1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

139 1,3K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 5,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện hình thành và phát triển đã tạo cho Thái Bình một khối lượng lớn những di tích lịch sử cách mạng, là tiền đề thuận lợi cho hoạt động du lịch văn hóa.. Đã có nhiều nghiên cứu về

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ BÍCH THỦY

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

VĂN HÓA TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ BÍCH THỦY

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

VĂN HÓA TỈNH THÁI BÌNH

Trang 3

MỤC LỤC

Trang MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Bố cục luận văn 9

6 Đóng góp của luận văn 10

CHƯƠNG 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ11 VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH THÁI BÌNH 11

1.1 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa 11

1.1.1 Du lịch văn hóa 11

1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 12

1.1.3 Điểm đến du lịch văn hóa 14

1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa 15

1.1.5 Sản phẩm du lịch văn hóa 16

1.1.6 Khách du lịch đi với mục đích văn hóa 19

1.1.7 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa 20

1.1.8 Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch 21

1.2 Bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa 23

1.2.1 Bài học kinh nghiệm nước ngoài 23

1.2.2 Bài học kinh nghiệm trong nước 28

1.3 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu du lịch văn hóa Thái Bình 31

1.3.2 Những thuận lợi trong hoạt động du lịch văn hóa Thái Bình 32

1.3.3 Những khó khăn trong hoạt động du lịch văn hóa Thái Bình 33

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH THÁI BÌNH 35

2.1 Điều kiện phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình 35

2.1.1 Điều kiện bên trong 35

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

Trang 4

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 35

2.1.1.3 Tài nguyên du lịch văn hóa 36

2.1.2 Điều kiện bên ngoài 55

2.1.2.1 Vị trí của du lịch Thái Bình trong vùng đồng bằng sông Hồng 55

2.1.2.2 Hệ thống chính sách nhà nước về phát triển du lịch 56

2.2 Khảo sát thực trạng du lịch văn hóa Thái Bình 57

2.2.1 Cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa 57

2.2.1.1 Hệ thống cơ sở lưu trú 57

2.2.1.2 Hệ thống cơ sở kinh doanh ăn uống 59

2.2.1.3 Hệ thống cơ sở kinh doanh lữ hành 59

2.2.1.4 Phương tiện vận chuyển khách du lịch 60

2.2.1.5 Các trung tâm văn hóa, thể thao phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí 60

2.2.2 Nhân lực du lịch 61

2.2.2.1 Thực trạng chung nhân lực du lịch Thái Bình 61

2.2.2.2 Lực lượng cán bộ quản lý nhà nước về du lịch 64

2.2.3.3 Nhân lực tại các điểm du lịch văn hóa 66

2.2.3 Thị trường khách du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình 68

2.2.3.1 Thực trạng lượng khách du lịch 68

2.2.3.2 Đặc điểm nguồn khách du lịch 70

2.2.4 Sản phẩm du lịch văn hóa tiêu biểu 72

2.2.4.1 Du lịch tham quan, nghiên cứu các di sản văn hóa 73

2.2.4.2 Du lịch tôn giáo, tín ngưỡng 73

2.2.4.3 Du lịch lễ hội 73

2.2.4.4 Du lịch làng nghề 74

2.2.4.5 Du lịch làng quê 75

2.2.5 Tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa 76

2.2.5.1 Cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương về du lịch 76

2.2.5.2 Chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích 80

2.2.5.3 Các cơ sở và đơn vị kinh doanh du lịch 81

2.2.6 Xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa 82

Tiểu kết chương 2 85

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH THÁI BÌNH 88

Trang 5

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 88

3.1.1 Căn cứ khoa học 88

3.1.1.1 Định hướng phát triển theo ngành 88

3.1.1.2 Định hướng phát triển theo lãnh thổ 91

3.1.1.3 Định hướng đầu tư phát triển du lịch 92

3.1.2 Căn cứ thực tiễn 93

3.2 Những giải pháp phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình 93

3.2.1 Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa 93

3.2.1.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung ương về du lịch 93

3.2.1.2 Đối với đơn vị kinh doanh du lịch 96

3.2.1.3 Đối với chính quyền địa phương 97

3.2.2 Giải pháp về đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật 98

3.2.2.1 Hoàn thiện hệ thống giao thông 98

3.2.2.2 Đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở lưu trú 99

3.2.2.3 Đầu tư xây dựng cơ sở vui chơi, giải trí và các công trình bổ trợ 99

3.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực du lịch 100

3.2.4 Giải pháp về thị trường du lịch 102

3.2.5 Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù 103

3.2.5.1 Xây dựng các điểm du lịch văn hóa tiêu biểu của Thái Bình 103

3.2.5.2 Xây dựng các tuyến du lịch chuyên biệt và kết hợp 108

3.2.5.3 Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch 109

3.2.6 Giải pháp đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch 110

3.2.7 Giải pháp về bảo tồn và phát huy di sản 111

Tiểu kết chương 3 112

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

Trang 6

QĐ-SVHTTDL Quyết định - Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch QĐ-UBND Quyết định - Ủy ban nhân dân

UNESCO (United Nations Educational, Scientific and

Cultural Organization) Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc

Tổ chức Du lịch thế giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1: Cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Thái Bình 57

Bảng 2.2: Hiện trạng phân bố cơ sở lưu trú tại các huyện tính đến tháng 6/2011 57

Bảng 2.3: Hiện trạng chất lượng các cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Thái Bình từ năm 2005 - 2011 58

Bảng 2.4: Hiện trạng về đơn vị kinh doanh lữ hành tại Thái Bình 59

Bảng 2.5: Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ vui chơi giải trí tỉnh Thái Bình 60

Bảng 2.6: Số lao động trong lĩnh vực du lịch của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005 - 2010……….62

Bảng 2.7: Thực trạng nguồn lao động trực tiếp trong du lịch tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005 - 2010 62

Bảng 2.8: Thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch Thái Bình năm 2009 64

Bảng 2.9: Số lượng cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình năm 2011 64

Bảng 2.10: Số lượng cán bộ của Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Thái Bình 65

Bảng 2.11: Đánh giá chất lượng và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực du lịch của tỉnh Thái Bình năm 2009 65

Bảng 2.12: Số khách du lịch đến Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010 68

Bảng 2.13: Mục đích đi du lịch của khách du lịch nội địa đến Thái Bình 70

Bảng 2.14: Mục đích đi du lịch của khách du lịch quốc tế đến Thái Bình 70

Bảng 2.15: Doanh thu du lịch Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010 71

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ MÔ HÌNH

Trang

Sơ đồ 1.1: Những yếu tố văn hóa - xã hội tạo sức hấp dẫn của một vùng du lịch 13

Sơ đồ 1.2: Vòng đời của một điểm đến du lịch 15

Sơ đồ 1.3: Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch 18

Sơ đồ 1.4: Quy trình bảo tồn di sản 22Biểu đồ 2.1: Nguồn lao động trực tiếp trong lĩnh vực du lịch của Thái Bìnhphân theo trình độ đào tạo năm 2010 63Biểu đồ 2.2: Lượng khách du lịch đến Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010 69Biểu đồ 2.3: Doanh thu du lịch Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010 72

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình 76

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu bộ máy tổ chức của trung tâm Xúc tiến Du lịch Thái Bình 77

Trang 9

về bản sắc văn hóa dân tộc, coi đó là vốn để phát triển du lịch Hơn nữa phần lớn hoạt động du lịch văn hóa ở các nước đang phát triển gắn liền với địa phương, cũng thường là nơi còn tồn tại đói nghèo Bởi thế, thu hút du khách tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương Đối với nước ta, du lịch văn hóa cũng được xác định là một trong những loại hình du lịch đặc thù, có thế mạnh và tiềm năng phát triển phong phú, thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế

Thái Bình là tỉnh đồng bằng ven biển có tài nguyên du lịch nhân văn

đa dạng phong phú Hiện nay, loại hình du lịch văn hóa là thế mạnh của du lịch tỉnh nhà Theo thống kê, Thái Bình có hơn 2000 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có gần 100 di tích được xếp hạng Di tích lịch sử và Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, gần 400 di tích cấp tỉnh Các di tích lịch sử - văn hóa được phân bố ở khắp các huyện, thị trong tỉnh là cơ sở để tạo nên nhiều sản phẩm du lịch đặc sắc hấp dẫn du khách

Về địa lý nhân văn, Thái Bình cũng có những đặc điểm riêng Thái Bình không có cư dân tại chỗ, mà từ nhiều địa phương khác, từ rất sớm trong lịch sử, đã tới đây sinh tụ, chung sức chung lòng dựng làng, quai đê lấn biển, với một ý chí quyết thắng Sinh sống trên một vùng đất mới không rộng, mật

độ dân cư cao so với các tỉnh khác vùng đồng bằng, người dân Thái Bình trong cuộc vật lộn dai dẳng và quyết liệt chinh phục thiên nhiên, sóng gió, đầm lầy để nuôi sống mình, đã từ rất sớm tự rèn luyện cho mình một ý chí tự lực, tự cường, mãnh liệt, một tinh thần đấu tranh chống xâm lược Chính trên

cơ sở kết hợp các nhân tố đặc biệt về thiên nhiên và con người mà trong lịch

sử dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc, Thái Bình là nơi sản sinh

Trang 10

nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều danh nhân văn hóa có công với đất nước Thái Bình còn là một trong những địa phương có phong trào cách mạng mạnh mẽ,

là quê hương của “tiếng trống năm 30” Điều kiện hình thành và phát triển đã tạo cho Thái Bình một khối lượng lớn những di tích lịch sử cách mạng, là tiền

đề thuận lợi cho hoạt động du lịch văn hóa

Đã có nhiều nghiên cứu về văn hóa Thái Bình và du lịch văn hóa Thái Bình, ví dụ như: “Văn hóa làng ở Thái Bình” tác giả Phạm Minh Đức - Phạm Hóa, “Di tích khảo cổ học ở Thái Bình” và “Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình” của Bảo tàng Thái Bình, “Danh nhân Thái Bình” và “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thái Bình thời kỳ 2001 - 2010 và định hướng đến năm 2020” của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình, “Địa chí Thái Bình” của UBND tỉnh Thái Bình ấn hành… Tuy nhiên, các công trình trên chưa nghiên cứu riêng về du lịch văn hóa Thái Bình, chưa nghiên cứu tổng thể, toàn diện về du lịch văn hóa Thái Bình Cùng với đó, thực tiễn hoạt động

du lịch văn hóa Thái Bình hiện nay cho thấy sản phẩm du lịch ở đây còn nghèo, đơn điệu, chưa tương xứng với tiềm năng, chưa mang tính đặc trưng của địa phương, chưa tạo được tính cạnh tranh trên thị trường, vì thế chưa thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của du khách Nhiều dự án đầu tư du lịch đã được tiến hành và đi vào hoạt động nhưng nhìn chung hầu hết vẫn ở quy mô nhỏ lẻ,

tự phát, chưa có tính đồng bộ cao hoặc có những dự án lớn nhưng vẫn còn trong tình trạng dang dở

Căn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã lựa chọn

đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình” nhằm tìm ra

những định hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh trong thời gian tới, đưa du lịch văn hóa thành loại hình chủ đạo đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội cho Thái Bình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn khi thực hiện là góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình cũng như góp phần bảo tồn di sản văn hóa trong kinh doanh du lịch của tỉnh

Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tiến hành giải quyết các nhiệm

vụ chính là:

Trang 11

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch văn hóa như: tài nguyên du lịch nhân văn, điểm đến du lịch văn hóa, thị trường, nguồn khách… để từ đó xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, tổ chức thực hiện và quản lý chúng nhằm mục đích phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh Thái Bình

- Nêu ra những đề xuất góp phần phát triển du lịch văn hóa và bảo tồn

di sản văn hóa tỉnh Thái Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thực tiễn hoạt động du lịch văn hóa Thái Bình, cụ thể về các vấn đề:

cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa, nhân lực du lịch, sản phẩm du lịch văn hóa, thị trường khách du lịch, công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa, hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Thái Bình…

- Những kinh nghiệm trong việc bảo tồn, phục hồi, khai thác tài nguyên văn hóa vào mục đích kinh doanh du lịch

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các di sản văn hóa, tài nguyên

du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái Bình Trong đó, luận văn tập trung nghiên cứu một số điểm du lịch có quy mô tương đối lớn, có khả năng hình thành điểm du lịch thu hút khách của Thái Bình

- Phạm vi về thời gian: số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ thời điểm năm

2000 đến nay, các định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh và các giải pháp được đưa ra cho thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

- Phương pháp thống kê, phân loại, so sánh

- Phương pháp khảo sát thực địa

Trang 12

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa

- Hệ thống hóa giá trị nguồn tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

- Nghiên cứu, khảo sát thực tế hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh Trên

cơ sở đó, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

Trang 13

CHƯƠNG 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ

VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH THÁI BÌNH

1.1 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa

1.1.1 Du lịch văn hóa

Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục…, du lịch văn hóa, hiện nay, đang là xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi đem lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội Du lịch văn hóa cũng là một khái niệm có nhiều định nghĩa và nhiều cách hiểu

“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những

di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những

nỗ lực bảo tồn và tôn tạo đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa - kinh tế - xã hội” (ICOMOS)

“Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim” 1

“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa dân tộc và được tổ chức một cách có văn hóa” 2

Ở nhiều nước, nhất là ở Đông Nam Á, về mặt lý thuyết người ta xếp loại hình du lịch văn hóa (Cultural Tourism) vào loại hình du lịch sinh thái (Eco Tourism) bởi cho rằng sinh thái học (Escology) bao gồm cả sinh thái học nhân văn (Human Ecology)

Như vậy, du lịch văn hóa là một loại hình du lịch lấy việc khai thác tài nguyên văn hóa làm mục đích, khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển như một nguồn tài nguyên du lịch Du lịch văn hóa là phương tiện truyền tải các giá trị văn hóa của một địa phương, một dân tộc, một quốc gia cho du khách khám phá, thưởng ngoạn, học tập, giao lưu Nó góp phần đánh thức, làm sống

1 Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, tr 22

2 Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - một công cụ bảo vệ môi trường tự

Trang 14

dậy các giá trị văn hóa Thông qua du lịch, các tài sản văn hóa được bảo vệ, tôn tạo, phục hồi và phát huy giá trị

Du lịch văn hóa là một hoạt động du lịch lấy tính văn hóa làm mục đích và xuyên suốt Bởi thế, du lịch văn hóa mang các đặc điểm3:

- Du lịch văn hóa mang tính giáo dục nhận thức: Sản phẩm du lịch văn

hóa ngoài phần dịch vụ, còn một phần là những di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể Những di sản này hàm chứa nhiều thông tin về văn hóa, lịch

sử của dân tộc cũng như kiến thức thẩm mỹ, nghệ thuật Rõ ràng, du lịch văn hóa giúp du khách hiểu biết hơn về lịch sử văn hóa của quốc gia điểm đến

- Du lịch văn hóa có thị trường khách lựa chọn: Khách lựa chọn du lịch

văn hóa thường đã xác định mục đích chuyến đi của mình là nhằm tìm hiểu về văn hóa nơi mình đến Thông thường, đối tượng khách này cũng có những kiến thức xã hội nhất định

- Du lịch văn hóa giúp bảo tồn và phát huy giá trị nền văn hóa truyền thống: Để phát triển được du lịch văn hóa, điều quan trọng là phải bảo tồn

được những giá trị di sản văn hóa mang đậm bản sắc riêng của dân tộc Chỉ có như thế mới thu hút được du khách

- Du lịch văn hóa là nhịp cầu trao đổi văn hóa giữa các dân tộc: Những

tri thức văn hóa thu nhận được từ các sản phẩm du lịch văn hóa sẽ góp phần làm lan tỏa những giá trị văn hóa của quốc gia, thẩm thấu vào nền văn hóa khác

1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Du lịch văn hóa sử dụng văn hóa như là nguồn lực, hay nói cách khác, văn hóa là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch, là “nguyên liệu” để hình thành nên hoạt động du lịch Nguồn nguyên liệu văn hóa có hai loại cơ bản: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Văn hóa vật thể là những sáng tạo của con người, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng các giác quan như thị giác, xúc giác Chẳng hạn như di tích lịch sử văn hóa, hàng thủ công, công

cụ sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Còn văn hóa phi vật thể như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp…, lại được cảm nhận một cách gián tiếp và “vô hình” Dưới góc độ du lịch, người ta xếp các thành

tố văn hóa vào tài nguyên du lịch nhân văn (phân biệt với tài nguyên du lịch

3 Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - một công cụ bảo vệ môi trường tự

Trang 15

tự nhiên như biển, sông, hồ, núi, rừng, hang động…) Cùng với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là một trong những điều kiện phát triển du lịch của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương Giá trị của những

di sản văn hóa cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội… là đối tượng cho du khách khám phá, thưởng thức Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên này còn quyết định tới quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch của mỗi vùng miền; là một trong 8 yếu tố tạo nên sức hấp dẫn du lịch của một vùng du lịch (theo quan niệm của Barbara Kirshenblatt)

Sơ đồ 1.1: Những yếu tố văn hóa - xã hội tạo sức hấp dẫn của một vùng du lịch 4

Tuy nhiên, không phải yếu tố văn hóa nào cũng trở thành tài nguyên

du lịch nhân văn Chỉ có những tài nguyên có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn Chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn Vì vậy, tài nguyên du lịch nhân văn thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mỗi địa phương, mỗi quốc gia

Tài nguyên du lịch nhân văn có những tính chất chung là: Đa dạng (làm phong phú sản phẩm du lịch), Hấp dẫn (thu hút du khách), Độc đáo (là nét riêng có, đặc trưng), Không dịch chuyển (ngay cả khi có các sản phẩm mô

4 Charles R Goeldner, J R Brent Ritchie (2009), Tourism Principles, Practices, Philosophies, John Wiley &

Đặc điểm văn hóa,

Trang 16

phỏng cũng không thay thế được), và Dễ tổn thất Trong khi tài nguyên du lịch tự nhiên tạm coi là vô hạn (tất nhiên, vô hạn tương đối) thì tài nguyên du lịch nhân văn và xã hội lại là hữu hạn Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch nhân văn còn có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên, tài nguyên tự nhiên, với các điều kiện kinh tế xã hội, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, quy luật phát triển văn hóa như: phân vùng, lan tỏa và đan xen, hội nhập, cũng như các quy luật xã hội… Vì vậy, mỗi địa phương, mỗi quốc gia thường

có tài nguyên du lịch nhân văn mang tính đặc sắc, độc đáo để hấp dẫn du khách Du khách đi du lịch là để trải nghiệm, tìm hiểu, hưởng thụ các giá trị

về văn hóa, tự nhiên Song do tính kết tinh, đan xen, hội nhập nên trong quá trình khai thác, sử dụng vào hoạt động du lịch, tài nguyên du lịch nhân văn rất

dễ bị mai một, thay đổi, mất bản sắc văn hóa Do vậy, trong quá trình bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên du lịch nhân văn vào mục đích du lịch, việc bảo vệ tính độc đáo, đặc sắc, nguyên vẹn của loại tài nguyên này là bí quyết hấp dẫn du khách và phát triển du lịch bền vững

1.1.3 Điểm đến du lịch văn hóa

Theo M.Buchvarov (1982) điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị du lịch gồm 5 cấp: điểm du lịch - hạt nhân du lịch - tiểu vùng

du lịch - á vùng du lịch - vùng du lịch Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy

mô nhỏ, “là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa - lịch

sử hoặc kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ” 5

“Điểm đến du lịch là một thành phố, thị xã, khu vực mà có sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn lợi nhuận thu được từ du lịch Nó có thể chứa một hoặc nhiều điểm tham quan du lịch hấp dẫn” 6

Điểm đến du lịch cũng trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, suy thoái Người ta gọi đó là “vòng đời” của điểm đến du lịch Biểu đồ dưới đây minh họa tiễn tiến của một điểm đến du lịch Ban đầu, một điểm đến trở nên tiềm năng, hấp dẫn với những nhóm nhỏ du khách nhắm đến một vài đặc tính nổi bật của nó Những đặc tính đó có thể là di sản văn hóa của điểm đến, hay di sản thiên nhiên, vẻ đẹp cảnh quan… Dần dần theo thời gian, điểm đến trở nên nổi tiếng hơn Khi đó có

5 Nguyễn Minh Tuệ và đồng sự (1999), Địa lý du lịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 113

Trang 17

thể nói điểm đến đang trong quá trình phát triển cùng với việc mở rộng số lượng dân cư và du khách tới thăm Các hoạt động thương mại tăng dần để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách Theo thời gian, điểm đến có thể thay đổi rất nhiều Đương nhiên, sẽ tới một thời điểm cần có các quyết định đúng đắn để ngăn chặn nguy cơ xuống cấp và duy trì đặc điểm cốt lõi của điểm đến, cũng như phải có các chiến lược để đối phó với những đổi thay sâu sắc, lâu dài đối với nó

Sơ đồ 1.2: Vòng đời của một điểm đến du lịch (Nguồn: UNWTO)

Như vậy, có thể hiểu điểm đến du lịch văn hóa là nơi tập trung một loại tài nguyên du lịch nhân văn nào đó phục vụ du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa; và có nguồn thu từ du lịch Điểm đến du lịch văn hóa cũng có vòng đời như một điểm đến du lịch

1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa

Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đặc biệt đối với phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, là yếu tố đảm bảo cho hoạt động du lịch được thực hiện một cách có hiệu quả

Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ và hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ Theo cách hiểu này, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm các cơ sở vật chất kỹ thuật của bản thân ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế khác như mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, công trình cung cấp điện nước tham gia phục vụ du lịch… Những yếu tố

Trang 18

này được gọi chung là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã hội, giữ vai trò đảm bảo điều kiện chung cho việc phát triển du lịch Điều này được giải thích bởi sự lệ thuộc của du lịch vào thành quả của các ngành kinh tế khác

Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch xây dựng nhằm khai thác tiềm năng du lịch, tạo ra và làm mới lại các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa, làm thỏa mãn nhu cầu của du khách Chúng bao gồm hệ thống khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi, giải trí, phương tiện vận chuyển… và các công trình

bổ trợ Đây chính là yếu tố tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng dịch

vụ du lịch Chính vì vậy, sự phát triển du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Khi xem xét cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cần chú ý các thành phần: Cơ

sở phục vụ ăn uống và lưu trú như khách sạn, nhà khách, nhà hàng, camping, bungalow…; Mạng lưới cửa hàng chuyên nghiệp: bao gồm mạng lưới cửa hàng thuộc các trung tâm du lịch và mạng lưới thương nghiệp địa phương; Cơ sở thể thao: gồm công trình thể thao, phòng thể thao, trung tâm thể thao…; Cơ sở y tế: gồm phòng y tế, trung tâm chữa bệnh… nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch; Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa như trung tâm văn hóa, rạp chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm… Ngoài ra còn có các công trình bổ trợ khác

Từ cách hiểu chung đó, cơ sở vật chất để phát triển du lịch văn hóa bao gồm cơ sở vật chất của các ngành kinh tế khác có liên quan tới du lịch (như nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải… ) và cơ sở vật chất của chính các điểm du lịch văn hóa, các di sản văn hóa, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch văn hóa tạo điều kiện cho du lịch văn hóa phát triển

1.1.5 Sản phẩm du lịch văn hóa

Sản phẩm văn hóa được sinh ra trước sản phẩm du lịch Văn hóa là do con người sáng tạo ra, vì thể mọi sản phẩm văn hóa đều thuộc về con người

Ở đâu có con người, ở đó có văn hóa, có sản phẩm văn hóa

“Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp

để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế; đồng thời chứa đựng

Trang 19

những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn

ra các hoạt động kinh doanh du lịch” Sản phẩm du lịch trước hết là sản phẩm văn hóa, hai loại sản phẩm này có mối quan hệ mật thiết với nhau, được thể hiện như sau7:

Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch

Bền vững, tính bất biến cao Thích ứng, tính khả biến cao

Mang nặng dấu ấn của cộng đồng

dân cư bản địa

Mang nặng dấu ấn của các cá nhân, các nhà tổ chức, khai thác

Dùng cho tất cả các đối tượng khác

nhau, phục vụ mọi người

Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ những đối tượng sử dụng dịch vụ du lịch Sản xuất ra không phải để bán, chủ

yếu phục vụ đời sống sinh hoạt văn

hóa - tinh thần của cư dân bản địa

Hàng hóa sản xuất phải được bán ra thị trường, bán cho du khách, phục vụ nhu cầu của các đối tượng khách du lịch là

cư dân của các vùng miền khác nhau Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị

không đo được hết bằng giá cả

Giá trị văn hóa đi kèm giá trị kinh tế

- xã hội Giá trị được đo bằng giá cả Quy mô hạn chế, thời gian và không

gian xác định

Quy mô không hạn chế, thời gian và không gian không xác định

Sản phẩm mang nặng định tính, khó

xác định định lượng Giá trị của sản

phẩm mang tính vô hình thể hiện

qua ấn tượng, cảm nhận…

Định tính, định lượng được thể hiện qua thời gian hoạt động Giá trị của sản phẩm là hữu hình, biểu hiện thông qua những chỉ số kinh tế thu được

Trên thực tế, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang bản chất và nội dung văn hóa sâu sắc Trên cơ sở văn hóa dân tộc - vùng miền, nguồn tài nguyên nhân văn phong phú, hoạt động du lịch luôn đem đến cho du khách những sản phẩm chứa đựng các giá trị nhân văn đặc sắc, mang sắc thái bản địa Sản phẩm văn hóa chỉ trở thành sản phẩm du lịch khi nó tham gia vào các quá trình của hoạt động kinh doanh du lịch, phục vụ các nhu cầu khác nhau của khách du lịch Khi đó, nó được gọi tên là sản phẩm du lịch văn hóa, trở

Trang 20

thành một yếu tố hợp thành của các chương trình du lịch văn hóa để thỏa mãn nhu cầu của du khách tham gia loại hình du lịch này Có xuất xứ từ sản phẩm văn hóa, nhưng sản phẩm du lịch văn hóa mang nhiều đặc trưng của sản phẩm

du lịch Chúng đã trở thành hàng hóa phục vụ kinh doanh, đem lại lợi ích kinh

tế Tuy nhiên, từ thực tế của hoạt động kinh doanh du lịch cho thấy, tất cả các sản phẩm du lịch đều là sản phẩm văn hóa nhưng không phải sản phẩm văn hóa nào cũng trở thành sản phẩm du lịch Có những sản phẩm văn hóa không nên và không được phép trở thành sản phẩm du lịch

Vậy sản phẩm du lịch văn hóa là sản phẩm du lịch khai thác những giá trị văn hóa, sử dụng tài nguyên du lịch văn hóa trong hoạt động của mình, khác biệt với sản phẩm du lịch tự nhiên Sản phẩm du lịch văn hóa cũng khác với sản phẩm văn hóa ở chỗ: sản phẩm văn hóa là để cung ứng cho con người nói chung; còn sản phẩm du lịch văn hóa chỉ cung cấp cho khách du lịch có nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức văn hóa Tuy nhiên, sự phân định này rất khó, chỉ mang tính định tính, không mang tính định lượng Hơn nữa, sản phẩm văn hóa không tạo tính tò mò, mới lạ bắt con người phải tìm hiểu; còn sản phẩm du lịch văn hóa lại tạo tính mới lạ với cư dân vùng khác đến Yếu tố “lạ” được làm nên bởi sư khác biệt văn hóa Sự khác biệt văn hóa giữa các cộng đồng người, giữa các vùng miền, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia… thậm chí giữa văn hóa của người hiện đại với các nền văn hóa quá khứ chính là căn nguyên làm nên tính khác biệt của du lịch, tạo sự hấp dẫn, tò mò, ham khám phá của du khách Đa dạng văn hóa chính là lý do sinh tồn của du lịch, bởi đa dạng văn hóa làm nên yếu tố mới

lạ của du lịch và là cơ sở để xây dựng nên những sản phẩm du lịch văn hóa mới

lạ, độc đáo, riêng có của mỗi vùng miền

Đảm bảo được điều này, sản phẩm văn hóa bản thân nó đã có sức hấp dẫn đối với du khách Nhưng để biến nó thành một sản phẩm du lịch phổ biến rộng rãi còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố, đòi hỏi nhiều nỗ lực và trải qua nhiều bước, nói cách khác là phải có một quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa trở thành sản phẩm du lịch8

Sơ đồ 1.3: Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch

8 Nguyễn Quang Vinh (2007), Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, Hội thảo khoa

Trang 21

1.1.6 Khách du lịch đi với mục đích văn hóa

Có không ít định nghĩa về du khách/khách du lịch, dưới mỗi lăng kính khác nhau của các học giả, các định nghĩa được đưa ra không phải hoàn toàn như nhau

“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến” 9

“Du khách là người từ nơi khác đến với/ hoặc kèm theo mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và/ hoặc của cộng đồng xã hội Về phương diện kinh tế, du khách là người

sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch lữ hành, lưu trú, ăn uống…” 10

Từ đó, có thể khái quát rằng khách du lịch đi với mục đích văn hóa trước hết mang đầy đủ các yếu tố của khách du lịch, và là những du khách dành mối quan tâm tới các đối tượng văn hóa, khai thác, thưởng thức, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa Họ là những người từ nơi khác đến với mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất, tinh thần, hữu hình hay vô hình của các di sản

Trang 22

văn hóa của một cộng đồng xã hội nhất định Giống như các loại hình du lịch khác, khách du lịch đi với mục đích văn hóa có thể đi với động cơ là nghỉ ngơi, giải trí phục hồi tâm sinh lý; hay đi với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu, học tập

về văn hóa; hoặc đi du lịch kết hợp với mục đích công vụ, hội nghị, hội thảo Với mỗi mục đích khác nhau thì du khách có những nhu cầu, sở thích khác nhau tương ứng

1.1.7 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa

Cùng với sự phát triển không ngừng của ngành du lịch, các di sản văn hóa (bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) đều đã và đang trở thành nguồn tài nguyên quan trọng, được ngành du lịch chú ý khai thác Vì thế, cần khẳng định rằng, hiệu quả to lớn mà du lịch đạt được trong nhiều năm qua không thể tách rời việc khai thác những giá trị đặc sắc và độc đáo của kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng

Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa và quản lý di sản được coi là điều kiện quan trọng để triển khai loại hình du lịch văn hóa một cách hiệu quả theo định hướng phát triển bền vững Căn cứ vào Luật Du lịch quy định nội dung quản lý nhà nước về du lịch, có thể suy ra công tác tổ chức, quản lý du lịch văn hóa là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, của các cấp chính quyền địa phương cũng như của chính các đơn vị, công ty hoạt động trong lĩnh vực du lịch Mỗi cơ quan sẽ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong công tác tổ chức, quản lý

du lịch văn hóa, song những hoạt động đó đều hướng tới du lịch văn hóa, di sản văn hóa, điểm đến văn hóa, tài nguyên du lịch văn hóa…

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về du lịch:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch văn hóa

- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm về tiêu chuẩn định mức kinh tế - kỹ thuật trong hoạt động du lịch văn hóa

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch văn hóa

- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch văn hóa; nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ

- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch văn hóa để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch văn hóa, xác định tuyến du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa…

Trang 23

- Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế, xúc tiến, quảng bá du lịch văn hóa ở trong và ngoài nước

- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý du lịch văn hóa

- Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch văn hóa

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động du lịch văn hóa

Đối với chính quyền địa phương:

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về du lịch văn hóa tại địa phương; cụ thể hóa quy hoạch, kế hoạch,

cơ chế, chính sách phát triển du lịch văn hóa phù hợp với thực tế tại địa phương và có biện pháp đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường tại khu du lịch văn hóa, điểm du lịch văn hóa, tuyến du lịch văn hóa…

Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch:

Thực hiện các hoạt động của đơn vị, tuân thủ các quy định của nhà nước và sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương, như quy định về khai thác tài nguyên du lịch văn hóa, kinh doanh du lịch văn hóa, quy định về đóng góp cho mục đích bảo tồn di sản văn hóa…

1.1.8 Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch

Như đã trình bày ở mục 1.1.2, văn hóa là tài nguyên, là chất liệu cho

du lịch và du lịch văn hóa Giữa văn hóa và du lịch luôn luôn có mối quan hệ biện chứng và trực tiếp Giao lưu là một trong những thuộc tính cơ bản của văn hóa và được biểu hiện sinh động trong các di sản mà du lịch đã, đang và

sẽ góp phần không nhỏ để thực hiện sự kết nối Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc chấn hưng và bảo tồn di sản văn hóa bằng nguồn thu từ các hoạt động Nhưng sự bùng nổ số lượng khách tham quan, sự phát triển các dịch vụ thiếu kiểm soát, sự buôn bán trái phép đồ cổ, sự mai một truyền thống do giao lưu, tiếp xúc… đang là mối nguy cơ đối với các di sản văn hóa Bởi vậy, việc bảo tồn, khôi phục, gìn giữ những tài sản quý báu

đó vừa là nhu cầu tự thân, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với hoạt động du lịch

Trang 24

Các nhà nghiên cứu đã xây dựng quy trình bảo tồn di sản, có thể lấy làm mẫu để áp dụng cho các đối tượng cụ thể Chuỗi công việc được sắp xếp như sau11:

Sơ đồ 1.4: Quy trình bảo tồn di sản

- Nhận diện di sản: là bước nhận biết, xác định khoanh vùng di sản,

chứng minh các đặc điểm, đặc tính cần được quan tâm của di sản

- Nghiên cứu và kiểm kê di sản: là bước xác định và phân loại các đặc điểm

của di sản được nêu ở bước 1 Công việc này thông thường sẽ nghiên cứu những ý nghĩa về lịch sử, sinh thái, khảo cổ học để tìm ra giá trị văn hóa và quy mô của di sản; đồng thời xác định những điều kiện bắt buộc đối với thực tiễn quản lý di sản đó

- Xây dựng chính sách bảo tồn: ở bước này, mục đích của việc bảo tồn cũng

như khung chương trình bảo tồn được thiết lập Nội dung trên phụ thuộc rất nhiều vào giá trị văn hóa của di sản và những quy định bắt buộc trong quản lý di sản đó

- Chỉ định cơ quan bảo tồn di sản: Xác định cơ quan tổ chức thực hiện

công tác bảo tồn di sản theo các quy định của Luật Di sản Cơ quan được xác định sẽ có một phần hay toàn bộ trách nhiệm huy động nguồn vốn cho bảo tồn Nếu di sản là sở hữu của cá nhân hay tổ chức khác với cơ quan đang có trách nhiệm triển khai thì cần mua lại di sản từ các tổ chức hay cá nhân đó

- Trùng tu, tôn tạo và phát triển: bước này chú trọng tới các công việc cụ

thể, như là trùng tu, tôn tạo, làm mới, đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất cho

di sản Trong nhiều trường hợp, công việc cấp bách nhất là tu tạo lại các công trình kiến trúc đang bị hư hỏng nặng và hạn chế sự xuống cấp của các công trình

Nhận diện di sản

Nghiên cứu & kiểm kê di sản

Xây dựng chính sách bảo tồn

Chỉ định cơ quan bảo tồn di sản

Trùng tu, tôn tạo & phát triển

Quản lý và quảng bá di sản

Trang 25

- Quản lý và quảng bá di sản: đây là bước cuối cùng của công tác bảo

tồn di sản, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục giám sát, theo dõi và đánh giá di sản Ở bước này phải quan tâm tới tốc độ tăng lên của số lượng du khách tới di sản

và mục đích hướng tới của việc quảng bá di sản

Trong hoạt động du lịch văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa không phải là công việc của riêng ai, mà là trách nhiệm chung của cả 4 thành phần tham gia cấu thành hoạt động du lịch:

- Cơ quan quản lý du lịch: Là cơ quan xây dựng các văn bản quy phạm về

bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch làm chế tài quản lý các cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch Xây dựng các chương trình giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các đơn vị kinh doanh du lịch và cư dân địa phương về bảo tồn di sản Hiện nay ở nước ta đã có các văn bản pháp luật để tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho việc thực hiện công tác bảo tồn di sản trong hoạt động du lịch như: Luật Di sản Văn hóa 28/2001/QH10, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Di sản văn hóa 32/2009/QH12, Nghị định 98/2010/NĐ-CP, Luật Du lịch 44/2005/QH11

- Đơn vị cung ứng du lịch: Có trách nhiệm thực hiện những quy định

của cơ quan quản lý về bảo tồn di sản cũng như đóng góp vào nguồn quỹ bảo tồn, trùng tu di sản văn hóa trong quá trình khai thác du lịch

- Khách du lịch: Thực hiện những quy định của điểm đến về bảo vệ

môi trường, gìn giữ di sản Đóng góp vào quỹ bảo tồn di sản

- Cư dân địa phương: Là chủ nhân của các di sản văn hóa nên họ cần

nhận thức được tầm quan trọng của việc gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống đối với sự phát triển du lịch; từ đó có những hành động cụ thể trong bảo tồn

1.2 Bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa

1.2.1 Bài học kinh nghiệm nước ngoài

Du lịch văn hóa, ngày nay đang trở thành xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Loại hình du lịch này được coi là mang lại lợi ích

to lớn cho cộng đồng xã hội theo định hướng phát triển bền vững đồng thời làm hồi sinh các di sản và sống lại nhiều phong tục, truyền thống tốt đẹp cổ xưa Việc tìm hiểu cách thức tổ chức du lịch văn hóa của những địa phương, quốc gia trên thế giới sẽ là bài học quý cho việc tiến hành, triển khai loại hình

du lịch này ở nước ta

Trang 26

Ở Hàn Quốc, ngay từ những năm của thập niên 80, người ta đã xây dựng lại mô hình các làng cổ để tái hiện cuộc sống của dân tộc trong quá khứ Làng văn hóa Hàn Quốc tại thành phố Yongin, tỉnh Gyeonggi, một thành phố

vệ tinh của thủ đô Seoul là một mô hình được xây dựng từ tháng 8 năm 1973 Nơi đây hội tụ 30 ngôi làng cổ trên diện tích 660.000m2, là bảo tàng sống ngoài trời, nơi lưu giữ, tái hiện và trưng bày các giá trị văn hóa của Hàn Quốc trong nhiều thế kỷ như nhà cổ, trường học, trụ sở tỉnh lị xưa, các nghề sản xuất truyền thống, nghề thủ công, công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng, lễ hội và các trò chơi dân gian hay không gian chợ cũ…

Một trong những nét đặc trưng của người Hàn là nhà cổ Bởi khí hậu lạnh mà hầu hết mỗi ngôi nhà đều có hệ thống dẫn nhiệt phía dưới mặt sàn gỗ

để dùng sức nóng từ các bếp củi tạo hơi ấm cho cả không gian nhà Đây chính

là điểm độc đáo trong kiến trúc truyền thống của người Hàn trong việc ứng phó với môi trường tự nhiên Ngoài những mô hình nhà ở truyền thống của nhiều tầng lớp cư dân (nông dân, địa chủ, các tộc người…), đây còn là nơi lưu giữ các mô hình nhà với các chức năng đặc biệt khác nhau như: điện thờ, trụ trở tỉnh lị, trường học, chùa thờ Phật hay những ngôi nhà của các vị pháp sư…

Hoạt động du lịch ở đây được tổ chức rất hệ thống, quy củ và đảm bảo

sự kết hợp hài hòa với yếu tố cảnh quan môi trường Ngay từ cửa vào và quầy mua vé, đã có những nhân viên trong trang phục hanbok sẵn sàng chỉ dẫn, hướng dẫn cho du khách khi có nhu cầu với thái độ nhiệt tình, hiếu khách Các bảng giới thiệu, chỉ dẫn, sơ đồ tổng thể cũng như sơ đồ các phân khu bằng 3 thứ tiếng (tiếng Hàn, tiếng Anh, tiếng Trung) được bố trí ở những vị trí hợp lý, thuận tiện cho khách du lịch quan sát Mặc dù lượng du khách đông nhưng vấn đề vệ sinh

và cảnh quan môi trường luôn được chú trọng Các thùng rác được bố trí dọc các lối mòn với hình dạng, màu sắc hài hòa với không gian làng cổ Trên một không gian rộng lớn, mô hình làng được chia thành các phân khu với nội dung, chức năng khác nhau như: khu nhà cổ, khu nghề thủ công truyền thống, khu trò chơi dân gian, khu tái hiện nghi lễ truyền thống… Ở mỗi nơi như vậy, đều trưng bày các hiện vật cổ có giá trị lịch sử, nhằm tái hiện lại đời sống sinh hoạt, sản xuất của cư dân Hàn trong quá khứ Đến đây, du khách có thể chiêm ngưỡng những nếp nhà truyền thống, các nghi lễ cổ xưa như cúng lễ, cưới xin; xem thợ thủ công rèn công cụ lao động, tham gia nặn gốm, đan dép rơm…; hoặc tham gia

Trang 27

vào các trò chơi dân gian, thưởng thức nghệ thuật ca múa nhạc cổ truyền qua sự trình diễn của các vũ nữ trong những trang phục dân tộc đặc sắc

Mô hình làng cổ này được coi như ngôi nhà chung, một bảo tàng ngoài trời, nơi lưu giữ những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng của đất nước, con người Hàn Quốc trong nhiều thế kỷ Đây là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút gần 2 triệu du khách trong nước và quốc tế mỗi năm, là nơi mà khách du lịch có thể hình dung, trải nghiệm văn hóa của đất nước xứ

sở kim chi qua chiều dài lịch sử trong một khoảng thời gian du lịch, tham quan, học tập, nghiên cứu không nhiều

Ảnh 1: Nhà truyền thống12

Ảnh 2: Cối giã gạo bằng sức nước Ảnh 3: Trình diễn đua ngựa

Ảnh 4: Trò chơi dân gian Ảnh 5: Lễ cưới truyền thống13

12 http://www.koreanfolk.co.kr/folk/english/collec/collec_tra_sub.html

Trang 28

Tại cố đô Luang Prabang ở Lào, các nghệ nhân dân gian đã phục hưng văn hóa truyền thống và di sản kiến trúc dưới sự hướng dẫn của chính phủ và các cơ quan quản lý văn hóa, du lịch Từ năm 1990 đến nay, Lào đã trùng tu hoàng cung và những ngôi chùa đẹp nhất của thành phố Họ nhận thức rằng

vẻ đẹp của Luang Prabang là tổng thể: không chỉ là kiến trúc chùa chiền mà còn là những tòa nhà bao quanh và thiên nhiên ở đây, vườn cây, công viên, không gian… Thành phố đã tiến hành kiểm kê di sản, xếp hạng hơn 600 tòa nhà Bản thân thành phố được công nhận di sản văn hóa thế giới năm 1995 Nhà cửa, chùa chiền được phục chế trên tinh thần tôn trọng kiểu dáng truyền thống và phải hài hòa với kiểu dáng chung Không dự án xây dựng nào được tiến hành nếu không được phê duyệt bởi các cơ quan có thẩm quyền

Khi mở các quán ăn, cửa hiệu buôn bán nhỏ, khách sạn, chính quyền thành phố cố đô Lào tỏ ra thận trọng, e ngại việc xây dựng hàng loạt cơ sở dịch vụ du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của thương mại hóa, buôn bán trái phép, ma túy… xâm hại môi trường văn hóa, xâm hại lối sống cổ truyền của Luang Prabang Trên sông Mekong, đoạn gần thành phố, thuyền gắn máy ồn

ào không được phép chạy mà phải neo đậu ở xa

Luang Prabang có khoảng hơn 40 ngôi chùa cổ lớn nhỏ có tuổi đời khác nhau, mỗi công trình mang trên mình một nét văn hóa và kiến trúc nghệ thuật riêng biệt, mỗi ngôi chùa là một câu chuyện kể không giống nhau về quá khứ và lịch sử hình thành Trong chùa, ngoài các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng được thực hiện một cách trang trọng từ nghi thức tới trang phục, họ còn chú trọng tới việc truyền đạt cho giới trẻ những hình thái phi vật thể của nền di sản như vũ, nhạc, thơ ca, múa rối… Vào thứ 7, chủ nhật hàng tuần, trẻ em có thể tới một số chùa để học nhạc, họa cổ truyền, dệt vải, múa rối nước và đọc truyện cổ tích

Lễ khất thực là một trong những nét đẹp văn hóa đặc trưng trên đất Phật mà người Lào vẫn còn lưu giữ được Thời điểm khất thực là lúc rạng đông, khoảng gần 6 giờ sáng Các nhà sư xếp thành hàng dài đi chân trần, vai khoác thố, chậm rãi đi quanh phố để nhận đồ lễ dâng của người dân, gồm đồ ăn chín, bánh trái và hương hoa Du khách tới Luang Prabang ấn tượng sâu sắc với hình ảnh đoàn người khất thực chậm rãi chuyển động trong sắc áo vàng cam rực rỡ trông như dải lụa mềm mại bị gió cuốn đi trên phố Họ thích thú và thành tâm tham gia nghi lễ khất thực Họ trả tiền mua những giỏ đồ ăn từ

Trang 29

những người dân bán hàng rong trên phố và cũng quỳ chờ các đoàn sư đi qua, kính cẩn đặt đồ lễ vào thố và trải nghiệm những giây phút yên lặng, bình an trong tâm hồn Khác với Chiềng Mai (Thái Lan) - một trong những cố đô của quốc gia La Na trước thời công hữu ra đời nhưng ngày nay nó đã phát triển làm

mờ đi dấu ấn cố đô, Luang Prabang vẫn còn giữ gần như nguyên vẹn, trở thành thành phố linh thiêng trong tâm linh những người theo đạo Phật Ngày nay, các phật tử ở Thái Lan sẽ phải đến Luang Prabang một lần trong đời vào lúc trước khi trưởng thành để làm lễ Khi UNESCO vào cuộc sau sự kiện Luang Prabang được công nhận di sản thế giới, cố đô đã được cứu khỏi một cuộc tàn phá và biến đổi mạnh mẽ như Chiềng Mai Và bây giờ, Luang Prabang đã thuyết phục được tất cả các du khách trên thế giới đây là một di sản gìn giữ được những giá trị văn hóa cổ xưa nơi kinh đô cũ của vương quốc triệu voi

Tuy không phải là đất nước rộng lớn nhưng cách làm du lịch của Campuchia rất đáng để học hỏi Theo thống kê của Bộ Du lịch Campuchia, năm

2000, lượng khách quốc tế đến đất nước này chưa tới 500.000 lượt, tuy nhiên sau 10 năm con số đã tăng lên gấp 5 lần, hơn 2,5 triệu lượt, trong đó 30% quay lại đất nước chùa tháp này nhiều lần Trong năm 2011, Campuchia dự kiến sẽ đón khoảng 2,8 triệu lượt khách quốc tế Với nỗ lực tìm kiếm các nguồn khách

du lịch thông qua đường Việt Nam để tránh phụ thuộc vào Thái Lan, Campuchia đã miễn visa tại các cửa khẩu khiến giá tour du lịch bằng đường bộ

từ thành phố Hồ Chí Minh qua cửa ngõ biên giới Mộc Bài - Bavet giảm hẳn Với mục tiêu tăng trưởng ngành công nghiệp du lịch với trọng tâm là thị trường Trung Quốc, Bộ Du lịch Campuchia thuê kênh truyền hình CCTV1 của Trung Quốc để quảng bá cho hình ảnh du lịch Campuchia Ngoài bốn tuyến bay thẳng

từ Bắc Kinh, Hồng Kông, Thượng Hải và Quảng Châu tới Campuchia, hai nước đang chuẩn bị mở thêm các đường bay mới từ miền Nam Trung Quốc

Ba thành phố Phnompenh, Siem Riep và Sihanoukville được Campuchia quy hoạch để phát triển du lịch văn hóa và tự nhiên Chính vì thế, các khách sạn quanh khu Angkor ở Siem Riep không được phép cao quá 3 tầng, bất kể đó là khách sạn 4 sao hay 5 sao Ngoài ra, tất cả các phố mặt tiền đều được quy hoạch tổng thể và tuân thủ chặt chẽ các quy chuẩn về kiến trúc, chỉ giới xây dựng Thậm chí các tuyến phố cổ, phố cũ nằm trong khu vực bảo tồn phải sơn cùng một màu

Trang 30

Để có được sự tăng trưởng vượt bậc, Campuchia đã hình thành cho mình một bộ máy điều hành các hoạt động du lịch chuyên nghiệp và khép kín,

từ việc bảo vệ rừng, tôn tạo di tích, tổ chức biểu diễn văn hóa, đến bộ phận cảnh sát du lịch bảo vệ an ninh cho du khách, đào tạo trình độ nhân viên dựa trên nền tảng ngoại ngữ Cảnh sát du lịch có mặt khắp nơi với nụ cười thân thiện khiến du khách cảm thấy an tâm Những hướng dẫn viên địa phương hướng dẫn du khách được cấp thẻ hướng dẫn viên quốc tế đều phải trải qua 5 năm rèn luyện kỹ năng ở một trường đào tạo cử nhân du lịch tại Phnompenh,

và họ đều xuất hiện đồng nhất trong bộ đồng phục tại các địa danh văn hóa, thể hiện một phong cách văn hóa trong quản lý du lịch chuyên nghiệp

Ấn tượng với du khách đi đến Campuchia chính là việc họ không hề bị làm phiền bởi những người ăn xin hay bán hàng rong, đặc biệt là ở những điểm tham quan Tại các khu đền Angkor, hầu như không có nạn chèo kéo, ăn xin, chặt chém du khách Những người ăn xin trước đây, giờ họ là những nhạc công

đa quốc gia, có thể hát những bài hát tiêu biểu của nhiều quốc gia để kiếm tiền một cách xứng đáng Người bán hàng rong được bố trí vào một khu vực nhất định và chỉ được bán hàng ở đó Hàng hóa, quà lưu niệm ở Campuchia được bán với mức giá không quá cao, niêm yết bằng USD và có thể trả giá thoải mái, thậm chí nếu du khách không mua cũng chẳng sao, người bán hàng vẫn vui vẻ và chào tạm biệt Những người lái xe tuk tuk cũng luôn đến đúng hẹn, đón khách với nụ cười thật tươi, thật hiền hậu Họ có khả năng giao tiếp, giới thiệu về những cảnh đẹp nơi đây bằng những câu tiếng Anh đơn giản Tất cả những điều đó làm nên sức hút của mảnh đất và con người nơi đây, muốn níu chân du Ấn tượng khó quên trong lòng họ không hẳn là chùa chiền tuyệt đẹp hay Angkor - kỳ quan thế giới, không hẳn bởi những cánh đồng đặc sắc hay biển Hồ giản dị có một không hai Cái quyến rũ họ chính là con người của vùng đất này: chuyên nghiệp nhưng

vô cùng gần gũi, giản dị, để du khách muốn quay lại nơi đây thêm nhiều lần nữa

1.2.2 Bài học kinh nghiệm trong nước

Du lịch văn hóa đã và đang được xác định là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam do bề dày lịch sử văn hóa - văn hiến - văn vật - văn minh lâu đời của một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á Các điểm du lịch ở Việt Nam chủ yếu khai thác các di tích lịch sử, di tích văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật biểu diễn truyền thống, lễ hội, làng nghề thủ công, ẩm thực truyền

Trang 31

thống… để lôi cuốn thu hút khách du lịch trong nước cũng như quốc tế Đã có những địa phương, những khu du lịch, điểm du lịch hoạt động tốt, đem lại những hiệu quả rõ rệt về cả kinh tế, xã hội, môi trường cũng như bảo tồn di tích Một trong số đó, không thể không điểm đến cách làm du lịch của tỉnh Quảng Nam - một điểm đến, hai di sản

Hội An hay Faifo đã trở thành cái tên quen thuộc của nhiều du khách trong và ngoài nước khi nói đến Việt Nam Nơi đây, khu phố cổ được xây dựng từ thế kỷ XVI vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn Phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 1999 và được quan tâm phát triển, trở thành một trong số những địa phương tổ chức du lịch tốt nhất của Việt Nam Đến với Hội

An, khách du lịch ngỡ ngàng trước không gian của những nếp nhà cổ, hội quán, đình chùa, miếu mạo, giếng cầu, bến cảng, chợ ven sông… và những con đường phố hẹp chạy ngang dọc tạo thành các ô bàn cờ Cảnh quan phố phường Hội An bao phủ một màu rêu phong cổ kính Sự tồn tại một đô thị cổ như Hội An là trường hợp duy nhất của Việt Nam và cũng hiếm thấy trên thế giới Đây được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị cổ xưa

Mặc dù sở hữu những giá trị văn hóa của dân tộc trong quá khứ, mặc dù được xem là trung tâm du lịch của miền Trung và của cả nước, là điểm đến không thể thiếu trong hành trình đến Việt Nam của du khách quốc tế song Hội

An không ngừng tự đổi mới để hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Các nhà quản lý đô thị cổ Hội An, ngành du lịch Quảng Nam cùng các đơn vị kinh doanh

du lịch đã bắt tay hợp tác cùng xây dựng sản phẩm cho du lịch Hội An, tránh sự nhàm chán, đơn điệu và để kéo dài thời gian lưu trú của du khách Bằng việc thống nhất cao của chính quyền và cư dân trong khu phố cổ, từ năm 2004 ngoài việc tổ chức Hội Đêm Rằm vào ngày 15 âm lịch hàng tháng, Hội An tổ chức thêm Phố Đêm vào thứ 7 hàng tuần, cùng với đó là việc triển khai phố đi bộ trong những tuyến đường chính của khu phố cổ Ngành du lịch Hội An cũng khẩn trương xúc tiến các điểm đến mới khác trên địa bàn như Cửa Đại, Cù Lao Chàm, các làng nghề truyền thống (như làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh

Hà, làng rau Trà Quế…) để làm “nguyên liệu” xây dựng các chương trình du

lịch ngày một phong phú hơn như Về Hội An quăng lưới lắc thúng chai, Đêm rằm phố Hội, Homestay tại phố cổ, Một ngày làm cư dân làng rau Trà Quế, Một ngày làm cư dân làng chài Thanh Nam, Khám phá Cù Lao Chàm… Nhiều tour

Trang 32

du lịch mới trên sông, biển, đảo cũng được khai trương trong các tháng du lịch mùa hè nhằm đem lại cho du khách những cảm xúc mới về Hội An

Để phát triển lâu dài và theo hướng bền vững, Hội An đã cam kết xây dựng Thành phố sinh thái Đây là mục tiêu lâu dài của thành phố và phân kỳ thành 3 giai đoạn từ nay cho đến năm 2030 Bởi nhận thấy sự cam kết của chính quyền và nỗ lực của từng người dân trong việc xây dựng đô thị sinh thái Hội An, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) đã phối

hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hội An khởi động dự án “Tư vấn chính sách về quản lý môi trường: Phát triển công nghiệp xanh” - một hợp phần

của phát triển thành phố sinh thái vào tháng 8 năm 2011 Mô hình này sẽ giúp giải quyết các vấn đề về môi trường và thách thức biến đổi khí hậu trong các ngành công nghiệp, đồng thời cân đối giữa kinh doanh và phát triển cộng đồng, xác định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với khu vực khách sạn và làng nghề, tăng thu nhập và cơ hội việc làm… Dự án sẽ đem đến những cơ hội phát triển mới cho Hội An trong tương lai

Hội An đứng thứ 5 của nhóm “Thành phố lễ hội tốt nhất tại châu Á” năm 2009 Mới đây nhất, vào tháng 5/2011 theo kết quả bầu chọn của độc giả Wanderlust.co.uk/magazine (Tạp chí Du lịch Anh quốc) vừa công bố, phố cổ Hội An xếp vị trí thứ 2 trong top 10 thành phố du lịch hàng đầu thế giới với tỉ

lệ phiếu bầu đạt tới 96% Đây là những thông tin thực sự đáng mừng, góp phần quảng bá thương hiệu du lịch Hội An tới bạn bè quốc tế

Thánh địa Mỹ Sơn là di sản văn hóa thứ 2 của tỉnh Quảng Nam được UNESCO công nhận năm 1999 Sau 12 năm hoạt động mở cửa đón tiếp khách du lịch trong và ngoài nước, từ tháng 12/2011, để tăng cường việc bảo tồn di tích và hoạt động du lịch hiệu quả, BQL khu di tích đang thay đổi phương thức khai thác, bảo vệ theo hướng bền vững, trả lại không gian yên tĩnh vốn có cho thung lũng Mỹ Sơn Bắt đầu từ việc “làm sạch” Mỹ Sơn, BQL chính thức đưa hệ thống xe điện vào phục vụ trung chuyển khách tham quan, hạn chế và tiến đến cấm toàn bộ xe động cơ xăng dầu vào thung lũng Việc hạn chế xe cơ giới vào sát chân tháp sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo vệ di tích vốn đã quá xuống cấp Nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá giới thiệu hình ảnh, Mỹ Sơn được đầu tư thiết kế logo riêng Logo có hai màu vàng nâu, lấy cảm hứng chủ đạo từ màu gạch Chăm rêu phong, hình tượng

Trang 33

thần Siva cách điệu Logo này sử dụng hình ảnh cách điệu chữ M trong tên di sản Mỹ Sơn và chữ W trong cụm từ tiếng Anh World heritage BQL khu di tích Mỹ Sơn đã hoàn chỉnh, đưa vào sử dụng hệ thống bảng biển báo, hướng dẫn, thuyết minh mới Lối khám phá, tham quan khu đền tháp Mỹ Sơn sẽ đi theo hướng ngược lại với đường đi xưa nay Nghĩa là du khách sẽ được chiêm ngưỡng Mỹ Sơn bắt đầu từ “mặt tiền” của các đền tháp Đặc biệt, hơn 50 hướng dẫn viên, thuyết minh viên vừa được tập huấn kỹ về kiến thức, nghiệp

vụ cũng như thái độ phục vụ Cũng trong năm 2011, tỉnh Quảng Nam đã quyết định trồng 65,5 ha rừng với ngân sách 4 tỉ đồng nhằm bảo vệ môi trường, chống xói mòn, tái tạo cảnh quan khu di tích, đồng thời kết hợp giữa

du lịch văn hóa, lịch sử và du lịch sinh thái Đây là một quá trình “rũ bụi thời gian”, làm mới di sản Mỹ Sơn không còn tiếng ồn, khói bụi xe cơ giới, không gian được mở ra nhờ lối đi, tiếp cận mới, hòa với môi trường sinh thái tự nhiên sẽ tạo sức hấp dẫn mới đối với khu di tích cũ này

Hoạch định và tổ chức du lịch tại Quảng Nam với 2 di sản văn hóa nổi tiếng: Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn là bài học kinh nghiệm quý báu cho phát triển du lịch tại một số địa phương trên cả nước theo định hướng bền vững, gắn kết văn hóa với du lịch

1.3 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu du lịch văn hóa Thái Bình

1.3.1 Tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong hoạt động du lịch Thái Bình

Thái Bình nói riêng, Bắc Bộ nói chung được coi là vùng đất hướng đạo cho cả nước về văn hóa Mật độ lễ hội dày đặc, các giá trị nổi trội của di sản văn hóa, sự cuốn hút về ẩm thực, sự yên tĩnh của làng quê, sự “độc đáo của cuộc sống” nơi đây (theo cách nói của nhiều du khách châu Âu)… là những lý do mang tính quyết định trong việc hình thành và xây dựng loại hình

du lịch văn hóa trở thành loại hình quan trọng và chủ yếu

Trên cả phương diện lý luận và thực tế, con người - chủ thể văn hóa, ở đây cụ thể là cư dân Thái Bình không thể quyết định cuộc sống của mình về mọi mặt, trong đó có du lịch - với tư cách là một ngành kinh tế có đóng góp vào sự phát triển chung của địa phương mà không tính đến yếu tố đầu tiên là địa lý tự nhiên của vùng đất mình sống Tất yếu họ phải nương theo những đặc điểm địa lý mang chất thuộc tính của riêng Thái Bình để xây dựng các nội dung

Trang 34

cuộc sống, xây dựng kế hoạch phát triển du lịch tương thích với tự nhiên ấy Trong lịch sử phát triển của mình, Thái Bình là miền đất của các con sông (sông Hồng, sông Luộc và biển Đông cùng gần 70km các dòng sông lớn nhỏ khác), là địa phương có độ phù sa do sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp rất đáng kể, là tỉnh đạt được những thành tựu về nông nghiệp trồng lúa với tư cách

“cánh chim đầu đàn” của miền Bắc, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ cứu nước Thái Bình được hình thành và tạo dựng bằng công sức và trí tuệ của lớp lớp các thế hệ kế tiếp từ thuở ban đầu lập đất rất gian nan so với những vùng đất khác Bởi vậy, người Thái Bình đặc biệt giàu nghị lực và mảnh đất Thái Bình đã có hàng ngàn di sản được tạo dựng Với đặc điểm quan trọng về nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú và các yếu tố mang tính chất

“sinh”, “dưỡng” cho nguồn tài nguyên ấy như hệ thống lễ hội, các di sản (đình, chùa…), di tích và cụm di tích lưu niệm danh nhân, di tích cách mạng, những điểm linh thiêng về mặt tâm linh, một số làng nghề có lịch sử lâu đời mà sản phẩm của họ đã được khẳng định ở thị trường trong nước và ngoài nước tạo thành sức mạnh mang tính chất tổng lực khẳng định du lịch văn hóa phải trở thành nội dung mạnh mẽ trong lộ trình phát triển du lịch của Thái Bình

Có những địa phương khác trên cùng vùng văn hóa - du lịch Bắc Bộ như Thái Bình nhưng do những điều kiện khác về tự nhiên cũng như về văn hóa xã hội mà du lịch văn hóa sẽ không phải là lựa chọn tương thích và hợp

lý Có thể ở những nơi đấy du lich sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch biển,

du lịch sự kiện… sẽ là nội dung chính nhưng ở Thái Bình, với những lý do riêng biệt về tự nhiên - xã hội thì du lịch văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc dùng doanh thu từ loại hình du lịch này để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương

1.3.2 Những thuận lợi trong hoạt động du lịch văn hóa Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh ven biển của vùng đồng bằng sông Hồng, có nhiều điều kiện phát triển du lịch văn hóa Về giao thông, Thái Bình cách thủ

đô Hà Nội 110km, cách Hải Phòng 70km, đây là khoảng cách đủ lớn để xây dựng chương trình du lịch có lưu trú qua đêm

Do quá trình hình thành, phát triển xã hội có nhiều đặc trưng nên số lượng di sản văn hóa ở Thái Bình tương đối dày đặc, nơi đây là mảnh đất địa linh nhân kiệt Tài nguyên du lịch của tỉnh tới 95% là tài nguyên du lịch nhân

Trang 35

văn Lại là tỉnh có hệ thống sông ngòi dày đặc với 13 con sông nối các huyện thị, chạy bao quanh và trong lòng thành phố, có 2 biển Diêm Điền và Tiền Hải, là điều kiện để có thể kết hợp giữa du lịch văn hóa với du lịch sinh thái cảnh quan, tạo nên tính khác biệt của một tỉnh đồng bằng ven biển

Lực lượng lao động trẻ tương đối dồi dào, phong phú, cần cù, linh hoạt là yếu tố tích cực trong phát triển dịch vụ du lịch

Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được cải thiện; đời sống, thu nhập và điều kiện làm việc của nhân dân được nâng cao, nhu cầu giao lưu văn hóa ngày càng tăng là cơ hội cho ngành du lịch Thái Bình phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động

Đây là những yếu tố thuận lợi về tự nhiên và xã hội để thực hiện hoạt động du lịch văn hóa trên cơ sở xây dựng, tổ chức hợp lý

1.3.3 Những khó khăn trong hoạt động du lịch văn hóa Thái Bình

Bên cạnh những thuận lợi, Thái Bình cũng có những khó khăn nhất định trong hoạt động du lịch văn hóa:

Tài nguyên du lịch phong phú song số lượng di sản văn hóa có quy

mô lớn không nhiều, lại nằm rải rác, không tập trung

Kết cấu hạ tầng hạn chế, chưa đồng bộ, giao thông nối các điểm du lịch trong tỉnh chưa được hoàn thiện, nhiều nơi đường sá chưa thuận tiện, khổ đường quá hẹp, chất lượng kém dẫn tới khả năng tiếp cận điếm đến du lịch còn gặp rất nhiều khó khăn

Nhận thức, kiến thức quản lý và phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; cơ chế, chính sách quản lý còn nhiều bấp cập chưa thu hút được nguồn nhân lực có trình độ, chưa tạo điều kiện phát huy năng lực của người lao động; đồng thời vai trò và năng lực của khối tư nhân chưa được phát huy đúng mức…

Sản phẩm, dịch vụ du lịch chưa đặc sắc, trùng lặp và thiếu quy chuẩn, chất lượng chưa đáp ứng dẫn tới sức cạnh trang yếu, kém so với sản phẩm của một số tỉnh lân cận

Mức sống của dân cư trong tỉnh phần đông còn thấp, nếp sống văn mình, ý thức pháp luật không nghiêm, các vấn đề về an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm… là những khó khăn cho phát triển du lịch có chất lượng và có tính cạnh tranh của Thái Bình

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện thành công lộ trình khai thác tối ưu tài nguyên nhân văn nhằm phát triển du lịch văn hóa Có bề dày 4000 năm văn hiến và được coi là một trong 34 nền văn hóa - văn minh phát triển sâu sắc của nhân loại, Việt Nam cũng không phải là ngoại

lệ Tất nhiên, tại mỗi vùng đất, mỗi quốc gia, địa phương đều có những yếu tố khác biệt tạo nên bản sắc riêng có Đó cũng chính là sức hấp dẫn của du lịch văn hóa mà ngày nay đang trở thành xu thế, là sự lựa chọn chung, thậm chí tất yếu của nhiều du khách

Chương 1 của đề tài này đóng vai trò xác định cơ sở lý luận, soi sáng những nội dung nối tiếp ở những chương sau, mang tính chất chỉ đường Thái Bình - mảnh đất có tiềm năng du lịch văn hóa phong phú trong quá trình phát triển được nghiên cứu như một “điểm” trong một “diện” rộng là đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, trên một “tổng diện” rộng hơn nữa là phát triển du lịch văn hóa cả nước Việc nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch văn hóa, ở đây cụ thể là địa phương Thái Bình luôn có ý nghĩa thời sự, nhằm giải quyết cả hai nội dung phát triển và bảo tồn văn hóa trong du lịch, với tất cả những thuận lợi, khó khăn, những bài học và những kinh nghiệm quý báu khi làm du lịch văn hóa của những quốc gia đi trước Việt Nam, của một số địa phương khác ở Việt Nam nhằm giúp ích cho du lịch Thái Bình

Trang 37

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH THÁI BÌNH

2.1 Điều kiện phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình

2.1.1 Điều kiện bên trong

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thái Bình nằm ở phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách thủ

đô Hà Nội hơn 100km, cách thành phố Hải Phòng 70km Tỉnh có 8 huyện, thành phố là Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư và thành phố Thái Bình Thái Bình có diện tích 1545km2, được bao bọc bởi ba dòng sông lớn: phía Tây và Tây Nam là sông Hồng, giáp

Hà Nam và Nam Định; phía Bắc là sông Luộc, giáp Hưng Yên và Hải Dương; phía Đông là biển với 54km đường bờ biển trong vịnh Bắc Bộ; và có gần 70km các dòng sông lớn nhỏ khác Với vị trí đó, Thái Bình là vùng đất phì nhiêu được phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp

Về tổng thể, Thái Bình là tỉnh đồng bằng, không có đồi núi, bao gồm các cánh đồng bằng phẳng, xen kẽ các khu dân cư, mạng lưới sông ngòi dày đặc, độ cao trung bình so với mực nước biển không lớn, khí hậu mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa, được điều hòa hơi ẩm từ vịnh Bắc Bộ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản Mang đặc trưng của vùng đồng bằng ven biển, Thái Bình có điều kiện phát triển du lịch đường sông, du lịch văn hóa kết hợp với sinh thái, cảnh quan…

2.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Thái Bình nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy phát triển khá sớm Song song phát triển cảng biển, tỉnh cũng đang triển khai xây dựng dự án đường cao tốc ven biển, đường cao tốc Thái Bình - Hà Nam, đường sắt Hải Phòng - Thái Bình - Nam Định

Với diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 107.572ha, hầu hết có thể cấy trồng được ba, bốn vụ/năm, Thái Bình là một trong những tỉnh dẫn đầu về năng suất lúa trong cả nước Ngành nông nghiệp của tỉnh đang có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa có chất lượng và hiệu quả cao

Trang 38

Đường bờ biển dài 54km với nhiều đầm phá, Thái Bình đã tiến hành khai thác diện tích mặt nước của các vùng bờ đầm, bờ thửa ngập mặn làm vùng nuôi trồng thủy sản và các loại nhuyễn thể có giá trị kinh tế cao Nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình đã phối hợp với Viện Địa lý quy hoạch mở rộng cảng quốc gia Diêm Điền, với tổng vốn đầu tư

48 triệu USD Khi hoàn thành sẽ bảo đảm cho tàu thuyền có trọng tải 1000 tấn

có thể ra vào cảng Ngành đóng tàu và đánh bắt xa bờ nhằm đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thủy sản đang được đẩy mạnh

Với số dân trên 1.785.000 người, mật độ trung bình khoảng 1.200 người/km2 Số người trong độ tuổi lao động trên 1.097.000 người, chiếm 58,5%, là nguồn lao động ổn định, lâu dài Tỉnh có 2 trường đại học, 3 trường cao đẳng và nhiều trường trung cấp dạy nghề với quy mô đào tạo trên 23 nghìn sinh viên/ năm đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế trong tỉnh, tạo sức mạnh nội lực cho địa phương

Thái Bình hiện có 9 khu công nghiệp tập trung và 15 cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 3295,5ha Hiện nay, các khu công nghiệp như Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Tiền Hải, Gia Lễ…; các cụm công nghiệp Phong Phú, Đông La, Phương La có hệ số lấp đầy trên 90% Các khu công nghiệp như Cầu Nghìn, Sông Trà đang tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng

2.1.1.3 Tài nguyên du lịch văn hóa

2.1.1.3.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể

Với nội lực kiên cường, người dân Thái Bình đã tạo dựng hàng ngàn

di sản văn hóa, kết tinh của lao động, tâm hồn và trí tuệ của bao thế hệ kế tiếp nhau trên vùng đất này Theo số liệu tổng kiểm kê di tích toàn tỉnh tháng 7/2007, Thái Bình hiện còn 2176 di tích văn hóa, bao gồm: 601 đình, 738 chùa, 538 đền - miếu, 22 văn chỉ, 26 lăng mộ, 173 từ đường, 7 nhà lưu niệm,

59 phủ điện quán Các di sản văn hóa vật thể ở Thái Bình chủ yếu là các di tích lịch sử - văn hóa với các giá trị khác nhau về lịch sử, văn hóa, khoa học…

Các di tích được phân bố tại các địa phương như sau: thành phố Thái Bình 47, huyện Hưng Hà 551, Quỳnh Phụ 349, Thái Thụy 260, Kiến Xương

265, Tiền Hải 171, Vũ Thư 303, Đông Hưng 230 Những công trình kiến trúc

đó đã phản ánh các sự kiện lịch sử, đời sống kinh tế - văn hóa, phong tục, tập

Trang 39

quán, tín ngưỡng… của mỗi làng quê nói riêng và của nhân dân Thái Bình nói chung qua các thời kỳ lịch sử

* Di tích lịch sử - văn hóa các triều đại

- Di tích cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng: Cuộc khởi nghĩa của Hai

Bà Trưng vào những năm đầu Công Nguyên (40 - 43) không xuất phát từ Thái Bình nhưng có rất nhiều vị tướng lĩnh quê ở Thái Bình đã tham gia Một trong những di tích lịch sử tiêu biểu của thời kỳ lịch sử này là đền Tiên La (xã Đoan Hùng, Hưng Hà) thờ bà Vũ Thị Thục - một nữ tướng tham gia khởi

nghĩa Hai Bà Trưng

- Di tích về Lý Nam Đế và Nhà nước Vạn Xuân: Lý Bí (Lý Nam Đế) là

nhân vật lịch sử được thờ tự ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Thái Bình, bao gồm

cả đình, đền, chùa miếu… Đình Tử Các - miếu Đồn (Thái Hòa, Thái Thụy), miếu Hai Thôn (Xuân Hòa, Vũ Thư), đình và đền Cổ Trai (Hồng Minh, Hưng Hà)… là những căn cứ của Lý Bí trong cuộc khởi nghĩa chống xâm lược giành độc lập, sau là nơi thờ ông và vợ là bà Đỗ Thị Khương cùng các tướng quân của ông Các di tích gắn liền với các sự kiện lịch sử đã phản ánh đậm nét về Lý

Bí và sự đóng góp lớn lao của người dân Thái Bình trong cuộc khởi nghĩa Lý

Bí (542) lập nên nước Vạn Xuân độc lập

- Di tích nhà Đinh: Trong 12 sứ quân của thời kỳ phong kiến cát cứ, sứ

quân Trần Lãm vùng Kỳ Bố Hải Khẩu (thành phố Thái Bình nay) là một sứ quân

có thế lực mạnh Lực lượng của ông có sự liên kết, phối hợp với Đinh Bộ Lĩnh Sau khi ông mất, Đinh Bộ Lĩnh nắm binh quyền, chuyển về Hoa Lư đánh dẹp các sứ quân, lập ra nhà Đinh Nhân dân vùng Kỳ Bố Hải Khẩu nói riêng và Thái Bình nói chung đã có công lao rất lớn để tạo tiền đề cho sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân của

Đinh Tiên Hoàng

Hiện nay, Trần Lãm được thờ là Thành Hoàng làng tại đình Lạc Đạo (phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình), đây cũng là nơi lưu niệm sự kiện của sứ quân Trần Lãm Các di tích phản ánh về thời kỳ này còn có các đình, đền, miếu thờ các vị tướng lĩnh có công như: từ đường thờ Bùi Quang Dũng (Tân Bình, Vũ Thư), miếu Ba Thôn (Thụy Hải, Thái Thụy), miếu Bắc (Đông Sơn, Đông Hưng)…

- Di tích thời Lý: Vương triều Lý được xác lập (1010 - 1225) đã mở ra

một trang mới của lịch sử nước nhà - thời kỳ của quốc gia phong kiến độc lập, hoàn thành cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường của dân tộc ta sau một ngàn

Trang 40

năm Bắc thuộc Các di tích lịch sử ở Thái Bình phản ánh nhiều nhân vật lịch

sử, sự kiện lịch sử dưới vương triều Lý

Cụm di tích lịch sử Lưu Xá (Canh Tân, Hưng Hà) thờ Thái úy Lưu Khánh Đàm, Thái phó Lưu Ba, hai ông có công trong việc phò tá Lý Công Uẩn, xây dựng chùa Báo Quốc Miếu và chùa làng Riệc (Hòa Tiến, Hưng Hà) nơi thờ và lưu niệm Lưu Lượng - vị quan hà đê sứ triều Lý, là người có công lao trong công cuộc khẩn hoang trị thủy vùng sông Luộc, sông Hóa Đền Tiến Trật (Đô Lương, Đông Hưng) thờ Đặng Tiến Thành là người đỗ Thái học sinh năm 1138 và thờ 20 nghĩa sĩ của làng đã có công trong cuộc kháng chiến chống xâm lược thời Lý

Dưới triều Lý, đạo Phật trở thành quốc đạo, đồng thời các nhà tu hành cũng đóng góp rất nhiều cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước Vì vậy, nhiều

di tích lịch sử ở Thái Bình là nơi tưởng niệm các vị chân tu có công với dân, với nước Chùa Hú (Hòa Tiến, Hưng Hà) nơi thờ và lưu niệm thiền sư Dương Không Lộ, tương truyền nơi đây là quê hương của ông Chùa Keo một di tích nổi tiếng Thái Bình cũng là nơi thờ thiền sư Dương Không Lộ

Đền Thượng và chùa Phúc Thắng (Song Lãng, Vũ Thư) là nơi thờ và lưu niệm thiền sư Đỗ Đô, là thiền sư thuộc thế hệ thứ 3 của thiền phái Thảo Đường Năm 1066 triều Lý Thánh Tông, Đỗ Đô được cử sang Trung Quốc tham dự khoa thi Bạch Liên của nhà Tống (Khoa thi tiến sĩ về Phật học) và đã

đỗ thủ khoa Trở về nước ông làm quan cho triều Lý Về sau Đỗ Đô xin vua xây dựng và tu hành tại chùa Phúc Thắng

Đền Thánh (cụm di tích La Vân, Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ) thờ Khổng Minh Không, Nguyễn Minh Không, là những pháp sư giỏi của triều Lý

- Di tích thời Trần: Thái Bình là đất phát tích và hưng nghiệp của nhà

Trần Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của vương triều Trần, người dân Thái Bình đã đóng góp nhiều công sức và xây dựng một vương triều thịnh trị Các

di tích lịch sử phản ánh về thời đại nhà Trần chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong các di

tích lịch sử ở Thái Bình

Quần thể di tích lịch sử thời Trần tập trung nhiều nhất tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà Đây là khu lăng tẩm các vua Trần, có hành cung Long Hưng với nhiều điện, đài xưa kia nguy nga, tráng lệ Nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước dưới vương triều này Mỗi lần chiến thắng quân

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Tp. Hồ Chí Minh 2. Trần Thúy Anh (Chủ biên) (2011), Du lịch văn hóa, những vấn đề lýluận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương", Nxb Tp. Hồ Chí Minh 2. Trần Thúy Anh (Chủ biên) (2011), "Du lịch văn hóa, những vấn đề lý "luận và nghiệp vụ
Tác giả: Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Tp. Hồ Chí Minh 2. Trần Thúy Anh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh 2. Trần Thúy Anh (Chủ biên) (2011)
Năm: 2011
3. Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử văn hóa trong du lịch
Tác giả: Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
4. Bảo tàng Thái Bình (1999), Di tích khảo cổ học ở Thái Bình, Nxb Bảo tàng Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích khảo cổ học ở Thái Bình
Tác giả: Bảo tàng Thái Bình
Nhà XB: Nxb Bảo tàng Thái Bình
Năm: 1999
5. Bảo tàng Thái Bình (1999), Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình, tập 1, Nxb Bảo tàng Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa Thái Bình
Tác giả: Bảo tàng Thái Bình
Nhà XB: Nxb Bảo tàng Thái Bình
Năm: 1999
6. Trương Quốc Bình (2005), Vai trò các di sản văn hóa với sự phát triển du lịch Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 3, tr.22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò các di sản văn hóa với sự phát triển du lịch Việt Nam
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2005
7. Trương Quốc Bình (2010), Việt Nam - công tác quản lý di sản văn hóa, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 7, tr.58-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - công tác quản lý di sản văn hóa
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2010
8. Trịnh Xuân Dũng (2011), Du lịch Việt Nam nhìn lại việc thực hiện Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12, tr.44-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Du lịch Việt Nam nhìn lại việc thực hiện Hiến pháp năm 1992
Tác giả: Trịnh Xuân Dũng
Năm: 2011
9. Phạm Minh Đức - Phạm Hóa (2010), Văn hóa làng ở Thái Bình, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng ở Thái Bình
Tác giả: Phạm Minh Đức - Phạm Hóa
Năm: 2010
10. Hồ Hoàng Hoa (1998), Lễ hội một nét đẹp trong văn hóa cộng đồng, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội một nét đẹp trong văn hóa cộng đồng
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
11. Trần Thị Minh Hòa, Trần Thúy Anh (2011), Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triến du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12, tr.28-29 12. Nguyễn Phi Hoanh (1970), Lược sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb Khoa họcXã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triến du lịch", Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12, tr.28-29 12. Nguyễn Phi Hoanh (1970), "Lược sử mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Minh Hòa, Trần Thúy Anh (2011), Khai thác di sản văn hóa phục vụ phát triến du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12, tr.28-29 12. Nguyễn Phi Hoanh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1970
13. Nguyễn Phạm Hùng (2010), Đa dạng văn hóa và sự phát triển du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 11, tr.48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa và sự phát triển du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 2010
14. Đinh Gia Khánh (1999), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
15. Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (chủ biên) (1993), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại
Tác giả: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
16. Trường Khánh (2002), Hoàng Đế Triều Trần cội nguồn - ấn tượng dân gian, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Đế Triều Trần cội nguồn - ấn tượng dân gian
Tác giả: Trường Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2002
17. Phạm Trọng Lê Nghĩa (2011), Phát huy vai trò quản lý nhà nước tại các điểm du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 3, tr.58-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò quản lý nhà nước tại các điểm du lịch
Tác giả: Phạm Trọng Lê Nghĩa
Năm: 2011
18. Hữu Ngọc (2008), Lãng du trong văn hóa Việt Nam, Nxb Thanh Niên 19. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2001), Luật Disản, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãng du trong văn hóa Việt Nam", Nxb Thanh Niên 19. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2001), "Luật Di "sản
Tác giả: Hữu Ngọc (2008), Lãng du trong văn hóa Việt Nam, Nxb Thanh Niên 19. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh Niên 19. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2001)
Năm: 2001
20. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
21. Dương Văn Sáu (2009), Du lịch lễ hội và lễ hội du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 4, tr.26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch lễ hội và lễ hội du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Dương Văn Sáu
Năm: 2009
22. Dương Văn Sáu (2010), Phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2, tr. 32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển sản phẩm du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Dương Văn Sáu
Năm: 2010
23. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình (2001), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thái Bình thời kỳ 2001 - 2010 và định hướng đến năm 2020, Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thái Bình thời kỳ 2001 - 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Những yếu tố văn hóa - xã hội tạo sức hấp dẫn của một vùng du lịch 4 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Sơ đồ 1.1 Những yếu tố văn hóa - xã hội tạo sức hấp dẫn của một vùng du lịch 4 (Trang 15)
Sơ đồ 1.2: Vòng đời của một điểm đến du lịch (Nguồn: UNWTO) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Sơ đồ 1.2 Vòng đời của một điểm đến du lịch (Nguồn: UNWTO) (Trang 17)
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 1.1 So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch (Trang 19)
Sơ đồ 1.4: Quy trình bảo tồn di sản - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Sơ đồ 1.4 Quy trình bảo tồn di sản (Trang 24)
Bảng 2.1: Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Thái Bình - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.1 Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Thái Bình (Trang 59)
Bảng 2.3: Hiện trạng chất lượng cơ sở lưu trú của tỉnh Thái Bình từ 2005 - 2011  (Đơn vị: Cơ sở lưu trú) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.3 Hiện trạng chất lượng cơ sở lưu trú của tỉnh Thái Bình từ 2005 - 2011 (Đơn vị: Cơ sở lưu trú) (Trang 60)
Bảng 2.4: Hiện trạng đơn vị kinh doanh lữ hành tại Thái Bình - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.4 Hiện trạng đơn vị kinh doanh lữ hành tại Thái Bình (Trang 61)
Bảng 2.5: Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ vui chơi giải trí tỉnh Thái Bình  (Đơn vị: Cơ sở) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.5 Hiện trạng cơ sở vật chất phục vụ vui chơi giải trí tỉnh Thái Bình (Đơn vị: Cơ sở) (Trang 62)
Bảng 2.8: Thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch   tỉnh Thái Bình năm 2009 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.8 Thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch tỉnh Thái Bình năm 2009 (Trang 66)
Bảng 2.10: Số lượng cán bộ của Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Thái Bình  (Đơn vị: Cán bộ) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.10 Số lượng cán bộ của Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Thái Bình (Đơn vị: Cán bộ) (Trang 67)
Bảng 2.13: Mục đích đi du lịch của khách du lịch nội địa đến Thái Bình - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.13 Mục đích đi du lịch của khách du lịch nội địa đến Thái Bình (Trang 72)
Bảng 2.15: Doanh thu du lịch Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010 (Đơn vị: Tỷ đồng) - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Bảng 2.15 Doanh thu du lịch Thái Bình giai đoạn 2000 - 2010 (Đơn vị: Tỷ đồng) (Trang 73)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình (Trang 78)
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu bộ máy tổ chức của trung tâm Xúc tiến Du lịch Thái Bình - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu bộ máy tổ chức của trung tâm Xúc tiến Du lịch Thái Bình (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN