1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn

105 3,3K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch sinh thái được xem như một hướng đi có hiệu quả, một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là loại hình du lịch thiên nhiên có trách nhiệm hỗ

Trang 1

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi

Trêng §¹i häc Khoa häc X· héi vµ Nh©n v¨n

~~~~~~~~~~~~

TRƯƠNG THU HIỀN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

KHU VỰC MẪU SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

LuËn v¨n th¹c sÜ du lÞch

Hµ Néi - 2013

Trang 2

§¹i häc Quèc gia Hµ Néi

Trêng §¹i häc Khoa häc X· héi vµ Nh©n v¨n

~~~~~~~~~~~~

TRƯƠNG THU HIỀN

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

KHU VỰC MẪU SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành:Du li ̣ch Chương trình đào ta ̣o thí điểm

LuËn v¨n th¹c sÜ du lÞch

Hµ Néi - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 9

1.1 Một số khái niệm 9

1.1.2 Khái niệm Du lịch sinh thái (DLST) 9

1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái 11

1.2 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 12

1.3 Các nguyên tắc của hoạt động du lịch sinh thái 15

1.3.1 Có hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường, 15

1.3.2 Bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và đa dạng sinh học 16

1.3.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng 16

1.3.4 Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng

địa phương 17

1.4 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái 18

1.4.1 Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên 18

1.4.2 Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn 21

1.4.2.1 Các điều kiện kinh tế, xã hội 21

1.4.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 23

1.5 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và phát triển 24

1.5.1 Du lịch sinh thái với bảo tồn đa dạng sinh học 24

1.5.2 Du lịch sinh thái với phát triển cộng đồng 26

Trang 4

1.5.3 Du lịch sinh thái với phát triển bền vững 26

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI MẪU SƠN 29

2.1 Giới thiệu khát quát khu du lịch Mẫu Sơn 29

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Mẫu Sơn 30

2.2.1 Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên của Mẫu Sơn 30 2.2.2 Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn của Mẫu Sơn 35

2.3 Hiện trạng hoạt động du lịch sinh thái tại Mẫu Sơn 48

2.3.1 Các hoạt động du lịch 48

2.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 51

2.3.3 Khách du lịch 61

2.3.4 Doanh thu 62

2.3.5 Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch theo các nguyên tắc của du lịch sinh thái 62

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI MẪU SƠN 70

3.1 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 70

3.1.1 Sự cần thiết của định hướng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn 70

3.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của định hướng 72

3.2 Định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực Mẫu Sơn 73

3.2.1 Quan điểm 73

3.2.2 Mục tiêu 74

3.3 Dự báo một số chỉ tiêu phát triển du lịch tại Mẫu Sơn 74

Trang 5

3.3.1 Dự báo lượng khách du lịch đến Mẫu Sơn đến năm 2020 và định

hướng đến năm 2030 74

3.3.2 Dự báo doanh thu từ du lịch của Mẫu Sơn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 77

3.3.3 Dự báo nhu cầu lao động du lịch ở Mẫu Sơn 79

3.4 Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Mẫu Sơn 79

3.4.1 Tổ chức không gian khu du lịch 79

3.4.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch 84

3.4.3 Tạo lập, xây dựng chính sách phát triển phù hợp 86

3.4.4 Phát triển công tác giáo dục bảo vệ môi trường 86

3.4.5 Đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại địa phương 87

3.4.6 Tăng cường hoạt động xúc tiến quảng bá 89

3.4.7 Chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương 90

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng đặc điểm về khí hậu ở Mẫu Sơn 31

Bảng 2.2: Diện tích, dân số và mật độ dân số tại khu vực Mẫu Sơn 40

Bảng 2.3: Mức độ hài lòng của du khách khi tới Mẫu Sơn 62

Bảng 2.4: Nguồn thông tin khách du lịch được biết về Mẫu Sơn 65

Bảng 2.5: Lượng khách thuê hướng dẫn viên và nhận xét về chất lượng hướng dẫn viên ở Mẫu Sơn 66

Bảng 3.1: Dự báo lượng khách du lịch đến Mẫu Sơn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 75

Bảng 3.2: Dự báo lượng khách lưu trú ở Mẫu Sơn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 76

Bảng 3.3: Dự báo lượng khách trong ngày (không lưu trú) ở Mẫu Sơn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 77

Bảng 3.4: Dự báo doanh thu từ du lịch của Mẫu Sơn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 78

Bảng 3.5: Dự báo nhu cầu lao động du lịch ở Mẫu Sơn 79

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch tạo cơ hội lớn cho các nước đang phát triển và kém phát triển Tuy nhiên việc vận dụng và khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho du lịch nhiều lúc, nhiều nơi còn chưa hiệu quả Các địa phương của quốc gia không những không khai thác được hết tiềm năng của các dạng tài nguyên mà còn dẫn tới những tác động không tốt cho môi trường Do vậy, trong những thập kỷ gần đây, việc phát triển kinh tế du lịch phải được gắn với bảo vệ môi trường, phát triển du lịch phải theo hướng bền vững Du lịch sinh thái được xem như một hướng đi có hiệu quả, một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là loại hình du lịch thiên nhiên có trách nhiệm hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng mà vẫn đảm bảo nguồn lợi về kinh tế

Trong những năm trở lại đây, du lịch Lạng Sơn thực sự đã có được sức hút đối với du khách gần xa Số lượt du khách mỗi năm đến với tỉnh ngày càng tăng Lạng Sơn đang nỗ lực để du lịch hấp dẫn du khách hơn trong việc tạo điểm nhấn cho hành trình, gây ấn tượng tốt với mỗi du khách ghé qua đây Có thể nói, một số loại hình du lịch của tỉnh như: du lịch mua sắm, du lịch tín ngưỡng, tâm linh tích cực, vãn cảnh di tích danh thắng, du lịch lễ hội, du lịch biên giới đã và đang thực sự có chỗ đứng trong lòng du khách Ngay từ đầu năm, các ngành chức năng đã tích cực đẩy mạnh các hoạt động nhằm không ngừng tạo điểm nhấn về điểm đến và các loại hình

du lịch ý nghĩa trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương

Vùng núi Mẫu Sơn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn, địa hình đa dạng, có tới hàng trăm ngọn núi lớn nhỏ với những khu rừng nguyên sinh

Trang 8

có nhiều loại cây quý hiếm và hệ thống sông suối khá dày Ngoài các khu rừng nguyên sinh, với đặc điểm khí hậu và địa hình thuận lợi, Mẫu Sơn là vùng có điều kiện rất phù hợp để phát triển trang trại trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày kết hợp trồng rừng Giá trị bản sắc văn hoá truyền thống của đồng bào Dao, Nùng, Tày luôn được duy trì và phát huy, thể hiện qua các sản phẩm ẩm thực độc đáo có tính chất riêng của Lạng Sơn và đồng bào dân tộc nơi đây

Mẫu Sơn được đánh giá là khu vực có tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái với lợi thế về điều kiện khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, những giá trị về bản sắc văn hoá dân tộc thuần khiết của đồng bào các dân tộc sinh sống quanh đỉnh núi đang cần được đầu tư để phát triển và bảo đảm tính

bền vững Chính vì lý do đó mà học viên đã chọn đề tài “Nghiên cứu phát

triển du lịch sinh thái tại khu vực Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn” làm luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu của đề tài là dựa trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch tại khu vực Mẫu Sơn, đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển có hiệu quả du lịch sinh thái, bảo

vệ cảnh quan, môi trường và hỗ trợ cộng đồng địa phương

Nhiệm vụ của đề tài là tổng quan cơ sở lý luận có liên quan; nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST tại Mẫu Sơn; Đánh giá mức

độ đảm bảo các nguyên tắc phát triển DLST và đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển DLST trong khu vực nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu khu vực Mẫu Sơn thuộc địa phận của 3 xã: Mẫu Sơn, Công Sơn huyện Cao Lộc và Mẫu Sơn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ các tài liệu, kết quả nghiên cứu trước đó về loại hình du lịch sinh thái hay các loại hình liên quan tới du lịch sinh thái, các tài liệu về Mẫu Sơn và các hoạt động du lịch tại Mẫu Sơn

* Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phân tích và tổng hợp là việc lựa chọn, sắp xếp các dữ liệu, thông tin

từ các nguồn thứ cấp và sơ cấp nhằm định lượng chính xác và đầy đủ phục

vụ cho mục đích điều tra và nghiên cứu từ đó tổng hợp thành các nhận định, báo cáo hoàn chỉnh nhằm đưa ra một cái nhìn tổng thể về phát triển

du lịch sinh thái tại khu du lịch Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn

* Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực tế được tiến hành tại 3 xã: Mẫu Sơn, Công Sơn huyện Cao Lộc và Mẫu Sơn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn

Khảo sát được tiến hành 2 đợt:

- Đợt 1 (Tháng 12/2011): mục đích tìm hiểu giá trị các tài nguyên du lịch, dịch vụ sẵn có, cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có và đời sống trình độ nhận thức về du lịch sinh thái của cư dân địa phương tại khu vực Mẫu Sơn

- Đợt 2 (Tháng 07/2012): tìm hiểu thực trạng khai thác các điều kiện phát triển du lịch sinh thái tại khu vực, đánh giá và tìm thêm các yếu tố có thể tạo nên các sản phẩm cho loại hình du lịch sinh thái

* Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học là phương pháp quan trọng và không thể thiếu trong đánh giá mức độ chính xác của vấn đề nghiên cứu Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng hiệu quả trong đánh giá nhu cầu của du khách, tìm hiểu những tác động của du lịch tới đời sống của

Trang 10

cộng đồng địa phương Các phiếu điều tra cho biết những thông tin chi tiết mang tính thực tiễn cao Các thông tin thực tế qua quan sát, nghe, trao đổi với khách du lịch, cộng đồng địa phương làm phong phú hơn, góp phần đánh giá một cách khách quan hơn cho đề tài

- Thu thập số liệu sơ cấp bằng phiếu khảo sát: đối tượng điều tra được phát phiếu khảo sát bao gồm khách du lịch nội địa, quốc tế và cộng đồng dân cư địa phương (gồm cả những hộ có và không tham gia hoạt động

du lịch) Phiếu khảo sát bao gồm các câu hỏi mở và đóng Kết quả của phương pháp này là 50 phiếu điều tra trong đó 30 phiếu dành cho khách du lịch nội địa và 20 phiếu dành cho khách du lịch quốc tế

* Phương pháp khác

Phương pháp chuyên gia, phương pháp tham chiếu, phương pháp dự báo… được sử dụng chủ yếu trong quá trình hoàn thành luận văn nhằm kiểm tra tính logic và chính xác của kết quả điều tra và tính khả thi của định hướng và giải pháp

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương với nội dung chính như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại Mẫu Sơn

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Mẫu Sơn

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1.1 Một số khái niệm

1.1.2 Khái niệm Du lịch sinh thái (DLST)

Du lịch sinh thái là một khái niệm mà nó có những quan niệm khác nhau, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một học giả lại đưa ra những ý kiến khác nhau về vấn đề này Nhìn chung, đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau Có người quan niệm DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có tác động tiêu cực đến sự tồn tại

và phát triển của các hệ sinh thái nơi diễn ra các hoạt động du lịch Có những ý kiến lại cho rằng DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh có lợi cho sự bền vững của môi trường Mặc dù những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đưa ra một định nghĩa chung được chấp nhận về DLST nhưng đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế chính thức

về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được những giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các

hệ sinh thái và văn hóa bản địa Dưới đây là một số khái niệm về DLST:

- Định nghĩa DLST của Hector Ceballos - Lascurains được đưa ra năm 1987 : “ Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít

bị thay đổi với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [9, tr.8]

- DLST là một dạng bền vững của du lịch dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, chú trọng chủ yếu vào việc trải nghiệm và học hỏi từ tự nhiên,

Trang 12

được quản lý một cách đúng mực để giảm thiểu tác động, không tiêu thụ

sản phẩm từ tự nhiên và có định hướng vào địa phương trong việc quản lý

lợi ích và quy mô Một cách điển hình thì loại hình du lịch này diễn ra tại

khu vực tự nhiên và đóng góp vào quá trình bảo vệ và bảo tồn những khu

vực đó (David.A.Fenell)

- Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “DLST là việc đi lại có

trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải

thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [9, tr 10]

- Hiểu theo nghĩa hẹp, Elizabeth Boo đã xác định “DLST là loại hình

du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt

nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động

thực vật cũng như các giá trị văn hóa hiện hữu” [24, tr 7]

- Hiểu theo nghĩa rộng, theo Wood (1991): “DLST là du lịch đến các

khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi

trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ

sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự

nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương” [9, tr 9]

Ở Việt Nam, DLST cũng là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ những

năm 1990 trở lại đây Hiện nay đây là lĩnh vực đang thu hút được sự quan

tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý song do sự khác

nhau về cách nhìn nhận và đánh giá về tài nguyên du lịch và tài nguyên du

lịch sinh thái cũng như cách thức khai thác, sử dụng chúng nên vẫn chưa có

sự thống nhất về khái niệm du lịch sinh thái

Tháng 9/1999, Tổng cục Du lịch Việt Nam thông qua việc tổ chức

Hội thảo quốc gia về: “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh thái ở

Việt Nam” đã lần đầu tiên đưa ra định nghĩa về DLST : “Du lịch sinh thái

Trang 13

là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn giáo dục với môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với

sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” [10, tr 11]

Luật du lịch Việt Nam 2005 cũng đưa ra định nghĩa như sau: “Du

lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”

Đây là cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu và quy hoạch phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam

Trên thực tế hiện nay, khái niệm về du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chúng ta có thể nêu ra những đặc tính cơ bản của du lịch sinh thái gồm :

+ Hoạt động du lịch dựa vào thiên nhiên (những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa ít bị thay đổi) với các mục đích khác nhau

+ Là hoạt động du lịch có trách nhiệm, thu hút được sự tham gia của nhân dân địa phương, các tổ chức hoạt động du lịch, chính quyền, chủ nhà

và khách du lịch vào hoạt động bảo vệ môi trường với mức độ giáo dục cao

về môi trường

+ Mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và các bên tham gia

1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch sinh thái

Để hiểu rõ về tài nguyên du lịch sinh thái thì trước hết chúng ta tìm hiểu về tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung

Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu

Trang 14

du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo sự hấp dẫn du lịch”

Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái

cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó [10, tr 36]

Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên DLST mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển

du lịch nói chung, DLST nói riêng, mới được xem là tài nguyên DLST

Tài nguyên DLST bao gồm tài nguyên đang khai thác và tài nguyên chưa khai thác Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên DLST phụ thuộc vào: Khả năng nghiên cứu, phát hiện và đánh giá các tiềm năng nguyên vốn còn tiềm ẩn Yêu cầu phát triển các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách DLST Trình độ tổ chức quản lý đối với việc khai thác tài nguyên DLST, đặc biệt ở những nơi có các hệ sinh thái nhạy cảm Khả năng tiếp cận để khai thác các tài nguyên tiềm năng

1.2 Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái

Trong khi du lịch số đông với đặc trưng là số du khách khá cao, phát triển trên quy mô rộng còn đang tiếp tục phát triển thì vào đầu những năm

1980 đã xuất hiện thuật ngữ “du lịch thay thế” để chỉ tập hợp các loại hình

du lịch có tính đến yếu tố môi trường, xã hội Du lịch sinh thái xuất hiện với tư cách là loại hình du lịch thay thế có sức hấp dẫn lớn Nó là thuật ngữ được sử dụng đầu tiên bởi Hertzer vào giữa những năm 1960 nhằm giải thích mối quan hệ phức tạp giữa khách du lịch với môi trường tự nhiên và

Trang 15

văn hóa địa phương mà theo ông chúng có sự tương tác với nhau để định hình một hiện tượng được gọi là eco-tourism (ecological tourism) - du lịch sinh thái

Theo Hertzer có bốn điểm được xem là những tiêu chí chính của một điểm du lịch sinh thái có trách nhiệm bao gồm: sự tác động tối thiểu đến môi trường, tác động tối thiểu và tôn trọng tối đa nền văn hóa địa phương, mang đến lợi ích tối đa cho những người dân thường ở địa phương, làm thỏa mãn tối đa nhu cầu thăm quan, nghỉ ngơi, giải trí của khách du lịch khi tham gia vào hoạt động du lịch

Trên thực tế, chuyến du lịch sinh thái đầu tiên được tổ chức tại Châu

Âu và tại Mỹ vào những năm 1980, thành phần du khách là tầng lớp thượng lưu, điểm đến là những công viên quốc gia như Yellowstone, Yosemit, họ phải trả chi phí gấp 3 lần so với một chuyến du lịch Châu Âu trong cùng thời điểm Qua đó có thể thấy được tầm quan trọng trong nhận thức của con người về một loại hình du lịch phải trả tiền để bảo vệ môi trường thiên nhiên, nói một cách khác đây là một sự bù đắp cho những mất mát của tự nhiên để nó được bảo tồn tốt hơn trong tương lai

Chúng ta cần phải hiểu rằng du lịch sinh thái không đồng nghĩa với

du lịch thiên nhiên hay du lịch xanh Khi nói đến những loại du lịch trên là chỉ nói đến đối tượng của chúng còn không đề cập gì đến việc chúng có được tiến hành theo phương thức bền vững hay không bền vững Hơn nữa những loại hình du lịch này chưa chú trọng vào nâng cao nhận thức về thiên nhiên, văn hóa, môi trường cho khách du lịch và những người tham gia hoạt động du lịch Chỉ khi những đặc điểm cơ bản của du lịch sinh thái được gắn với những dạng du lịch này thì chúng mới chuyển thành các dạng

cơ bản của du lịch sinh thái Cũng không nên coi hoạt động du lịch sinh

Trang 16

thái chỉ diễn ra tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên mặc dù đây là loại hình rất phổ biến

Du lịch sinh thái mang những đặc trưng cơ bản sau:

- Tính đa ngành: thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ du lịch Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau

- Tính đa thành phần: biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và hoạt động du lịch

- Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử, văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội

- Tính liên vùng: biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một quần thể các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau

- Tính mùa vụ: biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm

- Tính chi phí: biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền

- Tính xã hội hóa: biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã hội tham gia vào hoạt động du lịch [10, tr 18]

Ngoài ra, du lịch sinh thái phát triển trên địa bàn phong phú về tự nhiên và các yếu tố văn hóa bản địa Du lịch sinh thái mang tính giáo dục

cao về môi trường Góp phần bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên và duy trì

tính đa dạng sinh học Với tính giáo dục cao, du lịch sinh thái hình thành và

Trang 17

nâng cao ý thức trách nhiệm và bảo vệ các nguồn tài nguyên Du lịch sinh thái đem lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương và đặc biệt mang lại nguồn lợi tài chính phục vụ cho bảo tồn Mặt khác, du lịch sinh thái sẽ khuyến khích chính phủ và các đơn vị tư nhân khác quan tâm đầu tư vào du lịch sinh thái cũng như công tác bảo tồn và bảo vệ môi trường để đảm bảo

sự phát triển bền vững

1.3 Các nguyên tắc của hoạt động du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái được tổ chức và hoạt động dựa trên các nguyên tắc hướng tới sự phát triển bền vững Những nguyên tắc này cần được tuân thủ chặt chẽ và nghiêm túc nhằm đảm bảo DLST hoạt động có hiệu quả về mọi mặt, đạt sự cân bằng giữa phát triển và bảo tồn Đó là:

1.3.1 Có hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường,

Hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường

Khi tham gia DLST, du khách được cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm và thông tin đầy đủ, có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa bản địa, góp phần thỏa mãn nhu cầu của du khách Từ đó, du khách sẽ có thái độ tích cực và nỗ lực hơn trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của khu vực Với nguyên tắc này, DLST đảm bảo được sự cân bằng giữa phát triển

du lịch và bảo vệ môi trường Đây chính là điểm khác biệt nổi bật giữa DLST với các hoạt động du lịch khác Để diễn giải thành công, các nhà hoạch định, các nhà quản lý và những nhà trực tiếp diễn giải cần phải quan tâm tới điểm sau: Đó là mỗi du khách đều có những đặc điểm, sở thích và khả năng cảm nhận khác nhau vì thế họ phải nhận ra sự khác nhau này cũng như những nét chung để diễn giải thích hợp với nhu cầu đông đảo du

Trang 18

khách Để thu được kết quả tốt, họ phải thường xuyên cập nhật thông tin, kinh nghiệm với du khách mà còn có thể nhận được sự phản hồi từ phía du khách

1.3.2 Bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái và đa dạng sinh học

Đối với DLST, đây được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản quan trọng cần tuân thủ, bởi vì:

- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của DLST

- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động DLST

Sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường, duy trì các hệ sinh thái cần thiết và bảo tồn di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học là nền tảng quan trọng trong phát triển du lịch lâu dài Với nguyên tắc này, mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái

1.3.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng

Du lịch sinh thái tôn trọng bản sắc văn hóa xã hội của cộng đồng đón tiếp, bảo tồn kiến trúc di sản văn hóa đang tồn tại và các giá trị truyền thống Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái

đó Để đáp ứng yêu cầu này cùng với việc bảo tồn môi trường tự nhiên, DLST coi việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương

Trang 19

có ý nghĩa quan trọng và là một nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình hoạt động

1.3.4 Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu của du lịch sinh thái, phù hợp với nguyên tắc phát triển bền vững Hầu hết các hoạt động du lịch khác đều không hoặc rất ít quan tâm tới việc cải thiện đời sống cũng như mang lại lợi ích cho người dân địa phương Điều này dẫn tới sự bất bình đẳng trong xã hội làm ảnh hưởng to lớn tới phát triển Tuy nhiên, DLST đặc biệt quan tâm tới việc thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động của mình, cùng với đó là chia sẻ lợi nhuận thu được nhằm cải thiện môi trường sống của họ Có rất nhiều lý do để DLST quan tâm lôi kéo cộng đồng địa phương vào hoạt động của mình:

- Du lịch ngày càng khẳng định mình là một ngành kinh tế quan trọng, nó góp phần giải quyết việc làm và có doanh thu ngày càng tăng DLST phát triển mang lại nguồn thu nhập đáng kể Vì thế, DLST có thể mang lại cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập và giải quyết được tình trạng nghèo đói cho người dân địa phương

- Cộng đồng địa phương là những người sinh sống trên mảnh đất của

họ nhưng lại không được hưởng bất kỳ quyền lợi nào DLST chính là giải pháp mang lại sự công bằng và chia sẻ lợi ích, trách nhiệm với cộng đồng địa phương

- Cộng đồng địa phương phải tham gia hoạt động du lịch với nhiều vai trò khác nhau Họ là những người am hiểu các điều kiện cũng như tài nguyên ở đó nên họ có thể là hướng dẫn viên, là người cung cấp các dịch

vụ cho DLST, bán hàng lưu niệm cho khách; đồng thời là những người tuyên truyền cho công tác bảo tồn Tuy nhiên, một điều kiện rất quan trọng

Trang 20

là người dân địa phương phải tham gia vào công tác quy hoạch, quản lý DLST Họ sẽ đưa ra nhiều ý kiến đóng góp bổ ích, và các nhà quy hoạch phải lắng nghe để xem cộng đồng địa phương có chấp nhận những thay đổi

và tác động mà du lịch mang đến Một khi không đạt được sự đồng thuận của cộng đồng địa phương thì DLST và công tác bảo tồn sẽ thất bại Người dân sẽ chống đối bằng các hoạt động tiêu cực như không chấp nhận sự có mặt của du khách hoặc có thái độ không thân thiện, săn bắn động vật hoang

dã, chặt phá rừng…

- Khi du lịch sinh thái thực sự đem lại nguồn thu nhập đáng kể trong cộng đồng địa phương thì công tác giáo dục và chăm sóc sức khỏe ở địa phương cũng được cải thiện Trình độ dân trí được nâng cao góp phần làm giảm sự gia tăng dân số

Con người là mục tiêu quan trọng của hoạt động phát triển, DLST luôn hướng tới đem lại lợi ích cho con người DLST không chỉ có ý nghĩa đối với du khách, chính phủ và các nhà khoa học mà các nhà DLST còn công nhận cộng đồng địa phương là thành viên quan trọng phải được chia

sẻ quyền lợi và trách nhiệm, sự tham gia của cộng đồng địa phương là yếu

tố quyết định DLST thành công hay thất bại

1.4 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái

1.4.1 Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo các căn cứ và sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch thì có một số yếu tố hấp dẫn du khách như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn và tài nguyên

sinh vật

*Vị trí địa lý

Khoảng cách từ nơi du lịch đến các nguồn khách du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với nước nhận khách du lịch Nếu nước nhận khách ở xa

Trang 21

điểm gửi khách, điều đó có ảnh hưởng đến khách trên ba khía cạnh chính Thứ nhất, du khách phải chi thêm tiền cho việc đi lại vì khoảng cách xa Thứ hai, du khách phải rút ngắn thời gian lưu lại ở nơi du lịch vì thời gian

đi lại mất nhiều Thứ 3, du khách phải hao tốn quá nhiều sức khỏe cho đi lại Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khoảng cách xa từ nơi đón khách đến nơi gửi khách lại có sức hấp dẫn đối với một vài loại khách có khả năng thanh toán cao và tính hiếu kỳ vì sự tương phản, khác lạ giữa điểm du lịch và điểm nguồn khách

*Khí hậu

Những nơi có khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích Nhiều cuộc thăm dò đã cho kết quả là du khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá ẩm hoặc quá nóng, quá khô Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho sự phát triển của du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Ví dụ du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp không mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải

Số ngày mưa phải tương đối ít vào thời vụ du lịch biển Điều đó có nghĩa là địa điểm, vùng hoặc đất nước du lịch cần có mùa du lịch tương đối khô Mỗi một ngày mưa đối với du khách là một ngày hao phí cho mục

Trang 22

đích của chuyến đi du lịch và như vậy làm giảm hiệu quả của chuyến đi nghỉ biển

Khách du lịch thường chuộng những nơi có nhiều ánh nắng mặt trời, do vậy họ đổ đến những nước phía nam có khí hậu điều hòa và có biển Những nơi có số giờ nắng trung bình trong ngày cao thường được ưa thích và có sức hút hơn đối với du khách

Nhiệt độ cao khiến con người có cảm giác khó chịu Nhiệt độ không khí phải ở mức cho phép khách du lịch phơi mình được ở ngoài trời nắng là nhiệt

độ thích hợp

Trong các yếu tố của khí hậu, nhiệt độ và độ ẩm có liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng chính đến cảm giác của con người Qua quan trắc và nghiên cứu, người ta đã rút ra được mối quan hệ giữa điều kiện khí hậu (chủ yếu là độ ẩm và nhiệt độ) với cảm giác hay sức chịu đựng của con người Các nhà khoa học đã xác lập được một số chỉ tiêu gọi là chỉ tiêu sinh khí hậu để đánh giá mức độ thuận lợi về mặt khí hậu đối với hoạt động du lịch ở các nơi

*Thủy văn

Nước là một là một yếu tố không thể thiếu được để duy trì sự sống của con người Gương nước rộng lớn không những tạo ra một bầu không khí trong lành mà còn có tác dụng rất tốt cho sức khỏe của con người Ngoài tác dụng

để tắm ngâm thông thường, gương nước còn là một phương thuốc khá hiệu nghiệm chữa trị các bệnh stress Đứng trước một gương nước mênh mông lòng người ta trở lên thanh thản hơn, dễ chịu hơn, những sức ép cuộc sống căng thẳng dường như tan biến Chính vì vậy không ít nơi trên thế giới mọc lên những khu du lịch nghỉ dưỡng ven hồ, ven biển, thu hút một số lượng khá lớn du khách từ mọi miền đất nước

*Tài nguyên sinh vật

Thế giới động thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của

du lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và tính đặc hữu Con người thường phấn

Trang 23

đấu để cuộc sống của mình ngày càng đầy đủ về tiện nghi Để đạt được mục đích đấy họ đã làm cho cuộc sống của mình ngày càng rời xa thiên nhiên Trong khi đó, với tư cách là một thành tạo của thiên nhiên, con người lại muốn quay trở về gần thiên nhiên Do vậy, bênh cạnh các loại hình du lịch văn hóa, du lịch về với thiên nhiên, DLST đang trở thành một

xu thế và nhu cầu phổ biến Như vậy thế giới động thực vật hoang dã đang ngày càng hấp dẫn nhiều du khách Những loại động vật, thực vật không có

ở đất nước họ thường có sức hấp dẫn mạnh

Động vật cũng là một trong những nhân tố có thể góp phần thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách DLST Trong đó những loài động vật quý hiếm là đối tượng để nghiên cứu Mọi người rất thích thú khi được tận mắt nhìn thấy cảnh sinh hoạt của các động vật hoang dã trong thiên nhiên

1.4.2 Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn

1.4.2.1 Các điều kiện kinh tế, xã hội

* Cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật là những thứ hấp dẫn bổ sung cho các hấp dẫn chính từ tài nguyên thiên nhiên của khu du lịch Nếu không có các thứ hấp dẫn thứ cấp này sẽ mất đi một lượng không nhỏ những du khách cần đến chúng như một điều kiện cho chuyến đi của mình Thành phần của cơ sở vật chất kỹ thuật trong bao gồm: các cơ sở, công trình kỹ thuật thuộc ngành

du lịch và các cơ sở, công trình thuộc các ngành khác có tham gia vào hoạt động du lịch như giao thông, thương nghiệp, dịch vụ công cộng

Tuy nhiên xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ DLST nên sử dụng các công nghệ hợp môi trường và mang tính tự nhiên Các phương tiện phục

vụ nên xây dựng từ các nguyên liệu và sử dụng các kiến trúc địa phương hạn chế tối đa việc tác động đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái

Trang 24

* Nhân lực

Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai, là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, khi nói đến nguồn nhân lực người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với nhu cầu thị trường lao động Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động

Cũng như bất kỳ một ngành kinh tế nào khác, nhân lực trong ngành du lịch cũng bao gồm hai nguồn nhân lực chính đó là nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp và nguồn nhân lực hoạt động gián tiếp tạo ra những sản phẩm du lịch phục vụ cho nhu cầu của con người và nhu cầu phát triển xã hội Trong đó nguồn nhân lực trực tiếp hoạt động trong ngành du lịch giữ vai trò quyết định sự thành công của ngành kinh tế này Nguồn nhân lực trực tiếp hoạt động trong ngành du lịch, bao gồm:

- Những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Nguồn nhân lực này làm việc trong các cơ quan chuyên ngành của Chính phủ, các Bộ, ngành của Trung ương và địa phương Đó là các cán bộ chuyên môn thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch; các cá nhân và tập thể làm việc tại Tổng cục Du lịch; các bộ phận chuyên trách thuộc sở VHTT&DL ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Những người trực tiếp đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho ngành du lịch Đây là một bộ phận đông đảo trong các trường đại học, cao đẳng, trung học nghề của ngành Du lịch, các khoa Du lịch trong hệ thống các trường đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trên toàn quốc

- Những người làm việc trực tiếp trong ngành du lịch bao gồm: những người làm việc trong các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, những người làm việc trong các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, những người làm việc

Trang 25

trong các doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách du lịch Những người làm việc trong các doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ bổ trợ và các hướng dẫn viên, thuyết minh viên

1.4.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Bên cạnh những tiềm năng DLST tự nhiên - đối tượng chủ đạo của hoạt động DLST, thì tài nguyên du lịch nhân văn (văn hóa bản địa) là một cấu thành không thể tách rời Phát triển DLST mang tính bền vững có mục tiêu giáo dục, duy trì, bảo tồn và phát triển môi trường sinh thái tự nhiên, đồng thời cũng có trách nhiệm bảo tồn và phát triển môi trường văn hóa, nhân văn trong khu vực Nguồn tài nguyên du lịch nhân văn trong các khu sinh thái tự nhiên hay là văn hóa bản địa được hiểu bao gồm cộng đồng dân cư với vốn văn hóa truyển thống của họ như: các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền thống

*Các di tích lịch sử văn hóa

Là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi đất nước và của cả nhân loại Di tích được hiểu theo nghĩa chung nhất là những tàn tích, dấu vết còn sót lại của quá khứ, là tài sản của các thế hệ trước để lại cho các thế

hệ kế tiếp Theo khoản 3 (Điều 4, chương 1) của Luật Di sản văn hóa (2011) thì di tích lịch sử văn hóa được quy định như sau: “ di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” Các di tích lịch sử văn hóa có sức thu hút đặc biệt đối với những khách DLST có trình độ cao, ham hiểu biết

*Các lễ hội

Trong các dạng của tài nguyên nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên có giá trị phục vụ du lịch rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả,

Trang 26

hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí

Các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian và lễ hội của cộng đồng dân

cư ở các khu rừng đặc dụng, khu cảnh quan tự nhiên nếu được tổ chức khai thác tốt sẽ làm tăng giá trị của các sản phẩm DLST

*Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Nghề thủ công truyền thống cũng là loại tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng và có sức hấp dẫn đối với du khách Thông thường, nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người Đây cũng chính là những đặc tính riêng của các nền văn hóa và là sức hấp dẫn của các nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Nhìn chung, tài nguyên DLST là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự hình thành điểm, khu DLST; là động lực chính thu hút khách, quyết định hình thức DSLT Vấn đề đặt ra là cần nắm vững quy luật tự nhiên, khai thác hợp

lý, hạn chế tối đa tác động của con người làm ảnh hưởng nguồn tài nguyên

và không ngừng gìn giữ, bảo vệ chúng

1.5 Quan hệ giữa du lịch sinh thái và phát triển

1.5.1 Du lịch sinh thái với bảo tồn đa dạng sinh học

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên mà sự phong phú của thế giới tự nhiên tại các điểm du lịch sinh thái chính là giá trị của sản phẩm du lịch Vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học hiện nay là mục tiêu của du lịch sinh thái hướng tới trong sự nghiệp bảo vệ môi trường sống chung của nhân loại Đa dạng sinh học là sự khác biệt trong giới sinh học thuộc mọi nguồn, bao gồm các hệ sinh thái ở đất liền, trong địa quyển, ở biển và các phức hợp về sinh thái mà chúng là một bộ phận

Trang 27

Các nguyên nhân gây nên sự suy giảm đa dạng sinh học do nhiều yếu tố với các tác động tiêu cực chính như:

- Việc khai phá và chuyển đổi mục đích sử dụng các vùng tự nhiên

để xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, các khu vui chơi giải trí, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch… sẽ làm mất đi khu hệ cư trú của các loài hoang dã, phá

vỡ các nhân tố sinh sản, nuôi dưỡng, làm chết các cá thể sinh vật…

- Việc đổ đất tôn cao các vùng đất trũng, phá rừng ngập mặn để làm các công trình du lịch ở vùng ven biển sẽ làm mất đi các khu cư trú của nhiều loài sinh vật phát triển trong môi trường sinh thái đất ngập nước

- Việc phá rừng lấy mặt bằng và vật liệu cho các công trình du lịch, đáp ứng nhu cầu về nhiên liệu phục vụ khách du lịch, làm mất đi môi trường cư trú, phát triển của nhiều loài sinh vật trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới…

- Ô nhiễm không khí gia tăng do hoạt động vận chuyển khách du lịch

sẽ tác động đến sự tăng trưởng của nhiều loài sinh vật thậm chí còn là nguyên nhân di chuyển nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã nhạy cảm với môi trường không khí

- Hoạt động của khách du lịch có thể gây tác động làm ảnh hưởng đến sinh lý của động vật, các nhân tố sinh sản, nuôi dưỡng

- Các chất thải và nước thải từ các khu du lịch thiếu kiểm soát sẽ làm nhiễm bẩn các nguồn nước, là nguyên nhân gây bệnh và làm chết nhiều loài động thực vật dưới nước

- Những hành vi thiếu ý thức của khách du lịch khi khám phá thiên nhiên… Như vậy, khi DLST được thực hiện một cách đúng nghĩa thì đa số các tác động tiêu cực đều được giảm thiểu và loại bỏ vì chính bản thân sự phong phú của đa dạng sinh học và các cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn là sản phẩm của loại hình du lịch này Với tính giáo dục trong hoạt động của mình, DLST đem lại cho du khách những hiểu biết mới về môi trường tự

Trang 28

nhiên mà còn tạo cho họ ý thức đối với việc bảo vệ thiên nhiên nói chung, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học nói riêng

1.5.2 Du lịch sinh thái với phát triển cộng đồng

Cộng đồng bao gồm bốn yếu tố: Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; Có sự liên hệ về tình cảm; Có sự tự nguyện hy sinh đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả; Có ý thức đoàn kết với mọi thành viên trong tập thể

DLST là loại hình du lịch đang phát triển nhanh nhất mà nó còn được xem như một cách tiếp cận mới đầy triển vọng trong việc duy trì những khu vực tự nhiên đang bị đe dọa và tạo cơ hội phát triển cộng đồng

DLST thực thụ phải dựa vào một hệ thống quan điểm về tính bền vững và sự tham gia của địa phương, của cư dân nông thôn ở những nơi có tiềm năng lớn về phát triển DLST DLST phải là một nỗ lực kết hợp giữa nhân dân địa phương và những khách tham quan để duy trì những khu hoang dã và những thế mạnh về sinh thái và văn hóa, thông qua sự hỗ trợ phát triển của cộng đồng địa phương Phát triển cộng đồng ở đây có nghĩa

là giao quyền hạn cho những nhóm địa phương để họ kiểm soát và quản lý các tài nguyên có giá trị theo cách không chỉ sử dụng tài nguyên bền vững

mà còn đáp ứng được các nhu cầu xã hội, văn hóa và kinh tế của họ

Có thể nói du lịch là một ngành kinh tế có nhiều tác động tới môi trường hơn bất cứ một ngành kinh tế nào khác do vậy vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý và kinh doanh du lịch là làm thế nào để vừa đẩy mạnh các hoạt động khai thác kinh doanh du lịch trong khi vẫn bảo tồn được các tài nguyên nhằm mục đích phát triển du lịch bền vững

1.5.3 Du lịch sinh thái với phát triển bền vững

Sự tồn tại và phát triển một cách bền vững tài nguyên môi trường đang thu hút được sự quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới Nhu cầu về sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số trên phạm vi toàn cầu

Trang 29

đặc biệt là ở các nước đang phát triển, là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự cạn kiệt của tài nguyên và tình trạng suy thoái môi trường

Tính bền vững của tài nguyên sẽ tồn tại và phát triển khi mức độ sử dụng một tài nguyên không vượt quá mức độ bổ sung của tài nguyên đó

Du lịch bền vững là quá trình quản lý hoạt động du lịch với mục đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn khách du lịch tới một vùng nào đó Quá trình quản lý này luôn hướng tới việc hạn chế lợi ích trước mắt để đạt được nguồn lợi lâu dài từ các hoạt động du lịch

Phát triển du lịch bền vững cần phải tính đến mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên tự nhiên, môi trường và lợi ích kinh tế Tính đến quá trình phát triển trong thời gian lâu dài Phải đáp ứng được nhu cầu hiện tại, song không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của những thế hệ tiếp theo

Du lịch sinh thái có bản chất và mục tiêu hoạt động là đảm bảo cho cả việc bảo tồn và mang lại lợi ích kinh tế, thông qua việc giúp đỡ cộng đồng địa phương quản lý các tài nguyên của họ Đây chính là điểm mấu chốt về bản chất

để coi DLST như một hoạt động bảo tồn giúp cho quá trình phát triển bền vững

về tài nguyên và môi trường

Sự phát triển DLST theo đúng nghĩa sẽ giành được sự ủng hộ của cộng đồng địa phương bởi trực tiếp đem lại công ăn việc làm và lợi ích kinh tế, văn hóa cho họ

Các nhà bảo tồn đã phát triển khái niệm DLST với mục tiêu bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên, thông qua việc giúp đỡ cộng đồng địa phương quản lý nguồn tài nguyên mà họ đang sử dụng Hoạt động du lịch ở đây được xem như một phương tiện hữu hiệu để bảo vệ tài nguyên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Hoạt động du lịch sinh thái không những có ý nghĩa đối với việc bảo tồn

và phát triển bền vững tài nguyên môi trường mà còn mang tính bền vững bởi được sự ủng hộ của người dân địa phương

Trang 30

Tiểu kết chương 1:

Ngày nay, nhu cầu du lịch của người dân càng cao thì hoạt động du lịch càng phát triển Nhất là, trong thời đại đô thị phát triển mạnh mẽ thì con người luôn có xu hướng tìm đến những nơi có khí hậu trong lành, thiên nhiên còn hoang sơ, có những đặc điểm văn hóa độc đáo, mới lạ Nhờ vậy,

mà du lịch miền núi ngày càng phát triển đặc biệt là du lịch sinh thái được phát triển theo hướng bền vững mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương mà không làm biến đổi nền văn hóa truyền thống

Trang 31

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

SINH THÁI TẠI MẪU SƠN

2.1 Giới thiệu khát quát khu du lịch Mẫu Sơn

Khoảng gần 100 năm trước, người Pháp đã phát hiện ra Mẫu Sơn như một viên ngọc được giấu kín giữa rừng già và biến đỉnh núi linh thiêng này thành khu du lịch nghỉ dưỡng lý tưởng Xuất phát từ thành phố Lạng Sơn đi 15km rẽ theo quốc lộ 4B hướng Lạng Sơn - Lộc Bình đến ngã ba Mẫu Sơn, từ đây du khách sẽ phải chinh phục đoạn đường lên núi dài 15km gian nan mà đầy hùng vĩ với những khúc cua uốn lượn gấp khúc liên tục, đến những tay lái cừ khôi nhất cũng chỉ đi với tốc độ 15 - 20 km/h Dọc hành trình với một bên là vách núi dựng đứng còn bên kia vực sâu thăm thẳm, tạo nên một vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vĩ Những người yêu cái đẹp sẽ không thể kìm lòng khi bắt gặp hoa rừng mơn man cùng gió trong ánh nắng vàng, những đám mây vờn núi… Đôi khi, xa xa dưới chân thung lũng ta lại bắt gặp những người dân tộc Dao đỏ đang cặm cụi cày cuốc trên thửa ruộng bậc thang Trên con đường quanh co, gập ghềnh là những nền biệt thự, nhà nghỉ cổ từ thời Pháp thuộc

Càng lên gần tới đỉnh, mây xuất hiện càng nhiều Leo được đến đỉnh núi toàn cảnh khu du lịch Mẫu Sơn hiện ra, còn có thể nhìn thấy cả thành phố Lạng Sơn và sông Kỳ Cùng uốn lượn Tiếp đó, du khách có thể đi du lịch xuống các bản làng khám phá nền văn hoá thôn bản còn nguyên sơ của đồng bào dân tộc Dao, ngắm những rừng đào, rừng chè, những thửa ruộng bậc thang, phong cảnh của vùng núi cao trù phú và hoang sơ Trong khi đi tham quan các bản làng du khách sẽ được chiêm ngưỡng những cây cổ thụ trong rừng nguyên sinh với vô vàn phong lan, rất nhiều loài nấm quý, những loài động, thực vật chỉ có ở Mẫu Sơn

Trang 32

2.2 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Mẫu Sơn

2 2.1 Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên của Mẫu Sơn

2.2.1.1 Địa hình

Mẫu Sơn là vùng núi cao chạy theo hướng đông - tây, nằm ở phía đông bắc tỉnh Lạng Sơn thuộc địa phận chính của 3 xã: Mẫu Sơn, Công Sơn huyện Cao Lộc và xã Mẫu Sơn huyện Lộc Bình, nằm cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía đông, giáp với biên giới Việt - Trung Tổng diện tích tự nhiên là 10.470ha, trong đó đất lâm nghiệp là 5.247,5ha có 1.543ha rừng tự nhiên chiếm 14,74% diện tích toàn vùng Toàn bộ khu vực được liên hệ bởi hai tuyến đường: trục từ thành phố Lạng Sơn đi Lộc Bình tới cửa khẩu Chi Ma và tuyến đường từ Cao Lộc đi cửa khẩu Co Sâu (huyện Cao Lộc) Khu vực núi Mẫu Sơn trải dài trong vĩ độ bắc từ 24o10’ đến

24o21’30”; kinh độ đông từ 106o32’ đến 107o02’; Mẫu Sơn là vùng núi cao của tỉnh, có địa hình đa dạng, độ cao trung bình 800 - 1.000m so với mặt nước biển, bao gồm một quần thể 80 ngọn núi lớn nhỏ với đỉnh cao nhất là Phia Po (1.541m, còn gọi là đỉnh Công hay Công Sơn - nơi đặt cột mốc 42, biên giới Việt Trung), đỉnh Phia mê cao 1.520m, đỉnh Công Mẫu cao 1365m, đỉnh Pá Sắn cao 1170m Các đỉnh núi này xếp thành dãy theo phương vĩ tuyến từ Đông sang Tây, chia thành hai phần gần bằng nhau ở khu vực đỉnh cao Mẫu Sơn Diện tích khu Mẫu Sơn khoảng 550 km² Khu dân cư sống rải rác gần khu rừng trồng, thuộc vành đai thấp với độ cao không quá 700m so với mặt nước biển Ở độ cao trên 800m, nhìn toàn cảnh khu vực Mẫu Sơn là các dãy đồi lượn sóng xen lẫn những đỉnh cao, cảnh quan thật hấp dẫn Đây là vùng đồi núi cao hơn so với các khu vực khác do vậy mà có không gian thoáng, tầm nhìn bao quát rất rộng Những ngày trời quang không có mây mù từ đỉnh Mẫu Sơn có thể nhìn sang tới gần Nam Ninh của Trung Quốc hoặc có thể quan sát phía Tây là trăng treo đầu núi, phía Đông là mặt trời mọc

Trang 33

Hiện nay con đường lên Mẫu Sơn đã được đầu tư nâng cấp nên việc

đi lại giữa khu Mẫu Sơn với các điểm kinh tế quan trọng của khu vực rất thuận lợi (Đi bằng ô tô từ thành phố Lạng Sơn lên Mẫu Sơn mất khoảng 1h30’) Điều đó cho thấy khu vực Mẫu Sơn có nhiều yếu tố thuận lợi cho phát triển du lịch như: Rất gần thành phố Lạng Sơn và các cơ sở kinh tế lớn; có đường đi thuận lợi và chi phí thời gian ít; cao hơn hẳn các khu vực xung quanh với một tầm nhìn không gian rộng Sự đa dạng phong phú về địa hình, địa mạo ở Mẫu Sơn là yếu tố chi phối chủ yếu tới sự hình thành phát triển các yếu tố về sinh học và chính nó đã tạo ra các nét độc đáo, riêng biệt, hấp dẫn của khu du lịch Mẫu Sơn

2.2.1.2 Khí hậu

Vùng núi Mẫu Sơn có khí hậu hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm 15,5ºC Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 7,2 - 13,2oC Về mùa đông có những năm nhiệt độ ở Mẫu Sơn xuống tới nhiệt độ âm và có thể có tuyết rơi, băng đá, đỉnh núi quanh năm có mây phủ Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa hè thường có mưa nhiều, khí hậu

ôn hòa mát mẻ Lượng mưa trung bình 2.225,3mm/năm Nhiệt độ trung bình 16-20,9oC, cao tuyệt đối 24o

C (vào tháng 7) Độ ẩm không khí cao, 92% Dưới đây là những theo dõi về khí hậu ở Mẫu Sơn của trạm khí tượng Lạng Sơn qua bảng sau:

Bảng 2.1: Bảng đặc điểm về khí hậu ở Mẫu Sơn

Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 22oC

Nguồn: Ban quản lý khu du lịch Mẫu Sơn

Trang 34

Ở Mẫu Sơn trong năm có tới 271 ngày có sương mù, hướng gió thịnh hành là Đông Nam và Đông Bắc Đặc điểm khí hậu Mẫu Sơn có nét đặc thù của miền á nhiệt đới và ôn đới Yếu tố địa hình đã chi phối rất lớn tới đặc điểm khí hậu Mẫu Sơn khiến cho vùng núi này mang đặc điểm của khí hậu ôn đới Bởi vì, theo quy luật tự nhiên cứ lên cao thêm 100m nhiệt độ sẽ giảm từ 0,5oC đến 0,6oC Vì thế với độ cao trung bình từ 800-1.000m khí hậu Mẫu Sơn sẽ có nhiệt độ trung bình thấp hơn khu vực thành phố Lạng Sơn từ 4oC đến 5oC và thấp hơn 5o

C - 6oC với vùng đồng bằng Có một điều rất thú vị về thời tiết ở khu núi Mẫu Sơn đó là trời nắng khi đỉnh Mẫu Sơn có mây mù và trời mưa khi đỉnh núi trong xanh

Việt Nam ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên kiểu khí hậu ở Mẫu Sơn thật lý tưởng trong những ngày hè với bầu không khí mát

mẻ, dễ chịu, trong lành và cũng thấy được kiểu khí hậu giá lạnh trong mùa đông của các nước ôn đới mà ở các khu vực thấp phía dưới không có được

Bất kỳ ai đã tới Mẫu Sơn đếu có cảm giác sảng khoái, khỏe khoắn

và trạng thái tâm lý phấn chấn với cảnh không gian thoáng đãng, tự nhiên tươi đẹp Chính là vì khí hậu ở Mẫu Sơn rất thích hợp với yếu tố sinh học của con người Có thể nói tài nguyên khí hậu là thế mạnh của Mẫu Sơn để khai thác du lịch sinh thái

Trang 35

nguồn còn tồn tại một chế độ che phủ thích ứng, có khả năng giữ ẩm Độ

ẩm tương đối trung bình là 92%

2.2.1.4 Hệ động thực vật

*Hệ thực vật:

Địa hình, khí hậu, thủy văn là những yếu tố chi phối đến sự đa dạng trong thế giới động thực vật tại khu vực Mẫu Sơn Trong lịch sử và hiện tại, đây là nơi tập trung sự đa dạng, phong phú về tài nguyên sinh học, về thảm thực vật Theo thống kê của ngành lâm nghiệp ở ba xã khu vực Mẫu Sơn, tổng diện tích rừng hiện nay có 5247ha

Trong đó: +Diện tích rừng tự nhiên: 1543ha

+ Diện tích rừng tái sinh: 3704ha Đặc biệt có rừng nguyên sinh ở địa bàn Lập Pịa (xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình), nằm trên tuyến du lịch leo núi lên đỉnh núi Cha, núi Mẹ Diện tích rừng tái hoa - là một loài cây gỗ quý hiếm ghi trong Sách đỏ Việt Nam

và có một vài loài là những cây gỗ phát triển tốt trên đất thoái hóa

- Nhóm cây cho các bộ phận ăn được: có 50 loài chiếm 10,3% phần lớn là cây ăn quả trồng rải rác trong vườn, phục vụ tiêu dùng tại chỗ (tự sản, tự tiêu), chưa được quy hoạch phát triển thành hàng hóa Loài mắc cọt,

me rừng là những loài mọc tự nhiên cho năng suất quả cao, có giá trị

- Nhóm cây làm thuốc: có 138 loài chiếm 28,45% số loài có ở Mẫu Sơn Đây là nhóm có số lượng loài lớn, rất có giá trị đối với các dân tộc ít người, sống trong điều kiện khó khăn về giao thông, trình độ tri thức hạn chế, tập quán tới bệnh viện sử dụng thuốc tây chưa phổ biến; những loài cây thuốc trong rừng đã đóng góp có hiệu quả đối với việc phòng và chữa bệnh, được đồng bào dân tộc Dao gìn giữ và phát triển trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Trang 36

- Nhóm cây làm cảnh: có 52 loài chiếm 10,72% Khi đời sống kinh

tế phát triển, nhu cầu thưởng thức về tinh thần tăng lên, nhiều loài thực vật

có hình dáng, bộ lá, hoa đẹp đã được khai thác nuôi trồng làm cảnh Một số loài đáng chú ý ở Mẫu Sơn như: tóc thần vệ nữ, thông đất, tai chuột, đỗ quyên, lộc vừng, lan trúc

- Nhóm cây cho dầu, nhựa, tinh dầu: tại khu vực Mẫu Sơn đã thống

kê được 12 loài chiếm 2,47% Một số loài đáng chú ý: thông tàu, trám trắng, trám đen, cánh kiến cho nhựa, màng tang, long não, hương nhu tía, hương nhu trắng, hồi cho tinh dầu, trẩu

Đặc biệt tại vùng núi Mẫu Sơn người ta đã tìm thấy hàng loạt các loài thực vật quý hiếm đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam như: Ngũ gia bì, Kim tuyến, Lá khôi, Mã đậu linh tây, Ô rô bà, Lát hoa, Đẳng sâm, Cốt toái

bổ, Khuyết nhị Hải Nam, Mạch môn, Kò kén gỗ, Bát giác liên, Hoa cánh dài, Ba gạc lá vòng, Thổ phục linh, Thông thảo

Khu du lịch Mẫu Sơn phát triển với quy mô lớn thì các loại cây đặc sản trên cũng sẽ được mở rộng diện tích Hương vị ngọt ngào của chúng sẽ

để lại những kỷ niệm đẹp cho du khách nơi xa, khiến họ sẽ nhớ đến cái đắng, cái thơm, cái đẹp của vùng đất cao xứ Lạng Hiện nay đào trái Mẫu Sơn đã nổi tiếng khắp trong tỉnh và trên cả nước

Tập đoàn cây dược liệu phong phú ở Mẫu Sơn từ lâu đã nổi tiếng và hiện tại vẫn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các bài thuốc nam gia truyền của đồng bào Dao Những loại cây thuốc quý đó là: huyền đắng, dây găm, đỗ trọng nam, ngũ gia bì, ba kích, sa nhân, cây một lá, thất diệp, nhất chi hoa, bát gia liền Đây là thành phần chính cho các đơn thuốc có công dụng chữa được các loại bệnh tê thấp, cao huyết áp, cầm máu, vàng da Đặc biệt là bài tắm lá thuốc phục hồi sức khỏe có giá trị rất cao

Trang 37

Sự hấp dẫn về công dụng, tính độc đáo, an toàn của các loại cây dược liệu ở Mẫu Sơn cùng các bài thuốc gia truyền của đồng bào Dao sẽ là nhân tố lôi cuốn khách tứ phương tới Mẫu Sơn nghỉ dưỡng và chữa bệnh tại đây

Như vậy, với sự đa dạng phong phú về thảm thực vật được thiên nhiên ban tặng cho Mẫu Sơn với thống kê được 187 loài thuộc 61 họ cây trồng, không chỉ có tác dụng về cảnh quan, sự hấp dẫn về môi trường sinh thái mà còn là nơi cung cấp các sản vật địa phương như các loại rau rừng, các loại cây ăn quả, cây dược liệu

*Hệ động vật: Một trong những yếu tố cấu thành đa dạng sinh học

của hệ sinh thái Mẫu Sơn là động vật rừng Theo thống kê thì ở Mẫu Sơn

có 213 loài động vật có xương sống trên cạn bao gồm 39 loài thú, 103 loài chim, 39 loài bò sát, 32 loài ếch nhái Đáng chú ý có 7 loài thú theo tài liệu trước kia có nay không còn đó là: hổ, gấu ngựa, voọc đen má trắng, cầy vằn, báo hoa mai, nai Động vật rừng ở vùng núi Mẫu Sơn tương đối đa dạng có nhiều loài quý hiếm và đặc hữu điển hình cho vùng núi đông bắc của tỉnh Lạng Sơn.Vậy nên chúng có ý nghĩa khoa học lớn cho việc bảo tồn, phát triển những nguồn gen quý và cũng là một trong những nhóm đối tượng nghiên cứu của hệ sinh thái núi cao Trong tương lai hệ động vật có thể đóng góp vào việc phát triển kinh tế địa phương trên cơ sở những biện pháp phục hồi, bảo vệ, phát triển và sử dụng lâu bền nguồn tài nguyên sinh vật

2.2.2 Các điều kiện kinh tế, xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn của Mẫu Sơn

2.2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Trước đây, phần lớn người dân Mẫu Sơn sống dựa vào rừng, trông chờ vào rừng, cuộc sống gặp nhiều khó khăn Thì nay, nhờ sự hỗ trợ về

Trang 38

giống, kỹ thuật và tiền vốn của Nhà nước, nhiều gia đình đã trở nên khá giả

do biết đầu tư sản xuất, tạo ra những sản phẩm nông sản đặc biệt như hồng không hạt, đào xanh, mận tam hoa Ngoài cây trái, người dân còn nuôi ba

ba, ếch hương, cá suối, lợn rừng, gà sáu nên đời sống kinh tế ngày càng

ổn định Giá trị kinh tế gắn với giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện qua việc phát triển các sản phẩm ẩm thực độc đáo của Lạng Sơn, góp phần ổn định đời sống của đồng bào dân tộc nơi đây Bên cạnh đó, với thế mạnh sẵn

có về các sản phẩm nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cũng đã có những chính sách phát triển hiệu quả, một mặt giữ gìn những giá trị kinh tế nông nghiệp sẵn có, mặt khác đầu tư phát triển các cơ

sở sản xuất và kinh doanh nông sản, thực phẩm để thúc đẩy sản xuất, phát triển làng nghề trong các thôn bản đưa nông nghiệp Mẫu Sơn nhanh chóng tiếp cận với thị trường, tạo điều kiện nâng cao thu nhập và mức sống cho đồng bào các dân tộc nơi đây Giúp dân làm giàu bằng nghề để họ không sống du cư, tự phát cũng chính là cách bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên tại vùng núi cao này

Với tổng diện tích gần 10 nghìn ha, trong đó có hơn 5.380 ha đất lâm nghiệp và 1.543 ha rừng nguyên sinh cùng nhiều loại thực vật quý hiếm, Mẫu Sơn đang có điều kiện để phát triển trang trại trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày kết hợp trồng rừng Nhờ làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng nên hiện nay, nạn phá rừng và khai thác lâm, khoáng sản trái phép một thời trở thành điểm nóng của địa phương đã chấm dứt Tại Mẫu Sơn đã hình thành những mảng rừng non được phục hồi sau khai thác Hơn nữa, nhận thức của cộng đồng các dân tộc trong vùng về bảo vệ và phát triển rừng cũng đã có nhiều thay đổi thông qua công tác tuyên truyền nâng cao dân trí của các dự án, chương trình bảo vệ rừng và đa dạng sinh học

Trang 39

2.2.2.2 Cơ sở hạ tầng

* Về giao thông vận tải

Thực hiện Quy hoạch phát triển giao thông vận tải giai đoạn 2006 -

2010 tỉnh Lạng Sơn, trên cơ sở phát huy nội lực của tỉnh, sự hỗ trợ của Trung ương và sự đóng góp của nhân dân theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng xây dựng đường giao thông đến nay cơ sở hạ tầng giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn đã có bước phát triển; mạng lưới giao thông được đầu tư và phân bố khá hợp lý, bao gồm các tuyến đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện và các tuyến đường xã với tổng số trên 3.657 km đường

Khu du lịch Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn 30km về phía Đông Bắc Từ thành phố Lạng Sơn đến khu du lịch Mẫu Sơn có thể đi theo tuyến Quốc lộ 4B, đường tỉnh 235 (Cao Lộc - Ba Sơn) sau đó đi theo đường tỉnh 237B (Bản Tẳng - Mẫu Sơn - Công Sơn - Hải Yến) đến trung tâm khu du lịch Khu du lịch Mẫu Sơn đã từng bước phát triển và đạt được những kết quả nhất định Một số điểm du lịch, khu trung tâm đã xây dựng phát huy hiệu quả; cơ sở hạ tầng giao thông đã và đang được đầu tư đưa vào sử dụng, tạo điều kiện cho du khách đến với Lạng Sơn an toàn, thuận tiện, cụ thể như sau:

- Tuyến đường quốc lộ 4B, đường tỉnh 235 (Cao Lộc - Ba Sơn) là tuyến giao thông quan trọng kết nối hệ thống giao thông từ trung tâm thành phố Lạng Sơn đến khu du lịch Mẫu Sơn Quốc lộ 4B đã được Bộ Giao thông vận tải đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2010 với quy mô đường cấp IV miền núi; đường tỉnh 235 đang triển khai thi công với quy

mô đường cấp VI miền núi, dự kiến hoàn thành đưa vào sử dụng trong quý 1/2012

- Đường tỉnh 237B (Bản Tẳng - Mẫu Sơn - Công Sơn - Hải Yến), điểm đầu tại Km14+200 quốc lộ 4B, điểm cuối tại Km10+100 tỉnh lộ 235

Trang 40

(Cao Lộc - Ba Sơn) chiều dài 27,8km Đây là trục tuyến chính đi qua khu

du lịch Mẫu Sơn Hiện tại tuyến đường chưa được đầu tư hoàn chỉnh; năm

1999 UBND tỉnh đã đầu tư đoạn tuyến từ Bản Tẳng lên đỉnh Mẫu Sơn với quy mô đường giao thông nông thôn loại A, nền đường rộng 5m; năm 2007 tiếp tục đầu tư cải tạo một số đoạn cua bán kính nhỏ, lắp đặt hệ thống an toàn giao thông Tuyến đường được đầu tư đã lâu, quy mô hạn chế, qua quá trình khai thác sử dụng đến nay đã xuống cấp, giao thông đi lại không đảm bảo an toàn Đoạn tuyến còn lại Mẫu Sơn - Công Sơn - Hải Yến, chiều dài 14km, hiện trạng là đường rất nhỏ hẹp, nền rộng từ 3 - 4m, giao thông đi lại khó khăn

- Mạng lưới đường nội bộ tại một số điểm khu vực du lịch: điểm km10 (dài 477,5m); km12 (dài 432,5m) và khu km14 (dài 970,5m) đã được xây dựng từ năm 1999, mặt đường bê tông rộng 3,5m

Tóm lại, hệ thống giao thông khu du lịch Mẫu Sơn tuy đã được đầu

tư nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong khu vực và phát triển hoạt động du lịch tại khu du lịch Mẫu Sơn Tuyến đường chính đến khu du lịch, hệ thống đường nội bộ, đường dạo, bãi đỗ xe đến trung tâm và các điểm du lịch hiện chưa được đầu tư hoàn chỉnh đồng bộ, quy mô các chỉ tiêu kỹ thuật cấp đường còn ở mức độ thấp Thực trạng đó đã ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt, phát triển kinh tế của nhân dân trong khu vực và hạn chế đến sự phát triển của khu du lịch Mẫu Sơn

* Về điện nước

- Hệ thống điện khu du lịch Mẫu Sơn

Bao gồm đường dây 35/0,4KV và trạm biến áp 100KVA Công trình này đã được xây dựng từ năm 2000 với tổng số vốn là: 1.355.044.000VND

Hiện nay Ban quản lý khu du lịch Mẫu Sơn đang trực tiếp quản lý, bán điện cho khu du lịch Mẫu Sơn và nhân dân các thôn bản xung quanh

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Sở Khoa học công nghệ - Sở văn hoá thông tin, Hồ sơ Nghiên cứu - khai quật khảo cổ học khu linh địa Mẫu Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ Nghiên cứu - khai quật khảo cổ học khu linh địa Mẫu Sơn
Tác giả: Sở Khoa học công nghệ, Sở văn hoá thông tin
18. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
19. Trần Văn Thông, Tổng quan du lịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2010), Địa lý du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
22. Trung tâm xúc tiến du lịch Lạng Sơn, Đề xuất biện pháp tăng cường quảng bá khu du lịch Mẫu Sơn trong thời gian tới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất biện pháp tăng cường quảng bá khu du lịch Mẫu Sơn trong thời gian tới
Tác giả: Trung tâm xúc tiến du lịch Lạng Sơn
14. Sở Khoa học công nghệ và môi trường (1999), Điều tra hiện trạng đa dạng sinh học vùng núi Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn Khác
16. Sở Thương mại và Du lịch Lạng Sơn (1998), Báo cáo quy hoạch chi tiết khu du lịch Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn Khác
17. Sở VHTT&DL Lạng Sơn (2011), Báo cáo Kết quả khảo sát thực địa và đánh giá tiềm năng phát triển Khu linh địa cổ Mẫu Sơn Khác
21. Tỉnh uỷ Lạng Sơn (2012), Nghị quyết của Ban thường vụ tỉnh uỷ về phát triển du lịch Khu vực Mẫu Sơn thành điểm du lịch quốc gia Khác
23. UBND tỉnh Lạng Sơn (2011), Tài liệu Hội thảo khoa học về phát triển khu du lịch Mẫu Sơn - Lạng Sơn Khác
24. UBND tỉnh Lạng Sơn (2011), Báo cáo tham luận Thực trạng và giải pháp phát triển hạ tầng giao thông vận tải khu du lịch Mẫu Sơn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng đặc điểm về khí hậu ở Mẫu Sơn - Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 2.1 Bảng đặc điểm về khí hậu ở Mẫu Sơn (Trang 33)
Bảng 2.2: Diện tích, dân số và mật độ dân số tại khu vực Mẫu Sơn - Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 2.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số tại khu vực Mẫu Sơn (Trang 42)
Bảng 2.4: Nguồn thông tin khách du lịch đƣợc biết về Mẫu Sơn  Nguồn thông tin  Khách nội địa  Khách quốc tế - Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 2.4 Nguồn thông tin khách du lịch đƣợc biết về Mẫu Sơn Nguồn thông tin Khách nội địa Khách quốc tế (Trang 67)
Bảng 2.5: Lượng khách thuê hướng dẫn viên và nhận xét về chất lượng - Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 2.5 Lượng khách thuê hướng dẫn viên và nhận xét về chất lượng (Trang 68)
Bảng 3.3: Dự báo lượng khách trong ngày (không lưu trú) ở Mẫu Sơn - Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn
Bảng 3.3 Dự báo lượng khách trong ngày (không lưu trú) ở Mẫu Sơn (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w