàng hiện đại gửi hàng theo contener đến chính quốc Tại công ty sẽ xây dựng khu nghỉ trọ để khách du lịch tham gia vào quy trình một ngày sản xuất ở làng gốm cũng như nhận lại chính sản phẩm của du khách làm ra”[10] Cách làm này Bát Tràng đã thực hiện khá thành công, đồng thời nơi đây còn tạo ra một loại hình vận chuyển khá độc đáo và thuần chất nông thôn Việt Nam, đó là khách du lịch có thể tham quan làng gốm Bát Tràng bằng xe trâu Loại xe này trước đây người nông dân thường dùng để chở lúa thì nay được người dân Bát Tràng cải tiến và trang trí rất đẹp để phục vụ khách du lịch Đó là một cách làm du lịch độc đáo và rất hiệu quả
1.3.3 Lễ hội và Phong tục tập quán
* Lễ hội
Những lễ hội truyền thống đó là sinh hoạt văn hóa, là những phong tục tập quán không thể thiếu trong đời sống Hiện nay, nguồn tài nguyên này đã và đang được khai thác ở những mức độ khác nhau để phục vụ cho phát triển du lịch
Như mọi làng quê khác của vùng đồng bằng Bắc Bộ, làng Phù Lãng cũng
có chùa thờ Phật, đình, đền thờ Thành hoàng làng, cũng có sự lệ, đình đám, lễ hội với nhiều nghi thức trang nghiêm trọng thể, cùng nhiều sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian phong phú hấp dẫn khác
Phù Lãng có hội lớn nhất là hội đình được tổ chức từ ngày 10 đến 16 tháng Giêng hàng năm Trước đây khi chưa có đình thì làng làm lễ tế thành hoàng ở đền với quy mô nhỏ hơn Đình làng Phù Lãng có sắc phong vào thời Nguyễn
Cả ba ngôi đình của ba thôn (thượng, trung, hạ) chỉ có được một hòm sắc, nên
lệ làng chia ra mỗi thôn được giữ hòm sắc một năm Khi làng vào hội, hòm sắc lại được rước từ đình thôn nọ sang đình thôn kia Việc rước hòm sắc cứ
Trang 39thế quay vòng Ngày rước hòm sắc được các vị cao niên, chức sắc của làng chọn, thường trong khoảng từ 10 đến 12 tháng Giêng
Trước ngày vào hội, làng cũng có những cuộc tập dượt, chuẩn bị chu đáo, trong đó ngày mùng 8 – ngày làm lễ rước nước từ sông Cầu về đình được xem là vui và long trọng nhất Vào ngày này, làng chọn mười cô gái đẹp, bơi thuyền rồng ra giữa dòng sông, lấy đầy nước vào một chóe cổ, trên miệng có phủ vải điều Khi thuyền ghé vào bờ, họ đặt chóe nước lên trên chiếc kiệu sơn son thiếp vàng rồi rước về đình Nước này dùng để làm lễ “mộc dục” (tắm tượng) và để làm đồ lễ cúng thần quanh năm Ngày mùng 10 là ngày tế thần Trong số các vật phẩm dâng cúng, ngoài xôi, gà, oản, hoa quả, rượu thịt, có hai đặc sản quê hương thường chỉ được làm vào dịp hội làng là chè kho và bánh dày
Trong suốt 10 ngày hội, ngày nào tại sân đình cũng có các trò vui chơi như: đánh vật, đánh cờ, đánh đu…, ban đêm thì có hát chèo, hát chầu văn, hát trống quân Người dân Phù Lãng vào ngày hội như quên mình để sống với văn hóa tâm linh, tìm lại về nguồn cội xa xưa Du khách đến Phù Lãng vào những ngày hội trong tháng Giêng cũng cảm nhận được không khí trang nghiêm của buổi hành lễ nhưng ấm áp tình người
Ngoài ra, Phù Lãng cho đến năm 1945 vẫn còn gìn giữ được tín ngưỡng cầu mưa được tổ chức vào tháng ba âm lịch hàng năm tại chùa Cao Lễ cầu mưa bắt đầu từ cuộc rước nước dưới sông Cầu lên đỉnh núi Cáng (chùa Cao nằm trên đỉnh núi Cáng, có chiều cao so với mặt bằng khoảng 100m) Nước được đựng trong một chóe (hoặc một be sành) phủ vải điều Các bô lão trong làng với trang phục khăn xếp, áo thụng, thân hành rước nước lên gò Đi kèm cuộc rước nước này có cờ, quạt, trống ầm ĩ, kéo dài cho tới khi người hành lễ đọc văn cầu đảo Từ sau năm 1951, khi chùa Cao bị tàn phá, lễ cầu mưa này
Trang 40chỉ còn được lưu truyền trong các câu chuyện kể của người dân cho thế hệ con cháu đời sau
* Tục thờ tổ nghề
Làng Phù Lãng có phong tục thờ tổ nghề gốm và tôn thờ sư tổ Lễ sư tổ gốm ở Phù Lãng được những gia đình làm thợ tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng với nghi thức đơn giản, phù hợp với hoàn cảnh từng gia đình Thông thường mỗi nhà làm mâm cỗ dâng cúng tổ nghề phù hộ cho họ một năm làm
ăn may mắn và gặp nhiều thuận lợi Vào ngày đốt lò đầu tiên trong năm (thường là sau ngày lễ sư tổ), gia đình người thợ nào cũng sửa soạn một mâm
lễ đặt lên trên “đậu lò” (ống khói) để cầu khấn một năm đốt lò thuận lợi, làm
ăn phát đạt, có nhiều mẻ gốm đẹp
* Tục lệ cưới gả con gái
Cũng như hầu hết các làng quê của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, những tục lệ ở làng Phù Lãng như: khao vong, giỗ, tết, kết chạ không có gì khác biệt Duy chỉ có tục cưới hỏi thì mang một số nét đặc trưng riêng của các làng gốm Ngày nay, những phong tục ấy đã đôi nét khác xưa nhưng tập quán Phù Lãng không gả con gái cho người làng ngoài vẫn tồn tại Đây là điều thường xảy ra trong các làng nghề truyền thống thủ công Cùng xuất phát từ mục đích bảo lưu nghề nghiệp, giữ gìn bí quyết trong công nghệ và trong phương thức làm ăn, nhưng mỗi nơi có một quy lệ khác nhau Phù Lãng cho phép con gái học nghề nhưng không cho phép lấy chồng thiên hạ Có câu châm ngôn rằng “Nam thú đồng hương, nữ giá bản quán” (Nghĩa là: Trai khôn lấy vợ cùng làng, gái khôn khén bạn đồng sàng cùng quê) Người làm gốm từ khi còn nằm trong bụng mẹ đã biết làm gốm, cho nên khi lên năm, lên
ba đã quen dần với đất, lò, củi, cỏ Thợ gốm có thể chỉ cần nhìn bề mặt nguyên liệu cũng đánh giá được chất lượng và phân loại, đất nào có thể làm