ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC LÀNG CHÀI TRÊN VỊNH HẠ LONG ..... Nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch vì sự phát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ HƯƠNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC LÀNG CHÀI TRÊN VỊNH HẠ LONG
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
Hà NộI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ HƯƠNG
NGHIẤN CỨU PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC LÀNG CHÀI TRẤN VỊNH HẠ LONG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Mục tiêu nghiên cứu 10
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
7 Bố cục của luận văn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 16
1.1 Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 16
1.1.1 Khái niệm 16
1.1.2 Vị trí của du lịch sinh thái trong hệ thống các loại hình du lịch 20
1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 21
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái 23
1.2 Cơ sở lý luận du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 23
1.2.1 Khái niệm 23
1.2.2 Khả năng tham gia của cộng đồng với hoạt động phát triển du lịch 26
1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái dựa vào
cộng đồng 28
1.2.4 Mục tiêu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 29
1.2.5 Các điều kiện phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 29
1.2.6 Năng lực của cộng đồng 31
1.2.7 Qui trình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 32
1.2.8 Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 34
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC LÀNG CHÀI TRÊN VỊNH HẠ LONG 36
Trang 42.1 Khái quát về Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh
Hạ Long 36
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long 37
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 38
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 43
2.2.3 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng phục vụ du lịch 53
2.2.4 Chính sách 53
2.2.5 Công tác quảng bá 54
2.3 Năng lực và thái độ của cộng đồng 55
2.3.1 Cơ cấu và trình độ lao động 55
2.3.2 Thái độ ứng xử của cộng đồng 58
2.3.3 Khả năng tham gia du lịch của cộng đồng địa phương 60
2.4 Thực trạng hoạt động du lịch tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long 61
2.4.1 Khái quát hiện trạng hoạt động du lịch của Vịnh Hạ Long 61
2.4.2 Khách du lịch 62
2.4.3 Doanh thu du lịch 63
2.4.4 Cơ sở hạ tầng du lịch 64
2.4.5 Thực trạng tham gia và hưởng lợi của cộng đồng 67
2.4.6 Hiện trạng khai thác du lịch tại 3 làng chài trên Vịnh Hạ Long 71
2.5 Nguyên nhân và thách thức phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long 76
Tiểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC LÀNG CHÀI TRÊN VỊNH HẠ LONG 79
3.1 Định hướng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 79
3.1.1 Những cơ sở cho việc định hướng: 79
3.1.2 Định hướng phát triển sản phẩm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng: 80
Trang 53.1.3 Định hướng phát triển tuyến, điểm du lịch 82
3.1.4 Định hướng thị trường khách du lịch 86
3.2 Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 86
3.2.1 Quan điểm thực hiện giải pháp: 86
3.2.2 Giải pháp về cơ chế, chính sách đầu tư 86
3.2.3 Giải pháp về nguồn lực 88
3.2.4 Giải pháp tăng cường giáo dục thuyết minh bảo vệ môi trường 95
3.2.5 Thông tin, quảng cáo 96
3.2.6 Đảm bảo an ninh, an toàn 96
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1 Bảng trình độ lao động của ba làng chài trên Vịnh Hạ Long 57
Bảng 2.2 Thái độ của cộng đồng địa phương với khách du lịch ở làng chài
Cửa Vạn 58
Bảng 2.3 Thái độ của cộng đồng đối với khách du lịch ở làng chài Ba Hang 59
Bảng 2.4 Thái độ của cộng đồng đối với khách du lịch ở làng chài Vông Viêng 59
Bảng 2.5 Khả năng tham gia các dịch vụ du lịch của CĐĐP tại 3 làng chài
(Ba Hang, Cửa Vạn, Vông Viêng) 60
Bảng 2.6 Bảng thống kê lượt khách tham quan Vịnh Hạ Long 61
Bảng 2.7 Thu nhập từ dịch vụ du lịch của người dân ở 3 làng chài trên Vịnh Hạ Long (Ba Hang, Cửa Vạn, Vông Viêng) 70
Bảng 2.8 Mức độ hài lòng của khách du lịch quốc tế 73
Bảng 2.9 Mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa 73
Bảng 2.10 Ý kiến của du khách về các yếu tố hấp dẫn của các làng chài trên Vịnh Hạ Long (%) 74
Bảng 3.1 Định hướng phát triển tour du lịch làng chài 80
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Vị trí của du lịch sinh thái [8,tr16] 21
Hình 1.2 Quy trình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 32
Hình 1.3 Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 34
Hình 2.1 Bản đồ Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 36
Hình 2.2 Biểu đồ Cơ cấu nguồn lao động 55
Hình 2.3 Biểu đồ số lượng khách du lịch đến 3 làng chài từ năm 2008 - 2012 (Ba Hang, Cửa Vạn, Vông Viêng) (ĐVT: người) 62
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng về các mặt kinh tế - văn hóa
- xã hội, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng và trở thành nhu cầu cơ bản không thể thiếu được trong đời sống Hoạt động du lịch đang trở thành “con
gà đẻ trứng vàng” cho nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, ngành du lịch tuy còn non trẻ nhưng đã có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đóng góp những thành tựu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, ngành du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam Vì vậy, mục tiêu của ngành du lịch Việt Nam là phải hoạt động
có hiệu quả, hòa nhập với xu hướng phát triển của khu vực và thế giới
Như chúng ta đã biết, du lịch là một trong những ngành kinh tế “hết sức phụ
thuộc vào môi trường thiên nhiên cũng như các đặc trưng văn hóa xã hội của cư dân bản địa” (Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế tại Việt Nam “Xây dựng
năng lực phục vụ các sáng kiến về du lịch bền vững” Đề cương dự án, 1997) Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà khoa học trên thế giới đã đề cập nhiều đến phát triển du lịch với mục đích đơn thuần là lợi ích kinh tế đang đe dọa môi trường sinh thái và nền văn hóa bản địa Hậu quả của các tác động này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của ngành du lịch Chính vì vậy đã xuất hiện yêu
cầu nghiên cứu “phát triển du lịch bền vững” nhằm hạn chế tác động tiêu cực của
hoạt động du lịch, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Một số loại hình du lịch
đã được ra đời bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi trường và văn hóa bản địa như: du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch mạo hiểm, du lịch khám phá, du lịch cộng đồng đã góp phần nâng cao hiệu quả của mô hình du lịch
có trách nhiệm, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Du lịch bền vững cũng như du lịch cộng đồng ở nước ta vẫn còn là một khái niệm mới Tuy rằng trong thời gian gần đây cụm từ này đã được nhắc đến khá nhiều Thông qua các bài học kinh nghiệm thực tế về phát triển du lịch tại các
Trang 9quốc gia trên thế giới, nhận thức về một phương thức du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng nâng cao hiểu biết và chất lượng cuộc sống cho cộng đồng đã xuất hiện tại Việt Nam dưới các hình thức du lịch tham quan, tìm hiểu với những tên gọi như: du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch thiên nhiên Nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch vì sự phát triển bền vững dài hạn, đồng thời khuyến khích và tạo các cơ hội tham gia của người dân địa phương, trong những năm qua, loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
đã và đang được triển khai tại nhiều địa phương trong cả nước: Bản Lác - Mai Châu (Hòa Bình), Suối Voi - Lộc Tiên - Phú Lộc (Thừa Thiên Huế), vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn), thôn Sín Chải – Sa Pa (Lào Cai), đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng) Tuy nhiên việc phát triển một số mô hình tại các địa phương còn mang tính thí nghiệm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm cho từng khu vực Do đó, công tác triển khai vẫn còn chậm và chưa đi vào nề nếp, chưa hoạt động hiệu quả theo đúng quy tắc của du lịch cộng đồng, du lịch bền vững
Nằm trong lòng Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long tồn tại một cộng đồng dân chài sinh sống thủy cư, tụ cư hình thành nên bảy làng chài trên Vịnh Hạ Long Trong đó tập trung chủ yếu nhất là ở ba làng chài: Ba Hang, Vông Viêng, Cửa Vạn Khác với các làng chài dọc bờ biển Việt Nam, dân chài nơi đây cư trú hoàn toàn trên biển Chính địa hình hàng ngàn đảo đá che chắn như những bức tường thành vững chắc chắn sóng to, bão lớn đã tạo điều kiện hình thành bộ phận
cư dân sinh sống trên mặt biển Cuộc sống của họ gắn với chiếc thuyền từ khi sinh
ra cho đến khi chết, nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác Không gian sinh tồn của họ là vùng biển nước mênh mông chập chùng hàng nghìn hòn đảo, phụ thuộc vào mùa vụ tôm cá Không những thế, cộng đồng ngư dân trên vịnh Hạ Long còn
là chủ nhân của những giá trị văn hóa truyền thống mang đậm yếu tố biển
Tụ cư ở trung tâm Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long nhưng cuộc sống của những người dân chài nơi đây gặp rất nhiều khó khăn, phải đối mặt với sóng gió, cái đói cái nghèo luôn đeo đẳng cuộc sống của họ, trình độ học vấn thấp kém Từ khi Hạ Long trở thành Di sản thế giới, các làng chài và cuộc sống
Trang 10của những người dân chài đã trở thành điểm đến thu hút du khách song việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch cho đến nay vẫn còn ở mức thấp, chỉ có một số ít hộ tham gia và hưởng lợi từ du lịch Trong khi đó nguồn lợi thủy hải sản ngày càng suy giảm, nhiều bản sắc văn hóa truyền thống ngày càng bị mai một mất đi do sự chi phối của nền kinh tế thị trường Do đó, việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa cộng đồng của các làng chài trên vịnh Hạ Long một mặt góp phần nâng cao đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội; phục dựng các giá trị văn hóa truyền thống của ngư dân thủy cư trên vịnh Hạ Long và tạo một sản phẩm du lịch mới mang tính bền vững là hết sức cần thiết
Để góp phần quảng bá, giới thiệu những giá trị đặc sắc của Vinh Hạ Long tăng sức hấp dẫn với du khách; giảm tải lượng khách tại các tuyến điểm du lịch truyền thống; thay đổi sinh kế nâng cao đời sống vật chất và ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ Di sản của cộng đồng dân cư, phát triển hơn nữa hoạt động du lịch
ở Quảng Ninh nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng, tác giả đã lựa chọn đề tài: “
Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Du lịch học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long
- Nâng cao mức sống CĐĐP, giảm áp lực tới môi trường & tài nguyên du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long
Trang 114 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, nhiệm vụ quan trong của đề tài là tập trung nghiên cứu và làm rõ các vấn đề sau:
- Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
- Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên vịnh Hạ Long
- Thực trạng hoạt động du lịch sinh thái tại các làng chài trên vịnh Hạ Long
và mối quan hệ giữa du lịch với cộng đồng địa phương
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên vịnh Hạ Long
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tác giả đã sử dụng phương pháp này nghiên cứu các tài liệu đã thu thập được nhằm tìm ra bản chất và thực trạng của đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở kế thừa các tài liệu đã được công bố, những công trình nghiên cứu, tạp chí, internet, sách, báo, tài liệu thu thập từ các hãng lữ hành, báo cáo của UBND tỉnh, Sở Văn hóa thể thao và du lịch, Ban quản lý Vịnh Hạ Long…để thu thập thông tin, có những đánh giá, phân tích nhận định đúng đắn, khách quan
Sử dụng phương pháp này sẽ giúp tác giả có sự nhìn nhận tổng quan về sự phát triển thành công hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại một số quốc gia cũng như các địa phương khác của Việt Nam, qua đó rút ra bài học hữu ích cho Quảng Ninh
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành tham vấn các nhà quản lý và các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch ở trung ương và địa phương để hoàn thiện kết quả nghiên cứu
5.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này được sử dụng nhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nhằm bổ sung, chỉnh sửa, cập nhật số liệu, thông tin đã thu nhập Đồng thời việc trực tiếp tham quan, khảo sát tại địa
Trang 12phương đã giúp tác giả đánh giá sâu sắc hơn về thực trạng hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại địa phương
Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu được tiến hành tập trung vào tháng 3 năm 2012
5.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, tham khảo ý kiến của một số người chuyên môn ở địa phương về thực trạng hoạt động sinh thái ở ba làng chài trên Vịnh Hạ Long nhằm làm căn cứ cho những nhận xét, đánh giá của mình Sử dụng phương pháp phỏng vấn, đánh giá nhanh và điều tra bảng hỏi Cụ thể tác giả tiến hành điều tra bằng bảng hỏi đối với người dân địa phương muốn tham gia và khả năng tham gia vào các hoạt động du lịch, thái độ của người dân địa phương đối với khách du lịch Đối với khách du lịch, tác giả điều tra bằng bảng hỏi đối với khách du lịch quốc tế và nội địa để có những đánh giá nhận xét khách quan về hoạt động du lịch tại đây Qua đó đã giúp tác giả hiểu và có cái nhìn chia
sẻ hơn về cuộc sống, con người nơi đây, hiểu rõ hơn về mong muốn, nguyện vọng của người dân địa phương tham gia làm du lịch cũng như mong muốn của
du khách đến nơi này Từ đó đề xuất một số giải pháp với hi vọng đóng góp nhỏ cho sự phát triển du lịch sinh thái trên Vịnh Hạ Long
6 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
6.1 Trên thế giới
Trong vài thập kỷ trở lại đây, du lịch đã thực sự trở thành một ngành kinh
tế quan trọng và phát triển rộng khắp trên thế giới Cùng với sự phát triển nhanh chóng đó thì sự xuất hiện ngày càng nhiều những tác động tiêu cực của hoạt động
du lịch đối với môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội của lãnh thổ đón khách là một tất yếu Vì vậy các nhà nghiên cứu du lịch đã quan tâm nhiều hơn đến việc đánh giá các tác động này Những người tiên phong trong lĩnh vực này phải kể đến là Budowski (Tourism and Environmental Conservation: Confic Coexistense, Symbiois?, Environmental Conservation, Vol.3, No1, 1976), Mathieson & Wall
Trang 13(Tourism: Physical Environmental, Economic and Social Impacts, Longman, London,1982); Buckley & Pannell (Environmental Impacts of Tourism and Recreation in National Packs and Coservation Reserves, Journal of Tourism studies, Vol.1, 1990), Shaw and William (Critical Issues in Tourism, Blackwell, Oxford, 1994) Các tác giả này cùng với các nghiên cứu của mình đều thống nhất là cần có một loại hình du lịch nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trường
đó là du lịch sinh thái
Khái niệm Du lịch sinh thái bắt đầu được đề cập từ những năm đầu của thập ky 80 của thế kỷ XX Những nhà nghiên cứu đầu tiên và điển hình của lĩnh vực này phải kể đến Boo (Ecotourism: The potential and Pitfalls, Baltimore: Worldwide Fund for Nature, USA, 1990), Ceballos – Lascurain (Tourism, Ecotourism and Protected Areas, IUCN, Gland, Switzerland, 1996) Cùng hàng loạt các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về Du lịch sinh thái của các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này như: Cater (Ecotourism in the Third World: Problems for Sustainable Tourism Development, Ecotourism Managerment, No.4, 1993), Dowling (Ecotourism and Development: Partners in Prpgress, A paper Prepared for the National Regional Tourism Conference, Launceston, Tasmania, 1995), Lingberg and Hawkins (Ecotourism: A guide for Planers and Managers, The Ecotourism Society, North Bennington, Vermont, 1993)
6.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về Du lịch sinh thái xuất hiện nhiều từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước trở lại đây như: Đề tài “Cơ cở khoa học của phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu phát triển
du lịch, trong Hội thảo về Du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam (4/1998) đã tập hợp được sự đóng góp, tham luận của nhiều tác giả (Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Quang Mỹ và nnk, Lê Văn Lanh, Võ Trí Chung ) Các báo cáo chủ yếu tổng quan một số vấn đề lý luận về Du lịch sinh thái và tài
Trang 14nguyên du lịch sinh thái ở Việt Nam Bên cạnh đó còn có các công trình của: Phạm Trung Lương (chủ biên) Du lịch sinh thái – những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, 1998; Đặng Duy Lợi “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”, luận án PTS khoa Địa lý – Địa chất Trường đại học sư phạm
Hà Nội, 1992, Phạm Quang Anh “phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam”, luận án PTS khoa Địa lý – Địa chất, Trường Đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội, 1996, Nguyễn Thị Sơn “Cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Cúc Phương”, luận án tiến sỹ Địa lý, Trường đại học sư phạm Hà Nội, 2000, Chu Thành Huy, “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Hồ Núi Cốc, Tỉnh Thái Nguyên”, luận văn Thạc sỹ khoa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008
6.3 Khu vực nghiên cứu
Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO hai lần công nhận, Kỳ quan thiên nhiên của thế giới do Tổ chức New7wonders bầu chọn, là một trọng điểm trong phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và Việt Nam nói chung Bởi vậy nên, trong những năm qua, có rất nhiều các Công trình nghiên cứu, Hội thảo, Dự án nghiên cứu về Vịnh Hạ Long Trong đó là các nghiên cứu tập trung ở những nội dung chủ yếu: các giá trị của Vịnh Hạ Long, khai thác và phát triển các tuyến du lịch, vấn đề ô nhiễm môi trường, quản lý du khách, đa dạng hóa sản phẩm, phát triển du lịch sinh thái trên Vịnh Hạ Long Nghiên cứu loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long là một vấn đề mới, chưa có công trình nào được công bố Trên cơ
sở kế thừa và tiếp thu các nghiên cứu đi trước, tác giả đã mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu còn mới mẻ trên với hi vọng đưa du lịch của Vịnh Hạ Long nói riêng,
Du lịch Quảng Ninh và Du lịch Việt Nam nói chung phát triển bền vững, mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng cư dân địa phương
Trang 157 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, trích dẫn
và phụ lục, phần nội dung nghiên cứu của luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1 Cơ sở lý luận về Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Chương 2 Điều kiện phát triển và hiện trạng hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài chài trên Vịnh Hạ Long
Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long
Trang 16Có thể nói du lịch là một trong những ngành kinh tế cổ xưa nhất trong lịch
sử nhân loại, ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện những hành vi du lịch đầu tiên: như cuộc hành trình của các nhà hiền triết quanh khu vực Địa Trung Hải để xác định
ra bảy kỳ quan thế giới cổ đại, hay các cuộc” vi hành” nhằm tìm hiểu nhân tình thế thái và thưởng ngoạn những thắng cảnh tự nhiên của các vị Hoàng đế Trung Hoa cổ đại đã được ghi chép trong lịch sử Cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội loại người các hành vi du lịch ngày càng trở nên phổ biến và du lịch
đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ Theo tiến trình phát triển của mình, khái niệm du lịch được mang nhiều định nghĩa khác nhau Trước hết xuất phát từ ý nghĩa của thuật ngữ ”Tour” - bắt nguồn từ tiếng Pháp, nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi; còn ”Tourise” là người đi dạo chơi Tiếp theo khi Hiệp hội các tổ chức du lịch quốc tế – IUIOTO (Internation of Offcial Travel Organization) được thành lập năm 1925 tại Hà Lan, thì du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh Nhìn chung, những định nghĩa truyền thống chỉ xem du lịch đơn giản như là một kỳ nghỉ hay một chuyến đi để giải trí, làm phong phú thêm nhận thức của con người
Cùng với sự phát triển của du lịch, người ta thấy yếu tố kinh tế là không thể thiếu trong khái niệm du lịch Theo xu hướng đó, khái niệm du lịch đã thay đổi cho phù hợp hơn bao hàm các nội dung liên quan đến sự chuyển cư, những hoạt động tại nơi đến cũng như các vấn đề về kinh tế xã hội liên quan Gắn kết cả hai cách nhìn nhận từ phía người du lịch và người kinh doanh du lịch, hai học giả Hoa Kỳ Mathieson Wall đã khái quát như sau: ”Du lịch là sự chuyển tạm thời
Trang 17của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ững những nhu cầu của họ”
Tổ chức Du lịch thế giới WTO (World Travel Organization) cho rằng: ”Du lịch là hành động rời khỏi nơi thường trú để đi đến một nơi khác, một môi trường khác trong thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí nghỉ dưỡng”
I.I Piroogiơnic: ”Du lịch là hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi
liên quan đến sự di chuyển và cư trú tạm thời bên ngoài nơi thường trú nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình
độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ”.[21, tr12]
Luật du lịch Việt Nam 2005, khái niệm du lịch được xác định chính thức
như sau: ”Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Như vậy ta thấy rằng, du lịch là khái niệm bao hàm hai nội dung cơ bản Một mặt mang ý nghĩa là việc nghỉ ngơi, giải trí liên quan mật thiết đến sự di chuyển chỗ ở của khách du lịch Mặt khác, du lịch được nhìn nhận như hoạt động gắn chặt với các hoạt động kinh tế - sản xuất, tiêu thụ những giá trị của lãnh thổ
du lịch Du lịch không chỉ được xem xét trên khía cạnh lợi ích của khách du lịch
mà quan trọng hơn là tác động của hoạt động du lịch đến lãnh thổ du lịch trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội Về phương diện kinh tế, hoạt động du lịch mang lại những thay đổi gì trong cơ cấu kinh tế của địa phương? Lợi nhuận của hoạt động du lịch thuộc về ai? Trên phương diện xã hội, hoạt động kinh doanh du lịch , sự có mặt của du khách có tác động như thế nào đối với đời sống văn hóa,
Trang 18tinh thần của người dân bản địa Giải quyết tốt vấn đề trên, chúng ta sẽ đảm bảo được một nền du lịch bền vững và lợi ích tối đa cho cộng đồng
1.1.1.2 Du lịch sinh thái
Trong những thập niên gần đây, đặc biệt từ sau những năm 1980, trước những ảnh hưởng tiêu cực của các loại hình du lịch đại chúng đối với môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn của các lãnh thổ du lịch Một xu hướng du lịch mới, thu hút sự quan tâm của đông đảo giới khoa học và những nhà quản lý du lịch đó là: Du lịch sinh thái Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm rộng được hiểu với nhiều góc độ khác nhau
Vào đầu những năm 1800, du lịch sinh thái được hiểu là du lịch tự nhiên Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, nghỉ núi… đều được hiểu là du lịch sinh thái Cũng có ý kiến cho rằng, du lịch sinh thái là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có tác động tiêu cực đến
sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái nơi diễn ra các hoạt động du lịch… Phải đến năm 1987 một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh đầu tiên được
đưa ra của Hector Ceballos – Lascurain: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những
khu vực tự nhiên ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý nghĩa trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [8,tr8]
Sau đó, có nhiều định nghĩa về du lịch sinh thái được đưa ra Tuy có cách diễn đạt khác nhau, song các định nghĩa này đề phản ánh được những đặc điểm
cơ bản của Du lịch sinh thái là: bảo vệ môi trường sinh thái và lợi ích của cộng đồng địa phương
Như định nghĩa của Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các
khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn các các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích
về tài chính cho người dân địa phương.”[8, tr8-9]
Trang 19Định nghĩa của Allen (1993): “Du lịch sinh thái được phân biệt với các
loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường Phát triển Du lịch sinh thái sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”.[8,tr9]
Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: “Du lịch sinh thái là
việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.[8,tr10]
Nhìn chung, cho đến nay khái niệm Du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy vậy đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế chính thức về Du lịch sinh thái đều cho rằng Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những giá trị thiên nhiên
và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa
Ở Việt Nam, Du lịch sinh thái là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ khoảng giữa những năm 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Để có sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển Du lịch sinh thái, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN… có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế về Du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan, tổ chức Hội
thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” tháng 9/1999 Hội thảo đã đưa ra định nghĩa về Du lịch sinh thái như sau: “Du
Trang 20lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [11,tr22] Định nghĩa này bao hàm đầy
đủ nội dung của Du lịch sinh thái, thống nhất về cơ bản với các quan niệm của các nhà khoa học trên thế giới
Như vậy, từ định nghĩa được đưa ra vào năm 1987 cho đến nay, nội dung của định nghĩa về Du lịch sinh thái đã có sự thay đổi từ chỗ đơn thuần coi hoạt động Du lịch sinh thái là loại hình du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn nhận tích cực hơn Theo đó du lịch sinh thái là loại hình du lịch
có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Cũng trong tiến trình phát triển đó, Du lịch sinh thái từ chỗ chỉ được nhìn nhận là loại hình du lịch đã dần nâng lên thành quan điểm du lịch chi phối hầu hết các loại hình du lịch khác
Luật du lịch Việt Nam 2005 có định nghĩa: “Du lịch sinh thái là hình thức
du lịch dựa vào tự nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” (khoản 9, điều 4)
1.1.2 Vị trí của du lịch sinh thái trong hệ thống các loại hình du lịch
Nếu nhìn nhận Du lịch sinh thái như một loại hình du lịch thì Du lịch sinh thái cũng như các loại hình du lịch khác, nó tồn tại độc lập và là một bộ phận cấu thành hệ thống các loại hình du lịch
Nếu xét Du lịch sinh thái như một quan điểm du lịch thì tất cả các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa nếu đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của Du lịch sinh thái: giáo dục môi trường, bảo tồn và phát triển bền vững, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương đều được coi
Trang 21bảo vệ, phục hồi môi trường tự nhiên và các giá trị nhân văn đặc sắc đồng thời nâng cao đời sống vật chất cho công đồng cư dân bản địa Theo cách hiểu đó, vị trí của du lịch sinh thái được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.1 Vị trí của du lịch sinh thái [8,tr16]
1.1.3 Các đặc trƣng cơ bản của du lịch sinh thái
Bản chất của hoạt động du lịch nói chung và Du lịch sinh thái nói riêng là quá trình sử dụng những giá trị đặc trưng của các loại tài nguyên du lịch tự nhiên và
Trang 22nhân văn kết hợp với các điều kiện về cơ sở hạ tầng, dịch vụ của lãnh thổ nhằm tạo
ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn mang lại lợi ích cho xã hội
Du lịch sinh thái là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả các đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung như: tính đa ngành, tính đa thành phần, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi phí, tính xã hội hóa Bên cạnh đó Du lịch sinh thái cũng có những đặc trưng riêng, bao gồm:
- Tính giáo dục cao về môi trường [8,18]: Du lịch sinh thái hướng con người,
du khách tiếp cận gần hơn với hoạt động bảo vệ môi trường Bằng các tài liệu, các nguồn thông tin, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan… nhằm nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn cho du khách Giáo dục môi trường trong Du lịch sinh thái có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ, định hướng hành vi của du khách, cộng đồng và chính ngành du lịch đối với các giá trị bảo tồn và sẽ góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của các dạng tài nguyên du lịch
- Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là đặc trưng nổi bật
của Du lịch sinh thái vì nó được phát triển trong những môi trường có những hấp dẫn ưu thế về tự nhiên, văn hóa bản địa đặc sắc Vì thế, trong du lịch sinh thái hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng các dạng tài nguyên phục vụ du lịch phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sự dụng các phương tiện, dịch vụ, tiện nghi của du khách thấp Các hoạt động trong Du lịch sinh thái thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường
- Khuyến khích cộng đồng tham gia và hưởng lợi ích từ du lịch: Du lịch
sinh thái cải thiện đời sống , tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương trên cơ
sở cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào việc quản lý, vận hành, kinh doanh dịch vụ Du lịch sinh thái
Đó cũng là cách để người dân có thể trở thành những người bảo tồn tích cực
Trang 23Những lợi ích mang lại từ Du lịch sinh thái phải lớn hơn sự trả giá về môi trường
và văn hóa - xã hội có thể nảy sinh trên lãnh thổ du lịch
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái [8, tr 19-21]
- Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường,
qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn
- Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
- Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
1.2 Cơ sở lý luận du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Cộng đồng
Cộng đồng là một trong những khái niệm xã hội học có nhiều tuyến nghĩa khác nhau cũng như đối với tất cả các khái niệm xã hội học khác về cơ cấu xã hội, khuôn mẫu, văn hóa, quy định hay thiết chế xã hội Hơn nữa cộng đồng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, mỗi ngành lại chế tạo ra đối tượng riêng của mình tạo nên những nét nghĩa khoa học khác nhau về khái niệm cộng đồng
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách tương đối rộng rãi để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội Rộng nhất là nói đến những khối tập hợp người, các liên minh rộng lớn như cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nước ASEAN… Nhỏ hơn danh từ này được áp dụng cho một kiểu, hạng xã hội căn cứ vào những đặc tính tượng đối về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo như : cộng đồng người Do thái, cộng đồng người da đen tại Chicago… và nhỏ hơn nữa danh từ cộng đồng còn được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, nghề nghiệp, thân phận xã hội như các đảng phái, những nhóm người lái xe taxi, nhóm người khiếm thị, khiếm thính…
Trang 24Tóm lại, có hai cách hiểu về cộng đồng : cộng đồng tính và cộng đồng thể Cộng đồng tính: là thuộc tính hay là quan hệ xã hội có những đặc trưng mà các nhà xã hội học đã cố gắng xác định và cụ thể hóa
Cộng đồng thể: là những nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều thể có qui mô khác nhau, đó là các thể nhỏ, thể vừa, thể lớn và thể cực lớn, kể từ gia đình đến quốc gia và nhân loại
Mặc dù có hai cách hiểu khác nhau nhưng không phải là đối lập nhau mà một cộng đồng thường mang những đặc điểm sau đây :
- Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này đôi khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt, tương quan thân mật
- Có sự liên hệ về những tình cảm, cảm xúc cá nhân trong những nhiệm vụ
và công tác xã hội của tập thể
- Có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa
- Một ý thức đoàn kết với những người trong tập thể
Khi đề cập đến khái niệm cộng đồng, cũng cần phải hiểu được các thành phần tạo nên một cộng đồng Đó là :
- Địa vực: Trong rất nhiều định nghĩa về cộng đồng, địa vực là một yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất Địa vực là cơ sở để ta xác định ranh giới của cộng đồng để phân biệt giữa cộng đồng này với cộng đồng khác
- Yếu tố kinh tế: Yếu tố này có ý nghĩa trong sự tồn tại của cộng đồng Kinh
tế không những đảm bảo về chất lượng cho cuộc sống của những người trong cộng đồng mà còn là đòn bẩy của sự phát triển và có sự phát triển kinh tế thì mới
có sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ở mỗi cộng đồng khác nhau thì nghề nghiệp cũng khác nhau Sự đa dạng của các nghề nghiệp khác nhau cũng góp phần tạo nên sự đa dạng của các ngành nghề trong cộng đồng
- Yếu tố văn hóa : Đây là biểu thị có tính tổng hợp khi nhận biết cộng đồng, trong đó, đặc biệt chú ý đến các khía cạnh như: truyền thống lịch sử, tộc người,
Trang 25tôn giáo, hệ thống giá trị chuẩn mực, phong tục, tập quán…Tất các các yếu tố này tạo nên nền văn hóa độc đáo của cộng đồng
1.2.1.2 Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Được đánh giá là phân khúc tăng trưởng nhanh nhấ t trong các loa ̣i hình du lịch, du lịch sinh thái (DLST) trong những năm gần đây đã đem lại nguồn thu đáng kể cho nhiều quốc gia Để đảm bảo cho DLST có thể hoàn thành cả hai mục tiêu: bảo tồn và phát triển lâu dài, từ thực tế trên người ta đã tiếp cận đến một khía cạnh mới đó là phát triển DLST dựa vào cộng đồng Vấn đề này cũng đã có nhiều khái niệm và định nghĩa đưa ra
Theo Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009): “Du lịch sinh thái cộng
đồng là một hình thái du lịch trong đó cụ thể là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”
Theo Tổ chức Respondsible Ecological Social Tour (1997): Du lịch sinh thái cộng đồng “là phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng
và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng đời thường của họ”
Keith W.Sproule và Ary S.Suhandi quan niệm: "Du lịch sinh thái dựa vào
cộng đồng là nói tới các tổ chức kinh doanh du lịch sinh thái do cộng đồng sở hữu và quản lý Hơn nữa, du lịch sinh thái bao hàm ý một cộng đồng đang chăm
lo đến tài nguyên thiên nhiên của mình để có thu nhập nhờ du lịch và đang sử dụng thu nhập đó để làm cho đời sống của cộng đồng mình được tốt lên Nó thu hút công việc bảo tồn, công việc kinh doanh và sự phát triển cộng đồng."
Yếu tố “dựa vào cộng đồng” là tạo cơ hội trao quyền cho cộng đồng, tăng cường sự tham gia của họ vào việc ra quyết định, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng Như vậy du lịch sinh thái cộng đồng nhấn mạnh cả ba yếu tố: môi trường, du lịch và cộng đồng
Trang 261.2.2 Khả năng tham gia của cộng đồng với hoạt động phát triển du lịch
Trong tất cả các nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu bền vững trong phát triển nói chung, phát triển du lịch nói riêng, thì sự tham gia của cộng đồng địa phương
đã đặc biệt được quan tâm và khuyến khích Có rất nhiều nguyên nhân khi đề cập đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch
Trước tiên về mặt đạo đức và công bằng xã hội: cộng đồng là những chủ
nhân thực sự của các tài nguyên du lịch, cả tự nhiên lẫn nhân văn mà ngành du lịch dựa vào để thu hút khách Vậy nên họ có quyền tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch trong khu vực Qua đó, họ sẽ tự giác và đóng vai trò chính trong việc gìn giữ tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch nói riêng và sự phát triển bền vững nói chung
Các cộng đồng địa phương không chỉ là những yếu tố thu hút khách trong rất nhiều trường hợp mà còn là nguồn nội lực to lớn cho các hoạt động phát triển
du lịch, điều này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển Họ chính là nguồn nhân công với chi phí thấp nhất trong các dự án đầu tư phát triển du lịch, điều mà các nhà đầu tư rất quan tâm nhằm tạo ra hiệu quả chi phí trong đầu tư Hơn nữa, với nguồn kiến thức bản địa phong phú của mình, nếu được đào tạo hướng dẫn thì chính họ là những người phục vụ du khách tốt hơn ai hết trong các hoạt động nghiệp vụ du lịch như: đón tiếp, phục vụ ăn nghỉ, dẫn đường và hướng dẫn khách thăm quan
Về mặt vĩ mô, sự tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch của cộng đồng còn đóng góp vào việc bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội vùng sâu, vùng xa, xoá đói giảm nghèo, giảm chênh lệch giữa các vùng trong phát triển, định canh định cư, ổn định an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội, chính trị, văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng
Có 7 mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch, cụ thể như sau:
Mức độ 1:Thụ động Cộng đồng không có quyền và trách nhiệm xem xét,
dự báo về tương lai của hoạt động phát triển Những thông tin này chỉ chia sẻ
giữa các tổ chức bên ngoài cộng đồng
Trang 27Mức độ 2: Đưa tin Cộng đồng chỉ có trách nhiệm trả lời câu hỏi mà
không có vai trò, ảnh hưởng tới nội dung cần xử lý cho hoạt động phát triển Kết
quả xử lý thông tin không được chia sẻ với cộng đồng
Mức độ 3: Tư vấn Cộng đồng được tham khảo ý kiến và quan điểm của
cộng đồng có được lưu ý Tuy nhiên cộng đồng không được tham gia vào quá trình ra quyết định
Mức độ 4: Khuyến khích Sự tham gia vào các hoạt động phát triển của cộng
đồng sẽ được khuyến khích bằng vật chất hay tinh thần, do vậy cộng đồng thường sẽ
không tiếp tục tham gia khi những khuyến khích này không còn
Mức độ 5: Chức năng Cộng đồng tham gia vào hoạt động phát triển theo
nhóm với các mục tiêu chức năng đã được xác định trước, do vậy sự tham gia chưa được đầy đủ vì đã có những quyết định mang tính áp đặt
Mức độ 6: Tương tác Cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết
định sau đó thông tin được phân tích để đưa ra kế hoạch hành động và thực hiện
Mức độ 7: Tự vận động Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát
triển được thực hiện độc lập với mọi can thiệp từ bên ngoài Cộng đồng sẽ tự đưa
ra các sáng kiến và có thể làm thay đổi cả hệ thống
Như vậy, đối với việc người dân tham gia vào hoạt động phát triển du lịch, các phương thức tham gia này của cộng đồng sẽ là một quá trình để xác định và củng cố vai trò của cộng đồng trong công tác quy hoạch, trong quá trình thực hiện, giám sát và đánh giá các hoạt động có ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng còn có thể được nhìn dưới một góc độ khác như sau:
Tham gia vào việc xác định những cơ hội và điểm mạnh cho phát triển:
cộng đồng địa phương hiểu về nhu cầu của họ rõ hơn bất kỳ người bên ngoài nào khác và có những ý tưởng tốt nhất để lập ra các chiến lược phù hợp với các hoạt động du lịch cộng đồng của họ
Tham gia vào quá trình quy hoạch: cộng đồng địa phương nắm được những
hạn chế và tiềm năng tài nguyên của họ có thể sử dụng cho việc xây dựng để đạt được các mục đích hay mục tiêu đã xác định của họ
Trang 28Tham gia vào quá trình thực hiện: mặc dù bị hạn chế về tài chính, nhưng cộng
đồng địa phương cũng có thể đóng góp bằng việc đưa ra những gợi ý, chia sẻ kinh nghiệm và các hình thức giúp đỡ khác và trở thành một phần của chương trình
Tham gia vào việc chia sẻ lợi ích: những lợi ích đạt được từ các hoạt động
du lịch cộng đồng cần được phân phối tới mọi nhóm người có liên quan trong cộng đồng nếu không sẽ không khuyến khích được sự tham gia của họ
Tham gia vào quá trình giám sát và đánh giá: cộng đồng địa phương là
những người bảo vệ các tài nguyên quanh mình và họ có thể theo dõi những thay đổi và sửa đổi các sản phẩm du lịch theo nhu cầu và những gì mà họ cho là tốt nhất theo kiến thức bản địa của họ Họ có thể đánh giá những can thiệp bên ngoài hay nhu cầu sửa đổi
1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Theo TS Võ Quế (2008) nguyên tắc phát triển của du lịch dựa vào cộng đồng bao gồm:
- Cộng đồng có quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện, quản lý đầu tư và có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng
- Phù hợp với khả năng cộng đồng
- Chia sẽ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng
- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng với tài nguyên và văn hóa Theo Tổ chức WTO (2004), các nguyên tắc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng cần phải dựa trên các nguyên tắc của Du lịch bền vững:
- Sử dụng tối ưu nguồn môi trường, duy trì các tiến trình sinh thái học chủ yếu
và giúp bảo tồn nguồn tự nhiên và hệ sinh thái được thừa hưởng
- Khía cạnh xác thực nền văn hóa – xã hội của cộng đồng địa phương, đảm bảo
họ đa xây dựng, kế thừa văn hóa và giá trị truyền thống, đồng thời góp phần vào sự hiểu biết và thông cảm đối với các nền văn hóa khác nhau
- Đảm bảo sự vận hành nền kinh tế lâu dài và ổn định, cung cấp các lợi ích kinh
tế xã hội đến tất cả những người có liên quan nhằm phân bổ công bằng
Trang 291.2.4 Mục tiêu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
- Du lịch sinh thái cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và văn hóa
- Du lịch sinh thái cộng đồng phải đóng góp vào nền kinh tế địa phương
- Du lịch sinh thái cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng địa phương
- Du lịch sinh thái cộng đồng phải mang đến cho khách một sản phẩm có trách nhiệm với môi trường và xã hội
1.2.5 Các điều kiện phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
1.2.5.1 Tài nguyên du lịch
- Khái niệm về tài nguyên: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên,
yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu
du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
- Vai trò của tài nguyên du lịch
+ Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch, chất lượng của sản phẩm và hiệu quả của hoạt động du lịch
+ Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch + Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch
+ Tài nguyên du lịch còn ảnh hưởng đến quy mô, thứ bậc của khách sạn
và quyết định tính mùa vụ đi du lịch của khách du lịch
Các tài nguyên du lịch có thể khai thác phát triển du lịch cộng đồng thường nằm trong nhóm:
- Các tài nguyên nhân văn: gắn với văn hóa dân tộc, đời sống sản xuất, sinh hoạt của người dân
- Tài nguyên tự nhiên: gắn với các hệ sinh thái tự nhiên đặc sắc
Như vậy, căn cứ vào điều kiện này cần đối phát triển du lịch cộng đồng, về
cơ bản tại các khu vực gắn với các vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên, hoặc các khu vực có truyền thống văn hóa lâu đời đều có thể phát triển du lịch cộng đồng
Trang 30Điều kiện đủ để phát triển du lịch cộng đồng là địa điểm nơi tổ chức hoạt động du lịch có tồn tại cộng đồng có tính gắn kết cao, có truyền thống, tập quán sinh hoạt, sản xuất độc đáo, hấp dẫn du lịch, có lòng hiếu khách và mong muốn tham gia chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch
Dựa vào đặc điểm tài nguyên và khả năng cung cấp dịch vụ các hình thức
du lịch dựa vào cộng đồng có thể tổ chức là:
- Tham quan cảnh quan: đồng ruộng, xóm làng, sông
- Tham quan và tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp (ruộng vườn, câu cá ), một ngày làm ngư dân…
- Tham quan và tham gia các hoạt động sản xuất tại các làng nghề
- Tham quan và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống, lễ hội
- Tham quan các công trình kiến trúc truyền thống
- Ngủ tại nhà dân
- Tham quan, nghiên cứu các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên
- Tham quan, nghiên cứu, tìm hiểu các kiến thức bản địa
1.2.5.2 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng phục vụ du lịch
Từ năm 2000 về trước, việc đầu tư cơ sở hạ tầng còn rất hạn chế do ngân sách nhà nước chưa bố trí cho hạng mục này Từ năm 2001, thực hiện chủ trương tập trung cho phát triển du lịch tại Công văn số 1095/CP-KTTH, ngày 28/11/2000 của Chính Phủ, ngân sách nhà nước đã được bố trí hỗ trợ đầu tư vào
cơ sở hạ tầng du lịch của các địa phương
Việc sử dụng vốn này tập trung vào xây mới và đưa khách tới khu, điểm
du lịch Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo phát triển du lịch Đặc biệt là đối với những nơi như làng chài trên Vịnh Hạ Long Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đang ngày được nâng cấp, đầu tư đáp ứng nhu cầu du khách
1.2.5.3 Sự ủng hộ của chính quyền
+ Sự ủng hộ của chính quyền địa phương:
- Tạo ra môi trường pháp lý và mục tiêu định hướng phát triển du lịch
- Chính quyền có quyền quyết định trong phạm vi quản lý hành chính lãnh thổ
- Có chính sách của từng địa phương đối với du lịch cộng đồng
- Chính quyền địa phương tham gia tốt vào khâu hỗ trợ an ninh
Trang 31- Chính quyền địa phương sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động du lịch tại địa phương và tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương (làm nhà nghỉ; tạo hành lang pháp
lý; cơ chế mua đất đầu tư phát triển du lịch)
+ Sự hỗ trợ của các tổ chức, dự án, đoàn thể trong vùng: Các đoàn thể khá
tích cực, ủng hộ và sẵn sàng tham gia các hoạt động du lịch trong khu vực như:
hội phụ nữ, hội cựu chiến binh; hội nông dân; đoàn thanh niên
- Tiếp cận được nhiều nguồn lực, thông tin và nghiên cứu
- Có quyền lực và có vốn
- Có định hướng và khả năng thúc đẩy phát triển cộng đồng
- Chính phủ có thể tạo hành lang pháp lý, chỉ đạo sự phối kết hợp phát triển
giữa các bộ ngành, giữa Tổng cục du lịch và địa phương
- Các công ty du lịch quảng bá, tiếp thị tốt cho du lịch cộng đồng
- Các kỹ năng tổ chức xúc tiến và marketing, cộng tác với cộng đồng
- Có vai trò điều phối quan trọng
1.2.6 Năng lực của cộng đồng
Năng lực của cộng đồng được thể hiện là trình độ văn hóa, khả năng tham gia các hoạt động du lịch và thái độ đối với hoạt động du lịch Một trong những khác biệt chủ yếu giữa du lịch cộng đồng và các loại hình du lịch khác là cộng đồng địa phương tham gia vào các quá trình hoạt động kinh doanh du lịch của riêng mình Phát triển năng lực địa phương thông qua nâng cao nhận thức, tổ chức các chương trình giáo dục và đào tạo du lịch và hỗ trợ tư vấn kinh doanh có thể giúp nâng cao tính tự tin, kiến thức và năng lực của cộng đồng địa phương
Trang 32trong việc kiểm soát và quản lý quá trình phát triển của mình Từ đó, dần dần nâng cao tính tự tôn của người dân, tăng cường hợp tác giữa các thành viên cộng đồng và cải thiện năng lực quản lý và điều hành của địa phương Việc phát triển năng lực địa phương trong việc quản lý và giám sát các dự án CBT thường là một quá trình dài và chậm chạp, bắt đầu từ trường học và tiếp tục suốt cuộc đời học tập của người dân cộng đồng Các lĩnh vực chính cần quan tâm là nhận thức về
du lịch, đào tạo kinh doanh du lịch, địa phương kiểm soát các hoạt động du lịch,
và sự tham gia vào quản lý và điều hành ở địa phương
1.2.7 Qui trình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 1.2 Quy trình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Du lịch cộng đồng thường được triển khai thông qua mô hình phát triển với các bước tuần tự sau: tổ chức, nhận dạng các giá trị cộng đồng, xác định tầm nhìn chiến lược, phân tích nguồn lực du lịch, phân tích môi trường vĩ mô và lập kế hoạch marketing
Thiết lập tổ chức:
Phân tích môi trường vĩ mô
Nhận dạng các giá trị cộng đồng Xác định tầm nhìn chiến lược Thiết lập tổ chức
Phân tích nguồn lực du lịch
Lên kế hoạch marketing
Trang 33Thiết lập các tổ chức ở cấp địa phương hay các ủy ban hành động để đưa ra các thủ tục thẩm định, đánh giá Những tổ chức này phải duy trì mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng và thiên về xu hướng hoạt động
Nhận dạng các giá trị cộng đồng:
Xác định những mong muốn của cộng đồng đối với việc tổ chức và tham gia vào hoạt động du lịch Cân nhắc những tác động và tiêu cực lên đời sống cộng đồng địa phương Điều tra trong cộng đồng để nhận dạng những mối quan tâm và giá trị của họ Từ đó, xác định phạm vi cho hoạt động du lịch
Phân tích môi trường vĩ mô:
Xác định các chi phí mang tính kinh tế, xã hội và môi trường do tác động của hoạt động du lịch Lên kế hoạch để giảm thiểu hay trang trải kinh phí
Xác định mục tiêu:
Coi các điểm du lịch như là những đơn vị cụ thể, xác định mục tiêu về các mặt: kinh tế, môi trường và con người Phân tích mối tương quan giữa chi phí và lợi ích từ hoạt động du lịch
Lên kế hoạch marketing:
Triển khai các chiến lược marketing cho mỗi một điểm du lịch
Trang 341.2.8 Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Hình 1.3 Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Cơ quan quản lý
điểm đến
Cộng đồng dân cƣ tại điểm
đến
Tài nguyên du lịch điểm đến Khách du lịch Các nhân tố tác động khác
DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Trang 35Tiểu kết chương 1
Như vậy ở chương 1 tác giả đã đi làm rõ các vấn đề cơ sở lý luận của du lịch sinh thái, du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng để làm cơ sở tiền đề cho những phân tích, đánh giá ở 2 chương sau Qua những phân tích trên, ta thấy rằng cùng với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch như hiện nay, du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ngày càng được quan tâm, nghiên cứu và phát triển Trong đó việc lên kế hoạch và quản lý mô hình này ở mỗi cấp từ trung ương đến địa phương và đến từng hộ gia đình tại địa phương cần hết sức cụ thể Xác định
rõ trách nhiệm của mỗi cấp sẽ phát huy được những đóng góp và hạn chế được những tác động của loại hình này Chính phủ, cơ quan quản lý du lịch quốc gia cần có văn bản công nhận mô hình du lịch dựa vào cộng đồng và có các văn bản pháp quy quy định và quản lý hoạt động của loại hình du lịch này Cơ quan quản
lý du lịch tại địa phương cần quản lý trực tiếp loại hình du lịch theo các quy định tại các văn bản pháp luật và cần kịp thời đề xuất, chấn chỉnh bổ sung những vấn
đề phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai Bên cạnh đó, trách nhiệm trong việc lên kế hoạch và quản lý sự phát triển của loại hình du lịch dựa vào cộng đồng cần có sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và cộng đồng địa phương - những người trực tiếp tham gia vào việc quản lý các nguồn tài nguyên du lịch của khu vực Trong đó, việc nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường, văn hóa, phong tục tập quán, phát triển các chương trình giáo dục cần
có được sự phối hợp, sự tham gia đầy đủ của tất cả các chủ thể trong ngành du lịch
và các bộ, ngành liên quan
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI CÁC LÀNG CHÀI
TRÊN VỊNH HẠ LONG 2.1 Khái quát về Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long
Hình 2.1 Bản đồ Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng
Trang 37Năm 1962, Vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là Di
với 1969 hòn đảo, trong đó
980 hòn đảo đã được đặt tên
Năm 1994, Vịnh Hạ Long được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học
và Văn hóa của Liên hợp quốc) ghi vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng về cảnh quan Khu vực được UNESCO công nhận có diện tích
Năm 2000, Vịnh Hạ Long một lần nữa được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới với giá trị nổi bật toàn cầu về địa chất, địa mạo
Khu vực Di sản thế giới được UNESCO công nhận được giới hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ phía Tây; hồ Ba Hầm phía Nam và đảo Cống Tây phía Đông Vùng đệm là dải bao quanh khu vực bảo vệ tuyệt đối theo hướng Tây - Tây Bắc
và hướng Bắc - Đông bắc, được xác định bởi bờ Vịnh dọc theo quốc lộ 18A, kể
từ kho xăng dầu B12 (Cái Dăm) đến cây số 11 (phường Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả) Chiều rộng khu đệm từ 5 – 7 km tính từ đường bảo vệ tuyệt đối ra biển, phạm vi xê dịch từ 1- 2 km Vùng phụ cận là vùng biển hoặc đất liền bao quanh khu đệm, kể cả vùng biên tiếp giáp với Vườn Quốc gia Cát Bà
Qua 4 năm triển khai chiến dịch vận động bầu chọn cho Vịnh Hạ Long, ngày 30/03/2012 Vịnh Hạ Long được công bố chính thức là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên của thế giới do Tổ chức New7Wonders triển khai bình chọn trên toàn cầu Điều này đã đem đến cho Vịnh Hạ Long một màu sắc mới, thu hút đông đảo khách
du lịch trong và ngoài nước
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại các làng chài trên Vịnh Hạ Long
Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài 3260km Suốt dọc bờ biển của nước ta có rất nhiều cộng đồng ngư dân sinh sống, cộng đồng dân chài trên Vịnh Hạ Long là một trong những nhóm đó Họ là những người sống hòa mình với thiên nhiên bằng những phương pháp khai thác biển truyền thống Đồng thời họ cũng là những người nắm giữ những giá trị văn hóa vật
Trang 38thể, phi vật thể hết sức độc đáo Cộng đồng dân chài trên Vịnh Hạ Long sống rải rác trong các chòm, vụng kín gió thành các làng nổi trên Vịnh Họ chính là chủ nhân của Di sản thiên nhiên thế giới, Kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới – Vịnh Hạ Long Hiện nay trên Vịnh Hạ Long có 7 làng chài sinh sống với hơn 2000 nhân khẩu Các làng chài có những nét đặc trưng tiêu biểu của vùng biển Hạ Long Trong đó, phạm vi đề tài tác giả đi sâu về tiềm năng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng của ba làng chài tiêu biểu trên Vịnh Hạ Long là: Cửa Vạn, Ba Hang và Vông Viêng
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Nằm trong lòng Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, cư dân làng chài trên Vịnh là chủ nhân của Di sản, là người ngày ngày cùng sinh sống, tồn tại, phát triển trên Vịnh Hạ Long, vậy nên tài nguyên du lịch tự nhiên, đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu của làng chài chính là đặc điểm tự nhiên của Vịnh Hạ Long
2.2.1.1 Địa hình, địa chất
* Địa hình
Vịnh Hạ Long là dạng địa hình đảo xen lẫn với các trũng biển, các vùng bãi triều và những đảo đá vôi vách đứng, rất tương phản nhau Các đảo của Vịnh Hạ Long có độ cao khác nhau (phổ biến từ 50 đến 200m), chủ yếu là đảo đá vôi tập trung ở vùng Hòn Gai và đảo phiến thạch tập trung ở vùng Cẩm Phả Những đảo đất của Vịnh Hạ Long thường có người và động vật sinh sống, có thảm thực vật trù phú
Địa hình đáy biển Vịnh Hạ Long tương đối bằng phẳng, chỗ sâu nhất từ 20 – 25m Hầu hết độ sâu của biển vùng này là 5 – 10m, những nơi sâu nhất thường nằm
ở vùng giáp giới với ngoài khơi của vịnh Bắc Bộ, các cửa biển hoặc luồng lạch
* Giá trị địa chất
Giá trị lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long được đánh giá bởi 2 yếu tố, đó là: Lịch sử kiến tạo và địa mạo Karst
- Giá trị lịch sử kiến tạo: Lịch sử địa chất của Vịnh Hạ Long được các nhà
khoa học nhận định trải qua ít nhất trên 500 triệu năm với nhiền lần tạo sơn -
Trang 39biển thoái, sụt chìm - biển tiến Vịnh Hạ Long còn giữ lại được những dấu ấn của quá trình tạo sơn, địa máng vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa lũy, địa hào cổ
Kỷ Cacbon (340 - 285 triệu năm trước) là thời gian nóng ẩm của trái đất, phát triển môi trường đầm lầy thực vật thuận lợi cho hình thành các bể than đá khổng lồ ở châu Âu thì ở Vịnh Hạ Long lại là vùng biển nông, khí hậu khô nóng
để hình thành nên tầng đá vôi dày Trái lại, vào kỷ Trias (240 - 195 triệu năm trước) khi trái đất nói chung, châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ Vịnh Hạ Long ngày nay mới được hình thành trong 8 - 7 nghìn năm qua Nhưng để có vịnh, đã phải có một biển cổ tích tụ tầng
đá vôi dày trên nghìn mét trong khoảng 340 - 240 triệu năm trước, một thời kỳ xâm thực Karst kéo dài trên 20 triệu năm trong môi trường lục địa kỷ Neogen và Nhân sinh, và phải có một biển tiến hành tinh liên quan tới trái đất ấm lên - băng tan trong hơn vạn năm qua
- Giá trị địa mạo Karst: Vịnh Hạ Long có một quá trình tiến hóa Karst đầy
đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều dạng địa hình Karst: Karst bề mặt và Karst
ngầm Các dạng Karst bề mặt gồm có:
Địa hình Karst kiểu Phong Tùng: Gồm một cụm đá vôi thường có hình
chóp nằm kề nhau Các chóp có đỉnh cao trên dưới 100m, cao nhất khoảng 200m
Địa hình Karst kiểu Phong Linh: Đặc trưng bởi các đỉnh tách rời nhau tạo
thành các tháp có vách dốc đứng Phần lớn các tháp có dộ cao từ 50 – 100m Tỉ
lệ giữa các xhiều cao và rộng khoảng 6m Các cụm đồi đá vôi hình chóp nón nằm
kề nhau, điển hình là ở khu đảo Bồ Hòn và Đầu Bê
Cánh đồng Karst: Là những vùng trũng khép kín có đáy rộng và phẳng nằm trong các vùng Karst
Địa hình Karst ngầm: Là hệ thống các hang động đa dạng trên Vịnh, được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm thứ nhất là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là
Trang 40hang Sửng Sốt - động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu
Gỗ, Thiên Long,v.v Nhóm thứ hai là các hang nền Karst tiêu biểu là Trinh Nữ,
Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống v.v Nhóm thứ 3 là hệ thống các hàm ếch biển, tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm Hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang… Karst Vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của Vịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác
Vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều thuần nhất điển hình Biên độ triều vào
độ dao động của độ mặn giữa các tháng trong mùa không lớn
2.2.1.4 Tài nguyên sinh vật
Vịnh Hạ Long đa dạng về hệ sinh thái đồng thời cũng thể hiện sự đa dạng loài, đa dạng nguồn gen, vì khu vực này có điều kiện sinh thái đặc biệt và thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật
Vịnh Hạ Long tồn tại 2 hệ sinh thái lớn: Hệ sinh thái rừng thường xanh
nhiệt đới; Hệ sinh thái biển và ven bờ
Hệ sinh thái rừng thường xanh nhiệt đới: Đây là hệ sinh thái đặc biệt so với nhiều nơi, hệ sinh thái này tồn tại trên các núi đá vôi của Vịnh Hạ Long
Hệ sinh thái biển và ven bờ bao gồm nhiều hệ sinh thái nhỏ, đó là: HST vùng triều có rừng ngập mặn; HST đáy cứng (rạn san hô); HST hang động và tùng áng; HST đáy mềm (cỏ biển); HST bãi triều không có rừng ngập mặn; Dạng